Nguyễn Quang Thuấn Viện Nghiên cứu châu Âu, TS.Ngô Duy Ngọ Học viện Quan hệ Quốc tế,… chủ yếu đề cập đến một vài khía cạnhcủa vấn đề như vai trò của dầu khí, chiến lược dầu khí, hợp tác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHAN THỊ BÍCH HẠNH
CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG NGA VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA LIÊN BANG NGA
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Cảnh Toàn
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Bố cục luận văn
7 Nguồn tài liệu tham khảo
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGÀNH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA
1.1.Thực trạng và tiềm năng các ngành năng lượng của Nga
1.1.1 Dầu khí
1.1.2 Than đá
1.1.3 Năng lượng hạt nhân
1.1.4 Năng lượng tái tạo
1.2.Vị thế quốc tế của Nga trong lĩnh vực năng lượng
1.3.Những bất cập và yếu kém của ngành năng lượng Nga
Tiểu kết chương 1
Chương 2 CHIẾN LƯỢC NĂNG LƯỢNG VÀ CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA
2.1.Yêu cầu đặt ra đối với ngành năng lượng của Nga
2.2.Chiến lược năng lượng Nga
2.2.1 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2020
2.2.2 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030
2.2.3 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2035
2.3.Những cải cách của ngành năng lượng Nga
Trang 42.3.1 Cải cách về cơ cấu tổ chức 40
2.3.2 Cải cách chính sách phát triển ngành dầu khí 44
2.3.3 Cải cách cơ sở hạ tầng ngành năng lượng 50
2.3.4 Cải cách về công nghệ 62
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 VAI TRÒ CỦA NĂNG LƯỢNG VÀ CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NGA KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 66
3.1 Vai trò của năng lượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga 66
3.1.1 Về kinh tế 67
3.1.2 Về chính trị 71
3.1.3 Chính sách năng lượng của Nga ở một số khu vực trọng điểm 77
3.1.3.1 Đối với Cộng đồng các Quốc gia Độc lập SNG 77
3.1.3.2 Đối với EU 82
3.1.3.3 Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương 87
3.2 Kinh nghiệm cho Việt Nam 96
Tiểu kết chương 3 100
PHẦN KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 117
Trang 84
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Biểu đồ 1.1: Top 20 nước có trữ lượng khí lớn nhất thế giới (tỷ thùng) 17
Biểu đồ 1.2: Top 20 nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới năm 2013 (tỷ thùng) 17 Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ phân bổ than đá trên toàn thế giới 20
Biểu đồ 3.1: Đông Bắc Á trong nhu cầu năng lượng thế giới (tỷ tấn) 91
Hình 1.1: Mạng lưới đường ống dẫn dầu khí của Nga ở châu Âu 29
Hình 2.1: Tuyến đường ống dẫn khí Bovanenkovo – Ukhta và Ukhta – Torzhok 51
Hình 2.2: Tuyến đường sắt Obskaya – Bovanenkovo: 52
Hình 2.3: Tuyến đường Sakhalin – Khabarovsk – Vladivostok 53
Hình 2.4: Dòng chảy xanh – Blue Stream 55
Hình 2.5: Dự án Dòng chảy phương Bắc 56
Hình 2.6: Đường đi của dòng chảy phương Nam 57
Hình 2.7: Các phương án hình thành hệ thống đường ống cho Đông Bắc Á 59
Hình 2.8: Tuyến đường ống dẫn dầu Đông Siberi – Thái Bình Dương (ESPO) 60
Hình 3.1: Dự án các tuyến đường ống Nabucco, South Stream và North Stream .85
Trang 10MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, năng lượng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sốngkinh tế - xã hội của con người Năng lượng không những gắn liền mà còn cải thiệnchất lượng cuộc sống của con người Từ những sinh hoạt tối thiểu như ăn, ở, đếncác hoạt động lao động, vui chơi giải trí của con người đều cần đến năng lượng Khi
xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng cao và văn minhhơn Năng lượng là một trong những nguyên nhân của các cuộc cách mạng khoahọc kỹ thuật, là động lực cho các ngành kinh tế, quyết định tiềm năng, mức độ vànhịp độ phát triển của một nền kinh tế Do đó, công nghiệp năng lượng trở thànhmột trong những ngành kinh tế quan trọng và cơ bản của một quốc gia Nền sảnxuất hiện đại chỉ có thể phát triển nhờ sự tồn tại của ngành năng lượng Nhu cầu đốivới năng lượng càng ngày càng tăng cao Quốc gia càng phát triển thì nhu cầu sửdụng năng lượng càng lớn Chẳng hạn như Mỹ - quốc gia có nền kinh tế phát triểnhàng đầu thế giới và trữ lượng năng lượng khổng lồ1 vẫn phải nhập khẩu đến 2/3lượng dầu mỏ trong tổng mức tiêu thụ 24,4 triệu thùng dầu/ngày, chiếm 25 % tổnglượng tiêu thụ dầu mỏ toàn thế giới2 Hay như đối với Liên minh châu Âu (EU)3,
“dầu và khí đốt chiếm 50 % lượng tiêu thụ năng lượng của EU và nếu không có gìthay đổi, tỉ lệ này sẽ tăng lên 65 % vào năm 2030, trong đó, EU sẽ phải nhập tới 93
% dầu và 84 % khí đốt”4,… Tuy nhiên, nguồn năng lượng truyền thống lại đang dầncạn kiệt tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của kinh tế Do vậy, năng lượng trở thànhtâm điểm trong quan hệ quốc tế hiện nay Năng lượng chính là chất xúc tác thúc đẩyquan hệ giữa các nước trên cơ sở gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau, nhưng đồng thờicũng là một trong những tác nhân gây ra xung đột và chiến tranh trong quan hệ quốc
tế Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã từng khẳng định “những vấn đề nănglượng, tài nguyên ngày nay đang đứng ngang hàng với các vấn đề an ninh
1 Mỹ đứng thứ 11 về trữ lượng dầu mỏ, thứ 6 về trữ lượng khí đốt và đứng đầu thế giới về trữ lượng than đá
2The Booking Foreign Policy Studies (2006), Energy Sercurity Series – the Russian Federation,
The Bookings Institution, Washington D.C
3 Viết tắt của từ tiếng Anh: The European Union
4Hồ Thắm (2005), Đối ngoại năng lượng Nga – EU, Tạp chí Kinh tế Quốc tế, số 04, tr 12
6
Trang 11quân sự, ý thức hệ, tranh giành lãnh thổ”5 Các cuộc xung đột, chiến tranh cục bộ vàkhu vực, những điểm nóng trên thế giới những năm gần đây, suy cho cùng, cónguyên nhân từ vấn đề tranh chấp và tìm kiếm năng lượng Trong bối cảnh đó, nănglượng đóng vai trò là một trong những yếu tố then chốt trong chính sách đối ngoạicủa mỗi quốc gia, trong đó có Nga6 – quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên lớn nhất vềkhí đốt tự nhiên và phần đáng kể trữ lượng dầu mỏ Việc Nga sử dụng năng lượngnhư một thứ vũ khí lợi hại nhằm gia tăng ảnh hưởng và quyền lực là điều dễ hiểu,bởi trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia đều sử dụng các liên kết chính trị, các mốiquan hệ kinh tế, khả năng quân sự và các công cụ thế mạnh khác để tăng cườngtiếng nói và vị thế của mình.
Đối với Nga, sau sự sụp đổ của Liên Xô, vị thế cường quốc hàng đầu thế giớicũng bị đánh mất Đặc biệt, sau gần một thập kỷ cầm quyền của Tổng thống BorusYeltsin (1919-1999), nước Nga không chỉ chìm sâu vào khủng hoảng mà còn bị suygiảm địa vị trên trường quốc tế và bị coi là cường quốc hạng hai Thế mạnh sẵn cócủa Nga là năng lượng khi ấy cũng chỉ được coi là một thứ hàng hóa “ít giá trị” Tuynhiên, kể từ khi Putin lên làm ông chủ của Điện Kremlin thay Yeltsin thì quan điểmcủa Nga về năng lượng đã thay đổi Putin đã nhìn thấy sức mạnh to lớn đằng sau haichữ “năng lượng” Do vậy, một chương trình cải cách toàn diện ngành năng lượng
đã được Putin cùng chính quyền Moscow xây dựng và thực hiện nhằm phát huy tối
đa sức mạnh của năng lượng, biến năng lượng trở thành “xương sống” của nền kinh
tế và “vũ khí lợi hại” của chính trị Ngay từ những ngày đầu nắm quyền, Putin đãbắt tay vào xây dựng một chính sách phát triển ngành năng lượng toàn diện và dàihạn Chính sách năng lượng của Putin được thể hiện rõ qua các chiến lược phát triểnngành năng lượng Chiến lược năng lượng được cập nhật ít nhất năm năm một lần
Kể từ những ngày đầu dưới quyền Putin, Chính phủ Nga đã xây dựng được ba chiến
lược năng lượng, bao gồm: “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2020”,
“Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2030” và mới đây là “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2035” Thông qua các chiến lược này, chính
quyền Putin đã vạch ra những phương hướng chủ yếu để phát triển
5Paul R Viotti – Mark V Kauppiv (2001), Lý luận quan hệ quốc tế, bản dịch của Học viện Quan hệ Quốc
tế, tr 18
6 Cũng có thể được hiểu là: Liên bang Nga, Điện Kremlin, Moscow, xứ sở Bạch Dương,…
7
Trang 12ngành năng lượng, những mục tiêu mà ngành năng lượng cần đạt được Bên cạnh
đó, Moscow còn tìm ra những điểm yếu kém của ngành năng lượng nhằm đưa ranhững biện pháp khắc phục thông qua việc cải cách ngành năng lượng Nhờ đó Nga
đã vực dậy được nền kinh tế và lấy lại được vị thế của mình trên trường quốc tế,đồng thời cũng phá vỡ được ý đồ bao vây, kiềm chế của Mỹ và phương Tây Giờđây, Nga được mệnh danh là “cường quốc năng lượng” và Putin được mệnh danh là
“Vua năng lượng trong thế kỷ XXI”7 Cường quốc năng lượng này cũng trở thànhnhà cung cấp năng lượng và đảm bảo an ninh năng lượng cho toàn thế giới, đặc biệt
là cho khu vực Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (SNG), Liên minh Châu Âu (EU)
và châu Á – Thái Bình Dương (APAC)8 Có thể nói: sự vực dậy và thay đổi nhanhchóng đó của Nga giống như “một cuộc lột xác” và cuộc lột xác đó thành công lànhờ vào công cụ năng lượng Công cụ năng lượng không chỉ giúp Nga khôi phụcnền kinh tế mà còn trở thành một thứ vũ khí sắc bén, một nhân tố quyết định củaNga trong chính sách đối ngoại Và như vậy, việc cải cách năng lượng chính là quátrình tôi rèn thứ vũ khí đặc biệt đó Bởi vậy, bất kỳ một động thái nào liên quan đếnviệc cải cách ngành năng lượng hay thay đổi chính sách năng lượng của Nga cũngđều ít nhiều ảnh hưởng đến tình hình quốc tế nói chung và các quốc gia phụ thuộcvào năng lượng của Nga nói riêng
Vậy, thực trạng và tiềm năng phát triển của ngành năng lượng Nga hiện naynhư thế nào? Nga chiếm vị trí nào trên thị trường năng lượng quốc tế? Ngành nănglượng của Nga tồn tại những bất cập và yếu kém gì đòi hỏi Chính phủ Nga phải tiếnhành cải cách? Chính phủ Nga kể từ khi Tổng thống Putin lên nắm quyền đã tiếnhành cải cách ngành năng lượng như thế nào? Những cải cách đó đã mang lại gì choNga? Thông qua đó, chúng ta có thể rút ra được kinh nghiệm gì cho Việt Nam trongbối cảnh hiện nay?
