Chúng ta thường xuyên hài lòng dùng những từ này, nhưng ý nghĩa sâu xa của tư do và độc lập, bình đẳng và pháp quyền, ý nghĩa thực tế của nó trong cuộc sống chưa được hiểu đúng nghĩa” Mộ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nước Nga đã đi qua thế kỷ XX với bao nỗi đắng cay, tự hào và hyvọng!
Có rất nhiều nước trên thế giới đã trải qua những chấn động nặng nề,nhưng không một nước lớn nào trong vòng 100 năm trở lại đây lại phải trảiqua những bước ngoặt liên tiếp, đột ngột và đau thương như nước Nga
Ngày 12 tháng 06 năm 1990 sau một thời kỳ vận động, đấu tranh gaygắt trong lòng Liên Xô, nước Nga tuyên bố độc lập Năm 1991, lần đầu tiênnước Nga xuất hiện chức vụ Tổng thống Sau khi Liên Xô tan rã, Liên bangNga thực sự trở thành một nước độc lập, kế thừa vị thế của Liên Xô trongquan hệ quốc tế
Thấm thoắt đã 15 năm trôi qua, nước Nga đã đau đớn, song nhân dânNga đã dũng cảm đứng lên sau cơn bệnh trầm trọng nhất Vì một lẽ đơn giản,nước Nga khát khao kỷ cương chứ không phải bạo lực
Liên bang Nga, kể từ khi còn là một trong 15 nước Cộng hoà Xã hộichủ nghĩa Xô Viết, đã luôn có tiếng nói quyết định trong hầu hết các côngviệc nội trị và đóng vai trò quan trọng trên trường quốc tế Ngày nay, với tưcách là nước kế thừa Liên Xô cũ, tuy không còn là siêu cường như Liên Xôtrước đây, nhưng Liên bang Nga vẫn là một chủ thể quan trọng trên bàn cờchính trị quốc tế
Nước Nga bước sang thế kỉ mới với cương lĩnh chính trị và cải cách dựa
trên nền tảng “tư tưởng mới” với nội dung chính yếu là chủ nghĩa yêu nước, ý
thức về một cường quốc, một quốc gia dân chủ, pháp trị và sự hoà nhập mạnh
mẽ vào cộng đồng thế giới bằng những cải cách thể chế chính trị của mình,
Trang 2xây dựng Nhà nước Nga thành một nhà nước pháp quyền, dân chủ, đanguyên, chuyển hoá xã hội Nga thành xã hội mở.
Trong Thông điệp Liên bang Nga ngày 25-4-2005 của Tổng thống Putin có
đoạn: “tôi cho rằng, nhiệm vụ cơ bản về ý thức chính trị là phát triển nước Nga thành một quốc gia độc lập và dân chủ Chúng ta thường xuyên hài lòng dùng những từ này, nhưng ý nghĩa sâu xa của tư do và độc lập, bình đẳng và pháp quyền, ý nghĩa thực tế của nó trong cuộc sống chưa được hiểu đúng nghĩa”
Một thể chế mới hình thành, phát triển và ổn định ở nước Nga, nó cũnggợi mở cho khoa học pháp lý nói những vấn đề cần được tìm hiểu, nghiêncứu, đặc biệt là về thể chế chính trị và tổ chức bộ nhà nước
Việc nghiên cứu thể chế chính trị của Liên bang Nga, một nước bạntruyền thống của ta, là một hướng nghiên cứu cơ bản mang ý nghĩa quốc gia,giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn những chuyển biến đang diễn ra ở nướcNga, qua đó góp phần giúp chúng ta thực hiện thành công hơn đường lối đốingoại của Đảng và Nhà nước trong quan hệ với một đất nước đã từng chiangọt sẻ bùi với nhân dân ta trong nhiều giai đoạn đấu tranh cách mạng Bêncạnh đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu các nước trên thế giới, đặc biệt là vềphương diện thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, cải cách hành chính,cải cách bộ máy nhà nước vv nhằm khai thác, kế thừa những thành tựu củanhân loại phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước, không những có ý nghĩa lýluận mà còn có ý nghĩa thực tiễn
Với những lý do nói trên, tôi chọn đề tài: “Thể chế chính trị Liên bang Nga” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với chủ trương đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước tacũng như sự ổn định và phát triển của nước Nga, thời gian qua, giới nghiên
Trang 3cứu khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng ở nước ta hướng
sự quan tâm, nghiên cứu đến vấn đề thể chế chính trị Ở phạm vi và mức độkhác nhau đã có một số công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập
như : “Thể chế chính trị” của PGS.TS Nguyễn Đămg Dung và Th.s Bùi Ngọc Sơn,“Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền”của PGS.TS Nguyễn Đămg Dung (chủ biên), Nxb Tư pháp, 2004; “Học thuyết phân chia quyền lực- sự áp dụng trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước một số nước”
của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 năm
1998; “Học thuyết về Nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Liên bang Nga” của TSKH PGS Lê Cảm, Nxb “ Sáng tạo” Hội khoa học- Kỹ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga, Mát-cơ-va, 1997 “ Thể chế chính trị thế giới đương đại” do PGS TS Dương Xuân Ngọc và TS Lưu Văn An chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2003; “Thể chế chính trị các nước Asean”của TS Nguyễn Xuân Tế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; “Hệ thống chính trị Liên bang Nga- Cơ cấu và tác động đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại”
do TS Vũ Dương Huân chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002; “Thể Cải cách thể chế và phát triển” của Đinh Văn Ân và Võ Trí Thành, Nxb Thống kê, 2002; “Vài nét về cơ cấu tổ chức Nhà nước Liên bang Nga” của
chế-TS Lưu Văn An và Th.S Lưu Văn Quảng, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 11
năm 2001; “ Thể chế chính trị- Pháp quyền một số quốc gia xu hướng và tác động đến hệ thống chính trị nước ta” của TS Tường Duy Kiên, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9 năm 2005; “Cải cách thể chế dân chủ ở Liên bang Nga” của Phan Anh Dũng, Tạp chí Nghiên Châu Âu, số 4 năm 2005; “ Tổ chức và hoạt động của chính phủ ở một số nước trên thế giới” của TS.Vũ Hồng Anh, Nxb Chính trị Quốc gia, 1997 “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của TS Trần Hậu Thành, Nxb Lý luận chính trị, 2005 “Tổ chức
Trang 4bộ máy nhà nước Liên bang Nga theo Hiến pháp 1993”, TS Trần Hậu Thành,
Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 4 năm 2000 Bên cạnh những công trình nghiêncứu tiêu biểu nói trên, thời gian qua cũng xuất hiện nhiều cuốn sách dịch vềnhiều vấn đề liên quan đến đời sống chính trị nước Nga, qua đó giúp người
đọc có cái nhìn sâu hơn về những vấn đề liên quan như: “Thiết chế chính trị
và bộ máy nhà nước một số nước trên thế giới” sách biên dịch của TS Phạm Văn Lợi và TS Hoàng Thị Ngân; “Nước Nga trước thềm thế kỷ XX ”, do Lê Thanh Vạn và Trần Văn Cường dịch, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004; “Sáu lần gặp người đứng đầu nước Nga V.Putin” do Đào Vân Hương dịch, Nxb Chính trị Quốcgia, 2001; “Putin ông chủ điện Kremli” sách dịch của tác giả Bích
Diệp
Sẽ là rất thiếu sót nếu không nhắc đến Putin, vị Tổng thống trẻ tuổi vàtài ba của nước Nga hiện nay Sự xuất hiện của V.Putin trên cương vị Tổngthống Liên bang Nga từ năm 2000 càng làm cho sự quan tâm của giới khoahọc đối với nước Nga tăng lên Tuổi trẻ, tài cao, với tài năng chèo lái củaV.Putin, vị thế của nước Nga đã được khôi phục mạnh mẽ Thể chế chính trị
mà nước Nga đã lựa chọn đi vào ổn định và quá trình hoà nhập của nước Ngadiễn ra nhanh chóng Trong bối cảnh đó, rất nhiều cuốn sách, bài báo đã giành
để tán dương và đề cập đến Tổng thống của nước Nga như một sự khẳng địnhchắc chắn về vị trí và vai trò của nước Nga trên trường quốc tế Dĩ nhiên, ởmột khía cạnh khác cũng khẳng định tính mới mẻ và những diễn biến của thể
chế chính trị ở Liên bang Nga Trong phạm vi này phải kể đến: “Tìm hiểu vai trò của Tổng thống Liên bang Nga” của TS Lưu Văn An, tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 3 năm 2001; “Chiến lược đối ngoại của nước Nga thời kỳ Tổng thống Putin” của TS Hồ Châu, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 3 năm 2001;
“Nước Nga những năm 90 không ổn định: Nguyên nhân và triển vọng”, của
TS Hưng Hà- Lâm Châu, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 4 năm 1999;
Trang 5“Cuộc bầu cử Tổng thống Liên bang Nga: một vài suy ngẫm”, của Hoàng Vân, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 2 năm 2000; “Quyền lực Tổng thống Liên bang Nga” của TS Nguyễn Văn Thanh, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu,
số 5 năm 2005
Nhìn chung, những công trình khoa học nói trên đã góp phần đem lại mộtcái nhìn tương đối đầy đủ về nước Nga, đặc biệt là ở phương diện khoa họcpháp lý.Vì vậy, việc lựa chọn đề tài này là khá mới mẻ, vừa có giá trị lý luận,vừa có ý nghĩa thực tiễn, như một sự bổ sung cần thiết vào khoa học LuậtHiến pháp
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Khái quát những vấn đề lý luận vềthể chế chính trị, trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật cũng như thực tiễn đờisống chính trị của nước Nga hiện nay, đề cập và làm sáng tỏ thể chế chínhtrị đương đại của Liên bang Nga Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận cótính chất chung khẳng định tính mới mẻ và độc đáo của thể chế chính trịLiên bang Nga
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thể chế chính trị để làm cơ
sở nghiên cứu thể chế chính trị Liên bang Nga;
- Nhận định nhu cầu thay đổi thể chế chính trị và những cơ sở pháp lý của thể chế chính trị mới ở Liên bang Nga;
- Nghiên cứu tổng quát thể chế nhà nước Liên bang Nga theo Hiến pháphiện hành;
- Đưa ra những kết luận về thể chế chính trị Liên bang Nga
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bảncủa Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nói chung và đường lối đối
Trang 6ngoại nói riêng Luận văn vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu Ngoài ra,luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như: phân tích, tổng hợp, sosánh, đối chiếu để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra.
