1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cải cách kinh tế liên bang nga và tác động của nó đến vị thế của nga trên trường quốc tế (2000 2012)

106 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 327,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêngđối với Việt Nam, việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Liên bangNga, tận dụng tốt nhân tố Nga trong chủ trương cân bằng quan hệ với các nước lớnđóng vai trò quan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ HUỆ

CẢI CÁCH KINH TẾ LIÊN BANG NGA VÀ TÁC

ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN VỊ THẾ CỦA NGA

TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ (2000-2012)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6

3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 7

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHẢI CẢI CÁCH KINH TẾ LIÊN BANG NGA 12

1.1 Nga lún sâu vào khủng hoảng dưới thời Tổng thống Boris Yeltsin 12

1.2 Tình hình thế giới có nhiều thay đổi 16

1.2.1 Xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới 17

1.2.2 Sự thay đổi bàn cờ địa - chính trị, địa - kinh tế những năm đầu thế kỷ XXI 18

Tiểu kết chương 1: 21

2.1 Kinh tế Nga giai đoạn tăng trưởng vượt bậc 2000 - 2008 23

2.1.1 Chính sách cải cách kinh tế của Tổng thống Putin 23

2.1.2 Thành tựu kinh tế giai đoạn 2000 - 2008 34

2.2 Kinh tế Nga thời kỳ khủng hoảng 2008 - 2012 44

2.2.1 Chính sách cải cách kinh tế 47

2.2.2 Thành tựu kinh tế giai đoạn 2008 - 2012 59

2.3 Những tồn tại của kinh tế Nga giai đoạn 2000 - 2012 65

Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CẢI CÁCH KINH TẾ ĐẾN VỊ THẾ CỦA NGA TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 72

3.1 Tham vọng chính trị của Nga 72

3.2 Vũ khí năng lượng làm tăng vị thế của Liên bang Nga đối với phương Tây 82 3.3 Kinh nghiệm cải cách kinh tế của Liên bang Nga và những gợi ý cho Việt Nam 88

Trang 4

Tiểu kết chương 3 96

PHẦN KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Liên minh châu Âu

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tổng sản phẩm quốc nội

NATO North Atlantic Treaty Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 6

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng của một số quốc gia và khu vực trong giai đoạn 2000

- 2007 (% so với năm trước) 35

Bảng 2.3: Các chỉ số phát triển kinh tế cơ bản (% so với năm trước) 62

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, thế giới chứng kiến sự sụp đổ của

hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu Liên bang Cộng hòaXHCN Xô Viết (tức Liên Xô) trước đó từng là thành trì của cả hệ thống XHCN trêntoàn cầu và là một cực đối trọng của Mỹ trong các cuộc chạy đua vũ trang hao tiềntốn của thời kỳ Chiến tranh Lạnh Liên Xô sụp đổ, nước Nga - người kế thừa hầunhư toàn bộ những tài sản của Liên Xô - đã từ bỏ con đường XHCN mà họ kiên trìtheo đuổi trong hơn 70 năm và từng mang lại thời kỳ huy hoàng cho nước Nga Xôviết

Do trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và tiến hành cải cách kinh tế - xã hội nênchế độ chính trị - kinh tế của Nga khó nhận diện và gọi tên chính xác Về kinh tế, từnăm 1991 và sau đó là từ năm 2000 trở lại đây, Nga đã tiến hành tư nhân hóa hầuhết các ngành kinh tế Tư nhân hóa ở Nga là các hình thức chuyển đổi sở hữu, làquá trình chuyển giao sở hữu (toàn bộ hoặc một phần) của nhà nước vào tay tưnhân Tư nhân hóa là kết quả cạnh tranh trong chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)quản lý kinh tế nhà nước cho khu vực tư nhân Ở Liên bang Nga thống nhất khônggian kinh tế, tự do di chuyển của hàng hóa, dịch vụ, nguồn nhân lực, tài chính, và tự

do hoạt động kinh tế Liên bang Nga công nhận và bảo vệ tài sản tư nhân, nhà nước

và các hình thức sở hữu khác

Từ chối con đường XHCN, trong suốt những năm cuối thế kỷ XX, chính quyềncủa Tổng thống Boris Yeltsin loay hoay tìm cách đưa nước Nga quay trở lại thời kỳhoàng kim mà Liên Xô đạt được trước đây bằng nhiều chính sách quyết liệt nhưnglại càng lún sâu vào khủng hoảng Trong thời điểm khó khăn ấy, nước Nga xuấthiện một chính trị gia xuất chúng là Vladimir Putin, và vị Tổng thống này đã vữngtay chèo lái đưa “con thuyền” nước Nga vượt qua ghềnh thác để từng bước khôiphục kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, lấy lại vị thế cường quốc đã từng bị đánhmất

Sự phục hồi về mọi mặt của nước Nga trong những năm đầu thế kỷ XXI dưới sựlãnh đạo của Tổng thống Putin và sau đó là sự tiếp nối của Tổng thống DmitryMedvedev là một điều vô cùng kỳ diệu khiến cả thế giới kinh ngạc Rất nhiều họcgiả cũng như những chính trị gia trên thế giới và những người quan tâm đến quan

Trang 8

hệ quốc tế đã dành nhiều thời gian và công sức nghiên cứu về sự thần kỳ của nướcNga trong giai đoạn này Để làm rõ những vấn đề nêu trên, tác giả đi sâu tìm hiểu vềnhững cải cách kinh tế của Liên bang Nga trong giai đoạn 2000 - 2012 đã mang đếncho nước Nga sự phục hồi và lấy lại vị thế cường quốc như ngày hôm nay Đồngthời, tác giả cũng nêu ra một số nguyên nhân thành công, tồn tại của cải cách kinh tếLiên bang Nga và tác động của nó đến thế giới và các nước đối tác, trong đó có ViệtNam.

Mặc dù đây không phải là một đề tài hoàn toàn mới, song nó lại có ý nghĩa khoahọc và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Về mặt khoa học, nghiên cứu này đánh giá mộtcách trung thực và khách quan những thành tựu cũng như tồn tại của kinh tế Ngadựa trên những luận điểm khoa học và bằng chứng thực tiễn đã được lịch sử ghinhận

Việt Nam và Liên bang Nga vốn có quan hệ hữu nghị hợp tác trên 60 năm và trảiqua nhiều biến cố thăng trầm Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại đấu tranh giànhđộc lập dân tộc và thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và pháttriển đất nước, Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ lớn lao về cả vật chất và tinh thầncủa Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết (Liên bang Nga ngày nay) Năm 2010, ViệtNam và Nga đã long trọng kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và từ đóđến nay, quan hệ hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực không ngừng đượccủng cố và tăng cường

Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện1 giữa nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Liên bang Nga ngày nay là sự kế thừa và phát triển quan hệ hữu nghị truyền thốngViệt Nam - Liên Xô trong suốt mấy chục năm qua Trong mối quan hệ lâu dài vàbền vững đó, cả Việt Nam và Liên bang Nga đều coi nhau là đối tác tin cậy Riêngđối với Việt Nam, việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Liên bangNga, tận dụng tốt nhân tố Nga trong chủ trương cân bằng quan hệ với các nước lớnđóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đaphương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

-1 Trong chuyến thăm Liên bang Nga ngày 27/7/2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký kết với Tổng thống V.Putin Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Liên bang Nga, http://www.vietnamplus.vn/tuyen-bo-chung-ve-tang-cuong-quan-he- vietnga/155000.vnp ,

c ập nhật ngày 27/7/2012

Trang 9

của mình Vì thế, việc nghiên cứu chính sách cải cách kinh tế của Nga và đánh giáđúng vị thế của Nga trên trường quốc tế sẽ làm tăng thêm những hiểu biết sâu sắc vềđối tác của mình Từ đó, Việt Nam có thể học tập những kinh nghiệm của Nga đểphục vụ công cuộc phát triển kinh tế đất nước và tiếp nhận một cách chủ độngnhững chính sách của Nga đối với Việt Nam Đồng thời, Việt Nam có thể có nhữngđối sách phù hợp nhằm tăng cường mối quan hệ truyền thống và bền vững giữa hainước.

3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

Như tác giả đã đề cập, đây không phải là đề tài hoàn toàn mới Rất nhiều học giảtrong và ngoài nước đã nghiên cứu về kinh tế Nga trong những năm đầu thế kỷXXI Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu có nhiều công trình về nước Nga gồm:GS.TS Bùi Huy Khoát, PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn, PGS TS Nguyễn An Hà,

TS Nguyễn Cảnh Toàn, TS Hà Mỹ Hương… Những công trình nghiên cứu đãđược công bố gồm:

Cuốn Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI do TS Nguyễn An Hà chủ

biên, được Nhà xuất bản (NXB) Khoa học Xã hội phát hành năm 2011 Trong cuốnsách này, các tác giả tập trung phác họa diện mạo chính trị - kinh tế Liên bang Ngatrong thập niên đầu thế kỷ, phân tích xu thế vận động phát triển của Liên bang Ngatrong giai đoạn 2011 - 2020 và đưa ra dự báo tác động của Liên bang Nga tới thếgiới, khu vực và Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

Cuốn Các giải pháp phát triển quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế

mới do PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn chủ biên (NXB Từ điển Bách khoa phát

hành năm 2009) chủ yếu đánh giá thực trạng quan hệ Nga - ASEAN trên các lĩnhvực chủ chốt như thương mại, đầu tư, năng lượng, quân sự, khoa học kỹ thuật…trong những năm đầu thế kỷ XXI Từ đó, nhóm tác giả đưa ra những giải pháp thúcđẩy quan hệ Nga - ASEAN ngày càng hợp tác có hiệu quả

Ngoài ra, còn rất nhiều công trình như cuốn Liên bang Nga trong tiến trình gia

nhập WTO của PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn, TS Nguyễn An Hà do Nhà xuất

bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2007…; cuốn Nước Nga trên trường quốc tế:

Hôm qua, hôm nay và ngày mai của TS Hà Mỹ Hương do NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội phát hành năm 2006; cuốn V.Putin sự lựa chọn của nước Nga của nhà báo Hồng Thanh Quang do NXB Quân đội nhân dân phát hành năm 2001; cuốn Nước

Trang 10

Nga thời Putin của tác giả Ngô Sinh do NXB Văn hóa Thông tin phát hành năm

2008…

Trong hai năm 2011 - 2012, Viện Nghiên cứu châu Âu thuộc Viện Hàn lâmKhoa học Xã hội Việt Nam chủ trì thực hiện chương trình nghiên cứu cấp Bộ “Điềuchỉnh chính sách phát triển của một số quốc gia chủ chốt châu Âu sau khủng hoảngtài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và tác động đến Việt Nam” Chương trìnhnày bao gồm 8 đề tài nhánh và 2 báo cáo thường niên, trong đó có đề tài “Điềuchỉnh chính sách phát triển của Liên bang Nga sau khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế toàn cầu và tác động đến Việt Nam” do TS Nguyễn Thanh Hương làmchủ nhiệm Đây là công trình nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách phát triển củaLiên bang Nga giai đoạn sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, phân tích

dự báo xu thế phát triển của nước Nga đến năm 2020, những tác động của nước Ngađến thế giới, khu vực và các nước lớn, rút ra những bài học kinh nghiệm chuyểnđổi, hội nhập và phát triển của nước Nga, từ đó khuyến nghị Việt Nam trong triểnkhai chiến lược phát triển tới năm 2020 nhằm tăng cường quan hệ đối tác chiến lượctoàn diện với Liên bang Nga

Ngoài ra, còn có nhiều công trình cấp Bộ và hàng trăm bài nghiên cứu đượcđăng trên các tạp chí như Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứuĐông Nam Á, Nghiên cứu châu Mỹ, Tài liệu tham khảo đặc biệt do Thông tấn xãViệt Nam phát hành… Rất nhiều sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng

đã chọn đề tài về nước Nga những năm đầu thế kỷ XXI làm công trình nghiên cứucủa mình

Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu về Liên bang Nga trong giai đoạn này

cũng rất nhiều Tiêu biểu trong số đó là cuốn Putin - Từ Trung tá KGB đến Tổng thống