Để trả lời những câu hỏi trên, tác giả đã quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài
“Cải cách năng lượng Nga và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” và lấy đó làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
7Lê Thế Mẫu (2010), Thế giới: Một góc nhìn Phần I: Trật tự thế giới mới Dầu mỏ - tử huyệt của
nhiều cường quốc kinh tế trong thế giới đương đại Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 7-8.
8 Viết tắt của các từ Tiếng Nga và Tiếng Anh: SNG = Sodruzhestvo Nezavisimykh Gosudarst, APAC = Pacific
Asia-8
Trang 132. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn
3. Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
3.1 Trong nước
Theo tìm hiểu của tác giả, ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu
về vấn đề năng lượng của Nga cũng như chính sách ngoại giao năng lượng của Nga
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề về “Cải cách năng lượng Nga và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Nga” Một
số bài báo, công trình của các học giả hàng đầu như TS Nguyễn Cảnh Toàn, TS
Trang 14Nguyễn An Hà, PGS TS Nguyễn Quang Thuấn (Viện Nghiên cứu châu Âu), TS.Ngô Duy Ngọ (Học viện Quan hệ Quốc tế),… chủ yếu đề cập đến một vài khía cạnhcủa vấn đề như vai trò của dầu khí, chiến lược dầu khí, hợp tác năng lượng Việt –Nga, chính sách ngoại giao năng lượng của Nga, hoặc tìm hiểu vấn đề trong mộtgiai đoạn lịch sử khác chứ không làm rõ quá trình cải cách ngành năng lượng, cácchiến lược năng lượng và vai trò của năng lượng nói chung trong chính sách đốingoại của Liên bang Nga Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
đã được công bố như:
Cuốn “Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của các tác giả Nguyễn
An Hà (chủ biên), Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Cảnh Toàn do Nhà xuất bản(NXB) Khoa học Xã hội phát hành năm 2011 đã đưa ra những phân tích sâu sắc vềvai trò của an ninh năng lượng trong cơ cấu quyền lực thế giới, những yếu kém củangành dầu khí Nga và vấn đề cải tổ tổ hợp dầu khí Nga tới năm 2020 Tư đó, các tácgiả đã đưa ra một bức tranh tổng thể về mối quan hệ hợp tác năng lượng Việt - Ngatới 2020
Cuốn “Các giải pháp phát triển quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới” của tác giả Nguyễn Quang Thuấn, do NXB Từ điển Bách khoa phát hành năm
2009 đã đánh giá và phân tích về thế và lực mới của Liên bang Nga với vai trò là
“siêu cường năng lượng” cũng như phân tích quan điểm mới trong chiến lược đốingoại của Putin
Cuốn “Hướng tới hợp tác toàn diện Nga - ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI” do tác giả Nguyễn Quang Thuấn chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia
phát hành năm 2007 đã phác họa về vấn đề an ninh năng lượng thế giới và triểnvọng xuất khẩu nguồn năng lượng của Nga, đặc biệt là sang khu vực ASEAN
Bên cạnh đó, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác như: “Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI” của TS Nguyễn An Hà, NXB Khoa học Xã hội năm 2008; “Các giải pháp phát triển quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới” của PGS TS Nguyễn Quang Thuấn, NXB Từ điển
Bách khoa năm 2009,… ; một số bài nghiên cứu, phân tích đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu Châu Âu của TS Nguyễn Cảnh Toàn như “Dầu khí và chiến lược năng
Trang 15lượng của Nga” (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 9 (96), 2008, trang 40), “Dầu mỏ: Vũ khí lợi hại của Nga” (Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 9/2008), hay của TS Nguyễn An Hà như “Chiến lược dầu khí của Liên bang Nga và triển vọng hợp tác Việt – Nga tới 2020” (Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 3, 2011, trang
25-31-36),… hay trên Tài liệu Tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam như:
“Chiến lược năng lượng của Nga tại Trung Á” (số 140, 20/6/2007, tr 12 -19),
“Đằng sau cuộc xung đột khí đốt Nga – Ucraina” (Tài liệu tham khảo đặc biệt, 22/01/2009, tr 6 – 10), “Sự điều chỉnh chính sách năng lượng của Nga và Mỹ” (Số
282, 10/17/2011, tr 16 – 24), “Cuộc chiến khí đốt trở thành "ngoại giao khí đốt" (số
17, 18/01/2012, tr 9 – 14),… Ngoài ra, có nhiều sinh viên, học viên cao học haynghiên cứu sinh cũng đã chọn năng lượng Nga làm đề tài nghiên cứu như: Luận văn
Thạc sỹ như Luận văn của Trần Khánh Linh mang tên: “Thực trạng và triển vọng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam-Liên bang Nga” do TS Nguyễn Cảnh Toàn hướng dẫn, Luận văn của Đoàn Thị Thu Hương mang tên “Chính sách ngoại giao năng lượng của Liên bang Nga những năm đầu Thế kỷ 21” do TS Bùi Hồng Hạnh
đường ống dẫn dầu khí của Nga, việc Nga thực hiện chính sách ngoại giao nănglượng bằng cách sử dụng năng lượng như một công cụ đối ngoại dựa trên sự phụthuộc của các khách hàng và các mục tiêu chiến lược của chính sách ngoại giao
năng lượng của Nga Hay một số nghiên cứu và ấn phẩm khác như: “Energy policy and (energy security) as a part of Russian foreign policy” (Tạm dịch: “Chính sách năng lượng và an ninh năng lượng là một phần trong chính sách đối ngoại của Nga”) của tác giả Jussi Huotari – Trường Đại học Lapland đã chứng minh luận
điểm năng lượng và an ninh năng lượng là một trong những công cụ đối ngoại hiệu
Trang 16quả nhất của Nga, giúp đảm bảo vị thế “cường quốc năng lượng” của Nga và giúpNga giữ các nước trong khu vực SNG dưới quyền kiểm soát Tác giả Jussi Huotari
đã chứng minh luận điểm của mình bằng cách phân tích sự thay đổi trong chínhsách năng lượng của Nga đối với các quốc gia vùng đệm và so sánh chính sách năng
lượng của Nga giữa các khu vực Ấn phẩm “Oil, carrots, and sticks: Russia’s energy resources as a foreign policy tool” (Tạm dịch là “Dầu mỏ, cây gậy và củ cà rốt: Các nguồn năng lượng của Nga được coi như một công cụ ngoại giao”) (Tháng
2/2011) của tác giả Randall Newnham – Trường Đại học Penn State, Mỹ đã phântích vai trò của năng lượng Nga, đặc biệt là dầu mỏ, được sử dụng như “củ cà rốt”
để thưởng cho các quốc gia đồng minh và “cây gậy” để trừng phạt các quốc giaquay lưng chống lại Nga Tác giả đã phân tích trường hợp của các quốc gia thuộckhu vực SNG như Belarus, Ucraina,… để làm sáng tỏ điều đó
Ngoài ra còn có nhiều công trình khác như: “The geopolitics of Russian Energy – Looking Back, Looking Forward” (Tạm dịch là “Địa chính trị của năng lượng Nga – Nhìn về quá khứ, hướng tới tương lai”) (Tháng 7/2009) của tác giả Robert E Ebel, “Russian Energy Policy Toward Neighboring Countries” (Tạm dịch
là “Chính sách năng lượng của Nga đối với các quốc gia láng giềng”) của tác giả Steven Woehrel (Tháng 9/2009), hay “Russian Energy Policy and Strategy” (Tạm dịch là “Chiến lược năng lượng và chính sách năng lượng của Nga”) của nhóm tác
giả Paul J Saunders, Robert Legvold, Mikhail Kroutikhin, … Tuy nhiên, hầu hếtcác công trình này mới chỉ đề cập đến chính sách năng lượng của Nga với việc thúcđẩy xuất khẩu dầu khí, hoặc phân tích vai trò của dầu khí trong hoạt động ngoạigiao của Liên bang Nga thông qua hoạt động xuất khẩu, buôn bán trao đổi,… chứchưa đưa ra nguyên nhân dẫn đến những thay đổi trong chính sách năng lượng củaNga, chưa phân tích quá trình cải cách ngành năng lượng cũng như những thành tựu
do việc cải cách mang lại
Bên cạnh đó, nước Nga đang bước vào một thời kỳ mới với rất nhiều sự thayđổi Thứ nhất, đó là, đất nước tạm thời vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu và đang đạt được những thành tựu nhất định Thứ hai, ông Putin trở lại Điện
Trang 17Kremlin trong nhiệm kỳ tổng thống mới kéo dài 6 năm Bên cạnh đó, việc thay thế
“Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2020” bằng “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030” và mới đây là “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2035” đầy đủ và toàn diện hơn đã thể hiện công cuộc cải cách ngành năng lượng
Nga cả về chính sách lẫn thực tế Các học giả quốc tế đã và đang theo sát nhữngdiễn biến cải cách năng lượng ấy để đưa ra lời bình luận và đánh giá về chính sáchnăng lượng của Nga và tìm hiểu xem năng lượng đóng vai trò như thế nào trongchính sách đối ngoại mà Nga đã vạch ra
Do vậy, đây vẫn là một đề tài có sức hút không chỉ với học giả trong nước mà
cả các học giả quốc tế
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: quá trình cải cách ngành năng lượng Nga
và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: Luận văn định hướng nghiên cứu tổng quanngành năng lượng Nga, quá trình cải cách năng lượng của Nga, vai trò của nănglượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga
- Về thời gian nghiên cứu: Việc cải cách và những biện pháp cải cách ngànhnăng lượng của Nga được đưa ra và thực hiện kể từ sau khi Tổng thống Putin lênnắm quyền thay Boris Yeltsin Và cho đến nay, những biện pháp cải cách đó vẫnđang được tiến hành mạnh mẽ và triệt để nhằm phát huy tối đa vai trò của ngànhnăng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga Do vậy, phần trình bày của luậnvăn sẽ tập trung vào khoảng thời gian từ khi ông Putin lên nắm quyền Tổng thốngcho đến nay
- Về mặt nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu về:
+ Chính sách cải cách năng lượng của Nga trên các lĩnh vực cụ thể như: cảicách về cơ cấu tổ chức, cải cách về chính sách phát triển ngành dầu khí, cải cách về
cơ sở hạ tầng và cải cách về công nghệ;
Trang 18+ Vai trò của năng lượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoạicủa Nga biểu hiện về mặt kinh tế và chính trị; phân tích chính sách ngoại giao nănglượng của Nga đối với một số khu vực và quốc gia là đối tác quan trọng của Nganhư khu vực SNG, EU, các nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để làmnổi bật vai trò của năng lượng Thêm vào đó là những tổng hợp của tác giả về kinhnghiệm cho Việt Nam.
