Nhu cầu phải thay đổi thể chế chính trị ở Liên bang Nga

Một phần của tài liệu Thể chế chính trị liên bang nga (Trang 41 - 52)

2.3.1. Cuộc khủng hoảng chính trị ở Liên Xô cũ và và nhu cầu phải thay đổi thể chế chính trị ở Liên bang Nga

Những biến đổi chính trị - xã hội sâu sắc thời kỳ 1988 - 1992, đặc biệt là cuộc chính biến năm 1991 và sự sụp đổ của Liên Xô đã buộc Nga phải thay đổi nhiều nội dung trong Hiến pháp năm 1978. Những sửa đổi căn bản là từ mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa, thay đổi địa vị độc tôn của Đảng cộng sản trong hệ thống chính trị, công nhận tư tưởng đa nguyên và học thuyết phân chia quyền lực. Thay đổi tên gọi là Liên bang Nga. Hiến pháp công nhận

nhiều hình thức sở hữu tài sản, kể cả sở hữu tư nhân. Tổ chức nhà nước được cơ cấu lại: Chế độ Tổng thống và Toà án Hiến pháp được thành lập. Một số nước cộng hoà tự trị cũ, một số vùng và khu tự trị đã đấu tranh đòi được thực hiện cơ chế nước cộng hoà trong thành phần Liên bang Nga. Cơ chế của một số vùng, khu, tỉnh, thành phố cũng được nâng cao. Biểu tượng quốc gia cũng được thay đổi. Nga tuyên bố có mọi quyền lợi và nghĩa vụ của một nước cộng hoà có chủ quyền. Tất cả những thay đổi trên đã dẫn đến việc đòi hỏi phải có một bản Hiến pháp mới thay thế cho Hiến pháp cũ.

Sau khi Liên Xô tan rã, nước Nga tuyên bố độc lập, kế thừa 70% tiềm lực kinh tế cũng như vị thế của Liên Xô trong quan hệ quốc tế. Liên bang Nga là nước thành viên sáng lập ra cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, nước Nga đang trong quá trình tìm con đường, mô hình phát triển. Các đảng phái, phe nhóm đấu tranh gay gắt với nhau, rõ nhất là giữa phe Quốc hội và phe Tổng thống. Tháng 10 - 1993, với sự kiện Tổng thống Enxin ra sắc lệnh giải tán Quốc hội, sau đó ra lệnh bắn vào Nhà trắng, bắt toàn bộ các Nghị sĩ, thì nước Nga, về cơ bản, đã hướng theo mô hình cộng hoà lưỡng tính. Bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua 12 - 1993, theo đó người dân trực tiếp bầu Đuma và Tổng thống. Trong suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nước Nga lâm vào tình trạng bất ổn về chính trị, suy thoái về kinh tế. Chỉ đến năm 2000, khi ông Putin đắc cử Tổng thống thì cuộc

đấu tranh giữa Quốc hội với Tổng thống mới chấm dứt, các phe nhóm tạm th- òi hoà hợp để tập trung phát triển kinh tế, nhằm khôi phụ vị trí cường quốc của nước Nga. Hiện nay, nước Nga đang từng bước ổn định và phát triển với một thể chế chính trị được xây dựng phù hợp với điều kiện và tình hình của chính mình, trong đó nổi bật vai trò của Tổng thống V.Putin trong đối nội và đối ngoại cũng như xây dựng hình ảnh một nước Nga mới.

2.3.2 Cơ sở hiến định của việc thay đổi thể chế chính trị ở Liên bang Nga

2.3.2.1. Sự ra đời của Hiến pháp 1993

Quá trình thay đổi Hiến pháp bắt đầu bằng những văn kiện mang tính luật pháp như: “Về những thay đổi và bổ sung cho hiến pháp cộng hoà hội hủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga”, “Về bầu cử đại biểu nhân dân của cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga”... Những văn kiện này đã làm thay đổi hệ thống các cơ quan chính quyền của Liên bang Nga và cách thức bầu cử đại biểu nhân dân. Cơ quan quyền học cao nhất của chính quyền là Đại hội đại biểu nhân dân gồm 1068 đại biểu, được bầu thông qua bỏ phiếu kín.