Nga của tác giả Lý Cảnh Long (Trung Quốc) do Nhà xuất bản Đương đại (Trung Quốc)

phát hành năm 2001 và được Nhà xuất bản Lao động (Hà Nội) dịch sang tiếng Việt.Cuốn sách trình bày quá trình hoạt động của V.Putin từ khi còn làm việc cho KGB (năm1975) cho đến khi trở thành tổng thống thứ hai của nước Nga (2000) Cuốn sách đã pháchọa được chân dung Putin và nêu bật được tính cách, phẩm chất của chính trị gia này.Đồng thời, những sự kiện, những vấn đề nổi cộm trong xã hội Nga giai đoạn 10 năm cuốithế kỷ XX cũng được tái hiện

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã phản ánh khá đa dạng tình hình Liênbang Nga dưới các góc độ đơn lẻ khác nhau Tuy nhiên, những công trình kể trên

Trang 11

tập trung vào các vấn đề nổi bật như: Tình hình kinh tế Nga trong những năm đầuthế kỷ XXI, những nỗ lực của Nga trong tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chứcThương mại thế giới (WTO), chính sách đối ngoại của Nga hoặc chính sách của cácnước đối với Nga, nguyên nhân kinh tế Nga phục hồi và phát triển, vị thế của nướcNga trên trường quốc tế… Chưa có công trình nào trình bày cụ thể, hệ thống vềnhững chính sách cải cách kinh tế của Liên bang Nga trong 12 năm đầu thế kỷ XXIcũng như đánh giá về những thành tựu và hạn chế của công cuộc cải cách kinh tế

mà nước Nga đã tiến hành trong giai đoạn này

Đề tài Cải cách kinh tế Liên bang Nga và tác động của nó đến vị thế của Nga

trên trường quốc tế (2000 - 2012) là sự học tập, kế thừa những công trình nghiên

cứu của các học giả nổi tiếng Nó mới mẻ ở chỗ, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu,xâu chuỗi một cách liền mạch và có hệ thống quá trình cải cách kinh tế Liên bangNga trong 12 năm đầu của thế kỷ XXI qua hai nhiệm kỳ lãnh đạo của Tổng thốngV.Putin và một nhiệm kỳ của Tổng thống D.Medvedev, nêu rõ những thành tựu,hạn chế của công cuộc cải cách này Đề tài sẽ nghiên cứu chi tiết về những chínhsách cải cách dưới thời Tổng thống Putin và Tổng thống Medvedev Trong nghiêncứu này, vấn đề cải cách kinh tế Nga được đặt trong tương quan với tình hình nướcNga trước đó và những biến động của thế giới để có thể đánh giá khách quan nhữngthành tựu nổi bật của Nga cũng như những nhân tố mang lại thuận lợi cho quá trìnhcải cách này Nhờ đi sâu phân tích về cải cách kinh tế, tác giả cũng đưa ra những tácđộng mạnh mẽ của quá trình này đến vị thế của nước Nga trên trường quốc tế tronggiai đoạn đầu thế kỷ XXI và những tác động tới Việt Nam cũng như một số bài họckinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình cải cách kinh tế

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích lớn nhất của đề tài là nêu bật được những chính sách và thành tựu củacải cách kinh tế Liên bang Nga trong giai đoạn 2000 - 2012 và tác động của côngcuộc cải cách kinh tế đến vị thế của nước Nga trên trường quốc tế trong bối cảnh thếgiới có nhiều thay đổi lớn lao và nước Nga cũng vừa mới trải qua những biến cốlớn

Để đạt được mục đích trên, đề tài này hướng đến đối tượng nghiên cứu là chínhsách cải cách kinh tế của Tổng thống Vladimir Putin và Dmitry Medvedev Tác giảtập trung phân tích thuận lợi và khó khăn của những chính sách này khi áp dụng vào

Trang 12

thực tiễn nước Nga Tác giả cũng đặt những chính sách này trong tương quan sosánh với những chính sách mà người tiền nhiệm của Putin là Tổng thống BorisYeltsin đã thực hiện để thấy được sự khác biệt và quan trọng nhất là sự phù hợp vớitình hình nước Nga Từ chính sách cải cách kinh tế qua các đời Tổng thống Putin vàMedvedev (2000 - 2012) có thể thấy được tác động của nó đến vị thế của Nga trêntrường quốc tế và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu vấn đề gồm nước Nga 12 năm đầu thế kỷ XXI (qua hainhiệm kỳ tổng thống của ông Putin 2000 - 2008 và một nhiệm kỳ của ôngMedvedev 2008 - 2012, sau đó là sự trở lại của Tổng thống Putin vào tháng 5/2012)trong sự liên hệ với thời kỳ trước đó và sự vận động của thế giới đương đại

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu làphương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phân tích và tổng hợp từ nhữngnghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu về Nga và về quan hệ quốc tế

Tác giả sử dụng các tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Nga - SNG,Viện Nghiên cứu châu Âu… của các chuyên gia về Nga như GS TS Bùi HuyKhoát, PGS TS Nguyễn Quang Thuấn, PGS TS Nguyễn An Hà, TS Nguyễn CảnhToàn, TS Hà Mỹ Hương, TS Nguyễn Thanh Hương…, những bài viết trên các tạpchí khoa học chuyên ngành của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và BộNgoại giao như Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu châu Mỹ,Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Thông tấn xã Việt Nam…, các website chínhthống của Chính phủ và các Bộ, ngành của Việt Nam và Liên bang Nga

Luận văn này gồm ba phần chính:

Phần mở đầu

Phần này chủ yếu nêu lý do chọn đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đềtài, thực trạng nghiên cứu đề tài hiện nay cũng như các phương pháp khoa học chủyếu đề thực hiện đề tài

Phần nội dung

Phần này gồm ba chương là Tính tất yếu khách quan phải cải cách kinh tế

Liên bang Nga; Thành tựu và tồn tại của cải cách kinh tế 2000 - 2012; và Tác động

Trang 13

của cải cách kinh tế đến vị thế của Nga trên trường quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam.

Chương thứ nhất nêu những nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến Ngaphải tiến hành cải cách Nguyên nhân chủ quan chính là thực tiễn kinh tế Nga suythoái, kiệt quệ vì những chính sách sai lầm dưới thời Tổng thống Yeltsin khiến nướcNga tụt hậu so với thế giới, rơi vào cảnh nợ nần chồng chất, bị nhiều nước khácvượt qua, vì thế mà địa vị và uy tín của Nga cũng bị giảm sút Chính tình hình ấybuộc các nhà lãnh đạo Nga phải tìm một phương hướng cải cách mới phù hợp vớitình hình đất nước Nguyên nhân khách quan là xu thế toàn cầu hóa trong quan hệquốc tế và sự vận động không ngừng của thế giới buộc nước Nga phải tiến hành cảicách để bắt kịp với xu thế của thời đại nhằm khôi phục lại địa vị cường quốc vốn có

Chương thứ hai trình bày những chính sách cải cách kinh tế đã được Tổngthống Putin và Medvedev thực hiện từ năm 2000 đến 2012, so sánh với chính sách

mà Tổng thống Yeltsin đã thực hiện trước đó, xác định ngành năng lượng, trong đódầu mỏ và khí đốt có vị trí chiến lược không chỉ đối nội mà còn đối ngoại hữu hiệu.Cũng trong chương hai, tác giả nêu bật những thành tựu và tồn tại của kinh tế Liênbang Nga trong giai đoạn này, từ đó khái quát thành những đặc điểm của cải cáchkinh tế Liên bang Nga

Chương thứ ba đánh giá khách quan những tác động của cải cách kinh tế đến

vị thế nước Nga Nhờ có những thành tựu đáng kinh ngạc mà chỉ trong thời gian rấtngắn, nước Nga đã khôi phục lại địa vị cường quốc về kinh tế cũng như về chính trị.Nga đã sử dụng kinh tế (cụ thể là ngành năng lượng) làm công cụ chính trị để tăngcường sức mạnh quốc gia về mọi mặt Tác giả cũng dành một phần nhỏ để nói vềnhững kinh nghiệm của công cuộc cải cách kinh tế Liên bang Nga đối với quá trìnhĐổi mới ở Việt Nam

đề tài còn nhiều hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp để nghiên cứu được hoàn thiện hơn

11

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHẢI CẢI CÁCH

KINH TẾ LIÊN BANG NGA

1.1 Nga lún sâu vào khủng hoảng dưới thời Tổng thống Boris Yeltsin

Công cuộc cải tổ sai lầm của Gorbachev đã dẫn đến sự tan rã của Liên bangCộng hòa XHCN Xô viết ngày 31/12/1991, kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thốngXHCN ở Đông Âu Trước tình hình này, Liên bang Cộng hòa XHCN Nga đã tựtách ra khỏi Liên Xô để trở thành Liên bang Nga như ngày nay2 Nước Nga từ chốicon đường XHCN, “đoạn tuyệt” với Chủ nghĩa Mác - Lênin Trong bối cảnh đó,Boris Yeltsin trở thành tổng thống đầu tiên của nước Nga và đã có những điều chỉnhrất căn bản trong những biện pháp phát triển kinh tế đất nước cũng như chính sáchđối ngoại nhằm đưa nước Nga từng bước thoát khỏi khủng hoảng Mặc dù chínhquyền B.Yeltsin cũng đạt được một số thành tựu nhất định, đặc biệt là những bướctiến lớn về công cuộc xây dựng xã hội dân chủ và đưa đất nước tiến lên theo nềnkinh tế thị trường nhưng dường như ông Yeltsin càng cố gắng đưa đất nước đi lênthì lại càng lún sâu vào khủng hoảng, nạn tham nhũng ngày càng nặng nề

Trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội nước Nga bất ổn định dẫn đến hậuquả tai hại là sản xuất đình trệ, thiếu thốn triền miên các mặt hàng thiết yếu nhưlương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất, giới cầm quyền Liênbang Nga đứng đầu là Tổng thống B.Yeltsin đã nhanh chóng thành lập một chínhphủ đủ mạnh để thực hiện cải cách Ông Yeltsin đã tin tưởng giao trọng trách xâydựng đường lối cải cách kinh tế cho Thủ tướng G.Gaidar Với ít nhiều ảnh hưởngquan điểm của Mỹ và phương Tây, cùng với mong muốn nhanh chóng đưa nền kinh

tế vận hành theo cơ chế thị trường, Thủ tướng G.Gaidar đã chọn “liệu pháp sốc”.Mũi nhọn của “liệu pháp sốc” là tự do hóa kinh tế, tư nhân hóa và hạn chế tối đa vaitrò điều tiết của nhà nước Đây là giải pháp khá đồng bộ, triệt để, nhất quán trongviệc áp dụng nhanh nhất những biện pháp mạnh làm thay đổi toàn bộ cơ sở của nền

2 Trần Anh Phương (2008), Từ nước Nga - Lênin đến nước Nga Medvedev và Putin, Nghiên cứu châu Âu, số

1 (98), tr.15

Trang 15

kinh tế, đưa nó sang vận hành theo những nguyên lý cơ bản của nền kinh tế thịtrường.