4.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn cần làm rõ được những vấn đề sau:
- Đưa ra một bức tranh tổng quan về thực trạng và tiềm năng phát triển củangành năng lượng Nga thông qua một số ngành năng lượng cụ thể là thế mạnh củaNga: dầu khí, than đá, năng lượng hạt nhân, điện, năng lượng tái tạo; qua đó, thểhiện vị thế quốc tế của Nga trên lĩnh vực năng lượng Đồng thời, luận văn cần phântích những điểm yếu kém và bất cập đang tồn tại của ngành năng lượng Nga
- Khái quát nội dung cơ bản của ba bản chiến lược năng lượng quan trọng củaNga: Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2020, Chiến lược năng lượngNga giai đoạn đến năm 2030, và Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm
2035; đưa ra và phân tích những biện pháp cải cách ngành năng lượng của Nga;
- Phân tích làm nổi bật vai trò của năng lượng trong chính sách đối ngoại củaNga Qua đó làm rõ được vai trò của việc cải cách ngành năng lượng trong việc duytrì sức mạnh và tầm ảnh hưởng của năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga.Tổng hợp các kinh nghiệm cho Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu vấn đề trên, tác giả sử dụng nhiều phương phápnghiên cứu như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp tổng hợp,phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, logic, kiểm tra, đánh giá tưliệu, hệ thống hóa nhằm rút ra những nhận định có tính tổng hợp, khái quát phục vụcho nghiên cứu được chi tiết, xác thực hơn
Trang 196. Bố cục luận văn
Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về các ngành năng lượng của Nga
- Chương 2: Chiến lược năng lượng và cải cách năng lượng của Nga
- Chương 3: Vai trò của năng lượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga Kinh nghiệm cho Việt Nam
7. Nguồn tài liệu tham khảo
Vấn đề “Cải cách năng lượng Nga và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” cho đến nay đã được đề cập nhiều trong các công trình
nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại hoặc các bài báo, tạp chí… Để hoànthành đề tài này, những nguồn tài liệu chủ yếu bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếngAnh và tiếng Nga được sử dụng gồm:
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGÀNH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA 1.1 Thực trạng và tiềm năng các ngành năng lượng của Nga
1.1.1 Dầu khí
Dưới thời Liên Xô, dầu khí đã không được nhìn nhận hết giá trị và sức mạnhcủa nó mà chỉ được sử dụng gần như một loại hàng hoá thông thường để thu lợinhuận thuần tuý Thậm chí, nó còn bị coi là “một thứ hàng hóa thông thường, giá rẻgần như cho không” Mãi cho đến thời của Tổng thống Putin thì vai trò của nguồn
“vàng đen” này mới được nhìn nhận rõ và được sử dụng hiệu quả không chỉ để thúcđẩy kinh tế tăng trưởng, mà còn để thực thi các biện pháp ngoại giao, nâng cao ảnhhưởng và ràng buộc các nước khác Năm 2006, Tạp chí The Washington Quaterly
đã đưa ra lời nhận xét: “Nga có thể dễ dàng bước vào kỷ nguyên mới với túi dầutrước ngực và túi bom nguyên tử sau lưng Bất kỳ ai đánh giá về sức mạnh ngày naycủa nước Nga thì dầu mỏ sẽ là điều khiến họ nghĩ đến đầu tiên” Nhận biết được vaitrò to lớn của dầu khí, với một chiến lược táo bạo và khôn ngoan, Nga đã củng cố,phát triển các tổ hợp dầu khí quốc doanh khổng lồ Gazprom, Transneft, Rosneft, trở thành các “đế chế” hùng mạnh với các hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu khí
ra thị trường thế giới Nhờ đó, từ năm 2000 đến nay, sản lượng khai thác dầu khícủa Nga liên tục tăng với tốc độ trung bình khoảng 10 %/năm, đưa quốc gia này trởthành một nhà cung cấp dầu khí toàn cầu và mở rộng tầm ảnh hưởng chính trị, kinh
tế của mình
Với trữ lượng khí đốt khoảng 44,8 nghìn tỷ m3 (tương đương với 1688 nghìn
tỷ thùng) [Biểu đồ 1.1], chiếm khoảng 34 % trữ lượng toàn cầu và trữ lượng dầu thôvào khoảng 80 tỷ thùng [Biểu đồ 1.2], Nga trở thành quốc gia đứng đầu thế giới vềkhí đốt và đứng thứ tám thế giới về trữ lượng dầu mỏ Do đó, dầu khí chiếm một vịtrí vô cùng quan trọng và là nguồn đóng góp chính cho GDP của Nga Bất chấp sựcạnh tranh đang gia tăng trên thị trường quốc tế và những vấn đề trong nền kinh tếthế giới, trong năm 2013 Nga vẫn bảo lưu được vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực nănglượng, đặc biệt là dầu khí Bên cạnh đó, năm 2013 cũng đã có những sự kiện hết sứcquan trọng đối với ngành khí đốt của Nga Luật về tự do xuất khẩu khí hóa lỏng đã
đi vào hiệu lực, mở đường cho các công ty dầu khí Nga, đặc biệt là các công ty có
kế hoạch xây dựng nhà máy sản xuất khí hóa lỏng như Rosneft và Novatek tiếp cận
16
Trang 21thị trường nước ngoài Theo đó, Novatek đã đạt thỏa thuận với các đối tác TrungQuốc về cung cấp khí hóa lỏng trong khuôn khổ đề án quy mô "Yamal LNG9" vàhợp đồng đầu tiên về cung cấp khí hóa lỏng cho những người tiêu dùng châu Âu.
Biểu đồ 1.1: Top 20 nước có trữ lượng khí lớn nhất thế giới (tỷ thùng)
Nguồn: http://www.eia.gov/
Biểu đồ 1.2: Top 20 nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới năm 2013 (tỷ thùng)
Nguồn: U.S Energy Information Agency, http://www.eia.gov/countries/cab.cfm?fips=RS
9 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Liquefied Natural Gas
Trang 22Hiện nay, Nga đang là nhà sản xuất và xuất khẩu dầu khí hàng đầu thế giới10với sản lượng khai thác dầu thô năm 2013 là 523,3 triệu tấn11, cao mức kỷ lục kể từnăm 1991, xuất khẩu năm 2013 đạt 4,72 triệu thùng/ngày; sản lượng khí đốt năm
2013 là 668 tỷ m3 12, trong đó xuất khẩu đạt 196 tỷ m3 13 Sản lượng xuất khẩu dầukhí của Nga sẽ còn tăng lên đáng kể nhờ “hợp đồng thế kỷ khổng lồ” trị giá khoảng
400 tỷ USD mới ký với Trung Quốc vào ngày 21/5/2014 Theo đó, bắt đầu từ năm
2018, Nga sẽ cung cấp khoảng 38 tỷ m3 khí thiên nhiên mỗi năm cho nền kinh tếđang nở rộ - Trung Quốc
Về tiềm năng: Tiềm năng phát triển ngành dầu khí của Nga rất lớn Theo đánhgiá của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA)14, trong “Báo cáo tình hình năng lượngthế giới năm 2011” thì trong vài thập kỷ tới Nga sẽ là "nền tảng của hệ thống nănglượng toàn cầu" và cho đến năm 2035 “Nga sẽ là quốc gia sản xuất khí đốt lớn nhất
và là nguồn chính cho sự gia tăng cung cấp khí đốt của thế giới” Trong bản báo cáo
về “Tiềm năng của các vùng năng lượng mới của Nga” tại Hội nghị Dầu khí Thếgiới lần thứ 20 diễn ra vào tháng 12/2011 tại Doha – Qatar, Giáo sư AnatolyZolotukhin thuộc trường Đại học Dầu Khí Quốc gia Gubkin của Nga đã chỉ ra rằng:
“hiện Nga vẫn đang là một trong những quốc gia có nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốtgiàu nhất thế giới với tổng trữ lượng ước tính đạt khoảng 355 tỷ tấn dầu Trong đó,
có khoảng 96 tỷ tấn dầu (tương đương với gần 700 tỷ thùng dầu) chưa được khaithác nằm ở vùng ngoài khơi của vùng biển Bắc Cực”15 Nói về trữ lượng khí đốtkhổng lồ của Nga, phát biểu tại phiên họp toàn thể của Diễn đàn Kinh tế quốc tếSaint Petersburg - 2014, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết trữ lượng của Nga
đủ cho 50 năm tới
10 Xin xem thêm Phụ lục 1.1 đến 1.4
11 156 Bản tin Quốc tế của Đài Truyền hình Vĩnh Long 1, Nga trở thành nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, http://thvl.vn/?p=338124 , cập nhật ngày 03/01/2014
12 Theo báo cáo của Bộ Năng lượng Nga công bố ngày 2/1/2014, nguồn:
http://www.vietnamplus.vn/nga-tro- thanh-nuoc-xuat-khau-dau-tho-lon-nhat-the-gioi/237944.vnp , cập nhật ngày 02/01/2014
13 https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2249rank.html , cập
nhật ngày 28/7/2014
14 Viết tắt của từ tiếng Anh: International Energy Agency
15 Professor Anatoly Zolotukhin, Gubkin Russian State University of Oil and Gas, The potential in Russia’s new energy frontiers, pg 106
18
Trang 23Trên thực tế, những đánh giá và những con số đưa ra về trữ lượng dầu mỏ vàkhí đốt ở vùng biển Bắc Cực còn rất khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có các sốliệu được luận chứng khoa học về các nguồn tài nguyên Tính tổng cộng, ở vùngBắc Cực có gần 60 khu mỏ lớn chứa nhiên liệu hydrocarbon, trong số đó hơn 40khu mỏ nằm trong khu vực của Nga Theo những ước tính khác nhau, ngoài nguồntài nguyên sinh học ở đây còn có 1/3 dự trữ khí đốt và 1/10 dự trữ dầu mỏ chưađược khám phá trên thế giới Trong đó, phần biển Bắc Cực - nơi mà phía Nga luôncoi là một phần lãnh thổ của mình - hiện chiếm khoảng 25 %, chưa kể đến các khuvực hẻo lánh hiện đang nằm trong khu vực có tranh chấp Các chuyên gia về dầukhí của Nga tính toán rằng, trữ lượng này tương đương với hơn 100 tỉ tấn dầu và 70nghìn tỷ mét khối khí đốt16 Các mỏ khí đốt tự nhiên khổng lồ đã được phát hiện tạivùng biển Barent và Kara Các mỏ mới này được Nga coi là cơ sở nhiên liệu – nănglượng mới Bên cạnh đó, “Viện Hải Dương học của Nga cũng khẳng định, chỉ riêngkhu vực hình yên ngựa mà người Nga gọi là dãy mỏ Lomonosop trong lòng BắcCực, chứa đến 10 tỷ tấn dầu, chưa kể tới số lượng phong phú các loại mỏ kimcương, vàng, platinum, thiếc, mangan, niken, chì Khu vực này và các lãnh thổ phíabắc liền kề có đủ nguồn tài nguyên để nuôi sống nhân loại trong nhiều thập kỷ”17.Hiện nay Nga có kế hoạch mở rộng chủ quyền ở vùng này vì cấu tạo địa chất chothấy rằng, dãy Lomonosov Ridge trải dọc Bắc Băng Dương là phần lãnh thổ củaNga Như dự định, trong năm tới Nga sẽ chính thức đệ đơn về nội dung này lênLiên Hợp Quốc.