Đại hội bầu ra Xô Viết tối cao - cơ quan cao nhất của nhà nước Liên bang Nga - đồng thời là cơ quan hành pháp, lập pháp và kiểm soát việc thực hiện chính sách của nhà nước. Điều đáng chú ý là lần đầu trong lịch sử của nước Nga, Xô Viết tối cao là cơ quan gồm hai viện. Đại hội đại biểu nhân dân cũng có quyền trong việc thông qua những sửa đổi, bổ sung và thay đổi Hiến pháp liên bang Nga. Những thay đổi sâu sắc trong xã hội vào những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX, đặc biệt là cuộc chính biến năm 1991 và sự sụp đổ của Liên Xô đã buộc Nga phải thay đổi nhiều nội dung trong Hiến pháp 1978.

Ngày 12 tháng 6 năm 1990 Xô Viết tối cao Liên bang Nga (nay là Đuma quốc gia) đã thông qua bản tuyên bố về chủ quyền quốc gia. Đấy là mốc quan trọng đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cho sự ra đời của một bản Hiến pháp mới. Uỷ ban Hiến pháp mà đứng đầu B.Enxin (lúc bấy giờ là chủ tịch Xô Viết tối cao Liên bang Nga) đã được thành lập tại Đại hội đại biểu nhân dân lần thứ nhất. Sau bốn tháng làm việc, Uỷ ban Hiến pháp đã công bố bản dự thảo Hiến pháp đầu tiên trên các phương tiên thông tin đại chúng. Sau đó Uỷ ban Hiến pháp tiếp tục làm việc sửa đổi, bổ sung vào bản dự thảo những ý kiến đóng góp và những văn bản pháp luật mới. Tháng 3 năm 1992 bản dự thảo Hiến pháp chính thức đã được công bố. Đại hội đại biểu nhân dân Nga

lần thứ IV và đã thông qua quyết định “Về dự thảo Hiến pháp Liên bang Nga và trình tự công việc để hoàn chỉnh bản dự thảo”.

Trong suốt các kỳ đại hội đại biểu nhân dân Nga lần thứ V, VI, VII, VIII, các đại biểu đã thảo luận nhiều lần về sự cần thiết phải thông qua Hiến pháp mới với những nội dung của nó, nhưng không đi đến được sự nhất trí, nhất là về nội dung. Dự thảo Hiến pháp 1993 là kết quả lao động của các đại biểu Nghị viện Nga, của đại diện các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương Nga, đại diện các tổ chức xã hội, giới kinh doanh và các luật gia có tên tuổi. Dự thảo cũng được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, và được thảo luận kỳ đại hội thảo Hiến pháp được tổ chức từ tháng 6 đến tháng 10-1993. Chỉ sau tất cả các quá trình trên, bản dự thảo Hiến pháp mới được trình tổng thống và được thông qua bằng cuộc trưng cầu dân ý ngày 12 tháng 12 năm 1993.

Việc thông qua Hiến pháp năm 1993 là kết quả của cuộc đấu tranh chính trị ở Nga trong thời gian đó, khủng hoảng đã diễn ra mà nguyên nhân chính là mâu thuẫn và đối đầu giữa các nhánh quyền lực trong hệ thống chính trị của Nga. Vấn đề nổi cộm nhất và gây nhiều tranh cãi liên quan đến việc phân chia quyền lực giữa hai nhánh hành pháp và lập pháp. Tháng năm 1993, ông Klaxbulatốp với tư cách là Chủ tịch Xô Viết tối cao và là Phó chủ tịch của uỷ ban Hiến pháp ký quyết định “Về những điều khoản cơ bản của dự thảo Hiến pháp Liên bang Nga” trong đó đã ra một số điều khoản mới cho bản Hiến pháp, mà nội dung chủ yếu là hạn chế quyền lực của Tổng thống, đề cao vai trò của Quốc hội. Trước tình hình này, trong thời gian diễn ra cuộc họp của uỷ ban Hiến pháp từ ngày 5 đến ngày 16/6/1993, Tổng thống đã đưa ra một bản dự thảo Hiến pháp mới. Sau đó, bằng một loạt các pháp lệnh Tổng thống Nga đã quyết định thành lập một hội nghị Hiến pháp nhằm thúc đẩy quá trình lấy ý kiến để thông qua Hiến pháp mới hội nghị này gồm 250 người

