Đặc biệt, Liên bangNga đã từng bước khẳng định mình là một cường quốc có vai trò, vị trí rất quan trọngtrong việc giải quyết các vấn đề an ninh, chính trị, quân sự của quốc tế và khu vực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Giáp
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài: “Quan hệ Việt Nam - Liên bang Ngatrong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001 - 2015” là côngtrình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn có sự kế thừa, tham khảo cáccông trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu, kếtquả nghiên cứu mới Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, được
sử dụng trung thực
Tác giả
Trần Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN
HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ
VÀ AN NINH - QUỐC PHÒNG GIAI ĐOẠN 2001 - 2015
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.1.1 Bối cảnh quốc tế
1.1.2 Bối cảnh khu vực
1.2 Khái quát lịch sử mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga
1.2.1 Quan hệ Việt Nam - Liên Xô kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giaođến trước năm 1991
1.2.2 Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga giai đoạn 1991 - 2001
1.3 Vị trí, vai trò của Việt Nam, Liên bang Nga trong chính sách của mỗi nước.
1.3.1 Vị trí, vai trò của Liên bang Nga trong chính sách đối ngoại của ViệtNam
1.3.2 Vị trí, vai trò của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Liên bangNga
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ VÀ AN NINH - QUỐC PHÒNG GIAI ĐOẠN 2001 - 2015
2.1 Trong lĩnh vực chính trị
Trang 62.2 Trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng
2.3 Đánh giá thực trạng quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga về chính trị
và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001 - 2015
CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ VÀ AN NINH - QUỐC PHÒNG ĐẾN NĂM 2030
3.1 Cơ sở dự báo triển vọng quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng
3.2 Dự báo triển vọng quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng đến năm 2030
3.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng đến năm 2030 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quan hệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga ngày nay là sự tiếp nối và kế thừa quan
hệ hữu nghị truyền thống Việt - Xô trước đây (hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chínhthức vào ngày 31/1/1950) Trong suốt thời kỳ Việt Nam tiến hành các cuộc đấu tranhgiành độc lập, tự do và thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng lại đấtnước sau chiến tranh, Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ toàn diện của Liên
Xô về các mặt chính trị, kinh tế, kĩ thuật, quân sự,… Trong các kì Đại hội Đảng lần thứ
IV, V, VI, Đảng ta luôn xác định rõ Liên Xô là “hòn đá tảng” trong quan hệ chiến lược củaViệt Nam
Tháng 12/1991, Liên Xô sụp đổ, Liên bang Nga tuyên bố độc lập, kế thừa vị trí củaLiên Xô trong quan hệ quốc tế Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga (Việt - Nga) bướcsang một trang mới Liên bang Nga đã không còn coi trọng vị trí, vai trò của Việt Namnhư trước Nhà lãnh đạo Yelstin đã đưa ra đường lối chiến lược đối ngoại theo định hướngĐại Tây Dương thân Mỹ và phương Tây, chứ không chú trọng tới những quốc gia vừa vànhỏ như Việt Nam Điều đó được thể hiện qua chiến lược ngoại giao “xuyên Đại TâyDương” hay “Chim ưng hai đầu”… nên quan hệ hai nước giai đoạn trước năm 2001 cóphần ngưng trệ
Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, tình hình chính trị và kinh tế của thếgiới có nhiều biến động, đặc biệt là sự chuyển biến của tình hình mỗi nước đã tác độngkhông nhỏ tới mối quan hệ này Công cuộc “Đổi mới” do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởixướng Đại hội VI (12/1986) được đẩy mạnh và phát triển, bước đầu đã có những thànhtựu làm thay đổi lớn đời sống kinh tế, xã hội ở Việt Nam Ở Liên bang Nga, sau khi chínhsách thân phương Tây bộc lộ những giới hạn không thể vượt qua, chính giới Nga đã đòihỏi những nhà lãnh đạo phải điều chỉnh để tạo sự cân bằng trong chính sách đối ngoại vìlợi ích quốc gia Khi Tổng thống V.Putin lên cầm quyền (7/5/2000), ông đã đưa ra mộtloạt các chiến lược về đối ngoại, an ninh, quốc phòng, kinh tế… nhằm mục tiêu “chấnhưng” nước Nga với mục đích sẽ lấy lại hình ảnh của nước Nga là một siêu cường nhưthời Liên Xô Chính những
Trang 9thay đổi này của hai nước đã góp phần làm cho vai trò, vị thế trong khu vực và quốc tếcủa Việt Nam cũng như Liên bang Nga từng bước được nâng ca o Đặc biệt, Liên bangNga đã từng bước khẳng định mình là một cường quốc có vai trò, vị trí rất quan trọngtrong việc giải quyết các vấn đề an ninh, chính trị, quân sự của quốc tế và khu vực.