Một vùng khác của Nga cũng có tiềm năng dầu khí vô cùng to lớn là vùngViễn Đông Đây là một trong 8 vùng đại khu liên bang của nước Nga Nơi đây cótiềm năng dầu khí đáng kể “Tại Cộng hòa Sakha đã phát hiện một khu vực dầu khílớn là vùng Leno-Vinloi Đã phát hiện và đang khai thác các mỏ dầu khí tại đảoXakhalin18 Ngoài ra, tại thềm lục địa Xakhalin có lượng dầu khí không nhỏ Tiềm
16 Đài Tiếng nói nước Nga, Vùng Bắc Cực giàu có của nước Nga,
Trang 24năng dầu khí còn tìm thấy ở các tỉnh Camchatca, Magadan và khu Chucotca Theođánh giá sơ bộ, có khoảng 9,6 tỉ tấn dầu và 14 nghìn tỉ m3 khí ở khu vực này”19.Hơn nữa, chất lượng dầu ở vùng Viễn Đông được đánh giá là rất tốt, có độ nhớt cao
và hàm lượng lưu huỳnh thấp
1.1.2 Than đá
Nga là quốc gia có trữ lượng than đá lớn thứ hai thế giới sau Mỹ với khoảng
173 tỉ tấn, chiếm khoảng 19 % tổng trữ lượng toàn thế giới (Biểu đồ 1.3) Trữ lượngthan của Nga phân bổ ở 118 mỏ than thuộc 22 lưu vực nằm rải rác trên toàn nướcNga Trong đó, các mỏ than lớn nằm tập trung ở Siberia (chiếm 80 %) và Viễn Đông(chiếm 10 %)
Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ phân bổ than đá trên toàn thế giới
Nguồn: Andrey Butenko, Strategy and Corporate Development Department
of Suek, The future of coal Russia, pg.3
Về sản lượng khai thác, Nga là quốc gia khai thác than lớn thứ 6 thế giới với sảnlượng khai thác năm 2013 khoảng 347,1 triệu tấn, chiếm 4,3 % sản lượng khai thác củatoàn thế giới và cung cấp khoảng 12 % than cho thị trường toàn cầu20 Hoạt động khaithác và sản xuất than đá của Nga hầu hết sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên vàchủ yếu diễn ra ở 7 lưu vực chính, trong đó có 3 lưu vực nằm về phía
19 PGS TS Vũ Dương Huân - Học viện Ngoại giao, Tiềm năng kinh tế Viễn Đông, Liên bang Nga
và khả năng hợp tác với Việt Nam (phần 1), Tạp chí Ngiên cứu Châu Âu, số 2, 2013, tr 63
20 Historical Data Workbook, BP Statistical Review of World Energy 2014,
www.bp.com/en/global/corporate/about-bp/energy-economics/statistical-review-of-world-energy.html Xem
thêm Phụ lục 1.5
20
Trang 25Tây của dãy Ural và 4 lưu vực nằm về phía Đông của khu vực Siberia Công ty khaithác và sản xuất than lớn nhất nước Nga là Công ty Suek, đồng thời cũng là mộttrong mười nhà sản xuất than lớn nhất thế giới có công suất khoảng 92218 tấn/ngày,đáp ứng khoảng 34 % nhu cầu trong nước và xuất khẩu khoảng 28 % ra thị trườngnước ngoài Với sản lượng khai thác như hiện tại thì trữ lượng than đá của Nga sẽcòn có thể sử dụng trong khoảng 500 năm nữa Tuy nhiên, theo chương trình dàihạn về phát triển ngành công nghiệp than mà Chính phủ Nga đã thông qua đầu năm
2012 thì đến năm 2030, sản lượng khai thác than của Nga sẽ tăng lên 430 triệu tấn
Về xuất khẩu, hiện Nga đang là nhà xuất khẩu than đứng thứ ba thế giới sauAustralia và Indonesia với sản lượng xuất khẩu năm 2012 là khoảng 61,4 triệu tấn.Trong đó, trọng tâm xuất khẩu đang ngày càng nghiêng sang phía Đông như: TrungQuốc, Nhật Bản và một số nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Tiềm năng phát triển ngành than của Nga cũng rất lớn Là vựa than lớn thứ haicủa Thế giới, sản lượng khai thác hàng năm còn ít nên hiện trong lòng nước Ngavẫn đang lưu giữ một nguồn than vô cùng lớn Trữ lượng than của Nga nằm rải ráctrên khắp đất nước nhưng phần lớn là các mỏ và các lưu vực than khó khai thác vàchưa được khai thác Hai lưu vực than lớn nhất nước Nga cả về diện tích lẫn tiềmnăng là lưu vực Tunguski nằm ở Tây Siberia và lưu vực Lenski nằm ở phía đôngbắc vùng Viễn Đông Trong đó, lưu vực Lenski, hay còn gọi là lưu vực Lena, đượccoi là lưu vực than lớn nhất thế giới Với lợi thế đó, cộng với việc đổi mới côngnghệ nhằm giảm thiểu tác động tới môi trường, ngành than đá hứa hẹn sẽ sẽ làngành mang lại không ít lợi nhuận cho nền kinh tế Nga đồng thời đáp ứng mộtlượng lớn nhu cầu của thế giới trong tương lai
1.1.3 Năng lượng hạt nhân
Nga là một trong những quốc gia có trình độ phát triển và sức mạnh nănglượng hạt nhân hàng đầu thế giới Với lịch sử hơn 100 năm phát triển, Nga đã trởthành cường quốc về vũ khí hạt nhân và là một trong những nước có nhiều nhà máyđiện hạt nhân (NMĐHN) nhất trên thế giới Từ những năm 1920 - 1986, Nga đãphát triển mạnh mẽ về điện hạt nhân cũng như các ứng dụng khác trong các lĩnhvực quân sự, y tế, nông nghiệp NMĐHN đầu tiên của Nga là Obninsk vận hành
Trang 26năm 1954 với công suất chỉ khoảng 5 MW đã trở thành NMĐHN đầu tiên trên thếgiới Năm 1963 và 1971, Nga đã có 2 NMĐHN vận hành thương mại Đến giữanhững năm 80, Nga đã có 25 lò phản ứng hoạt động và nhiều kỹ sư công nghệ hạtnhân có trình độ cao Tuy nhiên, vào ngày 26/4/1986 thảm họa Chernobyl xảy ra khinhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Pripyat, Ucraina (khi ấy còn là một phần củaLiên bang Xô Viết) bị nổ khiến người ta phát hiện nhiều khiếm khuyết trong côngnghệ hạt nhân của Nga Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất tronglịch sử năng lượng hạt nhân Sau thảm họa kinh hoàng này, ngành công nghiệp hạtnhân của Nga bị gián đoạn và thoái trào Đến cuối những năm 1990, ngành côngnghiệp này mới có dấu hiệu hồi sinh thông qua việc xuất khẩu nhiều lò phản ứngsang Iran, Trung Quốc và Ấn Độ Những dấu hiệu hồi sinh đó đã củng cố tinh thầnngành công nghiệp hạt nhân của Nga và tạo đà giúp Nga vững vàng tiến về phíatrước trong chương trình phát triển năng lượng hạt nhân của mình Ngày nay, vớitham vọng trở thành nhà cung cấp điện hạt nhân cho toàn thế giới, Chính phủ Nga
đã lên kế hoạch tăng cường điện hạt nhân trong nước nhằm đẩy mạnh xuất khẩubằng cách kết hợp ngành công nghiệp hạt nhân dân sự và quân sự vào làm mộtthành Tập đoàn Rosatom21 Rosatom, thành lập năm 2007, hiện đang chịu tráchnhiệm về tất cả các khía cạnh của ngành công nghiệp hạt nhân Nga, từ khai thác,làm giàu uranium cho đến phát triển mạng lưới điện hạt nhân, xây dựng NMĐHN.Rosatom cũng là cơ quan đại diện cho Nga trên thế giới trong lĩnh vực sử dụng nănglượng nguyên tử vì mục đích hòa bình và bảo vệ chế độ không phổ biến vũ khí hạtnhân “Việc thành lập Tập đoàn Rosatom thể hiện sự quyết tâm khôi phục lại vị thế