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Hiện nay khái niệm thể chế chính trị chưa có sự nhận thức thống nhất,tác giả cũng ý thức được rằng, việc nghiên cứu thể chế chính của Liên bangNga là vấn đề mới mẻ Chính vì vậy, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứunhững vấn đề lý luận chung của thể chế chính trị, lịch sử thể chế chính trị vàthể chế nhà nước Nga hiện nay Những vấn đề này được thể hiện trong Hiếnpháp Liên bang Nga 1993 và các Luật tổ chức nhà nước Liên bang Nga hiệnhành Khía cạnh thể chế hành vi, theo tác giả vẫn sẽ còn được nghiên cứutrong những công trình khoa học tiếp theo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Cách tiếp cận của đề tài và hướng nghiên cứu của đề tài có nhữngđóng góp nhất định vào việc nghiên cứu chế độ chính trị, hình thức chính thể,thể chế chính trị trong khoa học hiến pháp
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ và nghiên cứucho sinh viên, học viên
- Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo chocác nhà nghiên cứu, những nhà hoạch định chính sách và những ai có quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Vị trí và vai trò của thể chế chính trị trong đời sống của mỗi
quốc gia
Trang 7Chương 2 Nhu cầu phải thay đổi thể chế chính trị ở Liên bang Nga Chương 3 Thể chế chính trị Liên bang Nga đương đại
Trang 8Trong Tiếng Anh từ “Institution” và trong Tiếng Nga từ “ ÈHCTÈTYT”
đều được hiểu là thể chế hay định chế Tuỳ theo nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng thể chế hay định chế đều là từ Hán Việt
Trong cuốn từ điển Hán Việt của soạn giả Đào Duy Anh, tác giả chorằng: Thể chế là cách thức, chế độ Còn định chế được giải thích là chế độ đãnhất định từ trước[3]
Trong cuốn từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học được Nhà xuất
bản Đã Nẵng xuất bản năm 2001,“thể chế ” được hiểu một cách tổng quát là
những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuântheo[60]
Trang 9Cũng theo một cuốn từ điển khác của Nhà xuất bản Văn hoá thông tin xuất
bản năm 1999, “thể chế ” được hiểu hẹp hơn là toàn bộ cơ cấu của xã hội do
pháp luật tạo ra[62]
Trong Tiếng Việt, thể chế được dùng tương tự như định chế [16] TheoLiltre, nhà ngôn ngữ học người Pháp thì định chế là để chỉ những gì conngười nghĩ ra, lập ra, đối lập với tất cả những gì có trong thiên nhiên Còntheo nhà xã hội học Durkhem, quan niệm định chế là những tư tưởng, tậpquán xã hội mà cá nhân đã có từ trước mắt mình và hầu như có giá trị cưỡng
ép nhiều hay ít đối với họ Đối với các luật gia, định chế là toàn bộ những quytắc pháp luật liên quan một đối tượng duy nhất, đến cùng một số chức vụ, hợpthành một khối có trình tự mạch lạc[12] Theo nghĩa này thì hôn nhân, khếước, quốc hội, bầu cử đều là những định chế
Có quan niệm lại cho rằng: Thể chế và thiết chế là đồng nhất, đó lànhững quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo.Quan niệm này được thể hiện trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt (do NguyễnNhư Ý chủ biên), Từ điển tiếng Việt (do Hồng Phê chủ biên -1992) và Từđiển Luật học (do Nguyễn Hữu Quỳnh chủ biên-1999)
Trái ngược với những suy nghĩ trên, có ý kiến cho rằng thể chế và địnhchế là hai dạng biểu hiện khác nhau của cùng một cấu trúc xã hội Theo cáchhiểu này, thể chế là những quy định, luật lệ, giá trị phản ánh mặt tinh thần củacấu trúc xã hội Còn thiết chế là những bộ phận cấu thành của một cấu trúc xãhội , phản ánh mặt vật chất của cấu trúc đó Quan niệm này gần giống vớiquan niệm của các nhà biên soạn từ điển Tiếng Pháp Theo đó, thuật ngữInstitution có nghĩa là:
+ Thể chế là sự đặt định những luật lệ, là các luật lệ cơ bản của một quốcgia
Trang 10+ Thiết chế là các bộ phận cấu thành của một cấu trúc, cần phải duy trì vàtôn trọng.
Một quan niệm khác lại cho rằng, thể chế có hai nghĩa rộng và hẹp:
- Theo nghĩa rộng, thể chế được xem gần như là những khái niệm hệ
thống, bao gồm cả những định chế và cả những thành tố cấu thành hệ thống,với ý nghĩa này, khái niệm thể chế thống nhất với khái niệm hệ thống chínhtrị
- Theo nghĩa hẹp, thể chế là những quy định, luật lệ, chuẩn mực, giá trị
của một cấu trúc xã hội hoặc của xã hội buộc mọi người phải tuân thủ và theo
đó các thiết chế được dựng lên, các quan hệ xã hội được điều chỉnh
Nhìn chung vẫn còn tồn tại những khác biệt từ các quan niệm, nhưng
có thể khái quát những khía cạnh cơ bản về thể chế:
Thể chế và thiết chế là phạm trù xã hội chỉ được sử dụng trong đời sống
xã hội của con người, không có khái niệm thể chế nói chung và cũng không
có khái niệm thể chế thuộc về thế giới tự nhiên Vì vậy, khi nói đến thể chếhoặc thiết chế cũng đồng nghĩa với nói thể chế xã hội và thiết chế xã hội Tuyvậy, thuật ngữ "xã hội" lại thường được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa rộng là toàn bộ đời sống xã hội
- Nghĩa hẹp là lĩnh vực xã hội của đời sống xã hội
Theo đó, thể chế và thiết chế cũng được hiểu theo hai nghĩa tương ứng:
Thể chế ( thể chế xã hội) theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ một
hệ thống những quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyêntắc tổ chức và phương thức vận hành của xã hội ở một giai đoạn phát triểnnhất định của lịch sử Theo nghĩa này, thể chế bao gồm: Thể chế kinh tế,chính trị, xã hội và văn hoá
Thể chế theo nghĩa hẹp là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống những
quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức,
Trang 11phương thức vận hành của một lĩnh vực hoặc một cấu trúc xã hội nào đó của
xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định
Thiết chế (thiết chế xã hội) theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ
một hệ thống các yếu tố, phù hợp với thể chế tương ứng hợp thành một xãhội Với ý nghĩa này, thiết chế cũng bao gồm: Thiết chế kinh tế, chính trị, xãhội, văn hoá
Theo nghĩa hẹp, thiết chế xã hội là khái niệm dùng để chỉ mặt hệ thống
các yếu tố phù hợp với thể chế tương ứng, hợp thành một lĩnh vực hoặc mộtcấu trúc xã hội nào đó của xã hội
Tựu trung lại, thể chế và thiết chế là hai khái niệm biểu hiện khác nhaucủa cùng một lĩnh vực, một cấu trúc xã hội và mối quan hệ biện chứng vớinhau, nếu như thể chế là những chuẩn mực quy định sự hình thành và phươngthức vận hành của một lĩnh vực, một cấu trúc và của toàn xã hội thì thiết chế
là yếu tố vật chất của một lĩnh vực, một cấu trúc của xã hội
Khi xem xét, nghiên cứu cấu trúc xã hội về phương diện thể chế, khôngthể không tính đến phương diện thiết chế của cấu trúc đó, bởi không có mộtthể chế nào lại không gắn với một cấu trúc xã hội nhất định và ngược lạikhông có một thiết chế của một cấu trúc xã hội nào lại được dựng lên từ mộtthể chế tương ứng
Trong xã hội chưa có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thuỷ) do chưa
có nhà nước, chưa có pháp luật, chỉ có những quy tắc tập quán, tín điều tôngiáo hình thành trên cơ sở đời sống cộng đồng [43] Nên những thiết chế xãhội Thị tộc, Bộ lạc được tổ chức kém chặt chẽ và chính vì vậy, xã hội trở nênkém bền vững trước sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất vànhững xung đột ngày càng gay gắt về giai cấp Tất nhiên, cả những hình tháikinh tế - xã hội sau, thiết chế này vẫn không bền vững trước sự phát triển của
Trang 12xã hội, đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật Điều này xuất phát từnhững luật lệ, những quy định và ngay cả những giá trị mang tính lịch sử.Tuy nhiên, nó vẫn bền vững hơn, một phần là nhờ vào những giá trị cộngđồng, mặt khác, phụ thuộc vào những định chế có tính pháp lý cho xã hội tạo
ra buộc cá nhân và tổ chức phải tuân theo
1.1.2 Khái niệm thể chế chính trị
Chính trị là hoạt động đặc biệt quan trọng của đời sống, quan hệ đến lợiích của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội Thể chế chính trị là bộ phậncấu thành của chính trị Trong một chế độ xã hội, thể chế chính trị tác độngtrực tiếp đến đời sống của mọi người dân ít hay nhiều, mỗi quốc gia đều chịu
sự tác động của thể chế chính trị Thể chế chính trị là một bộ phận của kiếntrúc thượng tầng có vai trò to lớn đối với sự tiến bộ cuả xã hội
Phạm trù thể chế (Institution), Thể chế chính trị (Political/ Institution), thể chế nhà nước (State/ Institution) thể chế Đảng (Party/ Institution) là
những phạm trù chính trị được dùng phổ biến trong các diễn đàn chính trị thếgiới Bởi chúng có nội dung và giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sốngchính trị Ở Việt Nam, các phạm trù này thực tế trước đây còn ít sử dụng vàthực tế cũng mới chỉ được sử dụng phổ biến từ những năm đổi mới, đặc biệt