Tháng 3/2001, hai nước ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược trong
chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên của Tổng thống Nga V.Putin đánh dấubước phát triển và tạo lập khuôn khổ pháp lý mới cho hợp tác Việt - Nga trên cơ sở tincậy, chặt chẽ và lâu dài Đây còn là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với hai nước cũngnhư trên phương diện quốc tế, đóng góp vào xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác phát triển ởkhu vực và thế giới
Năm 2015 Việt Nam và Liên bang Nga đã kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoạigiao (31/1/1950 - 31/1/2015) và cũng là dấu mốc đánh giá 15 năm cầm quyền của Tổngthống V.Putin Trên chặng đường hơn một thập niên qua (2001 - 2015), hợp tác chiến lượcViệt - Nga luôn chịu sự chi phối, tác động mạnh của bối cảnh thế giới và khu vực đầy biếnđộng, đồng thời cũng đứng trước những vận hội và thách thức mới đan xen Với quyếttâm chính trị cao của lãnh đạo hai nước và sự gần gũi trong lập trường, quan điểm vềnhiều vấn đề quốc tế quan trọng, hợp tác chiến lược Việt - Nga đã ngày càng phát triển cả
về bề rộng lẫn chiều sâu với những thành tựu trong tất cả các lĩnh vực đặc biệt trong lĩnhvực chính trị và an ninh - quốc phòng
Trong những năm gần đây, tình hình Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp
do những mâu thuẫn giữa Trung Quốc và các nước khu vực Đông Nam Á về vấn đề biểnđảo, trong đó có Việt Nam Cùng thời điểm đó, Liên bang Nga lại tăng cường phát triển
mối quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện” với Trung Quốc Vì vậy, việc nghiên cứu một
cách chuyên sâu về mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và anninh quốc phòng để làm rõ sự vận động, phát triển, những vấn đề đặt ra cũng như triểnvọng của nó có ỹ nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với Việt Nam Kết quả nghiêncứu của đề tài sẽ góp phần thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, rộng
mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhậpquốc tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Đồng thời, năm 2001 và 2015 là hai dấu
Trang 10mốc quan trọng trong mối quan hệ Việt – Nga như đã trình bày ở trên Với những lý dotrên, tác giả chọn đề tài: “Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và
an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001 - 2015” làm luận văn tốt nghiệp cao học, chuyênngành Quan hệ quốc tế
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Những công trình nghiên cứu về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại của Liên bang Nga.
* Các công trình trong nước
Trong ấn phẩm “Liên bang Nga: Hai thập niên đầu thế kỷ XXI” do Nguyễn An Hà (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội (2011), nhóm tác giả đã nêu ra một số những
vấn đề chính trị và kinh tế nổi bật của Liên Bang Nga trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI
và đưa ra những dự báo về xu thế vận động của Liên bang Nga tới năm 2020 Đồng thời,nhóm tác giả cũng đánh giá những tác động của Liên bang Nga tới thế giới, khu vực vàViệt Nam, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác đối tác chiếnlược Việt Nam - Liên bang Nga
Các bài viết “Chính sách của Liên bang Nga đối với Việt Nam sau chiến tranh lạnh (1991 - 2008) - một số đặc điểm chủ yếu”, Ths Bùi Thị Thảo, Tạp chí Nghiên cứu
Châu Âu, số 5 (2012) tập trung phân tích và bước đầu rút ra một số đặc điểm chủ yếu về
chính sách của Nga đối với Việt Nam thời kỳ 1991 - 2008; “Thử phân tích chiến lược mới của Nga đối với ASEAN và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”, TS Nguyễn Cảnh
Toàn, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 1 (2010) đã làm rõ vị trí của ASEAN trong chiếnlược của Liên bang Nga và vai trò cầu nối của Việt Nam trong mối quan hệ Nga –
ASEAN; “Chiến lược hướng Đông của Nga”, Lê Xuân Dương, số 21 Quý I (2013) đều
tập trung phân tích sự chuyển hướng trong sách lược của Liên bang Nga trong tình hìnhmới và những thành tựu trong quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga
* Các công trình nước ngoài
Cuốn sách“From Stalin to Yeltsin” (2000), Baibakov.N.G (Publised by Moscow,
Russia) đã đề cập đến bức tranh chính trị, kinh tế, xã hội… của Liên bang Xô viết (1924)tới khi Liên bang Nga trở thành một quốc gia độc lập (12/6/1990) Đây là những thập niênđược đánh giá là đầy sóng gió trong lịch sử của nước Nga hiện tại