Để chính thức hóa “liệu pháp sốc”, Tổng thống B.Yeltsin đã công bố hàngloạt các sắc lệnh dài hạn, ngắn hạn và Quốc hội đã thông qua các đạo luật khác nhau

về tư nhân hóa, tự do hóa giá cả, tự do buôn bán Trong đó, tư nhân hóa được coi

là giải pháp quan trọng nhất của cải cách thị trường ở Liên bang Nga Từ tháng7/1991, Liên bang Nga đã ban hành Luật Tư nhân hóa nhằm cụ thể hóa những vấn

đề pháp lý có liên quan đến tư nhân hóa như quyền sở hữu, phương pháp bán các xínghiệp quốc doanh, định giá tài sản xí nghiệp, mua cổ phần, sử dụng nguồn vốn thuđược từ việc bán các xí nghiệp quốc doanh Tiếp theo là các sắc lệnh nhằm cụ thểhóa hoặc thay đổi, bổ sung Luật Tư nhân hóa (1991) Tuy nhiên, sự yếu kém củachính sách tư nhân hóa cũng như nguồn tài chính của Liên bang Nga cũng bộc lộvới tình trạng thiếu hụt ngân sách trầm trọng đến mức phải nợ lương và các chi phí

xã hội khác

Cùng với tư nhân hóa, Chính phủ Liên bang Nga cũng thực hiện chính sách

tự do hóa giá cả, tự do buôn bán Chỉ trong một thời gian ngắn đầu năm 1992, có tới95% hàng hóa cùng một lúc được giải phóng khỏi sự kiểm soát của nhà nước để chothị trường tự điều tiết Về nội thương, hệ thống thu mua, buôn bán của nhà nước hầuhết bị xóa bỏ, khuyến khích tư nhân tham gia buôn bán Về ngoại thương, nhà nướcchủ trương mở cửa, đẩy mạnh xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư của nước ngoàitrên cơ sở đa phương hóa bạn hàng, tăng cường mở rộng các thị trường, đồng thờicủng cố các thị trường truyền thống, đặc biệt chú ý đến vấn đề tái thiết, liên kết vớicác nước SNG Những chính sách này đã giải quyết được tình trạng khan hiếm hànghóa, song giá cả lại tăng vọt (gấp từ 10 - 20 lần) ngoài sự dự đoán của Chính phủ3

Chính ông Yeltsin đã đẩy mạnh cải cách tự do thị trường, hình thành khu vựckinh tế tư nhân và mở cửa khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài Thế nhưng,chính sách cải cách theo phương Tây này lại mắc phải sai lầm là không phù hợp vớitình hình đất nước khiến nền kinh tế đi chệch hướng, không đạt được những mụctiêu đặt ra “Liệu pháp sốc” đã không đưa lại những kết quả như mong muốn của

3 Nguyễn Thị Huyền Sâm (2005): Kinh tế Liên bang Nga thời kỳ cầm quyền của Tổng thống B.Yeltsin: Thực

trạng và nguyên nhân, Nghiên cứu châu Âu, số 1 (61), tr.35

Trang 16

những nhà cải cách mà nhanh chóng bộc lộ hạn chế do việc đẩy nhanh tự do hóakinh tế, tư nhân hóa, từ bỏ vai trò đầu tư của nhà nước vào các nhà máy xí nghiệp

đã làm giảm sút các tiềm năng sản xuất của quốc gia ở mức độ cao Thậm chí, nếukhông giữ vững được sự ổn định chính trị, xã hội , “liệu pháp sốc” có thể dẫn đếntình trạng đình trệ sản xuất, giảm sút mức sống của người dân

Kết quả cuối cùng là trong những năm dưới sự lãnh đạo của Tổng thốngB.Yeltsin, nước Nga liên tục bị suy giảm về mọi mặt: Kinh tế kiệt quệ, nghèo đói và

nợ nước ngoài chồng chất không thể trả được; chính trị bất ổn, an ninh xã hội rốiren, khủng bố nảy sinh vì mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, đảng phái Việc leo thanggiá cả lại không có sự điều tiết của nhà nước đã dẫn đến hậu quả tất yếu là lạm phátvới tốc độ phi mã và GDP gần như luôn tăng trưởng âm (Xem bảng 1.1)

Bảng 1.1: Tình trạng lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP của Liên bang Nga(1991 - 1999) Đơn vị: %4

62 (1998) trong tổng số các nước trên thế giới Vì vậy, Nga được World Bank xếpvào hàng các nước có thu nhập trung bình thấp Đời sống nhân dân Nga gặp nhiềukhó khăn Kết quả cuộc khảo sát của World Bank cho thấy, năm 1999,

4 Nguyễn Thị Huyền Sâm (2005), Đánh giá trách nhiệm của Tổng thống B.Yeltsin trước thực trạng kinh tế xã

hội (1992-1999), Nghiên cứu châu Âu, số 4 (64), tr 49

Trang 17

hơn 40% dân số Nga có mức thu nhập 4 USD/ngày và có tới 50% trẻ em Nga phảisống trong các gia đình nghèo “Trong giai đoạn ông B.Yeltsin nắm quyền, GDPNga đã giảm khoảng 60% so với thời Xô viết, kéo theo những hậu quả tồi tệ, điềuchưa từng thấy trong thời gian hòa bình Nga bị suy yếu cả trong nước và trêntrường quốc tế Khoảng từ năm 1998, Nga đã mất vai trò ảnh hưởng của mình ở gầnnhư tất cả các nước mà Nga vốn có ảnh hưởng, kể cả ở Đông Nam Á”5 Thêm vào

đó, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng rõ rệt, tình hình chính trị bất ổnđịnh, sự ủng hộ của người dân Nga đối với tổng thống bị sụt giảm đến mức trầmtrọng, có những thời điểm chỉ còn 5%

Bảng 1.2: Các chỉ số kinh tế của Liên bang Nga so với tổng số và mức trung

bình của thế giới (%) trong thời gian 1991 - 19976

GDP trên đầu người 118,5 99,1 99,7 77,5 74,1 70,8 68,4Năng suất lao động 74,7 66,1 60,8 51,9 50,1 49,4 52,0

Tỷ lệ nghịch với sự yếu kém, tăng trưởng âm của nền kinh tế trong nhữngnăm 1990 là sự phát triển nhanh của nền kinh tế ngầm Theo Ủy ban Thống kê Nhànước Liên bang Nga, trong khoảng thời gian 1992 - 1994, kinh tế ngầm chiếm từ 9 -10% GDP, năm 1995 là 20%, năm 1996 là 23% Nếu theo số liệu điều tra của BộNội vụ Nga thì tỷ lệ này còn cao hơn nhiều Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thống kê,năm 1997 ở Nga có 41.000 xí nghiệp, 50% số ngân hàng, hơn 80% số xí nghiệp liêndoanh có thể liên quan đến các nhóm tội phạm có tổ chức Thậm chí, hoạt động kinh

tế ngầm còn có sự liên kết giữa các nhà chính trị với thương nhân ở các khu vựcthuộc Liên bang Hoạt động kinh tế ngầm chính là nguyên nhân làm thất thu ngânsách nhà nước, đồng thời là nguồn gốc của tình trạng chảy vốn ra nước ngoài với sốlượng không nhỏ - khoảng 20 tỷ USD mỗi năm (chủ yếu để tẩu tán tài sản vì hoạtđộng kinh doanh gian lận, trốn thuế hoặc để rửa tiền bất hợp pháp)

5 Nguyễn Thị Huyền Sâm (2005), Đánh giá trách nhiệm của Tổng thống B.Yeltsin trước thực trạng kinh tế xã

hội 1992-1999, Nghiên cứu châu Âu, số 4 (64), tr.51

6 Nguyễn Thị Huyền Sâm (2005): Kinh tế Liên bang Nga thời kỳ cầm quyền của Tổng thống B.Yeltsin: Thực

trạng và nguyên nhân, Nghiên cứu châu Âu, số 1 (61), tr.37

Trang 18

Năm 1998, một cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị xuất hiện khi chínhphủ của ông Yeltsin không thể trả nổi các khoản nợ các tổ chức tài chính quốc tế,gây ra tình trạng hoảng loạn trên các thị trường tài chính Nước Nga vỡ nợ và đứngtrên bờ vực nguy khốn.

Trước tình hình đó, ngày 31/12/1999, khi chuẩn bị đến thời khắc giao thừabước sang năm mới, thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, Tổng thống Yeltsin đã chínhthức đình chỉ quyền tổng thống của mình, đồng thời chỉ định Thủ tướng VladimirPutin nắm quyền tổng thống và chuẩn bị cho cuộc bầu cử sớm chức vụ tổng thốngcủa nước Nga

Khi ông Putin được chỉ định nắm quyền tổng thống và ngay cả khi ông đãchính thức bước chân vào Điện Kremlin bằng thắng lợi trong cuộc bầu cử tháng3/2000, con người V.Putin như thế nào, đối với nhiều người, đó vẫn còn là một dấuhỏi lớn Thời điểm đó, nhiều người Nga và dư luận thế giới vẫn còn hoài nghi vềkhả năng lãnh đạo của chính trị gia 48 tuổi này Những người sùng bái Putin thì cangợi ông là mẫu người lý tưởng để dẫn dắt nước Nga thoát khỏi những năm thángđen tối Họ nói, Putin chủ trương tăng cường quyền lực của Điện Kremlin nhưngthực chất lại thực hiện dân chủ; dốc sức để chính phủ kiểm soát kinh tế nhưng lại đềcao sức mạnh thị trường; là người ủng hộ Boris Yeltsin nhưng không giống những

kẻ lắm âm mưu, tham nhũng dưới quyền Yeltsin7

V.Putin lên nắm quyền khi nước Nga tồn tại một loạt vấn đề chính trị, kinh

tế, xã hội nghiêm trọng: Pháp luật không thống nhất, kém hiệu lực, trung ương mấtquyền kiểm soát đối với địa phương, chủ nghĩa khủng bố, ly khai hoành hành, kinh

tế ngầm, buôn lậu, trốn thuế, tham nhũng lộng hành, tội phạm có tổ chức hoạt độngmạnh8

Ngay khi trở thành ông chủ Điện Kremlin, Tổng thống V.Putin đã đưa racương lĩnh lãnh đạo đất nước của mình và thực hiện công cuộc cải cách kinh tế mộtcách toàn diện và triệt để, đưa nước Nga bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyêncủa Putin

1.2 Tình hình thế giới có nhiều thay đổi

7 Lý Cảnh Long (2011), Putin - Từ Trung tá KGB đến Tổng thống Liên bang Nga, NXB Lao động, Hà Nội,

tr.11

8 Nguyễn An Hà chủ biên (2011), Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, Hà

Nội, tr.23

Trang 19

1.2.1 Xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới

Trong suốt thế kỷ XX, xu thế quốc tế hóa trên quy mô khu vực và toàn cầungày càng phát triển mạnh mẽ Sự hòa nhập của cuộc cách mạng khoa học côngnghệ hiện đại với cuộc cách mạng thông tin tiên tiến đã thúc đẩy nền sản xuất pháttriển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, vượt ra khỏi ranh giới địa chính trịchật hẹp truyền thống Vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, quá trình quốc tếhóa đã đạt đến một quy mô mới, to lớn hơn và ở một trình độ cao hơn, đó chính làtoàn cầu hóa

Sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, Chiến tranh Lạnhcũng kết thúc, xu thế đối thoại, hợp tác thay cho đối đầu, kéo theo đó là sự ấm lêncủa các quan hệ quốc tế bởi không còn đối đầu và các quốc gia không còn bị xếpvào hai hàng đối địch nhau giữa làn ranh giới bạn - thù cứng nhắc Tất nhiên, sự ấmlên này không có nghĩa là thế giới đã có thể “giã từ vũ khí” mà xu hướng chung làcác nước tập trung vào phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân Chính vìvậy, các quan hệ hợp tác về mặt kinh tế được đặt lên hàng đầu trong các mối quan

hệ quốc tế Xu thế toàn cầu hóa đã lôi cuốn hầu hết các quốc gia ở tất cả mọi trình

độ phát triển, sản sinh ra nền kinh tế thị trường ở cấp độ toàn cầu, kéo theo quá trình

tự do hóa kinh tế, tăng cường sự liên kết kinh tế khu vực, song phương và đaphương Cùng với đó, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão đãđưa nền kinh tế thế giới từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức Điều này đặt rayêu cầu đối với các quốc gia nói chung và Liên bang Nga nói riêng là phải có nhữngchính sách cải cách phù hợp với xu thế vận động, phát triển của thế giới Liên bangNga cũng luôn khẳng định rằng, những thành tựu mà Nga đạt được phụ thuộc rấtnhiều vào những yếu tố quốc tế và khu vực “Nga chỉ có thể tồn tại và phát triểnđược trong biên giới hiện nay của mình như một cường quốc năng động, luôn thựcthi các chính sách đối với mọi vấn đề đang hiện diện của thế giới trên cơ sở tínhtoán thực tế khả năng của mình”9

Chính phủ Nga nhận thức được rằng, trong những năm đầu thế kỷ XXI, thếgiới đang thực sự thay đổi với sự gia tăng của toàn cầu hóa, tác động tích cực đếnviệc phân chia nguồn lực phát triển kinh tế một cách công bằng hơn, tạo ra nền tảng

9 Nguyễn An Hà chủ biên (2011), Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, Hà

Nội, tr.19

Trang 20

cho một cấu trúc đa cực trong quan hệ quốc tế Trong nền chính trị thế giới ý nghĩacủa yếu tố năng lượng ngày càng gia tăng, vị thế của Liên bang Nga như một cườngquốc năng lượng ngày càng được củng cố Một nước Nga mạnh hơn, tự tin hơn đãtrở thành một nhân tố quan trọng trong sự chuyển biến của thế giới Môi trườngcạnh tranh và sự cân bằng dần dần được hồi phục kể từ sau khi Chiến tranh Lạnhkết thúc Mô hình phát triển, định hướng phát triển được quan niệm như thước đocủa nền văn minh và là đối tượng gây nên cạnh tranh, xung đột Những giá trị cơbản của dân chủ và thị trường được ghi nhận như là những nền tảng của đời sống xãhội và đời sống kinh tế Việc thực hiện chúng có nhiều cách thức phụ thuộc vào đặcthù lịch sử, văn hóa của các dân tộc cũng như mức độ phát triển kinh tế xã hội củamỗi quốc gia10.