và tiếng nói quan trọng của Nga trong những vấn đề hạt nhân trên thế giới, đồngthời tăng cường sức mạnh thắng thầu trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạtnhân ở nước ngoài”22 Theo số liệu thống kê của của Cơ quan Năng lượng Nguyên
tử Quốc tế (IAEA)23 và Rosatom, “trong số 68 lò phản ứng hạt nhân (dùng choNMĐHN) đang được xây dựng trên toàn cầu, Rosatom nắm hết 28 lò, bao gồm 19
21 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Rosatom State Atomic Energy Corporation - Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Quốc gia Rosatom
22 Lê Doãn Phác (2007), Một số định hướng chính sách hợp tác giữa Việt Nam với Mỹ và Nga trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, Báo cáo đề án cấp cơ sở, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, tr 17
23 Viêt tắt của từ Tiếng Anh: International Atomic Energy Agency
22
Trang 27lò ở nước ngoài và 9 lò ở Nga”24 Và cho đến nay, Nga đã trở thành nhà sản xuấtnăng lượng hạt nhân đứng thứ 4 thế giới với công suất ước tính năm 2013 khoảng23,643 MW, chiếm 17,5 % toàn thế giới25 và điều hành 10 NMĐHN với 33 lò phảnứng có công suất khoảng 25,2 GW, chiếm 15 % các lò phản ứng hạt nhân của thếgiới Ngoài ra, với trữ lượng uranium khoảng 487200 tấn có thể khai thác được và
875000 tấn chưa khai thác, Nga đang là quốc gia giữ vị trí thứ 3 thế giới, đồng thờiđứng thứ 6 về sản lượng khai thác26, chiếm 45 % thị trường làm giàu uranium, vàcung cấp cho thế giới 8 % uranium tự nhiên Bên cạnh đó, theo lời ông SergeiKiriyenko - Lãnh đạo Rosatom - thì “hiện Nga đang lưu giữ trong kho một trữlượng uranium đủ để duy trì và vận hành các nhà máy hạt nhân hiện thời thêm 60năm nữa”27
Bên cạnh nền hạt nhân dân sự phát triển, Nga còn chiếm ưu thế vượt trội về vũkhí hạt nhân chiến lược Nga đang là quốc gia đứng đầu thế giới về việc sở hữu cácđầu đạn hạt nhân với khoảng 8500 đầu đạn Trong đó, 4500 đầu đạn hiện còn trongbiên chế quân đội Nga, 4000 đầu đạn còn lại thuộc dạng ngừng sử dụng nhưng vẫncòn nguyên vẹn, đang chờ phá dỡ Trong số 4500 đầu đạn đang còn sử dụng, có
1800 đầu đạn hạt nhân chiến lược được lắp đặt trên các tên lửa bệ phóng mặt đấthoặc trên máy bay ném bom, 700 quả được cất trữ trong kho và khoảng 2000 đầuđạn hạt nhân chiến thuật đang được niêm cất Nga có 326 tên lửa xuyên lục địa(ICBM)28 mang đầu đạn hạt nhân với 1050 đầu đạn và đang có kế hoạch giải trừkhoảng trên một nửa số này Số lượng chuẩn bị giải trừ chủ yếu được sản xuất vàocuối thập niên 80 của Thế kỷ trước
Như vậy, cho đến nay, Nga vẫn là một trong những nước đứng đầu thế giới về
công nghệ hạt nhân đồng thời cũng là một thành viên của dự án lò phản ứng hạtnhân quốc tế
24 Phúc Duy, Nga muốn đẩy mạnh xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân,
27 Hoài Linh, Nga tham vọng thành nước sản xuất uranium lớn nhất thế giới,
http://www.cand.com.vn/vi- VN/nguoinoitieng/2012/6/113906.cand cập nhật ngày 28/5/2009
28 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Intercontinental Ballistic Missile
23
Trang 281.1.4 Năng lượng tái tạo
Được coi là một “nền kinh tế tài nguyên”, một “siêu cường năng lượng”,nhưng trước đây nguồn năng lượng tái tạo tiềm tàng lại chưa được chính phủ Ngachú trọng phát triển Sau khủng hoảng hạt nhân Chernobyl và khủng hoảng hạt nhân
ở nhà máy điện Fukushima (2011) của Nhật Bản, cùng với nghị định thư Kyoto(Nga ký vào 10/2004) về giảm tải lượng khí cacbon gây hiệu ứng nhà kính đã khiếnChính phủ Nga thay đổi quan điểm về chính sách phát triển nguồn năng lượng táitạo ở quốc gia này Nhờ có lãnh thổ rộng lớn, nước Nga có tiềm năng gần nhưkhông giới hạn để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo29 Vì vậy, Nga đang tăngcường các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hình thức năng lượng này Năm
2008, Ông D Medvedev, lúc ấy đang là Tổng thống đã đưa ra chỉ thị rằng nước Ngacần tăng sản lượng năng lượng tái tạo trong tổng sản lượng của ngành năng lượngNga, đồng thời thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển các dự án nănglượng tái tạo Ông đã đưa ra mục tiêu là đến năm 2020, ngành năng lượng tái tạo sẽđóng góp 4,5 % vào sản lượng năng lượng thế giới Tuy nhiên, đến thời điểm này,ngành năng lượng tái tạo của Nga vẫn chưa phát triển và hiện đang bị châu Âu bỏxa
Với diện tích lớn nhất thế giới, tiềm năng phát triển năng lượng mặt trời vànăng lượng gió của Nga là rất lớn Nguồn năng lượng bức xạ mặt trời tiềm nănghàng năm của Nga lên tới 18,7 x 109 GWh, lớn hơn gấp nhiều lần so với tiềm năngcủa bất kỳ nguồn năng lượng sẵn có nào khác trên lãnh thổ Nga Trong đó, nhữngkhu vực có tiềm năng năng lượng mặt trời lớn nhất của Nga bao gồm khu vực NamPovolzhiye, Bắc Caucasus thuộc vùng lãnh thổ châu Âu và Cộng hòa Tuva, vùngAmur, phía Nam lãnh thổ Khabarovsk, Primorsky Krai thuộc vùng lãnh thổ châu Ácủa Nga Đây là những khu vực thích hợp nhất cho việc xây dựng các dự án pháttriển năng lượng mặt trời tại Nga
Tương tự năng lượng mặt trời, do diện tích lãnh thổ trải dài trên những vùngkhí hậu khác nhau cùng với địa hình có nhiều đồng bằng rộng lớn nên tiềm năng vềnăng lượng gió của Nga cũng vô cùng lớn, vào khoảng 32,6 - 71,7 TWh/năm Nếu
29 Xem thêm Phụ lục 1.8
24
Trang 29đến năm 2020, Nga hoàn thành được khung chính sách sản xuất được 22 GW nănglượng tái tạo mới, thì năng lượng gió dự báo sẽ chiếm khoảng 7 GW30 Những khuvực tập trung nhiều tiềm năng năng lượng gió nhất là các vùng thảo nguyên và vùngnúi rộng lớn nằm dọc ven biển của Liên bang Nga Cụ thể là vùng Krasnodar dọc bờBiển Đen và các vùng Kazan, Samara, Ulyanovsk dọc Sông Volga.