là phạm trù thể chế chính trị (Political/ Institution) Tuy nhiên khái niệm thể
chế chính trị vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất, nếu có đề cập thì cũng chỉmang tính rời rạc, chỉ nói đến một hoặc một số khía cạnh nào đó của thể chếchính trị
Thể chế chính trị là một trong những vấn đề rất quan trọng trong đời sống của mỗi quốc gia, nó can thiệp đến mọi con người và mọi tổ chức trong một nhà nước Để nhận thức đúng bản chất của thể chế chính trị, trước hết phải bắt đầu từ khái niệm của nó
Trang 13Trong cuốn“Cải cách thể chế chính trị Trung Quốc” của Nhà xuất bản
Đại Liên,Viện thông tin khoa học thuộc Viện nghiên cứu chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dịch năm 1995, các nhà chính trị học củaTrung Quốc là Tần Thụy Sinh, Chu Mãn Lương, Long Nguyên Chinh đã chorằng, thể chế chính trị là các loại chế độ chính trị cụ thể xây dựng trên cơ sởchế độ chính trị cơ bản và tổng hoà của cơ chế vận hành, thuộc kiến trúcthượng tầng Cách hiểu này đã đồng nhất khái niệm thể chế chính trị và chế
Mác-độ chính trị
Chính trị là một loại hoạt động căn bản của xã hội Còn nhiều cách hiểukhác nhau về chính trị, song thông thường, chính trị được hiểu là các lĩnh vựchoạt động và tương ứng với nó là quan hệ giữa con người với nhau trong lĩnhvực quyền lực
Chính trị có nguồn gốc từ tiếng Latinh có chữ “Politic” nghĩa là: Công
việc nhà nước Trong lịch sử tư tưởng, dù có những nhận thức khác nhau vềbản chất của chế độ chính trị, nhưng đều có điểm chung là thừa nhận chính trị
là công việc liên quan đến quyền lực của nhà nước Tư tưởng chính trị trung
Quốc cổ đại quan niệm: “Nhân đại chính vĩ đại” thì chính trị được hiểu là
những hoạt động liên quan đến việc trị quốc, bình thiên hạ, những hoạt độngquan trọng, lớn (đại) của con người Còn ở xã hội Hi Lạp cổ đại, triết gia
Platon lại xem chính trị là:“Nghệ thuật cung đình liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng và sự thông minh, sự liên kết cuộc sống của họ được thực hiện bằng sự thống nhất tư tưởng và tình cảm hữu ái” Tư tưởng này đã
ảnh hưởng đến quan niệm coi chính trị là sự khôn khéo, khả năng đạt đến sựphân chia chức năng mà vẫn bảo đảm duy trì tác động qua lại giữa chúng, duytrì tính chính trị của hệ thống
Theo V.Lênin, chính trị là những hoạt động liên quan đến lợi ích củacác giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, mà vấn đề quan trọng nhất là tổ chức
Trang 14chính quyền nhà nước Chính trị nhằm bảo vệ lợi ích của các tầng lớp, cácgiai cấp, các dân tộc trong xã hội trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm quyền lực
và lợi ích của giai cấp cầm quyền, chính trị xét về hình thức thể hiện là nhữngquan điểm, tư tưởng, học thuyết, cương lĩnh, đường lối của chính Đảng, làchính sách, pháp luật của giai cấp cầm quyền, còn xét về nôị dung, chính trị lànhững hoạt động và cùng với nó là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầnglớp và giữa các dân tộc có liên quan tới quá trình giành, giữ về tổ chức vàthực hiện quyền lực nhà nước
Như vậy, dù ở khía cạnh nào, vấn đề trung tâm của chính trị bao giờcũng là nhà nước, tuy nhiên hoạt động của nhà nước không bao giờ bao quáthết toàn bộ hoạt động chính trị Hoạt động của các đảng phái, các dân tộc, cácnhóm lợi ích chính trị đều là hoạt động chính trị nhưng không đồng nghĩavới hoạt động nhà nước Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, hoạt động củacác đảng phái hay các tổ chức chính trị dù không đồng nghĩa với hoạt độngcủa nhà nước nhưng đều có mục đích tham gia hoặc gây ảnh hưởng đến quyềnlực của nhà nước.Chính vì vậy, có thể nói chính trị là những công việc củanhà nước, những hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lựcnhà nước
Ở một phạm vi lớn hơn, chế độ chính trị là nội dung, phương thức tổchức và hoạt động của hệ thống chính trị của một quốc gia, mà trọng tâm lànhà nước[2] Chế độ chính trị được biểu hiện rõ nhất trong mô hình tổ chứccủa nhà nước, trong Hiến Pháp - Văn bản pháp lý cao nhất của mỗi quốc gia.Chế độ chính trị là một bộ phận cấu thành chế độ xã hội, vì chính trị là côngviệc của nhà nước, công việc xã hội, mà thể chế chính trị trong xã hội có giaicấp, công việc của nhà nước là công việc chủ yếu của xã hội, nên chế độchính trị là chế độ thực hiện quyền lực nhà nước
Trang 15Trong lý luận về nhà nước và pháp luật, chế độ chính trị được hiểu lànội dung và phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Quốcgia mà trung tâm là Nhà nước Chế độ chính trị được cấu thành bởi sự kết hợpcác yếu tố: Chính trị - kinh tế - xã hội, tư tưởng văn hoá, pháp luật, chế độchính trị được biểu hiện rõ nét trong mô hình tổ chức nhà nước, trong Hiếnpháp của mỗi một nhà nước quy định về nguồn gốc và tính chất của quyềnlực, sự phân bổ và tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước và mối quan hệgiữa các cơ quan quyền lực, về những quan hệ của nhà nước với công dân,các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, giữa các giai cấp và tầng lớp xãhội giữa các dân tộc trong nước và trên thế giới.
Trong khoa học pháp lý, chế độ chính trị lại được hiểu là tổng thể cácphương pháp thực hiện quyền lực nhà nước [21]
Nếu xem xét dưới góc độ là một chế định của Luật Hiến pháp, chế độchính trị là tổng hợp những quy định có tính chất nguyên tắc chung làm nềntảng cho những quy định khác của Hiến pháp Đó là những quy định về bảnchất nhà nước Sự lãnh đạo của đảng đối với mọi hoạt động của nhà nước và
xã hội, những nguyên tắc cơ bản, tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.Những vấn đề này quy định hình thức tổ chức quyền lực nhà nước theo hìnhthức cấu trúc bên ngoài nhà nước, cơ cấu lãnh thổ là hình thức tổ chức nhànước bên trong
Chế độ chính trị được quy định bởi hình thái kinh tế - xã hội Mỗi hìnhthái kinh tế - xã hội có thể có các chế độ chính trị khác nhau.Trên phạm viquốc tế có những chế độ chính trị khác nhau, chế độ quân chủ chuyên chế,quân chủ lập hiến, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.Hình thái kinh tế - xã hội và chế độ chính trị không đồng nhất với nhau, chế
Trang 16độ chính trị thuộc phạm trù kiến trúc thượng tầng, bao gồm: Bộ máy nhànước, pháp luật và các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội.
Với những khái quát trên, có thể khái quát chế độ chính trị ở các phạm
Dưới góc độ hình thức của nhà nước, thì chế độ chính trị là phươngthức cai trị, quản lý xã hội của giai cấp làm quyền, phương thức dân chủ hayphản dân chủ[15]
Dưới góc độ pháp lý, chế độ chính trị là tổng hợp những quy phạmpháp luật được thể hiện trong Hiến pháp, luật và dưới luật nhằm bảo vệ xã hội
và lợi ích của giai cấp cầm quyền
Trong qúa trình tồn tại và phát triển các thiết chế chính trị - xã hội luôn
có sự ràng buộc với nhau, luôn có sự tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau,đều hay xảy ra trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Toàn bộ các thiếtchế này tạo thành hệ thống chính trị xã hội để nắm giữ và thực hiện quyền lựcchính trị trong xã hội Như vậy, có thể hiểu chính trị là liên minh các thiết chếchính trị - xã hội có liên hệ mật thiết với nhau, tồn tại và hoạt động nhằm bảo
đảm sự tồn tại và hoạt động của toàn xã hội đồng thời bảo vệ lợi ích của giaicấp cầm quyền
Về cấu trúc hình thành, hệ thống chính trị là tập hợp các thiết chế chínhtrị - xã hội được thành lập và hoạt động vì những mục đích chính trị - xã hội
Trang 17khác nhau Các thiết chế đó bao gồm có Nhà nước, các đảng phái chính trị,các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội, trong đó Nhà nước là tổ chức quantrọng nhất Các tổ chức đó được sắp xếp theo một trật tự khách quan, khoahọc và luôn có những mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau.
Về nội dung, hệ thống chính trị được hiểu là một cơ chế thực hiệnquyền lực chính trị trong xã hội Có thể nói quyền lực chính trị là cốt lõi của
hệ thống chính trị Quyền lực đó được vật chất hoá bằng các thiết chế chính trị
xã hội và được biểu hiện thông qua các quan hệ chính trị giữa các lực lượngchính trị - xã hội Quyền lực chính trị được thể hiện một cách tập trung vàtrước hết ở đường lối chính sách của các lực lượng chính trị - xã hội, ở phápluật của nhà nước, chính vì thế, hệ thống chính trị của mỗi nước có ảnh hưởng
rất tới sự tồn tại, phát triển của đất nước nói riêng, của xã hội loài người nóichung, sụ yếu kém, rạn nứt, thiếu thống nhất trong nội bộ hệ thống chính trịthường được chuyển hoá thành các xung đột chính trị - xã hội, cản trở tiến bộ
xã hội.