1.2.2 Sự thay đổi bàn cờ địa - chính trị, địa - kinh tế những năm đầu thế kỷ XXI

Sự kết thúc Chiến tranh Lạnh đã tạo ra một bước ngoặt địa chính trị thế giới

và khu vực, đưa đến sự hợp tác sâu rộng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Trongcấu trúc địa chính trị của thế giới những năm đầu thế kỷ XXI, “Mỹ vẫn là một quốcgia nắm giữ vai trò điều khiển “cuộc chơi” toàn cầu, tiếp tục gia tăng chủ nghĩa đơnphương, lấn át vai trò của Liên Hợp Quốc”11 trong việc giải quyết một số vấn đềkhu vực và toàn cầu Mỹ tăng cường kiềm chế Nga cả về chính trị, kinh tế và quân

sự, khiến quan hệ Nga - Mỹ tuy đã có những thay đổi tích cực, song vẫn chưa thể làđối tác bình đẳng Tuy nhiên, Mỹ lại gặp phải rất nhiều khó khăn như tiếp tục sa lầytrong chiến tranh Iraq, mâu thuẫn trong vấn đề hạt nhân Iran và Bắc Triều Tiên,giảm sút vai trò ở Trung Đông, khó khăn trong vấn đề ngăn chặn và chống khủng

bố quốc tế…

Việc EU - đồng minh thân cận của Mỹ, và NATO tăng cường mở rộng sangphía Đông đã đe doạ trực tiếp không gian địa chính trị của Nga, khiến cho quan hệcủa Nga với Mỹ và hai tổ chức này liên tục có những thăng trầm

10 Nguyễn An Hà chủ biên (2011), Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,

tr.20

11 Nguyễn An Hà (2008), Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa

học Xã hội, Hà Nội, tr.15

Trang 21

Sự phát triển mạnh mẽ của Ấn Độ cùng với các quốc gia Đông Á, trong đó

ấn tượng nhất là Trung Quốc và sự năng động của các nước ASEAN đã làm chokhu vực châu Á trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của các cường quốc, trở thànhmột nhân tố quan trọng trong cấu trúc địa chính trị thế giới Sự năng động đó khiếnkhông chỉ Mỹ, EU mà cả Nga cũng muốn tranh thủ hợp tác để tăng cường sức mạnhcủa mình ở khu vực này thông qua nhiều cơ chế song phương và đa phương

Hệ quả tiêu cực của cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ phát động tạiAfghanishan, Iraq, quan hệ căng thẳng của điểm nóng chính trị Trung Đông và nhucầu dầu mỏ tăng cao do sự phát triển công nghiệp của các nền kinh tế lớn trên thếgiới, cùng với sự hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên đã khiến cho vấn đề an ninhnăng lượng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Giá dầu mỏ trên thế giới liên tục tăngcao và đạt mức kỷ lục 147 USD/thùng vào tháng 7/2008, sau đó có giảm nhưng vẫncòn ở mức cao và có những biến động thất thường khiến toàn bộ “thế giới đảo lộntheo giá dầu” Tuy nhiên, khi Nga - quốc gia sở hữu nguồn dầu lửa và khí đốt có trữlượng lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Arập Xêút coi năng lượng là một công cụ củachính sách đối ngoại thì vấn đề an ninh năng lượng lại càng diễn biến phức tạpkhiến cho các quốc gia phải cùng nhau ngồi lại để bàn bạc nhưng vẫn rất khó khăn

để có thể đưa ra được một tiếng nói chung

Cấu trúc địa chính trị trên khiến các quốc gia trên thế giới phải có những điềuchỉnh nhất định cho phù hợp với tình hình chung và phù hợp với lợi ích riêng củamỗi nước Trước bối cảnh giá dầu thế giới tăng cao, Nga là quốc gia thu đượcnguồn lợi khổng lồ từ việc xuất khẩu dầu lửa và khí đốt, làm động lực thúc đẩy sựphục hồi và phát triển kinh tế đất nước Để đạt được mục tiêu khôi phục lại địa vịcường quốc của mình, Nga đã có những điều chỉnh rất căn bản trong chính sách cảicách kinh tế cũng như chính sách đối ngoại theo hướng thực dụng nhằm tăng cườngđồng minh

Về cấu trúc địa kinh tế của thế giới hiện nay, Mỹ vẫn không ngừng nỗ lực nhằmduy trì vị trí siêu cường cả về chính trị, quân sự và kinh tế Trong nhiều năm, Mỹ vẫn làmột trong những nhà xuất khẩu lớn và là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới Chính vai trò

Trang 22

nhà nhập khẩu làm cho Mỹ trở thành động lực của nền kinh tế thế giới Hệ thống tàichính Mỹ có ảnh hưởng to lớn tới nền kinh tế thế giới12.

Bên cạnh đó, một số trung tâm kinh tế mới nổi và ngày càng phát triển, cạnhtranh lẫn nhau, đe doạ vị thế thống trị về kinh tế cũng như về chính trị của Mỹ như

EU, Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản…), Nga, Ấn Độ, Brazil, Iran…Trong khinhững mối quan hệ truyền thống của Mỹ với các quốc gia Hồi giáo Trung Đông,đặc biệt là với Iran, một nước lớn về xuất khẩu dầu mỏ, ngày càng xấu đi, thì Ngalại khá thành công trong việc tăng cường hợp tác với hai nền kinh tế mới nổi và cótốc độ phát triển rất đáng nể phục là Trung Quốc và Ấn Độ, tạo thành tam giác pháttriển Nga - Trung - Ấn Điều đó đã tạo nên một cuộc cạnh tranh ngầm giữa Nga và

Mỹ nhằm tranh giành thị trường và cũng là để tăng cường và khẳng định vị thếchính trị của mỗi nước Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ngày càng gia tăng, sứcmạnh kinh tế của các quốc gia, khu vực đang dần trở thành yếu tố quyết định vị thếcủa họ trong cấu trúc quyền lực của thế giới Ngay khi trở thành ông chủ ĐiệnKremlin, Tổng thống Putin nhận thức được nguy cơ tụt hậu rất rõ của đất nướctrước thực trạng kinh tế ngày càng sụt giảm Chính vì thế, chính quyền của ôngPutin đã nhanh chóng đưa ra những chính sách cải cách kinh tế một cách triệt để

Nga tiến hành cải cách kinh tế còn bởi một loạt các lý do sau:

Thứ nhất, Nga từng là một siêu cường không chỉ về quân sự mà còn là mộtcường quốc về kinh tế Tuy nhiên, để có thể trở thành Top 5 của nền kinh tế thếgiới, chi phối được nhiều nước, đặc biệt là sử dụng đòn bẩy kinh tế như là một thứ

vũ khí lợi hại, như là một công cụ sắc bén trong quan hệ quốc tế thì buộc Nga phảicải cách để nó trở thành con “át chủ bài”, “thứ vũ khí lợi hại” trong quan hệ quốc tế,phục vụ cho chiến lược đối ngoại của Nga đến năm 2030

Thứ hai, cải cách kinh tế là một quá trình tự hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu

tự thân của mỗi nền kinh tế, trong đó có Nga, trong một khoảng thời gian lịch sử nhấtđịnh và luôn vận động, phát triển không ngừng để phù hợp với tình hình mới

Thứ ba, cải cách kinh tế là một tất yếu khách quan để nền kinh tế Nga tồn tại

và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu mới

12 Nguyễn An Hà (2008), Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã

hội, Hà Nội, tr.17-18

Trang 23

Thứ tư, cải cách kinh tế của Nga vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính phổbiến trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ năm, cải cách kinh tế Nga là nhân tố mới trong dòng chảy kinh tế quốc

tế, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước đối tác, trong đó có Việt Nam

Thứ sáu, cải cách kinh tế Nga có tầm quan trọng rất lớn trong việc hoạchđịnh chính sách đối nội và đối ngoại của quốc gia này

Tiểu kết chương 1:

Bước vào ngưỡng cửa thế kỷ mới với những khó khăn chồng chất, tình trạngkhủng hoảng toàn diện về kinh tế - xã hội sau gần một nhiệm kỳ thử nghiệm và tiếnhành đường lối cải cách thị trường dưới sự cầm quyền của Tổng thống B.Yeltsin,nước Nga đang đứng trên bờ vực thẳm Cuộc chuyển giao quyền lực giữa BorisYeltsin và Vladimir Putin ngày 31/12/1999 đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch

sử nước Nga - thời kỳ hồi sinh và trỗi dậy nhờ những cải cách kinh tế một cách triệt

để của vị tổng thống mới

Cùng với đó, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ lôicuốn mọi quốc gia đã đặt Liên bang Nga trước thách thức cần phải cải cách nềnkinh tế để có thể tham gia vào quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng ấy Công cuộccải cách kinh tế của Liên bang Nga trong những năm đầu thế kỷ XXI diễn ra trongbối cảnh tình hình quốc tế có nhiều thay đổi, vừa có những khó khăn thách thức,đồng thời lại tạo ra những cơ hội thuận lợi để nước Nga cất cánh Nghiên cứu vềchính sách cải cách kinh tế và những thành tựu đạt được dưới thời Tổng thống Putin

và Medvedev (2000 - 2012) thực sự mang đến những hiểu biết thú vị

Trang 24

CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH KINH TẾ LIÊN BANG NGA 2000 - 2012:

“con gấu Bắc Cực đang ngủ đông”

Đặc biệt, ngày 17/8/1998, cơn lốc tài chính ác liệt đã cuốn trôi nước Nga,làm cho nền kinh tế Nga vốn khó khăn lại càng trở nên trầm trọng hơn: Biên độ daođộng của đồng rup xấu đi, hệ thống ngân hàng bị phá vỡ, tình hình sản xuất rơi vàotình trạng trượt dốc mạnh, nền kinh tế quốc dân đứng trước nguy cơ tan vỡ13

Năm 1999, nền kinh tế Nga đã xuất hiện những “điểm sáng” mới và có dấuhiệu “phục hồi có giới hạn” Từ tháng 1 - 9/1999, tổng sản lượng công nghiệp củaNga tăng trưởng 7%, đã khống chế được xu thế biến động cao của đồng rup, thịtrường tiền tệ bắt đầu khôi phục… Mặc dù vậy, viễn cảnh của kinh tế Nga vẫn chưathể lạc quan, vẫn bị hạn chế bởi rất nhiều nhân tố, để thực sự thoát ra khỏi cuộckhủng hoảng vẫn cần một quá trình lâu dài Ngân hàng đầu tư Gotman Sacrasi (Mỹ)

dự đoán một cách lạc quan rằng, năm 2000, GDP của Nga tăng trưởng 1,1%, trong

đó công nghiệp tăng trưởng 7,9% và nhận định: “Tiến trình cải cách TBCN lần thứhai của Nga đã bắt đầu” Các nhà kinh tế học Nga cũng lạc quan dự đoán rằng, năm

2000 - 2001, kinh tế nước Nga sẽ sôi động trở lại, tỷ lệ tăng trưởng cả nước sẽkhông dưới 4%

Acanbechia - Viện sĩ khoa học kinh tế quốc gia Nga - cho biết, năm 1998,thu nhập bình quân đầu người ở Nga chưa đạt tới 2.000 USD, trong khi ở Mỹ, Đức

và Nhật vào khoảng 25.000 USD Trong khoảng 6 tỷ người sống trên hành tinh vàothời điểm đó, có khoảng 1 tỷ người sống trong các quốc gia có thu nhập hơn 10.000USD Nếu muốn bước vào hàng ngũ này thì trong vòng 20 năm tiếp theo, mức tăngtrưởng của Nga không được phép thấp hơn 6%

Nhà kinh tế học Joseph Bakaleynik Chủ tịch công ty dầu lửa Tyumen nhận định, dù tỷ lệ tăng trưởng của Nga có đạt tới 8% thì nước này cũng cần phảimất 15 năm mới đuổi kịp Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Có thể thấy, cho dù tốc độ

-13 Lý Cảnh Long (2011), Putin - Từ Trung tá KGB đến Tổng thống Liên bang Nga, NXB Lao động, tr.462

