Như đã trình bày ở phần trên, thể chế chính trị vừa với tư cách là những định chế tạo thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của chế độ chính trị, vừa là hình thức thể hiện của các thành tố trong hệ thống chính trị, trong thể chế chính trị, thể chế nhà nước bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng nhất. Vì vậy, các học giả thường dựa vào thể chế chính trị - cụ thể là thể chế nhà nước để phân loại các thể chế chính trị. Tên gọi của hình thức chính thể cũng chính là tên gọi của thể chế chính trị.Theo đó, có thể đánh giá những nét cơ bản của thể chế chính trị thế giới đương đại. Có nhiều cách phân loại thể chế chính trị khác nhau, dưới đây là những cách phân loại chính.
1.3.1. Phân loại theo chế độ chính trị 1.3.1.1. Thể chế chính trị quân chủ
Thể chế chính trị quân chủ là thể chế quy định và bảo đảm quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước (có tên gọi Vua hoặc hoàng đế).
Đây là hình thể chính trị lâu đời nhất, hầu hết mang tính chuyên chế của quyền lực nhà nước. Quyền lực chuyên chế khẳng định nhà vua có toàn quyền để cai trị thiên hạ. Thể chế quân chủ được thịnh hành ho đến tận những năm đầu thế kỷ XX.
Một số nước hiện nay vẫn mang hình thức tổ chức theo chế độ quân chủ, nhưng nội dung chứa đựng nhiều yếu tố dân chủ.
Thể chế chính trị quân chủ xét về mặt lịch sử được hình thành do cách mạng tư sản không đủ sức đánh bại được giai cấp phong kiến đại diện là các vị hoàng đế, mặc dù đã lỗi thời, những vẫn còn đủ mạnh, thì ở đó quyền lực nhà nước buộc phải chia sẻ giữa giai cấp thống trị tư sản và phong kiến, ở đó tồn tại thể chế quân chủ. Cũng có ý kiến cho rằng đây là mong muốn của giai cấp tư sản, họ muốn giai cấp thống trị cũ thích ứng với phương thức cai trị mới. Mặc dù chính thức chính thể quân chủ không được thừa nhận là hình thức chính thể dân chủ tiên tíên, nhưng nó lại tồn tại phổ biến trong thế giới tư sản. Có thể nói, số lượng các nước tư sản quy định thể chế nhà nước theo hình thức quân chủ hiện nay còn rất nhiều, trở thành một loại hình phổ biến của tỏ chức nhà nước trên thế giới.
Sự tồn tại cho đến nay của thể chế chính trị quân chủ thể hiện sức sống mãnh liệt đã tồn tại nhiều thế kỷ của chế độ phong kiến. Một chế độ đã ăn sâu vào tiềm thức của nhiều dân tộc.
Hình thức chính thể này còn tồn tại cho đến nay là tàn dư của chế độ phong kiến, được giai cấp phong kiến sử dụng như một công cụ tiềm tàng phòng chống những biến đổi. Nhà vua được dựng lên như một nhân vật siêu
phàm đứng trên giai cấp, các đảng phái, tượng trưng cho sự vĩnh hằng của chế độ xã hội đang hiện hành.
Thể chế quân chủ trong lịch sử và cho đến nay được phân thành hai loại cơ bản: Quân chủ tuyệt đối và quân chủ lập hiến.
Thể chế quân chủ tuyệt đối là thể chế chính trị mà ở đó quyền chuyên chế, độc tài, không hạn chế thuộc về nhà vua. Loại hình thể chế này chỉ tồn tại trong chế độ phong kiến, hiện nay không còn tồn tại ở các nhà nước tư bản hiện đại.
Quân chủ lập hiến là loại hình phổ biến hiện nay. Việc tổ chức quyền lực nhà nước vừa có Vua, vừa có Hiến pháp. Nhà vua chỉ có quyền lực thực sự khi không có Hiến pháp. Một khi đã có Hiến pháp, thì Nhà vua không còn quyền lực như trong chế độ phong kiến nữa. Ngày nay, khi nói đến những nhà nước vừa có Vua, vừa có Hiến pháp, người ta gọi là những “Ông vua lập hiến” tức là có hàm ý chỉ nhưng Ông vua hình thức, không có thực quyền theo công thức: “Nhà vua trị vì nhưng không cai trị” Quyền lực nhà nước chủ yếu nằm trong tay bộ máy hành pháp và người đứng đầu hành pháp.