Có quan niệm khác lại đề cập hệ thống chính trị ở hai góc độ:
Thứ nhất, hệ thống chính trị là hệ thống quyền lực của giai cấp cầm
quyền, hay gọi là hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền, nghĩa là hệthống chính trị chỉ bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội do giai cấp cầmquyền - giai cấp nắm quyền lực về kinh tế Các tổ chức chính trị - xã hội kháckhông được coi là thành tố của hệ thống chính trị
Thứ hai, hệ thống chính trị không chỉ là chuyên chính của giai cấp cầm
quyền mà là tất cả các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp hoặc trực tiếp hoặcgián tiếp liên quan đến quyền lực thống trị của giai cấp thống trị Đó là hệthống tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, trong đó ưu thế cơ bản thuộc về cácthiết chế của giai cấp nắm quyền lực về kinh tế để tác động vào các quá trình
Trang 18kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời vàlợi ích của giai cấp cầm quyền.
Hệ thống chính trị được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau vàcũng có nhiều định nghĩa khác nhau Tuy nhiên có một điểm chung chonhững định nghĩa mà theo đó hệ thống chính trị được coi là hệ thống các tổchức chính trị - xã hội hợp pháp (trong đó có những tổ chức do giai cấp thốngtrị lập nên và cả những tổ chức không do giai cấp thống trị lập nên), các đảngchính trị hợp pháp và nhà nước của giai cấp cầm quyền, quan hệ qua lại thôngqua sự tác động qua lại của các yếu tố đó để chi phối các quá trình kinh tế - xãhội nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển xã hội đương thời, bảo đảm quyền lực
và lợi ích của giai cấp cầm quyền
Từ những quan niệm như trên, có thể khái quát: Thể chế chính trị là các quy tắc được sắp xếp một cách logic hợp thành một chỉnh thể thống nhất điều chỉnh các hoạt động của con ngươi có liên quan đến công việc của nhà nước Theo nghĩa khác, cũng có thể hiểu thể chế chính trị là cái được tạo dựng nên từ các quy tắc đó.
Từ định nghĩa nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của thểchế chính trị:
- Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các gía trị tạo thành nhữngnguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị, các hệ
thống chính trị Theo đặc điểm này, thể chế chính trị bao gồm: Thể chế nhànước, thể chế của đảng chính trị , thể chế các tổ chức chính trị - xã hội
Cũng theo cách xác định tương tự, nhưng PGS TS Nguyễn Đăng Dunglại chia thể chế chính trị thành thể chế chính trị về hành vi và thể chế chính trị
về tổ chức[16] Theo đó thể chế chính trị về hành vi bao gồm (quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực chính trị, chế độ bầu cử và bỏ phiếutrưng cầu) Thể chế chính trị về tổ chức bao gồm (các đảng phái chính trị
Trang 19trong hệ thống chính trị tư sản và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ chínhtrị) Vấn đề này sẽ được tiếp tục đề cập trong phần phân loại thể chế chính trị.
Thể chế nhà nước là những chế định pháp luật có tính cưỡng chế buộcmọi người, mọi tổ chức phải tôn trọng và chấp hành Thể chế các đảng chínhtrị, các tổ chức chính trị - xã hội là những điều lệ, quy định nguyên tắc tổ chức
và phương thức hoạt động của tổ chức đó
Thể chế chính trị là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chínhtrị thuộc thượng tầng kiến trúc
- Thể chế chính trị thể hiện vai trò tuỳ thuộc vào hiệu lực, vai trò củatừng thể chế trong hệ thống chính trị cũng như của cơ chế vận hành của toàn bộ hệthống, trong đó thể chế nhà nước là quan trọng nhất
Trang 201.2 Vị trí và vai trò của thể chế chính trị trong đời sống của mỗi quốc gia
Thể chế chính trị có một vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi quốcgia, chúng can thiệp dù ít nhiều đến đời sống của mỗi công dân và của mọingười dân khác nằm trong lãnh thổ của một quốc gia Bởi lẽ, mọi người dânkhông kể có quốc tịch hay không có quốc tịch đều phải phụ thuộc vào các thểchế chính trị quốc gia Các thể chế chính trị tác động đến sự lựa chọn cáchhành xử của cá nhân và tổ chức, tạo dựng sự ổn định, trật tự và phát triển xãhội
Vị trí, vai trò của thể chế chính trị thể hiện trước tiên trong mối tươngquan, tác động giữa thể chế chính trị và cơ sở kinh tế Thể chế chính trị là một
bộ phận của thượng tầng kiến trúc C.Mác đã chứng minh sự quy định của cơ
sở hạ tầng đối với thượng tầng kiến trúc V.I.Lênin trong thời kỳ xây dựngchính sách kinh tế mới đã đưa ra luận điểm kinh điển về mối quan hệ giữakinh tế và chính trị:
Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, hai là, chính trị không thểkhông giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế Chính trị bao gồm nhiều bộ phận cấuthành: Quan điểm chính trị, hệ tư tưởng chính trị, hoạt động chính trị thựctiễn Với tư cách là một bộ phận của chính trị nói chung, thể chế chính trịtrong quan hệ với kinh tế chịu sự chi phối của quy luật về sự phụ thuộc củakiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng, chính trị là biểu hiện tập trung củakinh tế, chính trị không thể không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế Dựa trênquan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quan hệ chính trị và kinh tế, có thể nhậnthấy tương quan và tác động của thể chế chính trị đối với cơ sở kinh tế ở cáckhía cạnh sau đây:
Trang 21- Kinh tế quy định sự hình thành và phát triển của các thể chế chínhtrị Cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời của các thể chế chính trị Các thể chế
chính trị sinh ra trên cơ sở các tiền đề kinh tế Nhà nước- một thể chế chính trị
tổ chức căn bản ra đời do sự xuất hiện của chế độ tư hữu và mâu thuẫn giaicấp Chế độ tư hữu ra đời, đối kháng giai cấp xuất hiện Để duy trì trật tự xãhội và thống trị bộ phận xã hội còn lại, giai cấp chiếm ưu thế về kinh tế đã tổchức ra Nhà nước, trở thành giai cấp thống trị về chính trị, Không riêng gì nhànước, các thể chế chính trị khác ra đời đều do sự quy định của cơ sở kinh tế.Đảng phái chính trị không phải là một thể chế chính trị cố hữu của mọi xã hộitồn tại nhà nước Đảng phái chính trị ra đời trong sự xuất hiện và phát triểncủa chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư sản khi đã chiếm được ưu thếkinh tế so với giai cấp phong kiến, đã tập hợp thành các đảng phái chính trị đểđấu tranh giành quyền lực nhà nước
Nội dung của thể chế chính trị phản ánh các lợi ích kinh tế Sinh ratrong một xã hội có mẫu thuẫn giai cấp, thể chế chính trị bao giờ cũng thểhiện trước tiên lợi ích của giai cấp chiếm ưu thế về kinh tế Các thể chế chínhtrị trong một nền kinh tế bao giờ cũng phản ánh những lợi ích kinh tế căn bản.Chẳng hạn, đảng cộng sản, công đoàn là sự phản ánh lợi ích căn bản của giaicấp công nhân [16]
Cơ cấu kinh tế quy định cơ cấu thể chế chính trị Cơ cấu của thể chếchính trị là hình thức biểu hiện các quan hệ kinh tế, phản ánh cơ cấu kinh tế
Ví dụ về cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm 80 thế kỷ XX là cơ cấu kinh tếtập trung Hiến pháp Việt Nam năm 1980 xác định cơ cấu của các thể chếchính trị phản ánh cơ cấu kinh tế đó nên cùng mang tính chất tập trung Điềunày biểu hiện ở các quy phạm của Hiến pháp quy định Chính phủ là cơ quanchấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội, tính chất tập thể vàhội đồng trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, thể chế Hội đồng Nhà
Trang 22nước - Chủ tịch nước tập thể Đến Hiến pháp 1992- Hiến pháp của thời kỳchuyển đổi cơ cấu kinh tế từ tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, thì cơ cấu của thể chế chính trị cũng có những biến đổi tươngứng Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội, vừa là cơ quan hànhchính nhà nước cao nhất của Nhà nước, được Hiến pháp mở rộng thẩm quyềntrong lĩnh vực hành chính Thủ tướng chính phủ được tăng thêm nhiều quyềnhạn Hội đồng nhà nước tách thành Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịchnước Thể chế Chủ tịch nước cá nhân được tái lập.