Trang 25

phát triển có lạc quan, muốn trở thành một cường quốc kinh tế, nước Nga cần phải

nỗ lực phấn đấu không biết mệt mỏi trong khoảng vài chục năm nữa

Trong diễn văn “Nước Nga trong buổi giao thời của thiên niên kỷ”, Putincũng đã nhận thức được vấn đề này Trong diễn văn này, Putin nhiều lần nhấn mạnhrằng, cần phải hoàn thiện chế độ thu thuế, tiến hành cải cách ngân hàng và tăng đầu

tư nước ngoài… và cho rằng, những chính sách này có thể đảm bảo cho cuộc cảicách kinh tế của Nga thành công Điều này chứng tỏ, ông sẽ tiếp tục thực hiện quyếttâm cải cách, mở cửa và phát triển kinh tế thị trường14

2.1 Kinh tế Nga giai đoạn tăng trưởng vượt bậc 2000 - 2008

2.1.1 Chính sách cải cách kinh tế của Tổng thống Putin

Ngay khi trở thành người đứng đầu nước Nga, Tổng thống V.Putin đã nhậnthức rõ về điều kiện, hoàn cảnh, vị thế của Liên bang Nga trong một thế giới diễnbiến đầy phức tạp và đang trong quá trình hình thành một trật tự thế giới mới ÔngPutin xác định: “Mỗi quốc gia bao gồm cả Liên bang Nga đều nhất thiết phải tìm tòicon đường cải cách của mình Điều này đối với nước Nga không phải là thuậnlợi…”15 Vì thế, Putin đã quyết định thành lập Trung tâm nghiên cứu chiến lược,với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu kinh tế - xã hộinổi tiếng nhằm giúp Tổng thống và Chính phủ trong việc hoạch định đường lối pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước với quyết tâm khôi phục lại đất nước về mọi mặt

và từng bước lấy lại vị thế cường quốc của nước Nga

Trong Thông điệp Liên bang đầu tiên trình bày trước Quốc hội Nga ngày8/7/2000, Tổng thống Putin đã khẳng định: “Nga cần một hệ thống kinh tế có khả năngcạnh tranh, có hiệu quả, công bằng về xã hội, điều đó sẽ đảm bảo cho sự phát triển ổnđịnh Nền kinh tế ổn định là đảm bảo chủ yếu cho xã hội dân chủ và là cơ sở của mọinền tảng cho Nhà nước hưng thịnh và được kính trọng trên thế giới”16 Việc xây dựngchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước Nga được xác định là nhiệm vụ vô cùngquan trọng trong chính sác của Tổng thống Putin Ông khẳng định, nước Nga cần phải

có chiến lược cho sự phát triển dài hạn, có những mục tiêu và biện pháp rõ ràng Dướithời Putin, Nga thực hiện cải cách kinh tế theo mô hình kết hợp giữa kinh

14 Lý Cảnh Long (2011), Putin - Từ Trung tá KGB đến Tổng thống Liên bang Nga, NXB Lao động,tr.464

15 Putin V (2000), Nước Nga trong buổi giao thời giữa hai thiên niên kỷ, Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt

Nam, Hà Nội, tr.3

16 Putin V (2000), Thông điệp Liên bang, Tài liệu tham khảo đặc biệt, Thông tấn xã Việt Nam, số 14, 17/7,

tr.16-20.

Trang 26

tế thị trường với sự can thiệp của Nhà nước Chính sách cải cách kinh tế Liên bang Nga thời đại Putin gồm các đặc điểm17:

Thứ nhất, thực hiện mô hình kinh tế thị trường và vai trò điều tiết có mức

độ của Nhà nước.Để thực hiện mô hình này, chính quyền của Tổng thống Putin đã

tăng cường vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế, đặc biệt là tăng cườngđiều phối và khống chế tầm vĩ mô đối với lĩnh vực tài chính và tiền tệ Về mặt tiền

tệ, nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ là tăng cường chức năng của ngân hàng và ổnđịnh tỷ giá của đồng rup, tiến hành chỉnh đốn một cách chặt chẽ hệ thống ngânhàng, biện pháp chủ yếu là tổ chức lại cơ cấu ngân hàng Đối với chính sách cảicách hệ thống ngân hàng, từ thời Boris Yeltsin, Nga đã tiến hành cải cách nhưngnhìn chung hệ thống ngân hàng vẫn còn nhỏ hẹp và kém phát triển Ngay từ năm

2000, Chính phủ Nga đã chú trọng cải cách hệ thống ngân hàng, phát triển hệ thốngnày theo hai cấp, cải cách ngân hàng thương mại theo hướng tích tụ tập trung tưbản, hình thành những ngân hàng hạt nhân, giảm bớt số lượng các ngân hàng kémhiệu quả

Một trong những ưu tiên của cải cách hệ thống ngân hàng Liên bang Nga làviệc tiếp tục củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống ngân hàng, tạo chỗ dựa tincậy cho người dân Nga khi gửi tiền vào ngân hàng Từ đó dần hình thành một khuvực ngân hàng nòng cốt, trong đó Ngân hàng Trung ương giám sát chặt chẽ hoạtđộng của các ngân hàng một cách đúng pháp lý, an toàn và lành mạnh Hiệu quả củaviệc thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng đã dần tạo nên một môi trường cạnhtranh bình đẳng, theo đúng pháp lý… Do đó, lòng tin của người dân đối với cácngân hàng đã được cải thiện rõ rệt

Để ổn định tỷ giá đồng rup, Chính phủ cần tăng cường quản lý đối với xuấtkhẩu thu ngoại hối, quy định các xí nghiệp xuất khẩu phải thu về 75% ngoại hốitrong tổng số hàng xuất khẩu nhằm tăng việc cung ứng ngoại hối và tăng dự trữquốc gia Sau khi nhậm chức tổng thống, Putin đã ký sắc lệnh yêu cầu các xínghiệp, đơn vị xuất khẩu nhất thiết phải theo sự báo cáo tài chính của các quan chứchữu quan, tiến hành giao dịch số ngoại tệ mạnh thu về sau khi xuất khẩu

Về mặt tài chính, Nhà nước tăng cường công tác quản lý thu thuế, thi hành

kỷ luật tài chính nghiêm khắc Tổng thống Putin nhấn mạnh, nhất thiết phải xây

17 Lý Cảnh Long (2011), Putin - Từ Trung tá KGB đến Tổng thống Liên bang Nga, NXB Lao động, tr.465

Trang 27

dựng một hệ thống tiền tệ có hiệu quả Do đó, thứ nhất, phải nâng cao hiệu lực của

dự toán chính sách kinh tế quan trọng nhất của Nhà nước Hai là, cần thi hành cảicách thu thuế Ba là, xóa bỏ hiện tượng nợ kéo dài, ngăn chặn triệt để các phươngthức thanh toán đối với hàng hóa và các hàng giả khác Bốn là, bảo đảm tỷ lệ lạmphát ở mức thấp nhất và ổn định tỷ suất đồng rup Năm là, xây dựng thị trườngchứng khoán văn minh để nó trở thành kênh lưu thông tiền tệ Sáu là, cần phải tổchức lại hệ thống ngân hàng

Ngay dưới thời Tổng thống tiền nhiệm Boris Yeltsin, cải cách hệ thống thuếcho phù hợp với cải cách thị trường ở Liên bang Nga đã được thực hiện về cơ bản.Tuy nhiên, những nội dung cải cách này chỉ tập trung vào sửa đổi các luật thuế đểgiải quyết một số vấn đề nhỏ, điều này đã dẫn đến tình trạng tồn tại nhiều loại thuếkhác nhau, chồng chéo với biểu thuế cao, cản trở hoạt động kinh doanh, tạo nênnhững kẽ hở của luật pháp làm cho nền kinh tế ngầm có điều kiện phát triển Hơnnữa, chính phủ cũng không đủ khả năng buộc thực thi nghĩa vụ thuế dẫn đến nguồnthu ngân sách chủ yếu bị thất thoát lớn Trước tình hình đó, Tổng thống Putin đã chỉđạo Chính phủ đưa nhiệm vụ cải cách thuế thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trongchương trình cải cách kinh tế

Chương trình cải cách hệ thống thuế được thực hiện theo từng bước, từnggiai đoạn cụ thể Trước hết, đó là việc bổ sung những nội dung quan trọng trong BộLuật thuế được thông qua trước Hội đồng Liên bang và chính thức có hiệu lực từngày 1/1/2001 Những nội dung đó bao gồm: Quy định một mức thuế thu nhập cánhân là 13%; hợp nhất các khoản đóng góp Quỹ bảo hiểm xã hội, Quỹ hưu trí vàQuỹ bảo hiểm y tế của các doanh nghiệp thành một loại thuế xã hội duy nhất; bãi bỏthuế cho Quỹ hỗ trợ nhà ở và các cơ sở văn hóa xã hội; bãi bỏ thuế bán các sảnphẩm xăng dầu, thuế mua các loại phương tiện vận chuyển; giảm thuế sử dụngđường bộ từ 2,5 xuống 1%; ban hành các mức thuế suất giảm dần; tăng thuế tiêu thụđặc biệt… Tiếp đó là giảm thuế lợi nhuận ở mức đồng đều 24%; hợp nhất các loạithuế tài nguyên mỏ, tăng thuế bán rượu lên 12% 18 Đồng thời, Quốc hội Liên bangNga đã nghiên cứu và sửa đổi các điều luật liên quan đến các loại thuế đánh vàodoanh nghiệp vừa và nhỏ… Nga là nước đi tiên phong trong việc giảm thuế thu

18 Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam (2004), Tình hình kinh tế - xã hội Liên bang Nga đầu thế kỷ XXI,

Hà Nội

Trang 28

nhập xuống 13% và đang giảm dần các thuế khác Trong năm 2005, thuế thống nhất

xã hội giảm từ 35,6% xuống 26%, thuế lợi tức từ 35% xuống 24%, còn thuế giá trịgia tăng giảm từ 20% xuống còn 18% 19

Quá trình cải cách thuế ở Liên bang Nga đã tạo nên hệ thống thuế đơn giảnhơn bằng việc hình thành một danh mục thuế và phí toàn diện trên cơ sở giảm sốlượng các loại thuế và phí theo mục tiêu, đồng thời áp dụng các phương pháp tínhthuế và thủ tục thanh toán thống nhất đối với toàn bộ các loại thuế Việc thực hiệncải cách thuế đã làm cho hệ thống thuế mới bình đẳng hơn với việc bảo đảm các đốitượng chịu thuế đều được đối xử công bằng, xóa bỏ các loại thuế thiếu công bằngtồn tại từ thời kỳ Xô Viết Cải cách thuế tạo nên một hệ thống thuế mang tính ổnđịnh hơn, do vậy tạo được niềm tin của các đối tượng chịu thuế vào nghĩa vụ nộpthuế của họ Như vậy, những chính sách cải cách thuế đã tạo nên tính đột phá, tạonên hiệu quả kinh tế rõ rệt so với giai đoạn trước đó20

Về cải cách chế độ sở hữu, Nga đã kế tục sự nghiệp và rút ra những bài họckinh nghiệm trong đường lối cải cách thị trường dưới thời Tổng thống Yeltsin Liênbang Nga tiếp tục đường lối cải cách thị trường nhằm tạo ra môi trường cạnh tranhbình đẳng và hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp, đưa kinh tế Liên bang Ngahội nhập vào nền kinh tế thế giới Một trong những nội dung cơ bản của đường lốicải cách thị trường là tiếp tục cải cách và hoàn thiện chế độ sở hữu với hai nội dungchủ yếu: Tư nhân hóa các lĩnh vực còn lại, trừ một số lĩnh vực then chốt, các hoạtđộng khai thác urani hay các lĩnh vực có bí mật quốc gia; tăng cường khả năng hoạtđộng có hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước ở một số lĩnh vực then chốt

Thực hiện cải cách chế độ sở hữu, Chính phủ Liên bang Nga đã tiến hành tưnhân hóa theo từng lĩnh vực và từng giai đoạn cụ thể Trong giai đoạn đầu, Ngathực hiện tư nhân hóa trong một số ngành như: Khai thác than, luyện kim, khai thácdầu mỏ và tư nhân hóa đất đai theo phương thức tiến hành chủ yếu là đấu giá và đấuthầu Kết quả thu được từ tư nhân hóa giai đoạn 2000 - 2003 đã bổ sung thêm chongân sách quốc gia gần 150 tỷ rup, gấp 3,5 lần so với giai đoạn 1996 - 1999

19 Nguyễn An Hà (2008), Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa

học Xã hội, Hà Nội, tr.85

20 Nguyễn Quang Thuấn (2004), Nhìn lại quá trình cải cách trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Putin,

Nghiên cứu châu Âu, số 5 (97), tr.32-37

Trang 29

Thứ hai, điều chỉnh phương hướng của chính sách vĩ mô, chuyển trọng điểm của chính sách từ ưu tiên ổn định tài chính sang ưu tiên phát triển sản xuất.