Ngày nay, vị trí lãnh đạo quốc gia dần dần thay đổi từ giới quý tộc cha truyền con nối sang các quan chức được dân chúng bầu ra. Hiện nay, ở nhiều nước, hoàng gia vẫn tồn tại, nhưng Nhà vua không có quyền lực tuyệt đối như trong quá khứ như: Anh, Thuỷ Điển, Đan Mạch, Nhật Bản...Chính phủ của quốc gia này được tổ chức theo mô hình quân chủ lập hiến, người đứng đầu là Nhà Vua hay Nữ hoàng. Tuy nhiên sự tồn tại của họ chỉ mang tính tượng trưng, còn chính phủ lại hoạt động theo Hiến pháp.
Thể chế quân chủ lập hiến được chia thành hai loại cơ bản: Quân chủ nhị nguyên và quân chủ đại nghị.
Thể chế quân chủ nhị nguyên là thể chế chính trị mà ở đó quyền lực nhà nước được chia đều cho hai cơ quan cơ bản của cấu trúc nhà nước là
quyền lực của Nhà vua và quyền lực của nghị viện. Đây là kiểu thể chế tồn tại không lâu ở thời kỳ đầu của cách mạng tư sản. Thời kỳ quá độ chuyển từ giai cấp phong kiến sang giai cấp tư sản. Sau đó một thời gian loại hình thể chế này được chuyển sang mô hình thể chế đại nghị.
Thể chế quân chủ đại nghị là loại hình thể chế khá phổ biến hiện nay ở các nước tư bản phát triển (Anh, Nhật Bản, Tây Ban Nha...). Sở dĩ, đây là loại hình
thể chế được nhiều nước áp dụng vì nó phù hợp với điều kiện hiện nay, giai cấp tư sản thống trị vẫn nắm được quyền, quyền lực tập trung vào tay chính phủ, Nhà vua chỉ là biểu tượng cho sự tập trung, thống nhất vĩnh hằng của dân tộc. Chính biểu tượng này lại có tác động tâm lý cho sự tồn tại của chế độ hiện thời và khi có những biến cố chính trị , như chiến tranh, nội chiến, đảo chính thì Nhà vua lại trở thành chỗ dựa cho giai cấp thống trị.
Loại hình thể chế này có những đặc điểm:
- Vua là người đứng đầu nhà nước nhưng quyền lực lại tập trung trong tay nghị viện - cơ quan do dân bầu. Quyền lực của Nhà vua chủ yếu mang tính hình thức, Nghị viện là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền thành lập và
giải tán chính phủ. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện, nhưng trên thực tế, quyền lực tập trung vào tay người đứng đầu hành pháp. Hịên nay, quyền lực của thủ tướng Nhật Bản và Anh Quốc là rất lớn.
- Vua là người đứng đầu nhà nước, là biểu tượng của sự thống trị phi chính trị và không thiên vị. Tuy nhiên, trên thực tế, người Nhà vua vẫn phải chịu ảnh hưởng của đảng cầm quyền.
- Thể chế quân chủ thi hành chủ nghĩa lưỡng viện, song trên thực tế hầu như tất cả quyền lập pháp tập trung vào hạ viện. Hạ viện chẳng những có
quyền tối cao về lập pháp mà còn có quyền thành lập và bài miễn chính phủ, kiểm tra giám sát, hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp.
- Thể chế chính trị quân chủ đại nghị thừa nhận chế độ đa đảng. Tuy nhiên, ở Anh luôn duy trì chế độ hai đảng thay nhau cầm quyền, còn ở Nhật lại thực hiện chế độ “một đảng rưỡi” (tức là một đảng lớn liên tục cầm quyền nhưng phải liên minh với một đảng nhỏ).
1.3.1.2. Thể chế chính trị cộng hoà
Thể chế chính cộng hoà xét về bản chất, là loại hình tổ chức nhà nước dân chủ, mà ở đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nếu như loại hình thể chế quân chủ, tính chuyên chế, quyền lực nhà nước tập trung trong tay một vị Vua được truyền ngôi theo nguyên tắc thế tập, nhân dân ở mọi tầng lớp, trừ tầng lớp quý tộc phong kiến, không có quyền tham gia vào công việc của nhà nước, thì ở thể chế cộng hoà, quền lực này nước thuộc về nhân dân gọi là thể chế cộng hoà.
Thể chế cộng hoà có hai loại chủ yếu là thể chế cộng hoà đại nghị và cộng hoà tổng thống và một hình thứ ba kết hợp giữa hai hình thức này tạo thành một hình thức nữa, được gọi là thể chế cộng hoà lưỡng tính.
Thể chế cộng hoà tổng thống được sinh ra muộn hơn thể chế đại nghị mà mô hình tiêu biểu là Mỹ quốc. Loại hình thể chế này có đặc điểm:
- Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp, do nhân dân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra.