Trang 11Trong cuốn“The foreigning policy from Post - Soviet to Russia now The lesson from the conflict with Gruzia” (2008), A.V.Lukin, “Russia in global affairs” Magazine,
Vol6, No4, Russia đã phân tích sự thay đổi chính sách đối ngoại của Nga tại các khu vựctrên thế giới
Trong ấn phẩm “What Russia’s Turn to the East” Means for Southeast Asia”
(2015), ISEAS, No 67, tác giả Ian Storey đã phân tích chiến lược hướng đông của Liênbang Nga sau những thất bại trong quan hệ với phương Tây, đặc biệt là sau cuộc khủnghoảng Ukraina Nga thực hiện chính sách hướng đông bằng cách tăng cường với các quốcgia như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, tuy nhiên, tác giả cũng đề cập đến những mặt hạnchế và mâu thuẫn trong từng mối quan hệ này Đồng thời, Nga nhận thấy vai trò và sự ảnhhưởng của mình tại khu vực Đông Nam Á còn rất khiêm tốn vì vậy Nga cần phải nỗ lựctăng cường hợp tác với các nước ở khu vực này Trong chiến lược ấy, Nga khẳng định mốiquan hệ bền chặt và hiệu quả đối với Việt Nam Thông qua việc nhắc lại lịch sử mối quan
hệ Việt Nam - Liên Xô trong hai cuộc chiến tranh, vấn đề căn cứ quân sự ở Cam Ranh vàmột loạt các văn bản, hợp đồng được ký kết giữa Hà Nội và Moscow, Liên bang Ngakhẳng định Việt Nam là đối tác và bạn hàng lớn nhất của Nga tại khu vực này và là cầunối giúp Nga có thể mở rộng quan hệ với các nước khác trong khu vực
Bài viết “Main Trends of Russia’s Foreign policy in Transforming East and Southeast Asia” (2008), Brookings Institution của tác giả Vladimir N.Kolotov đã phân
tích những xu hướng chính trong chính sách đối ngoại của Nga tại khu vực Đông Á vàĐông Nam Á Tác giả đề cập đến sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Nhật bản cũngnhư sự ảnh hưởng của Mỹ và hai quốc gia trên tại khu vực này Bài viết nhận định ĐôngNam Á là một khu vực kinh tế năng động, hấp dẫn thu hút nhiều nước lớn tham gia, trong
đó phải kể đến Việt Nam - một quốc gia được đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng ởkhu vực Đông Nam Á không chỉ bởi vị trí địa chiến lược mà còn là quốc gia có trữ lượngdầu mỏ lớn ở Biển Đông Trước sự nổi dậy về kinh tế, sự bành trướng về lãnh thổ củaTrung Quốc, cả Mỹ và Nga đều muốn quan hệ hợp tác với Việt Nam đề kiềm chế sự pháttriển của Trung Quốc
Trang 122.2 Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong các lĩnh vực
* Các công trình trong nước
Trong cuốn “Quan hệ Việt - Nga trong bối cảnh quốc tế mới” của tác giả Võ
Đại Lược - Lê Bộ Lĩnh, Nhà xuất bản Thế giới (2005), tác giả đã nghiên cứu, phân tíchmối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trên nhiều lĩnh vực, dưới tác động của bối cảnhthế giới và khu vực nhưng tập trung nhất vẫn là về kinh tế
Tác phẩm “Hợp tác chiến lược Việt - Nga”, PGS.TS Vũ Đình Hòe - PGS.TS
Nguyễn Hoàng Giáp, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, (2008), tác giả đã phân tích những
cơ sở cho mối quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga, thành tựu nổi bậttrong quá trình hợp tác và những giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác chiếnlược đó
Tác phẩm “Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga: 50 năm một chặng đường lớn”,
Bùi Khắc Bút, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 5, (10/2000), đã đề cập và làm nổi bật mốiquan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây và sau này
là Liên bang Nga giai đoạn 1950 - 2000 Với sự giúp đỡ to lớn về quân sự, chính trị cũngnhư sự ủng hộ ngoại giao quan trọng trên các diễn đàn quốc tế đối với nhân dân Việt Namcủa Liên Xô, Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước(30/04/1975) Trong giai đoạn nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp xây dựng CHXH,Liên Xô đã trở thành đối tác chiến lược chính trị, quân sự hết sức quan trọng Sau khiLiên Xô sụp đổ (25/12/1991), mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga (quốc gia thừa kếLiên Xô) có bị ảnh hưởng do sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Moscow trongnhững năm đầu thập niên 90 Tuy nhiên, mối quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống này
đã được cải thiện vào những năm cuối của thập kỉ này Đây là nền tảng, cơ sở quan trọng
để hình thành nên mối quan hệ “đối tác chiến lược” Việt - Nga trong những năm đầu thế
Trang 13khai khoáng, luyện kim…hai nước đã có những hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế.