làm việc theo năm uỷ ban: Uỷ ban đại diện của các cơ quan chính quyền liên bang. Uỷ ban đại diện của các cơ quan chính quyền của các chủ thể. Uỷ ban đại diện các chính quyền địa phương, Uỷ ban đại diện của các Đảng, các tổ chức xã hội, công đoàn, tôn giáo. Uỷ ban đại diện cho các nhà sản xuất và giới chí. Như vậy hội nghị Hiến pháp là một diễn đàn với sự tham gia của đại diện tất cả các tầng lớp lãnh đạo ca đại diện các tổ chức kinh tế, chính trị trong xã hội. Ngày 24 tháng 6 năm 1993 Xô Viết tối cao Nga từ chối hợp tác với hội nghị Hiến pháp với lý do có sự tham nhũng của một số nhà lãnh đạo và tổ chức của hội nghị này. Mặc dù vậy, hội nghị vẫn tiến hành. Do những mâu thuẫn sâu sắc giữa Xô Viết tối cao và Tổng thống, Tổng thống B. Enxin đã sử dụng quyền lực để giải tán tối cao, thành lập cơ chế hai viện của Quốc hội: Đuma quốc gia và Hội đồng liên bang, trong khi chờ đợi cuộc bầu cử vào Đuma, Tổng thống và Chính phủ là hai đại diện cho hai viện này. Xô Viết tối cao Nga từ chối thực hiện mệnh lệnh của Tổng thống và coi nghị định của Tổng thống là hành động đảo chính. Ngày 24/9/1993, Chủ tịch đoàn Xô Viết tối cao dựa vào điều 121 - 6 của Hiến pháp đã tuyên bố bãi miễn Tổng thống Enxin. Chuyển giao chức vụ này cho Phó Tổng thống Rutxkôi. Toà án Hiến pháp Nga đã xem xét những việc và cho rằng hành động giải tán Xô Viết của B.Enxin là hợp hiến, và đề nghị tổ chức bầu cử lại cả Tổng thống và Quốc hội. Mâu thuẫn trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm, đảng phái mà quyết liệt nhất giữa phe do Tổng thống Enxin đứng đầu, chủ trương thiết lập thể chế nhà nước theo mô hình cộng hoà Tổng thống và phe do Phó tổng thống Rutxkôi và Chủ tịch Xô Viết tối cao Khaxbulatốp đứng đầu, chủ trương xây dựng nước Nga theo chế độ cộng hoà nghị viện. Mọi đề nghị nhằm tiến ra một giải pháp chung cho cuộc khủng hoảng chính trị không được hai phía chấp nhận, dẫn đến cuộc chính biến ngày 3 và 4/10/1993. Trong khi Xô Viết tối cao đang nhóm họp và ra nghị quyết huỷ bỏ sắc lệnh của Tổng

thống thì B. Enxin đã ra lệnh cho quân đội bao vây, bắn vào trụ sở Quốc hội ( nhà trắng) bắt toàn bộ các thành viên Xô Viết tối cao và sau đó ra quyết định giả tán cơ quan này. Sau sự kiện này Tổng thống Enxin đã ra nghị định “Về cải cách các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương của Liên bang Nga”. Theo quyết định này, các Xô Viết địa phương đã bị bãi bỏ.