Ngoài ra, tiềm năng về năng lượng sinh khối và năng lượng địa nhiệt của Ngacũng rất đáng kể Tổng tiềm năng kỹ thuật năng lượng sinh khối của Nga ước tínhkhoảng 35 triệu tấn, trong đó: cặn nước thải chiếm khoảng 24,2 triệu tấn, chất thảichăn nuôi là 6,6 triệu tấn và xử lý chất thải gỗ là 46 triệu tấn Còn tổng tiềm năngnăng lượng địa nhiệt của Nga khoảng hơn 3000 MW, trong đó, tiềm năng kỹ thuậtđạt khoảng 400 MW và tiềm năng kinh tế đạt khoảng 300 MW
1.2 Vị thế quốc tế của Nga trong lĩnh vực năng lượng
Một học giả phương Tây đã từng nhận xét: "Nước Nga không phải là một quốcgia, mà gần như là một châu lục" Quả vậy, Nga là một quốc gia đặc biệt với lãnhthổ rộng lớn nhất thế giới, trải dài trên hai lục địa Á - Âu và được thiên nhiên ưu đãimột cách “kỳ lạ” với nguồn tài nguyên năng lượng giàu có (chiếm 13 % trữ lượngdầu mỏ thế giới, 34 % trữ lượng khí đốt, 20 % trữ lượng than đá, 32 % than nâu, và
14 % uranium) Cùng với đó, dưới sự lãnh đạo đầy khôn khéo của Tổng thốngPutin, cộng với một chính sách phát triển ngành năng lượng hợp lý, kịp thời, Nga đãlột xác từ một quốc gia suy sụp về kinh tế thành một cường quốc về năng lượng.Trong nền chính trị thế giới mà ý nghĩa của yếu tố năng lượng ngày càng gia tăngnhư hiện nay, vị thế của Liên bang Nga như một cường quốc năng lượng ngày càngđược củng cố Theo TS Nguyễn Cảnh Toàn – Viện Nghiên cứu Châu Âu, Nga đãthỏa mãn được ba điều kiện không thể thiếu để đứng ở ngôi thống trị trong ngànhnăng lượng, đó là: “kiểm soát toàn bộ nguồn dự trữ và việc sản xuất dầu mỏ trêntoàn quốc; kiểm soát tất cả hệ thống đường ống dẫn dầu trên toàn quốc và tới cácnước láng giềng; thiết lập được những hợp đồng dài hạn và chắc chắn về cung cấp
30 Manel Romeu Bellés, Russia, an energy colossus with
plenty of wind, http://rawi.ru/media/Text_files/Vestas_Kopylov_eng.pdf
25
Trang 30dầu mỏ cho các nước EU”31 Một nước Nga hùng mạnh với nguồn năng lượng dồidào đã trở thành một nhân tố quan trọng trong quan hệ quốc tế nói riêng và trong sựchuyển biến của thế giới nói chung Nga giờ đây đóng vai trò như một con Át chủbài trong thị trường năng lượng thế giới Cho đến nay, Nga tham gia vào phân cônglao động thế giới như một nhà cung cấp nguồn nguyên liệu thô, mà trước hết là dầu
mỏ và khí đốt Khách hàng lớn nhất của Nga là EU (chiếm hơn 90 % kim ngạchxuất khẩu của Nga) và các quốc gia châu Á phát triển khác như Trung Quốc, NhậtBản, Hàn Quốc,… Nhờ vào trữ lượng dầu khí khổng lồ, Nga có thể đáp ứng nhu cầungày càng tăng ở cả châu Âu và châu Á Bên cạnh đó, với hệ thống đường ống dẫndầu khí xuyên lục địa dài nhất thế giới32 và phân bố rộng khắp, xuyên suốt lãnh thổchâu Âu và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Nga được coi là quốc gia duy nhấtchi phối hầu như toàn bộ các hệ thống ống dẫn dầu khí của thế giới Các nhà phântích quốc tế cho rằng, các tuyến đường ống dẫn dầu mỏ và khí đốt của Nga có vaitrò quan trọng trong cuộc cạnh tranh chiến lược dầu mỏ, khí đốt và ảnh hưởng sâusắc đến quan hệ địa - chính trị tại khu vực Á - Âu, quan hệ xuyên Đại Tây Dương vàquan hệ Nga - EU
Một minh chứng điển hình về sự hiện diện và tham gia vào phân công laođộng quốc tế, thể hiện vị thế thống trị và vai trò quyết định trên thị trường nănglượng thế giới của Nga là tập đoàn dầu khí khổng lồ Gazprom Cũng có những ýkiến cho rằng, dưới thời của V Putin, Gazprom đóng vai trò quan trọng trong chínhsách đối ngoại của Nga Là tập đoàn dầu khí quốc doanh có trữ lượng khí đốt chiếm
18 % thế giới, 72 % của Nga và sản lượng khí đốt chiếm 14 % sản lượng toàn cầu33,Gazprom không chỉ độc quyền về xuất khẩu khí đốt mà còn kiểm soát toàn bộđường ống dẫn khí ra Trung Á và châu Âu Tập đoàn này được mệnh danh là “gãkhổng lồ” năng lượng trong một thế giới khát năng lượng Gazprom hiện đang sở
31 Bài trả lời phỏng vấn ngày 28/08/2008 của TS Nguyễn Cảnh Toàn, “Dầu khí – vũ khí lợi hại của Nga” trên đài Phát thanh Quốc tế RFI, http://www.rfi.fr/actuvi/articles/104/article_839.asp , cập nhật ngày 28/8/2008
32 Đường ống dẫn khí ngưng tụ dài 122 km, dẫn khí đốt dài 163872 km; dẫn khí dầu hóa lỏng dài
1378 km; dẫn dầu 80820 km; dẫn các sản phẩm tinh chế dài 13658 km Số liệu năm 2013, nguồn:
https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/rs.html
33 http://www.gazprom.com/about/
26
Trang 31hữu hệ thống đường ống cung cấp “nhiên liệu xanh” lớn nhất thế giới với độ dài
168900 km34 (chưa kể những tuyến xuyên lục địa đang và sẽ được xây dựng) và giữvai trò là nhà cung cấp khí đốt cho 32 quốc gia trên toàn thế giới Cùng với đó,
“Gazprom đang thực hiện các kế hoạch tăng dung lượng các kho dự trữ ngầm lên 2lần, mục tiêu đến năm 2015, tổng khối lượng khí đốt dự trữ có thể đạt tới 4,9 tỉ m3
và trong năm 2016 có thể đạt tới 6,5 tỉ m3”35 Bên cạnh đó, Gazprom còn tìm cáchtăng cổ phần của mình ở các công ty năng lượng nước ngoài, đặc biệt là ở EU bằngcách đầu tư, mua lại cổ phần từ các công ty phụ trách cơ sở hạ tầng cung cấp khíđốt Hiện tại, Gazprom đã sở hữu 35 % cổ phần trong Công ty Phân phối khí đốtWingas (Đức), 10 % trong đường ống xuyên quốc gia giữa Bỉ - Anh và nhiều cổphần trong một số nhà phân phối khí đốt lớn của các nước vùng Baltic Những độngthái thâu tóm táo bạo này đã giúp Gaprom ngày càng củng cố vị thế là nhà điều phối
và cung cấp trên thị trường năng lượng thế giới
Không chỉ là “hòn đá tảng” trên thị trường dầu khí quốc tế mà theo lời ôngDaniel Yergin, Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu năng lượng Cambridge, Nga còn đóngvai trò quan trọng trong cân bằng năng lượng thế giới và đảm bảo an ninh nănglượng toàn cầu Trong bài diễn văn ngày 22/12/2005 trước Hội đồng an ninh Nga,Tổng thống Putin cũng đã khẳng định: “Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Nga hãnh diệnkhi trở thành đối tác có trách nhiệm, đáng tin cậy trên thị trường năng lượng vàchúng ta xứng đáng với danh tiếng đó… Chúng ta đang đóng vai trò quan trọngtrong việc duy trì an ninh năng lượng khu vực và toàn cầu… Và chúng ta không chỉkhai thác lợi thế về năng lượng của mình phục vụ lợi ích cộng đồng quốc tế mà cầnghi nhớ rằng nó được dùng để thúc đẩy lợi ích quốc gia”36 Cùng với sự phát triểncủa kinh tế thế giới, việc xuất hiện các cường quốc tiêu thụ năng lượng mới với nhucầu tiêu thụ ngày càng tăng trong khi các nguồn năng lượng tái sinh, hạt nhân vẫnchỉ chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong cơ cấu sản xuất cũng như tiêu dùng đãtác động mạnh mẽ tới cơ cấu quyền lực của thế giới, gây nhiều bất ổn về an ninh
35 Nghĩa Huỳnh – Hà Mai, Quyền lực năng lượng Nga ở châu Âu, nang- luong-nga-o-chau-au cập nhật ngày 27/9/2012
http://vef.vn/2012-09-26-quyen-luc-36Lê Minh Quang, Dầu mỏ - “tử huyệt” của nhiều cường quốc kinh tế trong thế giới đương đại,
te-trong.aspx , cập nhật ngày 03/5/2008
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Binh-luan/2008/185/Dau-mo-tu-huyet-cua-nhieu-cuong-quoc-kinh-27
Trang 32năng lượng Theo đánh giá của tác giả Nicole Gnesotto và Giovanni Grevi trong
cuốn “Thế giới năm 2025” thì “từ nay đến năm 2025, nhu cầu năng lượng của thế
giới sẽ tăng trung bình khoảng 1,6 %/năm Vào năm 2030, nhu cầu năng lượng cóthể tăng hơn 50 % nhu cầu hiện nay”37 Chính điều đó đã khiến cho các cuộc cạnhtranh giành giật các nguồn dầu mỏ, khí đốt, than và uranium ngày càng quyết liệttrên toàn cầu, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến an ninh năng lượng Nhiều vấn đề thuầntúy năng lượng đã bị chính trị hóa, hoặc ngược lại các vấn đề chính trị được dùng để
áp đặt ý muốn chủ quan của quốc gia này đối với quốc gia khác về các vấn đề nănglượng Trong khi đó, Nga lại là quốc gia có nguồn năng lượng dồi dào, có tiềm nănglớn trong việc phát triển ngành năng lượng, hệ thống đường ống cung cấp rộng khắp
và được đảm bảo an ninh, việc xuất khẩu năng lượng đặc biệt là khí đốt của Ngachưa bao giờ bị gián đoạn và quan trọng hơn cả là Nga “chưa một lần sử dụng nănglượng làm vũ khí để gây áp lực đối với các nước nhập khẩu”38 Do đó, thay vì việc
lao vào các cuộc cạnh tranh giành giật năng lượng gây nhiều tổn hại mà không chắcnắm được phần thắng và do việc phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga mà cácnước EU đã buộc “phải cân nhắc, hạn chế sử dụng các công cụ quen thuộc như vấn
đề dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Nga cũng như các nước cộng hòa thuộcLiên Xô cũ tại khu vực Trung Á”39 Ngoài ra, Nga đã và đang rót hàng trăm tỷ USD
để đầu tư xây dựng các tuyến đường ống an toàn và hiệu quả để cung cấp trực tiếpnguồn năng lượng cho thị trường châu Âu như: dự án “Dòng chảy xanh” (BlueStream) đi qua biển Đen sang Thổ Nhĩ Kỳ, có khả năng chuyển tải khoảng 16 tỷ m3khí; dự án Dòng chảy phương Bắc (North Stream) và Dòng chảy phương Nam(South Stream) với công suất chuyển tải “tương đương với năng lượng của 11
NMĐHN" như lời ông Putin ví von, … Các tuyến đường ống này “thực chất, về kinh tế, là để bảo đảm cung cấp khí đốt một cách ổn định cho thị trường châu Âu với giá cạnh tranh hơn khi không phải quá cảnh qua nước thứ ba; về chính trị, cả thị
trường tiêu thụ EU cũng như Nga sẽ không bị các nước quá cảnh sử dụng vị trítrung chuyển để mặc cả trong các quan hệ song phương”40 Nhờ việc xây dựng các
37 Nicole Gnesotto & Giovanni Grevi, Thế giới năm 2025, Nguyễn Hữu Chiến dịch, NXB Tri Thức, 2008, tr.
Trang 33tuyến đường ống như vậy mà Nga “có thể bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn,ngắn hạn và trung hạn cho các nhà tiêu thụ ở Nga và nước ngoài”41, đồng thờikhẳng định vai trò giữ cân bằng năng lượng thế giới Đó cũng sẽ là biểu tượng cho
sự trở lại của Nga trên bàn cờ chính trị châu Âu, làm thay đổi vị thế của nước Ngatrong quan hệ với châu Âu
Hình 1.1: Mạng lưới đường ống dẫn dầu khí của Nga ở châu Âu
Nguồn: pipelines-empire/ Mới đây, với “hợp đồng thế kỷ khổng lồ” vừa
http://www.aworldincrisis.org/2013/11/14/russias-mới ký với Trung Quốc vàotháng 5/2014 trị giá khoảng 400 tỷ USD, cung cấp khoảng 38 tỷ m3 khí đốt mỗinăm cho nền kinh tế Trung Quốc đang nở rộ từ năm 2018, Nga càng khẳng định hơnnữa vai trò là nhà cung cấp và đảm bảo an ninh năng lượng cho toàn thế giới
Như vậy, Nga đã “khẳng định vị thế quan trọng toàn cầu trên mặt trận nănglượng, Nga với nền chính trị và kinh tế ổn định, tin cậy, sẵn sàng và có thể trở thành
41 Đỗ Trọng Quang, Tập đoàn khí đốt khổng lồ Gazprom và tầm cỡ của nó trên thị trường năng lượng thế giới, TCNCCA, số 4 (103), 2009, tr 15
Trang 34một đối tác năng lượng với bất cứ nước nào, miễn là quyền lợi hợp pháp và an ninhcủa Nga được tôn trọng và Nga sẽ không lưỡng lự sử dụng vũ khí năng lượng củamình để chống lại bất cứ nước nào đe dọa an ninh và quyền lợi của Nga”42.