Tính chất của các quan hệ kinh tế quy định tính chất của các quan hệcủa các thể chế chính trị Chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh nền kinh
tế thị trường hoạt động theo cơ chế tự điều chỉnh của bàn tay vô hình, trongđiều kiện đó, nhà nước ít can thiệp vào lĩnh vực kinh tế Chính phủ, về tínhchất là một thể chế can thiệp một cách trực tiếp nhất đến đời sống xã hội.Nhưng trong thời kỳ này, do tình hình trên, chính phủ có ít quyền, phụ thuộcvào nghị viện Nhưng khi mức độ tập trung tư bản dù cao, chủ nghĩa tư bảnđộc quyền nhà nước thay thế chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, thì nhà nướcngày càng can thiệp sâu vào đời sống kinh tế, trở thành bàn tay điều tiết cácquan hệ kinh tế Cùng với sự thay đổi đó, quan hệ giữa các thể chế chính trịngày càng thay đổi chính phủ không còn là cơ quan thuần tuý chấp hành luậtcủa Nghị viện, biến Nghị viện thành cơ quan hoạt động hình thức
- Thể chế chính trị là kiến trúc thượng tầng của cơ sở kinh tế nhưng nókhông phản ánh các quan hệ kinh tế một cách thụ động Thể chế chính trị cótính độc lập tương đối, có ưu thế nhất định, tác động trở lại kinh tế Điều nàybiểu hiện ở những khía cạnh sau:
Các thể chế chính trị nếu không phản ánh đúng quy luật khách quan củakinh tế thì chúng sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển kinh tế Sự tụt hậu, bảo thủcủa các thể chế chính trị so với trình độ phát triển của kinh tế sẽ là yếu tố
Trang 23lực cản đối với sự tiến bộ xã hội Điều này thấy rõ ở thời kỳ cuối của chế độphong kiến Nhà nước phong kiến là một tác nhân cản trở sự phát triển xã hội
vì nó lạc hậu so với các quan hệ sản xuất tư bản vào giai cấp đế chế chủnghĩa, và chiến tranh đế quốc cũng là lực cản đối với sự phát triển xã hội, vì
nó mâu thuẫn với các quan hệ sản xuất đang có xu hướng xã hội hoá ngàycàng cao, không thể bó hẹp trong khuôn khổ quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa
Các thể chính trị nếu phản ánh đúng đắn sự phát triển khách quan củacác quan hệ kinh tế sẽ là một lực lượng cải tạo xã hội Nhà nước phong kiếntrong thời kỳ đầu của nó đã có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển xã hội vì
đã tiến hành giải phóng lao động nô lệ, tạo điều kiện cho các quan hệ sản xuấtphong kiến phát triển Nhà nước tư sản ra đời sau sự sụp đổ của chế độ phongkiến, phản ánh đúng hướng phát triển của các quan hệ kinh tế tư bản chủnghĩa nên nó là một tác nhân chính trị quan trọng đối với sự phát triển của xãhội Sau Cách mạng Tháng Mười, Nhà nước Xô Viết - Một nhà nước xã hộichủ nghĩa ra đời phù hợp với nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhândân lao động, phù hợp với xu hướng xã hội hơn và sự phát triển ngày càngcao của lực lợng sản xuất Vì vậy, Nhà Nước Xô Viết đã tạo ra sự sự tự phátthần kỳ của xã hội Xô Viết, trở tấm gương cho các nước xã hội chủ nghĩa vàcác dân tộc [16]
Giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động muốn giải phóngmình khỏi các quan hệ tư sản và tiểu tư sản, cải tạo các quan hệ kinh tế, làmchủ sở hữu của các tư liệu sản xuất cơ bản, phát triển lực lượng sản xuất, tăngcường kinh tế, trước hết phải tổ chức mình thành giai cấp thống trị Trong
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai đoạn giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị , là giai đoạn giành lấy dân chủ Giai cấp vô
Trang 24sản sẽ dùng sự thống trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung những công cụ sản xuất vào trong tay Nhà nước tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất lên” [38].
Nhà nước - một thể chế chính trị về tổ chức, giai cấp vô sản được tổchức thành giai cấp thống trị, là một phương tiện, công cụ để đạt được cácmục tiêu kinh tế của giai cấp vô sản
Như vậy, qua những điều trình bày ở trên, có thể thấy rằng thể chếchính trị sẽ là lực lượng cải tạo xã hội khi phản ánh đúng đắn sự phát triểnkhách quan của các quan hệ kinh tế, đời sống vật chất của xã hội Cho nên,việc thiết lập các thể chế chính trị phải tính toán một cách toàn diện đến xu h-ướng hoạt động khách quan của các quan hệ kinh tế, đời sống vật chất của xãhội để phát huy vai trò tích cực của thể chế chính trị đối với sự tiến bộ xã hội
Ngoài yếu tố kinh tế, thể chế chính trị còn chịu sự tác động của các yếu
tố khác trong đời sống xã hội Một số thể chế chính trị tốt và phát huy đượcvai trò tích cực trong đời sống của mọi xã hội thì phải có sự phù hợp với cácyếu tố của xã hội đó Yếu tố dặc biệt quan trọng sau kinh tế, tác động đến thểchế chính trị là yếu tố văn hoá Thể chế chính trị phải phản ánh được văn hoátruyền thống của dân tộc Văn hoá được thừa nhận là động lực và mục tiêucủa sự phát triển Cho nên, để phát huy vai trò thúc đẩy sự phát triển xã hội,việc xây dựng thể chế chính trị phải tính đến các yếu tố văn hóa
Không có tự do của một cá nhân trong một dân tộc nô lệ Chủ tịch Hồ
Chí Minh nói:“Tất cả dân tộc toàn thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[39].
Quyền con người ở Việt Nam không chỉ là quyền cá nhân mà là cảquyền dân tộc- bộ phận của quyền con người trong nội dung và mục đích củamình
Trang 25Ngoài kinh tế, văn hoá, các thể chế chính trị để có thể đóng vai trò tíchcực trong đời sống xã hội còn phải phù hợp với hàng loạt các yếu tố khác nhưđiều kiện quốc tế, đặc điểm quan hệ dân tộc, trình độ phát triển khoa học côngnghệ, thậm chí các yếu tố địa lý tự nhiên.
Hoạt động của xã hội loài người được quy định bởi nhiều các định chếkhác nhau: Các định chế chính trị và các định chế phi chính trị Định chếchính trị như phần trên đã phân tích, bao gồm các quy tắc, các tổ chức thựchiện quyền lự nhà nước ở tầm vĩ mô Các định chế phi chính trị có rất nhiều
Ví dụ: Như các định chế kinh tế, các định chế giáo dục, y tế, định chế xã hội Giữa những định chế chính trị và phi chính trị đều có liên quan mật thiết vớinhau, có ảnh hưởng tương hỗ cho nhau Những thể chế liên quan đến nhà nư-
ớc cũng tồn tại các loại rất khác nhau, có thể phân tích thành ba loại chínhtheo nguyên tắc của sự phân chia quyền lực; Thể chế chính trị, thể chế hànhchính và thể chế tư pháp Thể chế chính trị khác với các thể chế còn lại ở chỗ,các công việc nhà nước do thể chế chính trị điều chỉnh ở tâm vĩ mô hơn, cóliên quan đến cách thức tổ chức quyền lực nhà nước Còn thể chế hành chính
và thể chế tư pháp được biết đến trong phạm vi thực hiện quyền lực nhà ước ởtầm vi mô Sự phân biệt này cũng tương tự như sự phân biệt giữa chính trị vớihành chính, và giữa chính trị với tư pháp
Chính trị là những vấn đề liên quan đến quyền lực của nhiều ngườitrong cộng đồng quốc gia, chúng đặt ra những nguyên tắc tổng quát có tínhmục tiêu cho hành chính và cho tư pháp Nếu như các thể chế chính trị có mụctiêu đặt ra những nguyên tắc tổng quát, phi cá nhân, thì của các thể chế hànhchính và của thể chế tư pháp là căn cứ vào đó để áp dụng cho các trường hợp
cụ thể Người ta có khuynh hướng tách biệt hoạt động của quốc gia thành haibậc: Ở bậc trên là của các thể chế chính trị, bậc dưới phụ thuộc các thể chếhành chính và tư pháp Sự phân biệt trên chỉ tương đối rõ ràng trên bình
Trang 26diện lý thuyết, nhiều khi trên thực tế, thể chế chính trị và các thể chế hànhchính có quan hệ mật thiết với nhau Các công chức cao cấp của nhà nước nhưtỉnh trưởng, bộ trưởng , hoạt động của họ đều mang trong mình cả chính trị
và cả hành chính Trong nhiều trường hợp, các quan chức hành chính cũng cónhững quyết định mang tính chất chính trị Ví dụ như họ ban hành các vănbản điều chỉnh các hành vi chính trị của công dân Nếu như sự phân biệt giữathể chế chính trị và thể chế hành chính không được rõ ràng ràng do có sự canthiệp thường xuyên, hoặc ảnh hưởng trực tiếp của hành chính đến chính trị,thì sự phân biệt giữa thể chế chính trị và tư pháp rõ ràng hơn Bởi lẽ, tư phápchủ yếu là áp dụng các quy định do các thể chế chính trị ban hành Chỉ trừtrường hợp đặc biệt trong những vụ việc có tranh chấp giữa các quy định ápdụng, thì tư pháp mới có quyền can thiệp đến sự không rõ ràng của các thểchế chính trị, bằng hoạt động xét xử của tư pháp
1.3 Phân loại thể chế chính trị
Như đã trình bày ở phần trên, thể chế chính trị vừa với tư cách lànhững định chế tạo thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạtđộng của chế độ chính trị, vừa là hình thức thể hiện của các thành tố trong hệthống chính trị, trong thể chế chính trị, thể chế nhà nước bao giờ cũng giữ vaitrò quan trọng nhất Vì vậy, các học giả thường dựa vào thể chế chính trị - cụthể là thể chế nhà nước để phân loại các thể chế chính trị Tên gọi của hìnhthức chính thể cũng chính là tên gọi của thể chế chính trị.Theo đó, có thể đánhgiá những nét cơ bản của thể chế chính trị thế giới đương đại Có nhiều cáchphân loại thể chế chính trị khác nhau, dưới đây là những cách phân loại chính
1.3.1 Phân loại theo chế độ chính trị
1.3.1.1 Thể chế chính trị quân chủ
Trang 27Thể chế chính trị quân chủ là thể chế quy định và bảo đảm quyền lực tốicao của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầunhà nước (có tên gọi Vua hoặc hoàng đế).