- Quyền hành pháp có phần lấn át quyền lập pháp và tư pháp, nhưng như ở Mỹ, do thi hành chế độ lưỡng viện cân bằng và quốc hội không bị giải tán bởi Tổng thống nên quốc hội có thực quyền và trở thành đối trọng, kiềm chế Tổng thống.
- Việc tổ chức quyền lực nhà nước áp dụng triệt để học thuyết phân chia quyền lực nhà nước một cách tuyệt đối, hay còn gọi là cách phân quyền cứng rắn và tăng cường quyền lực của cá nhân Tổng thống- Ngyên thủ Quốc gia.
- Thể chế cộng hoà tổng thống thường duy trì chế độ hai đảng thay nhau nắm quyền, thiếu kỹ luật và sự gắn bó, nội bộ ít thống nhất. Thực tế là ở
Mỹ, không phải bao giờ tổng thống cũng nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của đảng mình.
- Các cơ quan nhà nước được đặt trong một cơ chế kìm chế và đối trọng.
Thể chế chính trị cộng hoà đại nghị là hình thức tổ chức nhà nước có nguyên thủ quốc gia do nhân dân bầu ra, chính phủ do Thủ tướng đứng đầu không chịu trách nhiệm trước nguyên thủ quốc gia, mà chịu trách nhiệm trước Tổng thống. Tiêu biểu cho loại hình thể chế này là Đức, Italia, Áo...Thể chế cộng hoà lưỡng tính có những đặc điểm sau:
- Quyền lực nhà nước tập trung vào tay nghị viện, cơ quan do dân trực tiếp bầu ra.
- Nghị viện có quyền thành lập chính phủ, bầu ra Tổng thống, đồng thời có thể bài miễn chính phủ và Tổng thống.
- Thể chế này cũng duy trì chế độ lưỡng viện. Nhưng Hạ viện do nhân dân trực tiếp bầu ra, nên có vai trò chi phối, còn thương viện cho chính phủ
các bang bầu ra nên vai trò rất hạn chế. Do duy trì chế độ hai đảng, nên đảng nào nắm Hạ viện thì đảng đó trở thành đảng cầm quyền. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay cho thấy, các nước như Đức, Italia, thường thực hiện chế độ “hai đảng rưỡi”, nghĩa là hai đảng thay nhau nắm quyền, nhưng nếu không có đảng nào chiếm đa số trong Hạ viện để thành lập chính phủ thì phải liên minh với một đảng khác. Kết quả các cuộc tổng tuyển cử ở Đức, Italia trong năm 2005 và đầu năm 2006 đã củng cố thêm nhận định này.
Thể chế cộng hoà hỗn hợp (lưỡng tính) vừa mang tính chất của thể chế cộng hoà Tổng thống vừa mang tính chất của thể chế cộng hoà đại nghị. Tiêu biểu là Nga, Pháp, Phần Lan...., thể chế cộng hoà hỗn hợp có đặc điểm:
- Tổng thống và Nghị viện đều do nhân dân bầu ra. Tổng thống có toàn quyền hành pháp, có quyền giải tán Nghị viện, nhưng Nghị viện có quyền can thiệp vào quá trình thành lập chính phủ, buộc Tổng thống phải bổ nhiệm lãnh tụ của đảng chiếm đa số trong Nghị viện làm Thủ tướng và trên thực tế là
Tổng thống phải chia sẻ quyền lực với Nghị viện. Quyền lực của Tổng thống cũng bị chi phối nếu Thủ tướng là người của đảng đối lập.
- Quyền lực tập trung vào Tổng thống- Nguyên thủ quốc gia. Tổng thống chi phối mọi hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Thể chế cộng hoà xã hội chủ nghĩa là loại hình thể chế được tổ chức theo mô hình cộng hoà Xô Viết (Hội đồng) tuỳ theo tính chất mà thể chế cộng hoà xã hội chủ nghĩa có tên gọi khác nhau. Ở Việt Nam là cộng hoà xã hội chủ nghĩa; ở Lào, Bắc Triều Tiên là cộng hoà dân chủ nhân dân, ở Trung Quốc là cộng hoà nhân dân, ở CuBa là cộng hoà. Với loại hình thể chế này, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Giống như thể chế chính trị cộng hoà đại nghị, trong thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, quyền lực thuộc về Quốc Hội, đây là cơ quan có quyền thành lập Chính phủ, bầu Chủ tịch nước, các chức danh trong bộ máy nhà nước, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước.
Chính phủ là cơ quan hành pháp, chịu trách nhiệm trước quốc hội, thực thi vai trò quản lý hành chính và bảo đảm sự thống nhất từ trung ương xuống địa phương.
Khác với các thể chế cộng hoà khác, trong hệ thống tư pháp của thể chế chính trị cộng hoà xã hội chủ nghĩa có cơ quan viện kiểm sát.