1.3 Những bất cập và yếu kém của ngành năng lượng Nga
Mặc dù nắm giữ vai trò cường quốc năng lượng, ngành năng lượng Nga vẫnmang trong mình rất nhiều yếu kém và bất cập, đòi hỏi chính phủ Nga phải cónhững biện pháp cải cách
Thứ nhất, vai trò kiểm soát của Nhà nước trong ngành năng lượng quá lớn.
Sau khi Putin đắc cử, ông đã tiến hành tái quốc hữu hóa ngành năng lượng, đưa nó
về nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước Cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tưbản nhà nước, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế ngày càng lớn, nhà nước ngàycàng can thiệp sâu và thâu tóm mọi hoạt động trong ngành năng lượng Điều đó đãtạo cơ hội cho “chủ nghĩa thân hữu” và nhóm lợi ích phát triển, hình thành nên quan
hệ mật thiết, gắn bó giữa giới chính trị và các tài phiệt Mặt khác, căn bệnh này làmtriệt tiêu các động lực tích cực của cơ chế thị trường, phá hủy những ảnh hưởng mà
tư nhân có thể mang lại như khả năng cạnh tranh, công nghệ mới, động lực pháttriển cao hơn và những kỹ năng quản lý mới “Nhờ tài trợ của nhà nước, các công tydầu khí quốc doanh có nhiều tín dụng để sử dụng hơn các đối thủ trong khu vực tư,
và những công ty này sẵn sàng trả cao hơn giá thị trường cho các nhà cung cấp vật
tư để có được các hợp đồng dài hạn Điều này cho thấy, hệ thống tư bản nhà nước
đã làm gia tăng chi phí và làm giảm hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh”43.Việc nhà nước nắm giữ tỷ lệ cao và vẫn thực hiện cơ chế bảo hộ, trợ giá, độc quyềnđối với ngành năng lượng còn tác động tiêu cực tới sự hình thành và phát triển củacác doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn tới không minh bạch trong nguyên tắc định giá,ảnh hưởng tới quá trình gia nhập WTO cũng như hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, việc triển khai công tác thăm dò, khảo sát chưa đáp ứng được nhu cầu
khai thác mặc dù các công ty dầu khí và tập đoàn Gazprom đã tiến hành thăm dò địa
42 TS Nguyễn Cảnh Toàn, Dầu khí và chiến lược năng lượng của Nga, TCNCCA số 9 (96), 2008, tr 36
43 Nguyễn An Hà, Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Cảnh Toàn, Liên bang Nga hai thập niên đầu thế
kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, 2011, tr 56
30
Trang 35chất ở những vùng mới và trên biển Sự thăm dò nguồn dầu khí không khả quan dẫntới sau năm 2010 tỉ lệ của các mỏ có sản lượng cao trong tổng khối lượng có thểgiảm từ 45 % xuống 30 %, đe dọa trực tiếp đến an ninh năng lượng của Nga.
Thứ ba, nền kinh tế của Nga phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu năng lượng và
dễ bị tổn thương khi có biến động mạnh về giá cả nguyên liệu trên thế giới Tỷ trọngcủa ngành năng lượng Nga trong nền kinh tế quá lớn (gấp 3 - 4 lần so với các nướcphát triển khác), hơn một nửa thu nhập ngân sách của Nga trông vào nhiên liệu thô,đặc biệt là dầu khí Theo cơ quan đánh giá toàn cầu Fitch Ratings thì doanh thu từdầu mỏ và khí đốt của Nga chiếm khoảng hai phần ba tổng kim ngạch xuất khẩutrong năm 2012, chiếm 50 % doanh thu của Chính phủ và chiếm đến 20 % GDP.Đây là “một nguyên nhân quan trọng làm cho độ ổn định của nền kinh tế Nga khôngcao, chỉ cần những biến động nhỏ trên thị trường năng lượng có thể gây nên nhữngtác động lớn tới tăng trưởng GDP, tới ngân sách quốc gia, làm mất ổn định kinh tế
vĩ mô, làm trầm trọng các vấn đề an ninh và ổn định xã hội Tác động nặng nề củacuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 là một minh chứng”44 Bên cạnh đó,ngày càng nhiều quốc gia khám phá ra trữ lượng lớn khí đá phiến sét giúp giảm phụthuộc vào nhập khẩu năng lượng Vấn đề này sẽ khiến cho nền kinh tế phụ thuộcquá nhiều vào xuất khẩu năng lượng của Nga phải đối mặt với nhiều nguy cơ và rủi
ro hơn bao giờ hết
Thứ tư, việc xuất khẩu nguyên nhiên liệu của Nga tập trung thái quá và phụ
thuộc quá nhiều vào thị trường châu Âu Trong điều kiện tốc độ tăng trưởng chậmchạp của thị trường châu Âu cũng như chính sách năng lượng của EU nhằm đa dạngnguồn cung cấp và giảm bớt sự phụ thuộc vào năng lượng Nga dẫn đến sự đình trệxuất khẩu của Nga Trên thực tế hiện nay, sự phụ thuộc của châu Âu vào nguồnnăng lượng của Nga đang giảm dần Tình trạng thiếu hụt khí đốt tự nhiên diễn ratrên khắp châu Âu trong các cuộc khủng hoảng Nga - Ucraina45 vào năm 2006 và
2009 là một lời nhắc nhở buồn bã về khả năng các quốc gia châu Âu dễ bị tổnthương như thế nào do phải lệ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga Các nước châu Âu
đã bắt đầu phát triển các chiến lược cho phép họ giảm thiểu không chỉ khả năng dễ
bị tổn thương do các tranh chấp giữa Nga và các quốc gia quá cảnh trung gian mà
44 Nguyễn An Hà, Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Cảnh Toàn, Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ
XXI, NXB Khoa học Xã hội, 2011, tr 67-68
45 Đôi lúc được viết là Ukraine theo nguồn tài liệu tham khảo
31
Trang 36cả sự lệ thuộc nói chung của họ vào nguồn cung năng lượng từ Nga Ngoài ra, mộtloạt các chính sách trên toàn EU, trong đó có "Gói năng lượng thứ ba", đã bắt đầumang lại cho các quốc gia thành viên EU các công cụ chính trị và pháp lý để giảmthiểu sự thống trị của Gazprom trong chuỗi hệ thống cung ứng khí đốt tự nhiên củariêng họ Cùng với đó là những nỗ lực được EU tài trợ nhằm kết nối mạng lưới vậnchuyển khí đốt tự nhiên của các nước thành viên EU ở Trung Âu khiến Nga ngàycàng gặp khó khăn trong việc sử dụng dầu khí như một công cụ của chính sách đốingoại Những vấn đề đó đã khiến Nga phải đối mặt với một khả năng giản đơnnhưng nghiêm trọng là cuộc khủng hoảng tài chính và chính trị ở châu Âu sẽ tiếptục làm suy giảm tiêu thụ năng lượng của lục địa này, hoặc ít nhất là cản trở bất kỳ
sự tăng trưởng nào về mặt tiêu thụ trong thập kỷ tới Do đó, Nga cần phải có chínhsách cân đối lại thị trường xuất nhập khẩu của mình
Thứ năm, hệ thống công nghệ của Nga lạc hậu Hiện nay, ngành năng lượng
của Nga đang bị lão hóa, công nghệ lạc hậu và thiết bị tiêu hao nhiều năng lượngđòi hỏi những chi phí cao trong khai thác và bảo dưỡng, đồng thời gây ô nhiễm môitrường Hầu hết các công trình năng lượng như các nhà máy thủy điện, nhiệt điện,điện hạt nhân,… đều đã được xây dựng cách đây vài chục năm và đến nay đã bị haomòn đáng kể Thiết bị, công nghệ cũ chiếm tỷ lệ cao, mức hao mòn vốn cố định rấtcao: trung bình của toàn ngành là 50 %, riêng của lĩnh vực dầu khí là 80 % Đây làyếu tố tiềm tàng, có thể gây ra "thảm hoạ công nghệ" Công nghệ lạc hậu, kém pháttriển cũng làm giảm khả năng khai thác và sản xuất, đồng thời làm tăng chi phí vậnchuyển Theo ước tính, hiện nay, “hơn 50 % trữ lượng dầu khí ở các mỏ truyềnthống của Nga đã cạn kiệt và chỉ khoảng 8-10 năm nữa là sẽ cạn kiệt hoàn toàn Dovậy, việc khai thác và sản xuất dầu khí của Nga đang chuyển dần sang các mỏ khókhai thác nằm trong những khu vực đầy thách thức về địa lý, khí hậu và công nghệnhư ở Đông Siberia, Viễn Đông, vùng Bắc Cực và thềm Viễn Đông”46
Bên cạnh đó, công nghệ lạc hậu cũng dẫn đến việc lãng phí nguồn năng lượng.Theo một số thống kê, toàn bộ năng lượng lãng phí của nước Nga trong năm 2008
đủ để nước Anh dùng trong một năm Theo lời của ông Vasily Belov – người đứng
46 Vasily Astrov, Current State and Prospects of the Russian Energy Sector, Research Reports , June
2010, pg 6
32
Trang 37đầu nhóm nghiên cứu hiệu quả năng lượng thuộc Quỹ khoa học Skolkovo do chínhphủ Nga tài trợ thì Nga hiện đang “sử dụng năng lượng kém hiệu quả khoảng 2,5lần so với bất kỳ một quốc gia hiện đại tương đối nào ở châu Âu” Những hệ thốngtiện ích tiết kiệm năng lượng, kết hợp cả nguồn nhiệt và điện năng, đã được lắp đặttrong các căn hộ tại Nga, nhưng lại không có hiệu quả vì 200000 km đường ống cấpnhiệt đã già nua và các thiết bị cũ nát Bên cạnh đó, việc tiết kiệm năng lượng củaNga lại gặp phải nhiều rào cản do nhận thức của hầu hết các tầng lớp trong xã hộiNga về tiết kiệm năng lượng còn hạn hẹp, thói quen tiêu dùng năng lượng lãng phí,chi phí cho các dự án về tiết kiệm năng lượng cao, và tình trạng độc quyền của cáctập đoàn nhà nước Do đó, đây là thời điểm thích hợp để Nga đầu tư vào cải cáchcông nghệ chứ không phải trong tương lai.