Đây là hình thể chính trị lâu đời nhất, hầu hết mang tính chuyên chếcủa quyền lực nhà nước Quyền lực chuyên chế khẳng định nhà vua có toànquyền để cai trị thiên hạ Thể chế quân chủ được thịnh hành ho đến tận nhữngnăm đầu thế kỷ XX
Một số nước hiện nay vẫn mang hình thức tổ chức theo chế độ quân chủ,nhưng nội dung chứa đựng nhiều yếu tố dân chủ
Thể chế chính trị quân chủ xét về mặt lịch sử được hình thành do cáchmạng tư sản không đủ sức đánh bại được giai cấp phong kiến đại diện là các
vị hoàng đế, mặc dù đã lỗi thời, những vẫn còn đủ mạnh, thì ở đó quyền lựcnhà nước buộc phải chia sẻ giữa giai cấp thống trị tư sản và phong kiến, ở đótồn tại thể chế quân chủ Cũng có ý kiến cho rằng đây là mong muốn của giaicấp tư sản, họ muốn giai cấp thống trị cũ thích ứng với phương thức cai trịmới Mặc dù chính thức chính thể quân chủ không được thừa nhận là hìnhthức chính thể dân chủ tiên tíên, nhưng nó lại tồn tại phổ biến trong thế giới tưsản Có thể nói, số lượng các nước tư sản quy định thể chế nhà nước theo hìnhthức quân chủ hiện nay còn rất nhiều, trở thành một loại hình phổ biến của tỏchức nhà nước trên thế giới
Sự tồn tại cho đến nay của thể chế chính trị quân chủ thể hiện sức sốngmãnh liệt đã tồn tại nhiều thế kỷ của chế độ phong kiến Một chế độ đã ăn sâuvào tiềm thức của nhiều dân tộc
Hình thức chính thể này còn tồn tại cho đến nay là tàn dư của chế độphong kiến, được giai cấp phong kiến sử dụng như một công cụ tiềm tàngphòng chống những biến đổi Nhà vua được dựng lên như một nhân vật siêu
Trang 28phàm đứng trên giai cấp, các đảng phái, tượng trưng cho sự vĩnh hằng của chế
độ xã hội đang hiện hành
Thể chế quân chủ trong lịch sử và cho đến nay được phân thành hai loại
cơ bản: Quân chủ tuyệt đối và quân chủ lập hiến
Thể chế quân chủ tuyệt đối là thể chế chính trị mà ở đó quyền chuyênchế, độc tài, không hạn chế thuộc về nhà vua Loại hình thể chế này chỉ tồn tạitrong chế độ phong kiến, hiện nay không còn tồn tại ở các nhà nước tư bảnhiện đại
Quân chủ lập hiến là loại hình phổ biến hiện nay Việc tổ chức quyềnlực nhà nước vừa có Vua, vừa có Hiến pháp Nhà vua chỉ có quyền lực thực
sự khi không có Hiến pháp Một khi đã có Hiến pháp, thì Nhà vua không cònquyền lực như trong chế độ phong kiến nữa Ngày nay, khi nói đến những nhà
nước vừa có Vua, vừa có Hiến pháp, người ta gọi là những “Ông vua lập hiến” tức là có hàm ý chỉ nhưng Ông vua hình thức, không có thực quyền theo công thức: “Nhà vua trị vì nhưng không cai trị” Quyền lực nhà nước chủ yếu
nằm trong tay bộ máy hành pháp và người đứng đầu hành pháp
Ngày nay, vị trí lãnh đạo quốc gia dần dần thay đổi từ giới quý tộc chatruyền con nối sang các quan chức được dân chúng bầu ra Hiện nay, ở nhiềunước, hoàng gia vẫn tồn tại, nhưng Nhà vua không có quyền lực tuyệt đối nhưtrong quá khứ như: Anh, Thuỷ Điển, Đan Mạch, Nhật Bản Chính phủ củaquốc gia này được tổ chức theo mô hình quân chủ lập hiến, người đứng đầu làNhà Vua hay Nữ hoàng Tuy nhiên sự tồn tại của họ chỉ mang tính tượngtrưng, còn chính phủ lại hoạt động theo Hiến pháp
Thể chế quân chủ lập hiến được chia thành hai loại cơ bản: Quân chủnhị nguyên và quân chủ đại nghị
Thể chế quân chủ nhị nguyên là thể chế chính trị mà ở đó quyền lựcnhà nước được chia đều cho hai cơ quan cơ bản của cấu trúc nhà nước là
Trang 29quyền lực của Nhà vua và quyền lực của nghị viện Đây là kiểu thể chế tồn tạikhông lâu ở thời kỳ đầu của cách mạng tư sản Thời kỳ quá độ chuyển từ giaicấp phong kiến sang giai cấp tư sản Sau đó một thời gian loại hình thể chếnày được chuyển sang mô hình thể chế đại nghị.
Thể chế quân chủ đại nghị là loại hình thể chế khá phổ biến hiện nay ở cácnước tư bản phát triển (Anh, Nhật Bản, Tây Ban Nha ) Sở dĩ, đây là loạihình
thể chế được nhiều nước áp dụng vì nó phù hợp với điều kiện hiện nay, giaicấp tư sản thống trị vẫn nắm được quyền, quyền lực tập trung vào tay chínhphủ, Nhà vua chỉ là biểu tượng cho sự tập trung, thống nhất vĩnh hằng của dântộc Chính biểu tượng này lại có tác động tâm lý cho sự tồn tại của chế độhiện thời và khi có những biến cố chính trị , như chiến tranh, nội chiến, đảochính thì Nhà vua lại trở thành chỗ dựa cho giai cấp thống trị
Loại hình thể chế này có những đặc điểm:
- Vua là người đứng đầu nhà nước nhưng quyền lực lại tập trung trongtay nghị viện - cơ quan do dân bầu Quyền lực của Nhà vua chủ yếu mang tínhhình thức, Nghị viện là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền thành lập và
giải tán chính phủ Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện, nhưng trênthực tế, quyền lực tập trung vào tay người đứng đầu hành pháp Hịên nay,quyền lực của thủ tướng Nhật Bản và Anh Quốc là rất lớn
- Vua là người đứng đầu nhà nước, là biểu tượng của sự thống trị phichính trị và không thiên vị Tuy nhiên, trên thực tế, người Nhà vua vẫn phải chịuảnh hưởng của đảng cầm quyền
- Thể chế quân chủ thi hành chủ nghĩa lưỡng viện, song trên thực tế hầunhư tất cả quyền lập pháp tập trung vào hạ viện Hạ viện chẳng những có
quyền tối cao về lập pháp mà còn có quyền thành lập và bài miễn chính phủ, kiểm tra giám sát, hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp
Trang 30- Thể chế chính trị quân chủ đại nghị thừa nhận chế độ đa đảng Tuynhiên, ở Anh luôn duy trì chế độ hai đảng thay nhau cầm quyền, còn ở Nhật lạithực hiện chế độ “một đảng rưỡi” (tức là một đảng lớn liên tục cầm quyền nhưngphải liên minh với một đảng nhỏ).
1.3.1.2 Thể chế chính trị cộng hoà
Thể chế chính cộng hoà xét về bản chất, là loại hình tổ chức nhà nướcdân chủ, mà ở đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nếu như loại hìnhthể chế quân chủ, tính chuyên chế, quyền lực nhà nước tập trung trong taymột vị Vua được truyền ngôi theo nguyên tắc thế tập, nhân dân ở mọi tầnglớp, trừ tầng lớp quý tộc phong kiến, không có quyền tham gia vào công việccủa nhà nước, thì ở thể chế cộng hoà, quền lực này nước thuộc về nhân dângọi là thể chế cộng hoà
Thể chế cộng hoà có hai loại chủ yếu là thể chế cộng hoà đại nghị vàcộng hoà tổng thống và một hình thứ ba kết hợp giữa hai hình thức này tạothành một hình thức nữa, được gọi là thể chế cộng hoà lưỡng tính
Thể chế cộng hoà tổng thống được sinh ra muộn hơn thể chế đại nghị
mà mô hình tiêu biểu là Mỹ quốc Loại hình thể chế này có đặc điểm:
- Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu cơquan hành pháp, do nhân dân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra
- Quyền hành pháp có phần lấn át quyền lập pháp và tư pháp, nhưngnhư ở Mỹ, do thi hành chế độ lưỡng viện cân bằng và quốc hội không bị giải tánbởi Tổng thống nên quốc hội có thực quyền và trở thành đối trọng, kiềm chế Tổngthống
- Việc tổ chức quyền lực nhà nước áp dụng triệt để học thuyết phânchia quyền lực nhà nước một cách tuyệt đối, hay còn gọi là cách phân quyền cứngrắn và tăng cường quyền lực của cá nhân Tổng thống- Ngyên thủ Quốc gia
Trang 31- Thể chế cộng hoà tổng thống thường duy trì chế độ hai đảng thaynhau nắm quyền, thiếu kỹ luật và sự gắn bó, nội bộ ít thống nhất Thực tế là ở
Mỹ, không phải bao giờ tổng thống cũng nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của đảng mình
- Các cơ quan nhà nước được đặt trong một cơ chế kìm chế và đối trọng
Thể chế chính trị cộng hoà đại nghị là hình thức tổ chức nhà nước có
nguyên thủ quốc gia do nhân dân bầu ra, chính phủ do Thủ tướng đứng đầukhông chịu trách nhiệm trước nguyên thủ quốc gia, mà chịu trách nhiệm trướcTổng thống Tiêu biểu cho loại hình thể chế này là Đức, Italia, Áo Thể chếcộng hoà lưỡng tính có những đặc điểm sau:
- Quyền lực nhà nước tập trung vào tay nghị viện, cơ quan do dân trực tiếp bầu ra
- Nghị viện có quyền thành lập chính phủ, bầu ra Tổng thống, đồng thời
2005 và đầu năm 2006 đã củng cố thêm nhận định này
Thể chế cộng hoà hỗn hợp (lưỡng tính) vừa mang tính chất của thể chế