Sau cuộc chính biến tháng 10, việc thông qua Hiến pháp mới cũng trở nên cấp thiết, trong thời gian hơn 3 tháng, hội nghị đã thu thập được hơn 50.000 ý kiến đóng góp. Ngày 12/12/ 1993 bản dự thảo Hiến pháp đã được đem ra để trưng cầu dân ý. Kết quả là 54% cử tri Nga đã tham gia cuộc trưng cầu và có 58,4% số người tham gia ủng hộ bản dự thảo Hiến pháp này. Điểm nổi bật của Hiến pháp Liên bang Nga là nó được thông qua đồng thời với việc tổ chức bầu cử Nghị viện Nga. Các cuộc bầu cử này được tổ chức không phải trên cơ sở Hiến pháp mà trên cơ sở quyết định của Tổng thống ngày 1/10/1993.“Về bầu cử đại biểu Đuma quốc gia Nga trong năm 1993” và quyết định ngày 11/10/1993 “Về bầu cử vào hội đồng liên bang của Liên bang Nga”.

Nguyên tắc để xây dựng Hiến pháp mới là dựa trên cơ sở phân chia quyền lực ở một đất nước vừa theo chế độ đại nghị, vừa theo chế độ Tổng thống. Nhưng việc phân chia quyền lực này vẫn được tính đến sự hợp tác phối hợp giữa các nhánh chính quyền, và được điều phối theo Hiến pháp, trong đó vai trò điều hành hoạt động của mọi nhánh quyền lực là do Tổng thống nắm giữ.

Bên cạnh đó mô hình Hiến pháp của nước cộng hoà Tổng thống và nguyên tắc phối hợp giữa các nhánh chính quyền làm cho cơ chế tổng thống không thể trở thành cơ chế cá nhân, có nghĩa là Tổng thống tự mình quyết định mọi việc mà không có sự thông qua của các cơ quan nhà nước khác.

Điều này bảo đảm cho xã hội Nga không thể rơi vào tình trạng độc quyền hay

độc tài. Tất cả những điều khoản cần thiết nhằm đạt được mục tiêu này đã đư- ợc ghi rõ trong Hiến pháp. Cho dù thẩm quyền của Tổng thống có rộng đến đâu thì cũng không thể không có giới hạn. Thẩm quyền của Tổng thống gắn liền với thẩm quyền của các cơ quan khác của nhà nước, còn mối quan hệ giữa Tổng thống và cơ quan lập pháp và hành pháp được ghi nhận trong Hiến pháp không chỉ bằng các quyền mà còn là trách nhiệm đối với nhau.

Hiến pháp năm 1993 khác với Hiến pháp cũ của năm 1978 và những văn bản sửa đổi Hiến pháp thông qua trước đó trước hết ở việc quy định vai trò và quyền hạn của Tổng thống rộng hơn nhiều. Tổng thống không chỉ là người đứng đầu hệ thống các cơ quan hành pháp, mà còn là người có uy tín, có nhiều thẩm quyền quan trọng, đứng đầu nhà nước.

Hiến pháp cũ của Nga coi Đại hội đại biểu nhân dân là cơ quan quyền lực tối cao. Đại hội có quyền xem xét mọi vấn đề liên quan đến nước Nga, yêu cầu Tổng thống làm các báo cáo hàng năm về bất cứ vấn đề gì trong bất cứ thời gian nào, đồng thời có thể bãi bỏ mọi quyết định của Tổng thống.

Hiến pháp mới 1993 không những đã hạn chế quyền lực tối cao của Nghị viên Nga, mà còn xuất phát từ quan điểm cho rằng Tổng thống là người nắm giữ vị trí chủ đạo trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước.

Trước kia Tổng thống được xác định là người đứng đầu là cơ quan Hành pháp nhà nước, còn Hiến pháp 1993 quy định Tổng thống là “người đứng đầu nhà nước”.

Trong suốt thời gian tồn tại, nước Nga đã năm lần thay đổi Hiến pháp, mỗi lần đều đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong quá trình phát triển của nước Nga.Tuy vậy, sau những biến động nặng nề của nước Nga trong những năm cuối thế kỷ XX, Hiến pháp 1993 có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xây dựng một thể chế chính trị ổn định và phù hợp cũng như góp phần đưa nước Nga trở lại với vị trí vốn có của một cường quốc.