Trong thể chế chính trị cộng hoà xã hội chủ nghĩa có thể có chế độ đa đảng nhưng Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo.
1.3.2. Phân loại dựa trên mức độ tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước
Căn cứ vào mức độ tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước, người ta thường chia các thể chế chính trị của mỗi quốc gia ra thành hai loại: Thể chế chính trị hành vi và thể chế chính trị tổ chức.
Thể chế chính trị hành vi là tập hợp các quy tắc được hình thành trong qúa trình phát triển của quốc gia, quy định sự tham gia của tất cả công dân, hay đại đa số công dân hợp thành một giai tầng, một giai cấp tham gia vào các công việc của nhà nước theo một thể thức nhất định, được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận. Những thể thức này trở thành những quy tắc xử sự của các công dân thông qua các hành vi ứng xử của họ trong lĩnh vực các công việc của quốc gia.
Thể chế chính trị hành vi, về nguyên tắc chỉ được quy định cho các công dân của mỗi một nhà nước sở tại. Vì chính trị là vấn đề nhà nước, vấn đề
dân tộc, chúng luôn luôn gắn bó với vấn đề chủ quyền quốc gia, và chỉ có những người có quốc tịch của nhà nước sở tại mới được quyền tham gia.
Trong những trường hợp đặc biệt, một số ít người không có quốc tịch của nhà nước sở tại vẫn được tham gia với tư cách tư vấn theo lời mời hoặc theo một thoả thuận với quốc gia sở tại. Về nguyên tắc, tất cả các công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần giai cấp...đều được tham gia vào các công việc nhà nước. Tuy nhiên vẫn có sự phân biệt nhất định tuỳ theo quy định của từng nước và phụ thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Chính trị là một lĩnh vực phức tạp, người tham gia phải có sự chín chắn nhất định. Vì vậy, việc tham gia vào lĩnh vực bầu cử và ứng cử vào chức vụ trong các cơ quan nhà n- ớc thờng chỉ đợc quy định cho những công dân đã đủ tuổi trưởng thành. Tuổi để tham gia vào việc bỏ phiếu bầu cử hiện nay đều được các nhà nước trên thế
giới quy định cho 18 tuổi trở lên. Tuổi ứng cử từ 21 tuổi trở lên. Ứng cử viên tổng thống Mỹ phải có độ tuổi từ 35 trở lên và phải là công dân có quốc tịch nguyên thuỷ ( nghĩa là phải được sinh ra ở trên lãnh thổ Liên bang Mỹ) và phải có đủ 9 năm trở lên sống trên lãnh thổ nước Mỹ. Ngoài ra còn nhiều quy định bất thành văn khác được hình thành từ nhiều thập kỷ nay không được quy định. Ví dụ, trong 43 đời Tổng thống Mỹ từ trước đến nay chưa có ai là đàn bà, chưa có ai là người da màu...Vì vậy, thể chế này cho đến hiện nay khó có thể làm khác đi được.
Thể chế chính trị tổ chức có thể được hiểu ở hai nghĩa: Một là các tổ chức, các cơ quan thực hiện các công việc nhà nước ở tầm vĩ mô, có nhiệm vụ phải đưa ra những quyết định ở tầm quốc gia cho toàn bộ nhân dân thực hiện;
hai là bao gồm toàn bộ các quy tắc xử sự của các cơ quan, các tổ chức khi thực thi nhiệm vụ quyền hạn của mình. Thực ra, sự phân biệt này có tính chất học thuật hơn là thực tế. Khi nói đến các thể chế chính trị tổ chức bao giờ cũng gắn bó giữa cơ quan, tổ chức đó với những nhiệm vụ quyền hạn của họ.
Những cơ quan và những tổ chức này được gọi là những tổ chức chính trị.
Giữa chúng có mối tương quan chặt chẽ với nhau và hợp thành một hệ thống chính trị của mỗi quốc gia. Hệ thống chính trị này ở tầm vĩ mô bao gồm:
Đảng phái chính trị, nhà nước, các nhóm lợi ích chính trị, các đoàn thể chính trị khác... Những thể chế chính trị hành vi thường là cơ sở cho những thể chế chính trị tổ chức. Vì các thể chế chính trị tổ chức được hình thành trên cơ sở của những thể chế chính trị hành vi.
1.3.3. Phân loại theo hình thức thể hiện
Theo cách phân loại này, thể chế chính trị có thể chia làm hai loại: Thể chế chính trị thành văn và thể chế chính trị bất thành văn.
Thể chế chính trị thành văn tức là những thể chế được nhà nước ghi nhận và thông qua bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Với tính chất quan