cộng hoà Tổng thống vừa mang tính chất của thể chế cộng hoà đại nghị Tiêubiểu là Nga, Pháp, Phần Lan , thể chế cộng hoà hỗn hợp có đặc điểm:
Trang 32- Tổng thống và Nghị viện đều do nhân dân bầu ra Tổng thống có toànquyền hành pháp, có quyền giải tán Nghị viện, nhưng Nghị viện có quyền canthiệp vào quá trình thành lập chính phủ, buộc Tổng thống phải bổ nhiệm lãnh tụcủa đảng chiếm đa số trong Nghị viện làm Thủ tướng và trên thực tế là
Tổng thống phải chia sẻ quyền lực với Nghị viện Quyền lực của Tổng thống cũng bị chi phối nếu Thủ tướng là người của đảng đối lập
- Quyền lực tập trung vào Tổng thống- Nguyên thủ quốc gia Tổng thống chi phối mọi hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp
Thể chế cộng hoà xã hội chủ nghĩa là loại hình thể chế được tổ chức
theo mô hình cộng hoà Xô Viết (Hội đồng) tuỳ theo tính chất mà thể chế cộnghoà xã hội chủ nghĩa có tên gọi khác nhau Ở Việt Nam là cộng hoà xã hộichủ nghĩa; ở Lào, Bắc Triều Tiên là cộng hoà dân chủ nhân dân, ở TrungQuốc là cộng hoà nhân dân, ở CuBa là cộng hoà Với loại hình thể chế này,quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp
Giống như thể chế chính trị cộng hoà đại nghị, trong thể chế chính trị
xã hội chủ nghĩa, quyền lực thuộc về Quốc Hội, đây là cơ quan có quyềnthành lập Chính phủ, bầu Chủ tịch nước, các chức danh trong bộ máy nhànước, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước
Chính phủ là cơ quan hành pháp, chịu trách nhiệm trước quốc hội, thựcthi vai trò quản lý hành chính và bảo đảm sự thống nhất từ trung ương xuốngđịa phương
Khác với các thể chế cộng hoà khác, trong hệ thống tư pháp của thể chếchính trị cộng hoà xã hội chủ nghĩa có cơ quan viện kiểm sát
Trong thể chế chính trị cộng hoà xã hội chủ nghĩa có thể có chế độ đađảng nhưng Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo
Trang 331.3.2 Phân loại dựa trên mức độ tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước
Căn cứ vào mức độ tham gia của nhân dân vào các công việc của nhànước, người ta thường chia các thể chế chính trị của mỗi quốc gia ra thành hailoại: Thể chế chính trị hành vi và thể chế chính trị tổ chức
Thể chế chính trị hành vi là tập hợp các quy tắc được hình thành trong
qúa trình phát triển của quốc gia, quy định sự tham gia của tất cả công dân,hay đại đa số công dân hợp thành một giai tầng, một giai cấp tham gia vào cáccông việc của nhà nước theo một thể thức nhất định, được nhà nước ban hànhhoặc thừa nhận Những thể thức này trở thành những quy tắc xử sự của cáccông dân thông qua các hành vi ứng xử của họ trong lĩnh vực các công việccủa quốc gia
Thể chế chính trị hành vi, về nguyên tắc chỉ được quy định cho cáccông dân của mỗi một nhà nước sở tại Vì chính trị là vấn đề nhà nước, vấn đề
dân tộc, chúng luôn luôn gắn bó với vấn đề chủ quyền quốc gia, và chỉ cónhững người có quốc tịch của nhà nước sở tại mới được quyền tham gia.Trong những trường hợp đặc biệt, một số ít người không có quốc tịch của nhànước sở tại vẫn được tham gia với tư cách tư vấn theo lời mời hoặc theo mộtthoả thuận với quốc gia sở tại Về nguyên tắc, tất cả các công dân không phânbiệt dân tộc, tôn giáo, thành phần giai cấp đều được tham gia vào các côngviệc nhà nước Tuy nhiên vẫn có sự phân biệt nhất định tuỳ theo quy định củatừng nước và phụ thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể Chính trị là mộtlĩnh vực phức tạp, người tham gia phải có sự chín chắn nhất định Vì vậy, việctham gia vào lĩnh vực bầu cử và ứng cử vào chức vụ trong các cơ quan nhà n-
ớc thờng chỉ đợc quy định cho những công dân đã đủ tuổi trưởng thành Tuổi
để tham gia vào việc bỏ phiếu bầu cử hiện nay đều được các nhà nước trên thế
Trang 34giới quy định cho 18 tuổi trở lên Tuổi ứng cử từ 21 tuổi trở lên Ứng cử viêntổng thống Mỹ phải có độ tuổi từ 35 trở lên và phải là công dân có quốc tịchnguyên thuỷ ( nghĩa là phải được sinh ra ở trên lãnh thổ Liên bang Mỹ) vàphải có đủ 9 năm trở lên sống trên lãnh thổ nước Mỹ Ngoài ra còn nhiều quyđịnh bất thành văn khác được hình thành từ nhiều thập kỷ nay không đượcquy định Ví dụ, trong 43 đời Tổng thống Mỹ từ trước đến nay chưa có ai làđàn bà, chưa có ai là người da màu Vì vậy, thể chế này cho đến hiện nay khó
có thể làm khác đi được
Thể chế chính trị tổ chức có thể được hiểu ở hai nghĩa: Một là các tổ
chức, các cơ quan thực hiện các công việc nhà nước ở tầm vĩ mô, có nhiệm vụphải đưa ra những quyết định ở tầm quốc gia cho toàn bộ nhân dân thực hiện;hai là bao gồm toàn bộ các quy tắc xử sự của các cơ quan, các tổ chức khithực thi nhiệm vụ quyền hạn của mình Thực ra, sự phân biệt này có tính chấthọc thuật hơn là thực tế Khi nói đến các thể chế chính trị tổ chức bao giờcũng gắn bó giữa cơ quan, tổ chức đó với những nhiệm vụ quyền hạn của họ.Những cơ quan và những tổ chức này được gọi là những tổ chức chính trị.Giữa chúng có mối tương quan chặt chẽ với nhau và hợp thành một hệ thốngchính trị của mỗi quốc gia Hệ thống chính trị này ở tầm vĩ mô bao gồm:Đảng phái chính trị, nhà nước, các nhóm lợi ích chính trị, các đoàn thể chínhtrị khác Những thể chế chính trị hành vi thường là cơ sở cho những thể chếchính trị tổ chức Vì các thể chế chính trị tổ chức được hình thành trên cơ sởcủa những thể chế chính trị hành vi
1.3.3 Phân loại theo hình thức thể hiện
Theo cách phân loại này, thể chế chính trị có thể chia làm hai loại: Thểchế chính trị thành văn và thể chế chính trị bất thành văn
Thể chế chính trị thành văn tức là những thể chế được nhà nước ghi
nhận và thông qua bằng các văn bản quy phạm pháp luật Với tính chất quan
Trang 35trọng của chính trị nên thể chế của nó thường được quy định trong bản văn cóhiệu lực pháp luật cao nhất của nhà nước Đó là Hiến pháp của mỗi quốc gia.Chính trị với tính cách là một khái niệm có tính chất tương đối quyết định đếncác lĩnh vực khác của đời sống xã hội nên phải được quy định trong văn bản
có hiệu lực pháp luật cao nhất Vì vậy, có thể nói rằng: Hiến pháp là bản vănquy định chế độ chính trị của mỗi quốc gia, tức là thể chế chính trị của quốcgia Đây là đối tượng điều chỉnh ở nghĩa hẹp của hiến pháp cổ điển
Ngoài Hiến pháp, các thể chế chính trị còn có thể được quy định ở cácvăn bản dưới Hiến pháp bao gồm: Các đạo luật thường, thậm chí cả các vănbản dưới luật
Thể chế chính trị bất thành văn Nhiều thể chế chính trị không được quy
định thành văn, mà chứa đựng bằng các tập tục truyền thống của mỗi quốc gia,cũng như các tập quán địa phương Ví dụ như 43 đời Tổng thống Mỹ, cho tớinay chưa có ai là phụ nữ, hoặc chưa bao giờ là người da màu Hoặc Nữ hoàngAnh, về nguyên tắc được quyền bổ nhiệm thủ tướng nhưng bà ta không thể bổnhiệm một người nào đó khác hơn nếu như người đó không phải là thủ lĩnh củađảng cầm quyền, tức là đảng chiếm đa số ghế động trong hạ nghị viện
Kết luận chương một
Thể chế chính trị là một trong những vấn đề rất quan trọng trong đờisống của mỗi quốc gia Nó can thiệp đến mọi con người và mọi tổ chức trongmột nhà nước Hiện nay, vấn đề này được bàn luận khá sôi nổi trong giới luậthọc ở nước ta, tuy nhiên chưa có một quan niệm thống nhất về thể chế chínhtrị, trên cơ sở tổng hợp các quan niệm của các học giả, có thể khái quát thể
chế chính trị: là các quy tắc được sắp xếp một cách logic hợp thành một chỉnh thể thống nhất điều chỉnh các hoạt động của con ngươi có liên quan đến công việc của Nhà nước Theo nghĩa khác, cũng có thể hiểu thể chế chính trị là cái được tạo dựng nên từ các quy tắc đó.
Trang 36Thể chế chính trị có một vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống của mỗiquốc gia, chúng can thiệp dù ít nhiều đến đời sống của mỗi công dân và củamọi người dân khác nằm trong lãnh thổ của một quốc gia Thể chế chính trịđược phân loại theo nhiều cách khác nhau: theo chế độ chính trị, theo phânloại dựa trên mức độ tham gia của nhân dân vào các công việc của Nhà nước,theo hình thức thể hiện.