Thứ sáu, cơ sở hạ tầng yếu kém Nga đối mặt với những thách thức không chỉ
về trình độ sản xuất mà còn về trình độ xuất khẩu Hệ thống đường ống dẫn dầu khícủa Nga khá cũ kỹ và lạc hậu “Thời hạn đã qua sử dụng 73 % toàn bộ đường ốngchính của Nga đã vượt quá 20 năm Trong đó gần 41 % đường ống đã vận hành trên
30 năm”47 Hệ thống đường ống lạc hậu này được thiết kế để vận chuyển các loạidầu có chất lượng khác nhau, điều đó không chỉ làm giảm chất lượng dầu khí xuấtkhẩu mà còn khiến cho năng lượng của Nga trong quá trình vận chuyển bị tiêu haonhiều, từ 3 - 7 % “Trong khi đó tiêu chuẩn của thế giới đưa ra đối với hao hụt chophép trên đường vận chuyển xuất khẩu không quá 0,1 % so với tổng lượng dầu khaithác được”48 Hiện nay, chỉ có khoảng 2/3 số dầu của Nga có thể được vận chuyểnbằng hệ thống đường ống dẫn dầu; phần còn lại được vận chuyển bằng các tyếnđường sắt và đường biển tốn kém hơn Tuy nhiên, việc vận chuyển dầu khí bằngđường biển của Nga còn tồn tại nhiều hạn chế: “hạn chế về khả năng chuyên chởqua eo biển Thổ Nhĩ Kỳ và Đan Mạch, và cả những hạn chế trong tương lai về khảnăng chuyên chở qua vịnh Gibralta Hạn chế trên phần nhiều đã gây nghi ngại cho
47 Nguyễn Quang Thuấn, Quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới, NXB Chính trị Quốc
gia, 2007, tr 285
48 Nguyễn Quang Thuấn, Quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới, NXB Chính trị Quốc gia,
2007, tr 286
33
Trang 38triển vọng phát triển xuất khẩu theo hướng truyền thống”49 Bên cạnh đó, Nga cũng
không có khả năng tạo bước đột phá tại các thị trường lớn ở nước ngoài như thịtrường châu Á – Thái Bình Dương do thiếu đường ống dẫn trực tiếp Hiện mới chỉ
có Trung Quốc và Hàn Quốc có thể nhận trực tiếp khí đốt từ Nga Hơn nữa, Ngahiện mới chỉ có một nhà máy khí hóa lỏng đáp ứng cho việc xuất khẩu dầu khí sangkhu vực này đặt ở cảng Korsakov trên đảo Sakhalin Do đó, để chiếm lĩnh thịtrường châu Á, Nga cần phải xây dựng thêm các nhà máy sản xuất khí đốt hóa lỏng
Hạ tầng kém phát triển làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp Nga và gây nên những bất ổn trong xuất khẩu của Nga nếu giá dầugiảm mạnh Do vậy, Chính phủ Nga cần phải có những biện pháp để cải thiện cơ sở
hạ tầng xuất khẩu
Tiểu kết chương 1
Hiện tại, năng lượng là một trong những lĩnh vực có hoạt động sản xuất ổnđịnh nhất ở Nga; có tác động tích cực đến hiện trạng và triển vọng phát triển nềnkinh tế Nga: số nhân lực làm việc trong lĩnh vực này chỉ chiếm 3 – 4 % tổng sốnhân lực của toàn bộ nền kinh tế, nhưng mang lại 25 % GDP, 30 % sản phẩm côngnghiệp, 54 % cho ngân sách Liên bang Với tiềm năng năng lượng dồi dào và chínhsách phát triển linh hoạt, Nga đang ngày càng khẳng định vai trò “ông lớn” củamình trên thị trường năng lượng thế giới Không chỉ là nhà cung cấp nguồn tàinguyên năng lượng mà Nga còn đóng vai trò nòng cốt trong việc đảm bảo an ninhnăng lượng cho toàn thế giới Chính phủ Nga và những người đứng đầu ĐiệnKremlin đã sử dụng năng lượng, đặc biệt là dầu khí, như một thứ vũ khí lợi hạinhằm duy trì sự ảnh hưởng và dần lấy lại vị thế của mình trên trường quốc tế Tuynhiên, ngành năng lượng Nga vẫn đang tồn tại khá nhiều yếu kém và bất cập Để đạtđược mục tiêu lấy lại vị thế, yêu cầu đặt ra đối với Chính phủ Nga là phải có nhữngbiện pháp cải cách linh hoạt và kịp thời
49 Nguyễn Quang Thuấn, Quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới, NXB Chính trị Quốc gia,
2007, tr 273
34
Trang 39Chương 2 CHIẾN LƯỢC NĂNG LƯỢNG VÀ CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA
2.1 Yêu cầu đặt ra đối với ngành năng lượng của Nga
Sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.Tám năm tiếp theo đó, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống say - Boris Yeltsin (1992-1999), tình hình nước Nga trở lên nghiêm trọng tới mức được ví như “một nhà nước
bị moi rỗng ruột và nhiều năm phải nhờ vào những khoản tín dụng quốc tế để tồntại”50 Do vậy, trọng trách đặt ra đối với Putin khi ông lên nắm quyền Tổng thốngthay Boris Yeltsin vô cùng lớn: làm thế nào để khôi phục kinh tế? Làm thế nào đểđưa nền kinh tế của đất nước trở thành TOP 5 của nền kinh tế thế giới? Và làm thếnào để lấy lại được vị thế đã bị đánh mất kể từ sự đổ vỡ của Liên Xô? Với sự nhạybén sẵn có của một nhà tình báo và với sự am hiểu sâu sắc, Putin đã chọn lợi thế sẵn
có của quốc gia – đó là năng lượng Ý tưởng khai thác lợi thế năng lượng đã đượcPutin đề cập và phân tích trong Luận án Tiến sĩ năm 1997 của ông51 Ngay sau khilên cầm quyền, ông đã bắt tay quy hoạch lại ngành năng lượng, biến nó trở thành
“xương sống” của nền kinh tế Nga và sử dụng nó như một “công cụ” nhằm tăngcường vị thế của Nga trên thị trường năng lượng toàn cầu nói riêng và gia tăng ảnhhưởng trong quan hệ quốc tế nói chung Do đó, một chiến lược phát triển dài hạn đãđược Chính quyền Putin bắt tay vào xây dựng: Chiến lược Năng lượng Nga giaiđoạn đến 2020 (ES-2020)52
Tuy nhiên, cùng với thời gian, tình hình thế giới cũng như trong nước ngàycàng có nhiều biến đổi Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu đã để lại những tácđộng nặng nề đối với nền kinh tế Nga vốn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nănglượng và nguyên liệu thô Giá dầu xuống thấp đã khiến nền kinh tế Nga phải trảiqua một cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ sau cuộc suy thoái kinh tế năm
1998 Xu hướng “li tâm” để gia nhập EU từ các quốc gia vùng đệm của Nga ngày
50 Nguyễn Đình Hương (2005), Chuyển đổi kinh tế LB Nga: lý luận, thực tiễn và bài học kinh nghiệm, NXB
Lý luận Chính trị, tr 28
51 Vào tháng 6 năm 1997, Vladimir Putin đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Viện Khai khoáng về
"Kế hoạch hóa chiến lược tái sản xuất của các cơ sở tài nguyên khoáng sản khu vực trong điều kiện hình thành
các mối quan hệ thị trường (St Petersburg và khu vực Leningrad)"
52 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Energy Strategy of Russia for the period up to 2020
Trang 40càng mạnh khiến phạm vi ảnh hưởng của Nga bị thu hẹp Nhu cầu năng lượng từchâu Âu ngày càng suy giảm do cuộc khủng hoảng nợ công và suy thoái trong khuvực đồng Euro Trong khi đó, những quốc gia mới nổi ở khu vực châu Á – TháiBình Dương đang ngày càng trở nên khát năng lượng Do vậy, chiến lược nănglượng đã vạch ra không còn phù hợp với tình hình và nhu cầu phát triển thực tế.Ngành năng lượng Nga cũng dần xuất hiện những yếu kém và bất cập Những ngườiđứng đầu điện Kremlin lúc này nhận ra rằng cần phải cải cách ngành năng lượng đểđảm bảo phát triển kinh tế cũng như đáp ứng xu thế vận động của thị trường nănglượng thế giới, đồng thời biến năng lượng thành một thứ “quyền lực mềm” nhằmkhẳng định và tăng cường vị thế của quốc gia trong quan hệ quốc tế Việc đưa ramột chiến lược năng lượng mới phù hợp đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
nỗ lực vực dậy nền kinh tế và khôi phục vị thế cường quốc hàng đầu thế giới màLiên Xô đã nắm giữ trước đây “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030”(ES-2030)53 ra đời từ đó để thay thế cho ES-2020 Cùng với đó, một loạt các biệnpháp cải cách cũng được thực hiện nhằm khắc phục những điểm yếu kém đã vàđang tồn tại của ngành năng lượng Nga, bao gồm: Cải cách cơ cấu, cải cách chínhsách phát triển dầu khí, cải cách cơ sở hạ tầng, cải cách công nghệ
Không dừng lại ở đó, theo quy định đã đặt ra là chiến lược năng lượng cầnđược cập nhật ít nhất năm năm một lần, mới đây, Bộ Năng lượng Nga đã cùng vớigiới cầm quyền Liên bang Nga nghiên cứu, bổ sung “Chiến lược năng lượng Ngagiai đoạn đến 2030” kéo dài đến năm 2035 “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạnđến 2035” (ES-2035)54 được ban hành ngày 23/01/2014 nhằm bám sát với tình hìnhtrong nước và quốc tế hơn, phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới vàđáp ứng được yêu cầu phát triển đã đề ra
Sự thành công của những cải cách này không chỉ góp phần củng cố sự vữngmạnh của ngành năng lượng Nga nói chung và nền kinh tế Nga nói riêng mà cònnâng cao vai trò của năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga và góp phầnnâng cao vị thế của Nga trên trường quốc tế
53 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Energy Strategy of Russia for the period up to 2030
54 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Energy Strategy of Russia for the period up to 2035
36