Ưu tiên ổn định tài chính, cải cách hệ thống tiền tệ không nên trở thành mụcđích mà chỉ là phương tiện quan trọng phục vụ cho phát triển sản xuất và kinh tếquốc dân Phát triển sản xuất là nhiệm vụ ưu tiên của Chính phủ, Chính phủ phải tậptrung lực lượng giúp đỡ phát triển các ngành kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi nhấtcho phát triển sản xuất công nông nghiệp Do đó, Putin cho rằng nhất thiết phải sửdụng các biện pháp sau:

Một là, tăng thêm đầu tư vốn, kích thích kinh tế tăng trưởng nhanh Putin chorằng, kinh tế của Nga đang tồn tại cơ cấu không hợp lý và năng suất lao động thấp,hình thái kinh tế chưa phù hợp, nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng này làđầu tư trong nước không đủ, đặc biệt là đầu tư cho các sản nghiệp đang giảm đi.Các nhà đầu tư nước ngoài cũng không tích cực đầu tư vào Nga, tổng hạn ngạch đầu

tư nước ngoài vào Nga mới ở mức khoảng 11,5 tỷ USD, trong khi con số này ởTrung Quốc là 43 tỷ USD Đầu tư không đủ, không chú trọng sáng tạo sản phẩmmới, làm cho số sản phẩm có sức cạnh tranh về giá cả và chất lượng trên thị trườngquốc tế giảm đi rất nhanh khiến các nhà cạnh tranh nước ngoài rời bỏ thị trường sảnphẩm dân dụng mang tính kỹ thuật cao của Nga Trong thị trường này, Nga chiếm

tỷ trọng chưa đầy 1%, còn Mỹ là 36%, Nhật 30% Do đó, Putin chủ trương “thihành chính sách đầu tư kết hợp cơ chế thị trường thuần nhất với các biện pháp kíchthích của Nhà nước, đồng thời từng bước tạo môi trường đầu tư có lợi cho các nhàđầu tư nước ngoài” Putin cho rằng, “nếu không có sự đầu tư của nước ngoài, việcchấn hưng đất nước cần phải mất thời gian rất dài, gặp nhiều khó khăn, chúng takhông có nhiều thời gian để khôi phục chậm rãi Điều này có nghĩa là cần phải tậndụng mọi khả năng để đầu tư nước ngoài đổ vào nước ta”

Để thu hút đầu tư nước ngoài, Liên bang Nga đã tiến hành cải cách tạo môitrường pháp lý cho quá trình đầu tư thông qua việc sửa đổi và bổ sung một số điềuluật như Luật đất đai, Luật thuế, Luật doanh nghiệp… Ngoài ra, chính phủ mở rộngthuế xuất nhập khẩu đối với doanh nghiệp và một số vùng của đất nước, hạ thấp lãisuất tín dụng, ổn định giá cả, mở rộng sự tham gia của tư bản nước ngoài vào hệthống ngân hàng quốc gia Liên bang Nga phải mất một thời gian để có thể lấy lạiniềm tin từ các nhà đầu tư nước ngoài do quá trình chuyển đổi kinh tế trong những

Trang 30

năm cuối thế kỷ XX với sự bất ổn và thậm chí phát triển “vô chính phủ” Nhờnhững chính sách đó mà khối lượng vốn đầu tư của nước ngoài vào Nga đã tăng từ

2 tỷ USD (năm 2000) lên 3,1 tỷ USD (năm 2002) Đến năm 2007, tổng đầu tư nướcngoài vào Nga đạt 3,3% so với GDP

Nhằm đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế, trong chiến lược đối ngoại củamình, Liên bang Nga đã xác lập thứ tự ưu tiên của mình đối với từng khu vực vàquốc gia như sau:

Ổn định nội khối SNG là quyết định đúng đắn của Putin Ông cho rằng, SNG

là đối tác ưu tiên số một của Nga trong thế kỷ mới Nga muốn xây dựng quan hệláng giềng thân thiện và tăng cường đối tác chiến lược với SNG, thúc đẩy sự thốngnhất của các nước này bởi đây là những nước thuộc Liên bang Xô viết trước kia, lànơi Nga đã có sẵn cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự của mình và chính các nước nàycũng là vùng đệm xung quanh nước Nga Tháng 2/2003, một liên minh kinh tế khuvực mới của các nước SNG bao gồm Belarus, Kazastan, Nga và Ukraina được thànhlập với mục tiêu là hình thành một không gian kinh tế, phối hợp các chính sách kinh

tế phù hợp với luật pháp Mặc dù kết quả liên kết trong giai đoạn đầu còn chưa mấyhiệu quả, nhưng đến tháng 9/2007, kim ngạch thương mại của Nga với các nướcSNG đạt 58,3 tỷ USD, tăng 24,3%; kim ngạch nhập khẩu từ SNG vào Nga là 21,4 tỷUSD, tăng 37%

Châu Âu là đối tác ưu tiên thứ hai của Liên bang Nga Mối quan hệ này dựatrên cơ sở những Hiệp định hợp tác thương mại sẵn có chủ yếu dựa vào những tiêuchuẩn của WTO Theo “Thời báo tài chính”, các nhà tư bản công nghiệp lớn củaNga và EU tại các cuộc đối thoại bàn tròn trong những năm gần đây đều tin tưởngrằng sự hội nhập sâu rộng kinh tế giữa hai bên sẽ là cơ sở đưa mối quan hệ Nga -

EU trở nên năng động, đôi bên cùng có lợi Các tập đoàn công nghiệp lớn của EUđều cho rằng những điều kiện bền vững để Nga gia nhập WTO cần được đưa racàng sớm càng tốt, giúp các cuộc đàm phán Nga - EU có được những tiến bộ nhanhchóng Cả hai bên cùng phải nỗ lực hết sức để giải quyết các vấn đề còn tồn tại Ngahiện là đối tác buôn bán lớn thứ ba của EU, sau Mỹ và Trung Quốc Đầu tư songphương đang tăng lên nhanh chóng Năm 2007, đầu tư của EU vào Nga là 17 tỷEURO, tăng gấp đôi so với 3 năm trước đó Còn đầu tư trực tiếp của Nga vào EUước tính năm 2007 là 5 tỷ USD

Trang 31

Vị trí ưu tiên thứ ba trong đối tác thương mại của Nga là Mỹ Mặc dù Mỹ làsiêu cường lớn nhất trên thế giới thực hiện chính sách vừa hợp tác vừa kiềm chếLiên bang Nga, song Tổng thống V.Putin hiểu rất rõ rằng để xác lập lại vị thế củaNga trên trường quốc tế, cần phải đẩy mạnh công cuộc cải cách; việc tăng cườnghợp tác với Mỹ vừa thu hút được nguồn vốn đầu tư lớn, vừa tranh thủ được trình độcông nghệ, phương pháp quản lý hiện đại của Mỹ Đầu thế kỷ XXI, Mỹ vẫn là mộttrong những nước đầu tư lớn nhất vào thị trường Liên bang Nga.

Đối tác quan trọng thứ tư trong chính sách kinh tế đối ngoại của Nga là khuvực châu Á - Thái Bình Dương mà trọng tâm là Trung Quốc, Ấn Độ Mối quan hệnày được phát triển hơn nữa trên cơ sở hợp tác là thành viên trong khuôn khổ APEC(1998) Điển hình, đó là quan hệ thương mại Liên bang Nga - Trung Quốc ngàycàng được đẩy mạnh, kim ngạch thương mại hai chiều của hai nước tăng nhanh,năm 2001 đạt 10,67 tỷ USD, đến năm 2006 đạt 35 tỷ USD Nga là bạn hàng lớn thứ

8 của Trung Quốc, còn Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ 2 của Nga21

Nhằm đẩy nhanh tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong giai đoạnnày, Tổng thống Putin tích cực chỉ đạo chính phủ nỗ lực cải cách trong nước đểhướng tới việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Để xúc tiến côngviệc này, Liên bang Nga đã cho thành lập Ủy ban về việc chuẩn bị cho Nga gia nhậpWTO Đây là tổ chức có trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện cần thiết thúc đẩy đàmphán gia nhập WTO như: Soạn thảo các văn bản trả lời các yêu cầu của thành viênWTO; tổ chức các cuộc đàm phán với các thành viên trong tổ chức này; đưa ra kiếnnghị, giải pháp thúc đẩy cải cách trong nước theo tiêu chuẩn của WTO… Ủy bannày hoạt động khá tích cực và giúp Nga từng bước đàm phán thành công với một sốthành viên chủ chốt trong tổ chức về điều chỉnh mức thuế quan, về nông nghiệp, vềđiều chỉnh hàng rào kỹ thuật trong thương mại, về việc cho phép các nhà cung cấpdịch vụ nước ngoài như ngân hàng, bảo hiểm tiếp cận thị trường Nga Năm 2002,lần lượt Mỹ rồi EU công nhận nền kinh tế thị trường của Liên bang Nga Đến năm

2004, khoảng 70% danh mục hàng hóa của Nga đã phù hợp với mức bảo vệ thuếquan theo quy định của WTO Năm 2006, Nga và Mỹ đã ký thỏa thuận songphương kết thúc đàm phán về việc Nga gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới

21 Nguyễn An Hà (2008), Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội, tr.38.

Trang 32

Biện pháp thứ hai nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất là ban hành chính sáchcông nghiệp tích cực Tương lai của đất nước và sự phát triển kinh tế của Nga trongthế kỷ XXI trước hết được quyết định bởi sự tiến bộ của các ngành kỹ thuật cao vàcác sản phẩm mang tính tập trung khoa học Bởi vì, trong thế giới ngày nay, sự tăngtrưởng kinh tế 90% dựa vào việc ứng dụng rộng rãi các tri thức và kỹ thuật mới.Trong khi đó, nước Nga chỉ có khoảng 5% các xí nghiệp đang sản xuất các sảnphẩm mới nhưng với quy mô rất nhỏ Do đó, chính sách công nghiệp mà Chính phủtiến hành sẽ ưu tiên phát triển các ngành giữ địa vị chủ đạo tiên tiến trong lĩnh vựctiến bộ khoa học kỹ thuật Để thực hiện điều này, Nga tiến hành các giải pháp:

- Kích thích các ngành trong nước đầu tư vốn phi dự toán cho các yêu cầu công nghệ tiên tiến và các sản phẩm khoa học kỹ thuật

- Thỏa mãn các nhu cầu phát triển của các ngành sản xuất dịch vụ chủ yếu trong nước

- Nâng cao năng lực xuất khẩu của các ngành nguyên liệu và nhiên liệu

Biện pháp thứ ba là cải cách nông nghiệp một cách cơ bản, thi hành chính sáchhiện đại hóa nông nghiệp Putin cho rằng: “Không có sự phục hưng của nông thôn

và sự chấn hưng của nông nghiệp Nga thì sẽ không có sự phục hưng của nước Nga.Chính sách nông nghiệp mà chúng ta yêu cầu nhất thiết phải liên kết một cách hữu

cơ giữa sự giúp đỡ và sự điều tiết của Nhà nước với cuộc cải cách thị trường màchúng ta tiến hành ở nông thôn và chế độ sở hữu ruộng đất” Ngày 19/1/2000, trongHội nghị Duma quốc gia mới lần thứ nhất, Putin đọc bài phát biểu dài chừng 10phút trong đó đặc biệt thúc giục Duma quốc gia phê chuẩn pháp lệnh tư hữu hóaruộng đất - pháp lệnh đã kéo dài rất lâu nhưng chưa được quyết định Điều luật nàynếu được thông qua sẽ làm thay đổi tình trạng ngừng trệ không phát triển của nềnnông nghiệp Nga Trước mắt, thể chế nông nghiệp Nga bị phân hóa thành hai cực.Thực hiện tư hữu hóa ruộng đất là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn đối với Nga -quốc gia có diện tích lớn nhất trên trái đất Điều này chứng minh một cách rõ ràngrằng, ông Putin đang tích cực thực hiện nguyện vọng cải cách nông nghiệp củamình

Thứ ba, khắc phục tình trạng xuất khẩu nguyên liệu thô, tăng cường sự phát triển các ngành kinh tế trong nước, đặc biệt là công nghiệp chế biến để tăng hàm lượng chất xám trên mỗi đơn vị hàng hóa.