Cũng như các Hiến pháp cuả thời đại ngày nay, Hiến pháp Liên bang Nga 1993 điều chỉnh các quan hệ xã hội trong mỗi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và công dân. Hiến pháp quy định địa vị pháp lý của con người và của công dân trong nhà nước và xã hội.

2.3.2.2. Những quy định của Hiến pháp Liên bang Nga 1993 về thể chế chính trị

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 gồm có lời nói đầu, hai phần: Phần thứ nhất gồm chín chương và phần thứ hai là phần kết luận.

Phần một gồm các chương:

Chương 1: Những cơ sở của Hiến pháp

Chương 2: Các quyền và tự do của con người và công dân Chương 3: Cơ cấu liên bang

Chương 4: Tổng thống Liên bang Nga Chương 5: Nghị viện Liên bang Nga Chương 6: Chính phủ Liên bang Nga Chương 7: Hệ thống các cơ quan pháp luật Chương 8: Tự quản địa phương

Chương 9: Những sửa đổi Hiến pháp và việc xem xét lại Hiến pháp.

Phần thứ hai: Kết luận

Lời mở đầu của Hiến pháp Liên bang Nga được bắt đầu bằng câu:

Chúng ta, nhân dân của nhiều dân tộc trong Liên bang Nga”. Thể hiện rõ đặc điểm đa dân tộc của nước Nga. Mục tiêu chính của việc thông qua Hiến pháp là để “khẳng định quyền và tự do của con người, thế giới công dân và sự nhất trí”. Ngoài ra, lời mở đầu cũng thể hiện tính thống nhất của Liên bang Nga như là một quốc gia có lịch sử từ lâu đời, các dân tộc đã có mối quan hệ tương tác về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá. Sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là cần thiết và có lợi cho tất cả người Nga. Bởi vậy, việc đề cao sự toàn vẹn lãnh thổ

vừa là mục đích, vừa là trách nhiệm của tất cả các nhánh quyền lực cũng như của mọi công dân Nga.

Chính vì vậy, Hiến pháp năm 1993 xuất phát từ chủ nghĩa liên bang nhất quán. Điều đầu tiên của Hiến pháp khẳng định nước Nga là nước liên bang. Bản chất chế độ Liên bang Nga được thể hiện trong Hiến pháp 1993 nh- ư sau: Chế độ liên bang của nhà nước Liên bang Nga được xây dựng trên cơ

sở sự toàn vẹn của quốc gia, sự thống nhất hệ thống các cơ quan nhà nước, sự phân định rõ ràng đối tượng quản lý và quyền hạn gữa các cơ quan của chính quyền nhà nước Liên bang Nga và các cơ quan của chính quyền nhà nước chủ thể của liên bang, sự bình quyền và tự quyết của các dân tộc trong toàn Liên bang Nga.

Hiến pháp 1993 ghi nhận nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Điều 10 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 nói rằng: quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga được thực hiện trên cơ sở phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nguyên tắc này, chính quyền nhà nước Liên bang Nga được thực hiện trên cơ sở phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các nhánh quyền lực trên hoạt động độc lập để nhằm đạt được sự hợp lý và tính hiệu quả trong quản lý nhà nước và để ngăn ngừa những quyết định sai lầm trong đời sống quốc gia.

Tuy nhiên, theo Điều 11 thì Tổng thống, Quốc hội, Chính phủ và các toà án liên bang được thực hiện quyền lực nhà nước như vậy, có thể hiểu là có đến bốn nhánh quyền lực được nhắc đến và hình như quyền Tổng thống Nga vượt ra ngoài khuôn khổ “Thuyết tam quyền phân lập” kinh điển [73]. Đây là một điểm nổi bật trong thể chế chính trị Liên bang Nga, đặc biệt là trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Điều này còn được trở lại trong phần sau của luận văn khi đề cập đến Tổng thống Nga.

Một phần của tài liệu Thể chế chính trị liên bang nga (Trang 41 - 52)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(108 trang)
w