Sự hợp tác sâu rộng này đã đưa quan hệ hai nước trở nên thực chất hơn
Bài viết “Nhìn lại quan hệ Liên bang Nga - Việt Nam thời gian qua và một số vấn
đề đặt ra”, Nguyễn Văn Lan, tạp chí nghiên cứu Châu Âu số 3/2004 Tác giả đã nêu lên
bức tranh khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn 1991-2004trong lĩnh vực văn hóa Bài viết đi sâu phân tích những tồn tại và hạn chế trong quan hệvăn hóa hai nước Để khắc phục những hạn chế này, hai nước cần tăng cường hơn nữa cáchoạt động truyền đạt những giá trị văn hóa của mỗi nước tới người dân, giúp nhân dân hainước hiểu biết lẫn nhau hơn góp phần đưa quan hệ hai quốc gia có những bước phát triểnlên tầm cao mới trong thế kỷ XXI
Các bài viết: “Một số vấn đề về cách tiếp cận quan hệ đối tác chiến lược Liên Bang Nga - Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Hoàng Giáp, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu, số 4 (2007); “Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga thực trạng và triển vọng”, PGS.TS Nguyễn
Hoàng Giáp, Tạp chí đối ngoại, số 10 +11/2014 Tác giả đã đề cập và làm nổi bật mốiquan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây, và nhữngthành tựu trong quan hệ giữa Việt Nam - Liên bang Nga giai đoạn hiện nay Tác giả phântích những hạn chế của mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga và đưa ra những giải phápcủa mối quan hệ này trong tương lai
Bên cạnh đó, còn có các bài viết: “ Quan hệ đối tác chiến lược Việt - Nga trong tổng thể quan hệ Việt Nam với các nước SNG: Hiện trạng và triển vọng”, PGS, TS Vũ
Dương Huân, Tạp chí Nghiên cứu Châu Â, số 4 (2007): tác giả đánh giá thực trạng quan
hệ đối tác chiến lược Việt - Nga, cũng như quan hệ giữa nước ta với các nước SNG, làm
rõ những thành tựu, cũng như những hạn chế, tìm nguyên nhân của những thành công,những hạn chế và từ đó dự báo triển vọng của quan hệ đối tác chiến lược Việt - Nga trong
những năm trước mắt; “Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga: Tiềm năng và những bước phát triển mới”, TS Nguyễn An Hà, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu,
số 6 (2011) khái quát những thành tựu về kinh tế của Liên bang Nga những năm đầu thế
kỷ XXI và kết quả hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga, từ đó khẳng định tiềm năngmối quan hệ này là vô cùng to lớn
Trang 14Ngoài ra, còn có các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Quan hệ Quốc phòng như:
“Quan hệ Liên bang Nga - Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI”, Hương Giang, số 18, Quý II (2012); “Đối tác chiến lược toàn diện - Tầm cao mới của mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga”, Nhữ Quang Nam, số 20, Quý IV, 2012;
* Các công trình nước ngoài
Trong tác phẩm “Can Russia keep its special ties with Vietnam while moving closer and closer to China?” (2015), IASR, Vol 18, tác giả Pavel K Baev đã đưa ra một
vấn đề mà các nhà nghiên cứu và học giả quan hệ quốc tế đều rất quan tâm đó là: Quan hệNga - Trung có ảnh hưởng gì đến mối quan hệ Nga - Việt hay không? Bài viết phân tích
đa chiều về những tác động của mối quan hệ Nga - Trung đối với quan hệ Nga - Việt cả
về yếu tố địa chiến lược, lợi ích quốc gia và cả yếu tố cân bằng quyền lực với Mỹ Cùng
nghiên cứu về vấn đề này có các bài viết: “The China factor in Russia - Vietnam sercurity ties” (2016), Tony Rima, Foreign Policy journal; “Russia - Vietnam strategic partnership: between the United States and China” (2014), Anton Tsvetov, Russian
International Affairs Council
Các bài viết: “Vietnam: Moscow’s Toehold in Southeast Asia” trong cuốn sách
Russia Foreign Policy: Interests, vectors and sectors (2014) của tác giả Nikolas
K.Gvosdev - Christopher Marsh, Sage Press, pg 148-150; “Russia - Vietnam: Building a strategic partnership” trong cuốn sách ASEAN - RUSSIA Foundations and Future Prospects (2010), ISEAS Press, pg 173 - 183; “Russian - Vietnamese Relations: Position and Prospects” (2014), Dmitry Mosyakov; “The Russia - Vietnam comprehensive partnership” (2012), Thayer C.A, ASIA Times online đều khái quát mối quan hệ đối tác
chiến lược giữa Liên bang Nga và Việt Nam, vị trí, vai trò của Việt Nam trong chính sáchđối ngoại của Nga trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, những thành tựu mà hai nước đãđạt được trong lĩnh vực dầu khí và năng lượng
Tác phẩm “Russia - Vietnam strategic partnership: The Return of the Brotherhood
in Arms” (2014), Russian Analytical Digest (RAD), CSS Press, pg 8-11 khái quát những
bước thăng trầm trong lịch sử mối quan hệ Việt - Nga trong lĩnh vực kinh tế và nănglượng Đồng thời, tác giả phân tích sự phát triển lớn mạnh về quân sự và sự ảnh hưởngcủa Trung Quốc tại khu vực và thế giới Trước bối cảnh đó, Liên bang Nga tăng cường
Trang 15hợp tác với Việt Nam không những vì lợi ích kinh tế mà còn nhằm ngăn chặn sự pháttriển của Trung Quốc về mặt quân sự.