Trang 33

Một là, áp dụng các biện pháp bảo hộ các nhà sản xuất trong nước và thị trườngsản phẩm tiêu dùng Trong những năm cuối của thời đại Yeltsin, Chính phủ Nga đãthực hiện chính sách mậu dịch đối ngoại và chính sách cơ cấu sản nghiệp dựa vàoxuất khẩu nguyên nhiên liệu để đổi lấy hàng tiêu dùng.Sau đó, chính quyền Yeltsin

đã sửa đổi một số chính sách gây bất lợi cho sản xuất trong nước, thực thi một loạtcác thủ tục hải quan để bảo hộ thị trường và người sản xuất trong nước Ví dụ, đểxoay chuyển cục diện đình trệ chờ nguyên liệu của các xí nghiệp trong nước và tìnhtrạng hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường, chính quyền thời ông Yeltsin đãtrưng thu thuế xuất khẩu đối với nguyên liệu và phụ liệu của ngành công nghiệpnhẹ, thi hành chính sách cấp giấy phép nhập khẩu cồn thực phẩm và tăng thuế nhậpkhẩu mặt hàng này để bảo vệ công nghiệp sản xuất rượu trong nước Tháng12/1999, Thủ tướng Putin ký một loạt sắc lệnh, trong đó bao gồm cấm xuất khẩubạch kim vì bạch kim là loại vật tư chủ yếu để thu ngoại tệ về cho Nga; điều chỉnhlại giá nhôm Đầu năm 2000, ông Putin cho thực hiện chính sách giảm thuế suất củasản phẩm nhôm 5%, đồng thời loại bỏ thuế lưu thông, hạn chế xuất khẩu dầu mỏthương phẩm Nguyên liệu là trụ cột quan trọng của nền kinh tế Nga, do số ngoại tệthu được trong xuất khẩu dầu mỏ, khí đốt và kim loại chiếm 3/4 tổng kim ngạchxuất khẩu, vì thế, những hành động đầu tiên của Putin trong kinh tế là tập trung vàonhững mặt hàng này, điều đó hoàn toàn không có gì lạ

Hai là, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ các nhà sản xuất trong nước, đồng thờikích thích xuất khẩu phát triển Chính phủ đang sửa đổi quy hoạch phát triển trunghạn và dài hạn các lĩnh vực hóa dầu, xe hơi, công nghiệp nhẹ và kỹ thuật cao, đưangành chế tạo máy bay và ô tô trở thành trọng điểm chiến lược của ngành côngnghiệp nước Nga, khích lệ đầu tư quy mô lớn để đẩy nhanh tốc độ luân chuyển đốivới công nghiệp, hạ thấp thuế lợi tức, tăng thuế giá trị gia tăng đối với các xínghiệp

Ba là, điều chỉnh chính sách tư hữu hóa, chú trọng nâng cao hiệu suất của các xínghiệp tư hữu hóa, cải thiện môi trường đầu tư và thực hiện chính sách xã hội ônhòa

Bốn là, kiên quyết chống lại các hoạt động tội phạm kinh tế có tổ chức Putinnói: “Nhất thiết phải hạn chế mặt trái của kinh tế, tấn công vào các hiện tượng phạmtội có tổ chức trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng” Để giải quyết vấn đề này, đồng thờivới việc nâng cao hiệu suất công tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật còn phải tăng

Trang 34

cường giám sát việc cấp phép, thu thuế, ngoại hối và xuất khẩu Tội phạm kinh tế có

tổ chức ngày vàng trắng trợn đã trở thành một nhân tố vô cùng quan trọng ảnhhưởng tới việc thoát ra khỏi khủng hoảng của kinh tế Nga Bước vào những năm 90của thế kỷ trước, nước Nga rơi vào khủng hoảng kinh tế do những sai lầm trongviệc lựa chọn hình thức, mục tiêu, phương hướng kinh tế và nhiều lệch lạc trongchính sách dẫn tới khủng hoảng ngày càng trầm trọng Cuộc khủng hoảng tiền tệngày 17/8/1998 không thể ngăn chặn được đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đờisống kinh tế Có thể khẳng định, tội phạm kinh tế có tổ chức ngày càng lan rộng đãthúc đẩy hơn nữa cuộc khủng hoảng kinh tế, gây nên tổn thất nặng nề cho nướcNga

Theo thống kê của Bộ Nội vụ Nga, năm 1999, 78 tập đoàn tội phạm lớn của Nga

đã khống chế khoảng 60% các xí nghiệp Nhà nước, 50% ngân hàng thương mại và40% các xí nghiệp thương nghiệp Các tập đoàn này lộng hành trong các lĩnh vựcnhư mậu dịch đối ngoại, giải trí, năng lượng và ngành sản xuất tiêu thụ rượu Trongnhững tập đoàn tội phạm kinh tế có tổ chức này, đặc biệt cần nhắc tới là vấn đề vật

tư và tiền bạc của Nga chảy ra ngoài phi pháp, làm tăng thêm tính nghiêm trọng chonhững khó khăn của kinh tế Nga Trong thời kỳ chuyển hướng nền kinh tế, nướcNga một mặt luôn phải đứng trước vấn đề nan giải là thiếu vốn ngắn hạn một cáchtrầm trọng và thiếu sức hấp dẫn đầu tư, mặt khác luôn luôn phải chịu đựng sự phiềnnhiễu do hiện tượng vật tư tiền bạc của Nga chảy ra ngoài một cách phi pháp với sốlượng rất lớn Theo báo cáo nghiên cứu của A Bankin, nhà kinh tế học nổi tiếngcủa Nga22, từ năm 1992 - 1997, số ngoại tệ mạnh của Nga chảy phi pháp ra ngoài từ

40 tỷ USD đã tăng vọt lên 133 tỷ USD Đến năm 1998, con số này đạt mức 150 tỷUSD, tương đương với toàn bộ số nợ nước ngoài của Nga và lớn hơn rất nhiều tổng sốngoại tệ chảy ra nước ngoài trong thời kỳ khủng hoảng tiền tệ 1979 - 1987 của Brazil,Venezuela, Mexico và Peru cộng lại Số ngoại tệ mất đi này không chỉ làm yếu đi tiềmlực đầu tư và phát triển sản xuất của Nhà nước mà còn làm xấu đi tình hình thu chi quốc

tế của Nga, làm giảm đi khả năng chống lại các cuộc khủng hoảng kinh tế và hóa giải cácnguy cơ rủi ro về tiền tệ

22 АБАЛКИН Леонид Иванович (1930-2011) Экономист, академик (1987) ABALKIN Leonid Ivanovich (1930-2011) nhà kinh tế học, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1987).

Trang 35

Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu kinh tế một cách triệt để và từ cơ cấu kinh tế mới sẽ tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, lành mạnh.

Putin cho rằng: “Cũng như các nước công nghiệp phát triển khác, trong kinh tế,Nga vừa phải có vị trí của công ty tập đoàn tài chính công nghiệp lại vừa phải cóchỗ đứng cho các xí nghiệp loại vừa và nhỏ Bất kỳ một hạn chế nào hoặc sự pháttriển bột phát một hình thức kinh tế nào đó đều chỉ gây trở ngại đối với việc chấnhưng kinh tế của Nga Chính sách của Chính phủ cũng chỉ nhằm xây dựng một kếtcấu Loại kết cấu này cần phải đảm bảo duy trì quan hệ tỷ lệ hợp lý giữa các hìnhthức kinh tế Về điểm này đang còn tồn tại một phương diện rất quan trọng, chính làkhả năng tự điều tiết một cách hợp lý hoạt động của các ngành Đây là vấn đề thenchốt vì chính các ngành này quyết định trên một mức độ rất lớn cơ cấu của cả nềnsản xuất và giá cả tiêu dùng Nói như vậy có nghĩa là nó vừa có thể gây ảnh hưởngđối với lĩnh vực kinh tế và tiền tệ, lại vừa có thể ảnh hưởng tới sự thu nhập củangười dân”23

Để kinh tế phát triển ổn định, nếu chỉ đơn thuần dựa vào việc tăng đầu tư mộtcách thông thường thì hoàn toàn không đủ mà còn cần phải thông qua đầu tư đểđiều chỉnh và thay đổi cơ cấu bất hợp lý hoặc lệch lạc của sản xuất, xây dựng cácsản nghiệp chủ đạo và các ngành công nghiệp mới mang tính thúc đẩy toàn bộ nềnkinh tế phát triển, làm cho kinh tế phát triển có sức sống Cơ cấu kinh tế lệch lạc làmột khuyết điểm trầm trọng của kinh tế Nga, làm mất đi sự cân đối giữa nôngnghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng, gây ra kết cấu kinh tế lạc hậu Chínhsách tư hữu hóa nông nghiệp cộng với thiên tai khiến sản lượng lương thực của Ngakhông đáp ứng được nhu cầu thấp nhất trong nước, kỹ thuật nông nghiệp lại cànglạc hậu; tự do mậu dịch làm cho hàng hóa nhập khẩu chảy vào ồ ạt đã bóp chếtngành công nghiệp nhẹ của Nga vốn đang ngắc ngoải Về cơ cấu công nghiệp,chiếm vị trí chủ đạo vẫn là ngành công nghiệp truyền thống, đó chính là các sảnnghiệp cơ sở được hình thành trong quá trình công nghiệp hóa Ở những quốc giaphát triển phương Tây, những sản lượng cơ sở đã được coi là “những sản lượng củađêm trước”, họ chỉ dựa trên cơ sở những sản lượng này để phát triển nhanh chóngcác ngành khác như công nghệ kỹ thuật cao, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật di truyền và

23 Lý Cảnh Long (2011), Putin - Từ Trung tá KGB đến Tổng thống Liên bang Nga, NXB Lao động, tr.472

Trang 36

công nghệ thông tin Trong những lĩnh vực này, nước Nga lạc hậu từ 15 - 20 năm sovới phương Tây Về quy mô đầu tư trước mắt của Nga, việc điều chỉnh cơ cấu kinh

tế là vô cùng khó khăn, mang tính lâu dài và phức tạp Trong quá trình này còn cóthể xuất hiện sự ngừng trệ và đi xuống của chính kết cấu đó, điều này một phầncũng bởi trong một thời gian ngắn, nền kinh tế Nga không thể bước vào nhịp độtăng trưởng ổn định

2.1.2 Thành tựu kinh tế giai đoạn 2000 -

2008 Kinh tế tăng trưởng nhanh và mạnh

Đây là thành tựu quan trọng nhất của nền kinh tế Liên bang Nga trong nhữngnăm cầm quyền của Tổng thống Putin (2000 - 2008) Trong giai đoạn này, GDP củaNga đạt tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7%/năm Trong đó, từ năm 2000 -

2003, GDP tăng gần 1/3, đạt 29,9%; trong khi giai đoạn 1996 - 1999 giảm 1,5%.Năm 2003, tăng trưởng GDP là 7,3%, đạt 465,2 tỷ USD (năm 1999 đạt 220 tỷUSD), GDP bình quân đầu người đạt 3.200 USD24 Trong Thông điệp Liên bangnăm 2003, Tổng thống Putin khẳng định, GDP của Nga sẽ tăng gấp đôi trong vòng

10 năm (2001 - 2010) và coi đây là nhiệm vụ hàng đầu của nước Nga Thực tế, tínhđến hết năm 2005, GDP của Nga đã tăng vọt, đạt 800 tỷ USD Năm 2007 là năm ghinhận kỷ lục mới về tốc độ tăng trưởng GDP của Nga với 8,1% Trong thời kỳ này, tốc độtăng trưởng của kinh tế Nga chỉ đứng sau Trung Quốc trong số các cường quốc (Xembảng 2.1) Năm 2008, Nga đã vượt qua Tây Ban Nha và Italia để trở thành nền kinh tếlớn thứ 8 của thế giới Nếu tính GDP theo ngang giá sức mua

PPP, Nga còn vượt qua cả Anh và Pháp để chiếm vị trí thứ 6 ngay sau Đức (IMF,2008) Năm 2008, GDP đầu người của Nga là 12.000 USD, gấp 4 lần thu nhập của Trung Quốc25

24 Nguyễn Quang Thuấn (2004), Nhìn lại kết quả cải cách trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Putin, Nghiên

cứu châu Âu số 5 (97), tr.32 - 37.