Chương 2
NHU CẦU PHẢI THAY ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư của Liên bang Nga
2 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
Liên Bang Nga nằm ở miền Đông Châu Âu và miền Bắc Châu Á, diệntích trên 17 triệu km2, là nước rộng nhất thế giới (chiếm hơn 10% diện tíchlục địa thế giới, 3/4 diện tích Liên Xô cũ), có đường biên giới chung với 14 n-ước, tổng chiều dài đường biên giới gần 40 nghìn Km
Trang 37Trên lãnh thổ bao la của Liên bang Nga có các miền địa hình khácnhau Khu vực giữa dãy Uran và Bantích là đồng bằng Bắc Âu, phía Nam làđồng bằng rộng lớn, mầu mỡ, phía Đông dãy Uran là vùng Sibiri, vùng ViễnĐông mênh mông, giữa biển Đen và biển Caxpi là dãy núi Cápcadơ VùngKalêningrát là vùng lãnh thổ biệt lập của Nga, nằm giữa Ba Lan và Lítva.Nhìn chung, địa hình nước Nga thấp về phía Tây, cao dần về phía Đông Hệthống sông khá phát triển: Sông Vonga dài 3.690 Km, lớn nhất phần lãnh thổChâu Âu, có vai trò quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội: Giao thông vậntải, tưới tiêu, thuỷ điện Các con sông lớn ở vùng Sibiri là Ôbi, Êlixây, Lêna;
ở đây có hồ Baican sâu nhất thế giới
Liên bang Nga có nguồn tài nguyên giàu có và rất phong phú: Có trữlượng lớn về dầu mỏ, khí đốt, than, quặng kim loại đen ( sắt, Mangan), kimloại mầu (Bôxít đồng), vàng, kim cương, quặng phóng xạ (uranium, tôrium).Miền đồng bằng đất đen vùng Đông Âu có độ phì nhiêu cao, đồng bằng TâySibiri kém mầu mỡ hơn nhưng rộng bao la, thuận lợi cho canh tác nôngnghiệp Tài nguyên rừng rất lớn, che phủ gần một nửa diện tích đất nước, đặcbiệt là các dải rừng taiga ở miền Đông - Bắc
Khí hậu liên bang Nga khá đa dạng, thay đổi từ Bắc xuống Nam, có từbằng giá, ôn đới đến cận nhiệt đới, đại dương Nhiệt độ trung bình thángGiêng từ -1 đến - 50 độ C, tháng 7 từ 1 đến 25 độ C Lượng mưa trung bìnhhàng năm là 100 - 1.000 mm
2.1.2 Khái quát về dân cư
Về dân cư, đến tháng 6/2000, Nga có khoảng145,5 triệu người, đứng thứ
6 thế giới Ngoài ra có gần 25 triệu người Nga sống ở các nước thuộc Liên Xô
cũ và gần 2 triệu người Nga sống ở các nước khác Mật độ dân cư thuộc loạithấp trên thế giới (22 người/km2), nhưng phân bố không đều, hơn 80% sốngtrên lãnh thổ Châu Âu Tỷ lệ dân sống ở thành thị khá cao, trên 76%
Trang 38Trong số gần 1000 thành phố, có trên 10 thành phố triệu dân: Matxcơva ( gần
10 triệu), S.Pêtécbua ( trên 5 triệu), Nôvôxibirxk, Êkatêrinbua, Samara, Tula,Iarôxlap, Vladivaxtôc Trong những năm gần đây, mức tăng trưởng dân số
của Nga không quá 0,5% Trên lãnh thổ Liên bang Nga có hơn 100 dân tộcsinh sống, trong đó người Nga chiếm 82%, Tácta 4%, Ucraina 3%, ngoài racòn có các dân tộc khá như: Do Thái, Iakyt, Bashi, Buriat, Đanghestan,Kanmcki, Kareli, Chexnhia, Truva
Tôn giáo chính ở Liên bangNga là đạo chính thống, ngoài ra còn cóThiên chúa giáo, Do Thái, đạo hồi, Phật giáo
2.2 Thể chế chính trị Liên bang Nga trong giai đoạn Liên Xô
Liên bang Nga là một trong những quốc gia ra đời muộn so với cácnước ở Châu Âu Vào thời Hy Lạp - La Mã, các bộ tộc Slavơ vẫn sống trongcác công xã nguyên thuỷ ở Đông Âu Cuối thế kỷ IX, bộ tộc Kiep hợp nhấtvới Nôpgôrơt, thành lập nhà nước đầu tiên Trong các thế kỷ sau, nước Nga
có các trung tâm chính trị khác nhau Tình trạng cát cứ phong kiến là mộttrong những nguyên nhân làm cho nước Nga suy yếu, không đủ sức chống lạigiặc ngoại xâm và từ năm 1240 - 1480, nước Nga phải chịu ách đô hộ của đếquốc Nguyên Mông Thế kỷ XV - XVI, ở Nga thiết lập nhà nước phong kiếntập quyền xung quanh Matxcơva là giai đoạn quan trọng trong việc hình thànhthiết chế nhà nước Nga: Đặt quốc huy mới mang hình con đại bàng hai đầu,
hệ thống chính quyền gồm hai nhánh - Chính phủ của Đại vương công mangtính chất toàn Nga (gồm đại diện của mọi miền đất nước) và hội đồng lãnhchúa (Đuma); ngoài ra Hội đồng giám mục cũng là một cơ quan quyền lực rấtquan trọng Với công việc mở rộng lãnh thổ sang vùng Sibiri, Viễn Đông vàchinh phục các dân tộc phía Nam ( Trung Á và Cápcadơ), nước Nga Sa hoàngtrở thành quốc gia có diện tích rộng nhất thế giới Vào đầu thế kỷ XVIII, PieĐại đế đã tiến hành cuộc cải cách toàn diện ở nước Nga, mở cửa làm ăn buôn
Trang 39bán với Phương Tây, học hỏi kỹ thuật công nghiệp, hải quân chuyển Thủ đô
về S.Pêterbua Từ đó nước Nga duy trì chế độ chuyên chế phong kiến cao độ.Tình trạng vô quyền của đa số các tầng lớp xã hội, kể cả giới quý tộc tồn tạicho đến giữa cuối thế kỷ XVIII Thời kỳ này, lần đầu tiên trong lịch sử nhànước Nga, Nữ hoàng Ekaterina II ban hành cho giới quý tộc một số quyền và
tự do công dân, trong đó có quyền sở hữu cá nhân Sau một thế kỷ, năm 1861,Nga hoàng ban bố Luật cải cách ruộng đất, giải phóng nông nô, nhờ đó ngườinông dân thoát khỏi sự phụ thuộc vào chủ nô, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tưbản phát triển
Cuối thế kỷ XIX, nước Nga đã hoàn thành việc xác định đường biêngiới địa chính trị của mình và trở thành một trung tâm quyền lực ở Châu Âu.Đầu thế kỷ XX, chế độ quân chủ chuyên chế đã bóp nghẹt quyền tự do củacác giai cấp, tầng lớp trong xã hội Nga hoàng nắm trọn quyền lập pháp, hànhpháp Xã hội đấu tranh đòi hạn chế quyền của Nga hoàng Thành lập các cơquan đại diện quyền lực (trước đây, vào thế kỷ XVI, ở Nga đã có hội đồngquản trị địa phương, thành phần tham dự do Nga hoàng chỉ định và do dânbầu, từ thế kỷ XVIII, các uỷ ban lập pháp bắt đầu hoạt động, nhưng chỉ mangtính hình thức) Các Đảng cách mạng được thành lập và truyền bá chủ nghĩaMác vào Nga Dưới áp lực của cách mạng Nga lần lần thứ nhất (1905), Ngahoàng buộc phải nhượng bộ trong lĩnh vực lập pháp, công nhận các quyền tự
do của công dân
Tuyên ngôn của Hoàng đế Nhicolai II“Về hoàn thiện trật tự nhà nước” được coi là Hiến pháp đầu tiên của nước Nga Đuma quốc gia được
thành lập, quyền bầu cử của công dân được ban hành Như vậy, chế độ quânchủ chuyên chế đã chuyển thành chế độ quân chủ lập hiến nhị nguyên Đumaquốc gia ra đời đã kéo theo sự thay đổi về chức năng và vai trò của Hội đồngnhà nước - với tư cách là Thượng viện Từ đó, bất cứ đạo luật nào cũng phải
Trang 40thông qua Đuma và Hội đồng nhà nước, trước khi được Hoàng đế công bố.Tuy nhiên, thực quyền vẫn nằm trong tay Nga Hoàng và chính phủ do ông tathành lập Chính sự đối đầu giữa hai cơ quan hành pháp và lập pháp dẫn đếnĐuma quốc gia, sau một thời gian tồn tại, đã bị Nga hoàng giải tán Sau đó,Đuma được tái lập và tồn tại cho đến năm 1917, được coi là trường học đầutiên của Nghị viện Nga.
Năm 1917, Đảng Bônsêvich do Lênin lãnh đạo đã tiến hành cuộc cáchmạng tháng 10 vĩ đại, lật đổ chế độ Nga hoàng, xây dựng Nhà nước chuyênchính vô sản đầu tiên trên thế giới Ban chấp hành các Xô Viết toàn Nga vàhội đồng uỷ viên nhân dân đã ban hành sắc lệnh xoá bỏ các cơ quan chínhquyền cũ: Các bộ, Đuma, cảnh sát, quân đội, không thừa nhận quyền lực củanhà thờ, xoá bỏ hệ thống toà án, đạo luật cũ
Năm 1918, bản Hiến pháp của nước cộng hoà Xô Viết xã hội chủ nghĩaLiên bang Nga được thông qua, các Xô Viết là cơ quan bảo đảm việc thựchiện dân chủ trong xã hội, khẳng định nước Nga duy trì chế độ liên bang.Ngày 30/12/1922, Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) rađời Hiệp ước Liên bang quy định quyền hạn của các cơ quan nhà nước tốicao, chế độ bầu cử vào các Xô Viết toàn Liên Xô, Thủ đô là Mátxcơva, quyđịnh quyền tự do tách khỏi Liên Xô của các nước cộng hoà Xô Viết Nhà n-ước được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và bảo vệ chủ quyềndân tộc của mỗi nước cộng hoà
Năm1924, Hiến pháp đầu tiên của Liên Xô được thông qua Hiến phápquy định đại hội Xô Viết Liên Xô là cơ quan nhà nước cấp cao, Ban chấphành
trung ương các Xô Viết Liên Xô là cơ quan chấp hành cao nhất Năm 1925bản Hiến pháp thứ hai của Nga ra đời, đề ra cơ chế pháp luật cho Nga với tưcách là một nước cộng hoà trong thành phần Liên Xô