Bài viết“Russia strengthens the ties with Vietnam” của tạp chí Fobres (12/2013); Russia rebuilds ties with Vietnam (2013), ASIA Times online; “Vietnam and Russia friends in need” (2014), the Economist, “Vietnam is Russia’s bridge to ASEAN” (2016),
ASIA Times online, đã đề cập đến sự điều chỉnh chính sách của Liên bang Nga vào khuvực Đông Nam Á và khẳng định Việt Nam sẽ là lựa chọn trọng điểm Các bài viết phântích những nỗ lực của Liên Bang Nga trong việc mở rộng thị trường năng lượng tại ĐôngNam Á và cân bằng quyền lực với Trung Quốc tại khu vực này Với mục đích đó thì ViệtNam chính là cầu nối để Nga đến với ASEAN
Trong ấn phẩm “Vietnam and Great Power Rivalries” (2015), The Diplomat, của
hai tác giả Nhina Le và Koh Swee Lean Collin đề cập đến vị trí địa chính trị đặc biệt quantrọng trong nền kinh tế biển và an ninh quốc phòng của cảng Cam Ranh và mong muốncủa các cường quốc như Mỹ, Nhật, Nga đặt căn cứ quân sự tại vùng cảng này Bài viếtphân tích những lợi ích mà Liên bang Nga có được khi quay trở lại cảng Cam Ranh (lợiích kinh tế biển và đối trọng về sức mạnh quân sự tại Biển Đông với Mỹ và Trung Quốc).Tuy nhiên, hai tác giả cũng nhấn mạnh đến lập trưởng quan điểm của Việt Nam về vấn đềnày đó là Việt Nam sẵn sàng quan hệ với tất cả các nước một cách bình đẳng, cho phépcác tầu chiến của tất cả các nước sử dụng các dịch vụ tại cảng Cam Ranh và luôn giữnguyên tắc “ba không” của mình: không để nước ngoài thiết lập căn cứ quân sự tại ViệtNam, không quan hệ với nước này để chống nước kia và không cho nước khác sử dụnglãnh thổ của mình để chống lại một nước khác
Cuốn sách “Quan hệ Nga - Việt: Hiện tại và lịch sử - Cái nhìn từ hai phía” (2014)
được xuất bản bằng tiếng Nga do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN, Viện ViễnĐông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga phát hành Cuốn sách tập hợp 23 bài viết về mọimặt của mối quan hệ hữu nghị, hợp tác Nga - Việt trong giai đoạn từ khi cuộc kháng chiếncứu nước diễn ra đến năm 1991 và từ sự kiện Liên Xô tan rã năm 1991 đến năm 2013.Cuốn sách đi sâu phân tích mọi khía cạnh của quan hệ Nga - Việt trên tất cả các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và triển vọng mối quan hệ song phương này
8
Trang 16Có thể thấy với các cách tiếp cận ở nhiều mức độ khác nhau, tất cả công trình trên
đã phân tích những nội dung về mối quan hệ hai nước trong các lĩnh vực Việc nghiên cứumột cách chuyên sâu về lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng kể từ khi Việt Nam và
Liên bang Nga trở thành “đối tác chiến lược” từ năm 2001 đến năm 2015 để thấy rõ
những thuận lợi, khó khăn, cũng như những hạn chế nhằm thúc đẩy mối quan hệ của hainước trong tình hình mới là việc làm cần thiết và mang tính thời sự Những công trìnhnghiên cứu của các tác giả nêu trên là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả tham khảo đểhoàn thành luận văn của mình
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Luận văn làm rõ thực trạng quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga trong lĩnh vựcchính trị và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001- 2015 Đồng thời dự báo triển vọng quan
hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng đến năm2030
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, phân tích làm rõ những nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ Việt Nam Liên Bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng
-Thứ hai, phân tích những kết quả hợp tác giữa Việt Nam - Liên Bang Nga tronglĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001- 2015
Thứ ba, đánh giá những thuận lợi, khó khăn của quan hệ Việt Nam - Liên bangNga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng từ đó đưa ra các dự báo triển vọngcủa mối quan hệ này đến năm 2030 cũng như đề xuất một số giải pháp để tăng cường mốiquan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong hai lĩnh vực trên
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề
tài 4.1 Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001 - 2015
Trang 175. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đề tài luôn bám sát các quan điểm nội dung về chínhsách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng từ đại hội VI đến nay Tác giả sửdụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh, dự báo…
6. Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận: Thông qua phân tích sự vận động của quan hệ giữa hai nước hơn
mười năm qua, đề tài khẳng định triển vọng về xây dựng, phát triển mối quan hệ hợp táchai nước theo hướng “Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện trong thế kỷ XXI” góp phần
vì hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận, củng cố lậptrường, tư tưởng, niềm tin khoa học về đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn củaĐảng và Nhà nước ta
Về mặt thực tiễn: Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế hiện đại, đồng thời có thể góp phần cung cấp cứ liệucho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001- 2015
Trong chương này, tác giả phân tích: bối cảnh quốc tế và khu vực; khái quát mốiquan hệ lịch sử giữa Việt Nam và Liên Xô trong thời kỳ kháng chiến và thống nhất đấtnước cũng như những giai đoạn thăng trầm của mối quan hệ Việt - Nga đến trước năm2001; vị trí, vai trò của Việt Nam và Liên bang Nga trong chính sách đối ngoại của mỗinước để từ đó thấy được những yếu tố tác động đến mối quan hệ Việt Nam - Liên bangNga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001- 2015
Trang 18Chương 2: Thực trạng quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng giai đoạn 2001- 2015
Tác giả trình bày những thành tựu hợp tác mà hai nước đã được trong lĩnh vựcchính trị và an ninh - quốc phòng (2001 - 2015) và những mặt hạn chế còn tồn tại trongmối quan hệ này Qua đó, tác giả cũng đánh giá, so sánh mối quan hệ Việt - Nga với mốiquan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn khác
Chương 3: Triển vọng và giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ Việt Nam Liên bang Nga trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng đến năm 2030
-Từ việc đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong mối quan hệ Việt Nam - Liênbang Nga, dự báo diễn biến tình hình thế giới, khu vực đến năm 2030, tác giả đưa ranhững kịch bản dự báo triển vọng mối quan hệ này trong tương lai, đồng thời, đề xuấtmột số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ Việt - Nga trong hai lĩnh vực chính trị và
an ninh - quốc phòng đến năm 2030
Trang 19CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT
NAM - LIÊN BANG NGA TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ VÀ
AN NINH - QUỐC PHÒNG GIAI ĐOẠN 2001 - 2015
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Thế giới phát triển theo xu hướng đa cực: Sau khi Liên Xô và chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, cơ cấu địa - chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bị đảolộn, tương quan lực lượng thế giới nghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản, nhất
là các nước tư bản phát triển hàng đầu Quá trình hình thành trật tự thế giới mới chứađựng nhiều yếu tố bất trắc, khó đoán định, trong đó nổi lên hai khuynh hướng đối nghịch:
Mỹ chủ trương một thế giới đơn cực, trong khi các trung tâm quyền lực khác như Nga,Trung Quốc, EU, Nhật Bản lại đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực mà ở đó vị trí báquyền của Mỹ được kiềm chế, quyền lãnh đạo thế giới được chia sẻ cho các nước lớn.Những năm đầu thế kỷ XXI, Mỹ có được vị thế siêu cường quốc số một thế giới về kinh
tế, quân sự và chính trị Mỹ ra sức lợi dụng ưu thế trong so sánh lực lượng mưu toan thiếtlập “trật tự mới”, thực chất là trật tự thế giới tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Bởi vậy,chính quyền Mỹ ráo riết thi hành một chính sách đơn phương mang nặng tính vị kỷ, bấtchấp sự phản đối của nhiều nước lớn và cộng đồng quốc tế Sau sự kiện 11/ 9/2001, chínhsách của Mỹ được điều chỉnh theo hướng chú ý hơn đến hành động hợp tác đa phươngnhằm giành sự ủng hộ quốc tế để phát động cuộc chiến tranh nhân danh chống khủng bố
ở Afganistan Tuy nhiên, sự sa lầy trong cuộc chiến ở Iraq và Afganistan, những sai lầmtrong chính sách đối nội lẫn đối ngoại của Mỹ và khủng hoảng tài chính năm 2008 đã đưanước Mỹ từ một siêu cường quốc duy nhất tới chỗ đánh mất vị thế gần như độc tôn Do