25 Nguyễn An Hà chủ biên (2011), Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, tr.43

Trang 37

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng của một số quốc gia và khu vực trong giai đoạn 2000

- 2007 (% so với năm trước)26

Tốc độtrung

Các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ của Nga cũng

có sự khởi sắc liên tục Trong giai đoạn 2000 - 2004, sản lượng công nghiệp giatăng trung bình hàng năm đạt 6,4% Liên bang Nga là quốc gia có nguồn tài nguyênthiên nhiên vô cùng phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí tự nhiên, kim loại quý, than

đá và gỗ Trữ lượng tài nguyên đã thăm dò chiếm 21% của thế giới và tổng giá trị30.000 tỷ USD, gấp 3 lần so với Mỹ Liên bang Nga chiếm 13% tổng trữ lượng dầu

mỏ, sản lượng khai thác đạt 9,3 triệu thùng/ngày; chiếm 3/4 trữ lượng khí đốt củathế giới Trong cán cân thương mại, Nga đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu dầulửa và khí đốt Năm 2005, sản lượng khai thác dầu lửa là 470 triệu tấn, xuất khẩu252,3 triệu tấn, sản lượng khí đốt 638 tỷ m3, xuất khẩu 206,8 tỷ m3 27 Sản lượngđiện của Nga chiếm 12% sản lượng điện toàn cầu Tổ hợp năng lượng - nhiên liệuNga phát triển nhanh nhất, chiếm khoảng 1/4 GDP, chiếm 1/3 sản lượng côngnghiệp và 1/2 nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Nhờ giá cả nhiên liệu trên thị trườngthế giới liên tục tăng trong suốt hơn một thập kỷ qua, cán cân thương mại của Liênbang Nga liên tục thặng dư trong những năm gần đây Xuất khẩu năm 2003 đạt mức

26 Nguyễn An Hà chủ biên (2011), Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, tr.43

27 Nguyễn An Hà (2008), Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học

Xã hội, Hà Nội, tr.84.

Trang 38

136 tỷ USD, năm 2004 tăng lên 178 tỷ USD, trong đó nhiên liệu - năng lượngchiếm 60,4%, kim loại và các sản phẩm kim loại chiếm 17,9% Xuất khẩu năm 2005đạt 245 tỷ USD, tăng 33,9%, còn nhập khẩu đạt 125,1 tỷ USD, tăng 28,5% so vớinăm 2004 Theo đó, cán cân thương mại thặng dư 120,2 tỷ USD so với 85,8 tỷ USDcủa năm 200428 Đối với ngoại thương của Liên bang Nga, tính đến tháng 9/2007,kim ngạch thương mại của Nga đạt 379,6 tỷ USD, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm

2006 Kim ngạch của Nga với các nước Viễn Đông 321,3 tỷ USD, tăng 19,6%; vớinhững nước SNG đạt 58,3 tỷ USD, tăng 24,2% Kim ngạch xuất khẩu trong 9 thángđạt 242,8 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó xuất khẩu sang cácnước khu vực Viễn Đông đạt 205,9 tỷ USD, tăng 7,9%, sang các nước SNG là 36,9

tỷ USD, tăng 17,9% Kim ngạch nhập khẩu là 136,8 tỷ USD, tăng 46,5% so vớicùng kỳ năm 2006, trong đó kim ngạch nhập khẩu từ các nước khu vực Viễn Đông

là 115,4 tỷ USD, tăng 48,4%, từ các nước SNG là 21,4 tỷ USD, tăng 37% Các đốitác thương mại chính của Liên bang Nga là Đức với khối lượng mậu dịch của hainước là 35,7 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2006; Hà Lan là 32,4 tỷ USD,tăng 14,2%; Trung Quốc là 27,4 tỷ USD, tăng 37,4%; Italia là 24,5 tỷ USD, tăng7,6%; Nhật Bản là 13,9 tỷ USD, tăng 164,6% 29

Một trong những thành tựu của Nga được cả thế giới biết đến trong những năm đầuthế kỷ XXI là năm 2002, Nga đã vượt qua Arập Xêút với tư cách là một nước xuất khẩudầu lửa lớn nhất thế giới và tiếp đó, đến năm 2004 đã đuổi kịp Mỹ với tư cách là một trongnhững nước sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới Chính nguồn thu ngoại tệ từ hai ngành này lànguồn thu chủ yếu cho sự tăng trưởng GDP của Nga Nhờ vậy, tỷ trọng của Liên bang Ngatrong công nghiệp thế giới tăng lên nhanh chóng, từ chỗ chỉ chiếm 1,8% sản lượng côngnghiệp thế giới vào năm 1997 thì đến năm 2003, con số này đã tăng lên 4,9% Ngoài lĩnhvực công nghiệp khai khoáng, hóa chất phát triển với tốc độ nhanh, các ngành chế tạo máy,sản xuất hàng tiêu dùng cũng được Nhà nước Liên bang chú trọng đầu tư phát triển nên đãđẩy lùi được suy thoái của giai đoạn cuối thế kỷ XX Dưới thời Tổng thống Putin, Liênbang Nga đã xây dựng được ngành công nghiệp thông tin sản xuất máy tính, các phươngtiện tin học và truyền thông cùng các sản phẩm phần mềm

28 Nguyễn An Hà (2008), Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã

hội, Hà Nội, tr.84.

29 Phạm Thái Quốc (2008), Kinh tế Nga và Trung Quốc năm 2007: Những đặc điểm chủ yếu, Những vấn đề

kinh tế Việt Nam và Thế giới, số 3 (143).

Trang 39

Đây là ngành đặc trưng của kinh tế hậu công nghiệp, xác định trình độ kinh tế củacác quốc gia trong giai đoạn hiện nay.

Bên cạnh những ngành sản xuất truyền thống, nền công nghiệp quốc phòngcủa Liên bang Nga cũng rất phát triển Trong 8 năm qua, ngành công nghiệp quốcphòng của Nga đã thoát khỏi khó khăn và lấy lại phong độ tương xứng với tiềmnăng của mình Cơ cấu thương mại quân sự của Nga năm 2007 cho thấy Nga vẫn làcường quốc hàng không quân sự duy nhất trên thế giới có thể so sánh với Mỹ,ngành công nghiệp hàng không của Nga hoàn toàn có khả năng tự thiết kế và sảnxuất các loại máy bay quân sự và tàu vũ trụ hiện đại nhất thế giới Kim ngạch xuấtkhẩu thiết bị hàng không của Nga chiếm 61% tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khíquân sự, đứng thứ hai là thiết bị quân sự lục quân (chiếm 21%), tiếp theo là hệthống phòng không (10%) và trang bị vũ khí hải quân (8%)30 Năm 2008, kimngạch xuất khẩu vũ khí của Nga đứng thứ hai thế giới sau Mỹ nhưng vẫn vượt xacác đối thủ châu Âu Mỗi năm, Nga lại nhận thêm được nhiều hợp đồng cung cấp vũkhí cho nhiều nước với giá trị hợp đồng rất lớn Trong chiến lược phát triển củamình, Liên bang Nga vẫn chủ trương tiếp tục đầu tư phát triển công nghiệp quốcphòng hiện đại, vừa hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, vừa đẩy mạnh buôn bán,xuất nhập khẩu vũ khí, khí tài, cải thiện vị thế cường quốc quân sự của mình

Cùng với sự phát triển của công nghiệp, nền nông nghiệp Liên bang Ngatăng trưởng tích cực với những chỉ số tăng năng suất lao động Theo số liệu củaNgân hàng Thế giới (World Bank), nếu như trong thập niên 90 của thế kỷ trước,năng suất lao động của Liên bang Nga liên tục giảm sút và cao hơn 2 lần năng suấtlao động trung bình của thế giới thì đến đến năm 2000 - 2003 đã gấp 3,6 lần mứctrung bình của thế giới Theo số liệu của Ủy ban thống kê Nhà nước Liên bang Nga,ngay năm 2000, sản lượng ngũ cốc đã đạt mức kỷ lục 69 triệu tấn, tăng 12,5 triệutấn so với năm 1999 Lần đầu tiên sau nhiều năm, Liên bang Nga hoàn toàn có thể

tự túc được lương thực, thậm chí còn dư để xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn ngũ cốcsang các nước láng giềng Tiếp tục đà tăng trưởng trên, trong những năm tiếp theocủa nhiệm kỳ thứ nhất dưới thời Tổng thống Putin, sản lượng nông nghiệp của Ngatăng liên tục Nhờ đó, mỗi năm, Nga đã xuất khẩu trung bình 5 triệu tấn lương thực

30 Nguyễn An Hà chủ biên (2011), Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, Hà

Nội, tr.133

Trang 40

và hàng triệu tấn ngũ cốc thức ăn gia súc sang các thị trường truyền thống ở vùngngoại Kavkaz, Trung Đông và châu Âu Liên bang Nga thành nước lớn mạnh trênthị trường ngũ cốc Tính chung, trong vòng 10 năm, từ một nước nhập khẩu (năm

1998 Nga phải mua 20 triệu tấn ngũ cốc) thì đến đầu năm 2008, Nga đã trở thànhnguồn cung cấp ổn định cho thị trường thế giới, với lượng xuất khẩu ngũ cốc là 14triệu tấn Theo số liệu của Hội Ngũ cốc Liên bang Nga, nước này đứng thứ ba thếgiới về xuất khẩu lúa mì, sau Mỹ và Canada, vượt qua các tổ chức và quốc gia xưanay làm mưa làm gió trên thị trường lương thực như EU, Arhentina và Ôxtrâylia.Thành tựu này khiến cho có người bình luận là “Nga có thể cứu đói cho cả hànhtinh”31

Nền kinh tế được phục hồi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưvậy đã tạo điều kiện để Nga tăng lượng dự trữ vàng và ngoại tệ Nếu như năm 1999,

dự trữ vàng và ngoại tệ của Nga chỉ có 9 tỷ USD thì đến năm 2007 đã đạt 246 tỷUSD, đứng thứ tư thế giới sau Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản Tính đến tháng8/2008, trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, lượng dự trữ vàng và ngoại

tệ của Nga đã lên tới 598 tỷ USD32 Nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao

mà Nga đã từng bước giải quyết được nợ nước ngoài Năm 2000, Nga phải đối mặtvới khó khăn lớn nhất là phải thanh toán khoản nợ khổng lồ lên đến 158,4 tỷ USD,chiếm gần 90% GDP Nga Thế nhưng, Liên bang Nga đã thanh toán nợ một cáchkhông mấy khó khăn và làm giảm được áp lực của các khoản trả nợ nước ngoài đốivới nền kinh tế quốc gia Năm 1998, thâm hụt ngân sách của Nga khoảng 9% GDP.Năm 2000, ngân sách bắt đầu thặng dư và đến năm 2007, thặng dư ngân sách đạtmức 5,4% GDP33 Năm 1999, nợ nước ngoài của Nga là 100% GDP, tính đến cuốinăm 2003 chỉ còn 26% GDP (119,1 tỷ USD) Trong năm 2006, Nga đã trả nợ choIMF 3,3 tỷ USD và chỉ trong vòng 6 ngày từ 15 - 21/8/2006, Nga đã thanh toán nợcòn lại 21,6 tỷ USD đối với Câu lạc bộ Paris, giảm được 1/3 tổng số nợ nước ngoàicủa họ Tính đến tháng 10/2007, khoản nợ của nhà nước chỉ còn 46,95 tỷ USD…34

31 Nguyễn Công Khanh, Hoàng Mạnh Hùng (2010), Tìm hiểu nguyên nhân phục hồi và phát triển kinh tế

Liên bang Nga dưới thời Tổng thống V.Putin (2000 - 2008), Nghiên cứu châu Âu, số 3 (114),tr.47

32 Nguyễn An Hà (2012), Nga gia nhập WTO: Những cơ hội và thách thức, Nghiên cứu châu Âu, số 11

(146),tr.12

33 Nguyễn An Hà (2012), Nga gia nhập WTO: Những cơ hội và thách thức, Nghiên cứu châu Âu, số 11

(146),tr.12

34 Nguyễn Công Khanh, Hoàng Mạnh Hùng (2010), Tìm hiểu nguyên nhân phục hồi và phát triển kinh tế

Liên bang Nga dưới thời Tổng thống V.Putin (2000 - 2008), Nghiên cứu châu Âu, số 3 (114), tr.47

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w