Trang 20những khó khăn và hạn chế không nhỏ khiến Mỹ khó có thể thực hiện được tham vọngthiết lập một thế giới đơn cực, trong đó đáng chú ý là mâu thuẫn giữa âm mưu và hànhđộng của Mỹ với lợi ích của các nước lớn, với lợi ích của hòa bình, độc lập và phát triểncủa các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc như một trung tâm kinh tế chính trị của Châu Á đượcbiểu hiện một phần bằng sự chủ động tham gia của nước này vào các tổ chức đa phươngcủa khu vực và thế giới trong giải quyết các vấn đề kinh tế - chính trị toàn cầu
Nhật Bản nỗ lực trở lại theo chiều hướng củng cố tiềm lực quốc phòng và nâng caovai trò chính trị của mình trên trường quốc tế Nhật Bản muốn nhanh chóng cường quốchóa quân sự để có tiếng nói trọng lượng hơn trên trường quốc tế, nhất là các vấn đề anninh ở Đông Á
Ngoài ra, sự phát triển của EU, sự trở lại của Nga, sự nổi lên của Ấn Độ, Braxin,Nam Phi… đã làm nền kinh tế và chính trị thế giới chuyển biến theo hướng đa cực hóa,bắt đầu hình thành một trật tự thế giới mới, được biểu hiện rất rõ ở vai trò ngày càng quantrọng của G20 trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, dần thay thế G7 Có thể nói cấu trúcchiến lược quốc tế đã phát triển từ “nhất siêu đa cường” sang “đa cực hóa” vừa có nhân tốtrỗi dậy của EU, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ, vừa có sự gia tăng chủ nghĩa đơn cực và báquyền của Mỹ Trật tự này sẽ chi phối lại các định hướng quan hệ quốc tế Theo các nhàquan sát, trong bối cảnh đó, cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc phản ánhthực tế rằng một thế giới đa cực là một xu thế vận động tất yếu khách quan Sự vận độngnày sẽ tiếp tục được duy trì và phát triển đa dạng, nhiều tầng nấc hơn trong thời gian tới
Xu thế toàn cầu hóa tiếp tục gia tăng mạnh mẽ Toàn cầu hóa là xu thế khách quan
vốn đã xuất hiện từ lâu, những năm đầu thế kỷ XXI, xu thế này tiếp tục được mở rộng từkinh tế ra mọi lĩnh vực, bao gồm cả chính trị và an ninh, tác động nhiều chiều đến sự vậnđộng và phát triển của thế giới, làm tăng đáng kể sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nướctrên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau, cả trên cấp độ toàn cầu và khu vực, đaphương và song phương Tuy nhiên, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tậpđoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực,vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh Đứng trước xu thế toàn cầu hóa, cảViệt Nam và Liên bang Nga đều phải chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm
Trang 21tranh thủ cơ hội, tìm kiếm vị trí có lợi nhất cho mình, đồng thời hạn chế thấp nhất nhữngnguy cơ thách thức Phát triển mối quan hệ hợp tác chiến lược Việt – Nga giúp hai nước
có thể bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình tham gia toàn cầu hóa
Cách mạng khoa học và công nghệ, ngày càng nổi lên là một nhân tố tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển và ổn định của thế giới, trong đó kinh tế tri thức có vai tròngày càng nổi bật Việc xuất hiện những phát minh khoa học, làn sóng đổi mới côngnghệ, những thành tựu trong các ngành mũi nhọn như điện tử - tin học, vật liệu mới, côngnghệ sinh học, tự động hóa…không chỉ đóng vai trò quan trọng, yếu tố có tính chất quyếtđịnh như một lực lượng sản xuất trực tiếp trong phát triển kinh tế mà còn trực tiếp đưađến sự phát triển, biến đổi trong toàn bộ đời sống chính trị - xã hội ở các quốc gia
Việt Nam và Liên bang Nga cũng như nhiều quốc gia khác đang phải chạy đua đểgia tăng phát triển khoa học – công nghệ Việt Nam quyết tâm thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Để thực hiện nhiệm
vụ này, việc phát triển quan hệ với Nga có một vị trí khá quan trọng, bởi tiềm năng to lớncủa Nga về nhiều mặt, nhất là trên lĩnh vực khoa học – công nghệ hiện đại
Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển Chiến tranh lạnh kết thúc gắn liền với việc
sụp đổ trật tự hai cực đã tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế nói chung và từng quốcgia nói riêng Đặc trưng của thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh là chuyển từ đối đầu sang đốithoại và hợp tác Hòa bình, hợp tác và cạnh tranh đan xen là xu hướng chủ đạo trong quan
hệ quốc tế Sự thịnh vượng của quốc gia này chính là điều kiện, cơ hội phát triển của cácquốc gia khác và ngược lại Tuy nhiên, ở đâu có chiến tranh là xung đột vẫn đang xảy ratrong phạm vi cục bộ, bất công trong cách hành xử, xử lý trong các quốc gia vẫn tiếp tụctồn tại Nhìn chung, trong vài thập kỷ tới, xu hướng hợp tác cùng phát triển vẫn là xuhướng chủ đạo Các nước không kể lớn nhỏ, giàu nghèo, đều lấy nền tảng hòa bình đểphát triển Việt Nam và Liên bang Nga không nằm ngoài xu hướng đó
Nhân loại đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu hết sức bức thiết mà không một quốc gia đơn lẻ nào có thể tự giải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương Mặc
dù xu hướng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là chủ đạo trong mối quan hệ quốc tếnhững năm đầu thế kỷ XXI, nhưng những nhân tố bất ổn định lại có chiều hướng gia tăng
ở các khu vực Đó là sự nổi dậy của chủ nghĩa khủng bố, với việc tăng cường lực lượng
Trang 22và mở rộng địa bàn hoạt động Sau khi gây ra sự kiện 11/9 /2001 ở Mỹ dẫn đến các cuộcchiến ở Afganistan và Iraq, các hoạt động khủng bố liên tiếp diễn ra ở nhiều nơi trên thếgiới Nguy cơ khủng bố luôn thường trực trong cuộc sống hàng ngày với khả năng tinh vihơn, nguy hiểm hơn Xung đột sắc tộc tôn giáo gia tăng cường độ, đặc biệt với sự xuấthiện của nhà nước hồi giáo tự xưng IS Tình hình này diễn ra đặc biệt nghiêm trọng đốivới một số quốc gia Trung Đông và vùng Vịnh đã góp phần làm cho an ninh khu vực thếgiới trở nên bất ổn hơn bao giờ hết Xu hướng ly khai và tranh chấp lãnh thổ, tài nguyêncũng có nguy cơ phát triển với cường độ cao Bên cạnh đó, nguy cơ phổ biến vũ khí giếtngười hàng loạt, trước hết là vũ khí hạt nhân, cũng đang là vấn đề đe dọa an ninh quốc tế.Vấn đề đặc biệt này gây lo ngại là nguy cơ các loại vũ khí này rơi vào các lực lượngkhủng bố Ngoài ra, còn hàng loạt các vấn đề nảy sinh từ các thách thức an ninh phitruyền thống khác nhau như buôn bán ma túy, rửa tiền, tội phạm xuyên quốc gia, buônbán phụ nữ và trẻ em,… Sự xuống cấp của môi trường sống trên toàn cầu, dịch bệnh đốivới con người và động vật lây lan với tốc độ nhanh cũng đang là các vấn đề lớn của thếgiới hiện nay và trong một vài thập kỷ mới như dịch bệnh Ebola Thêm vào đó, các vấn
đề khủng hoảng kinh tế, an ninh năng lượng và sự biến đổi môi trường, khí hậu toàn cầucũng đang là vấn đề mà cả thế giới phải đối mặt Những vấn đề có tính thách thức toàncầu này đã làm cho tình hình an ninh, chính trị nhiều nơi biến chuyển theo một chiềuhướng bất lợi cho sự phát triển, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thế giới Tínhchất nghiêm trọng và phức tạp của những vấn đề toàn cầu đang đòi hỏi các nước, nhất làcác nước đang phát triển cần đóng góp tích cực hơn nữa trong sự phối hợp, hợp tác hànhđộng một cách có hiệu quả thiết thực Trong lĩnh vực này, Việt Nam và Liên bang Ngahoàn toàn có cơ sở và điều kiện thực tế để tăng cường các quan hệ hợp tác trong khuônkhổ song phương cũng như đa phương
1.1.2 Bối cảnh khu vực
Bước sang thế kỷ XXI, với đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú và tiềm năng phát triển to lớn, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục trở thànhtrọng tâm địa chính trị toàn cầu Hiện nay, Châu Á - Thái Bình Dương có vai trò đặc biệtquan trọng trên nhiều phương diện của đời sống thế giới, đã và đang là nơi hội tụ, giaothoa lợi ích chiến lược của tất cả các nước lớn Đây cũng là khu vực tập trung nhiều nền
Trang 23kinh tế hàng đầu của thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… Vì thế, các cường
quốc thế giới đều mong muốn tăng cường ảnh hưởng tại khu vực quan trọng này “Chính sách hướng Đông”, “Chính sách xoay trục” và sự can dự ngày càng sâu của các cường
quốc thế giới vào Châu Á - Thái Bình Dương đã đặt khu vực trước những cơ hội và tháchthức an ninh mới, đồng thời nói lên vai trò chiến lược của khu vực này trong thế kỷ XXI
Liên bang Nga được lợi ích gì ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương? Khu vực nàyluôn chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Nga và cũng là nơi màNga có được nhiều lợi ích:
Trong lĩnh vực kinh tế: Châu Á - Thái Bình Dương có vai trò quan trọng trong sựphát triển nền kinh tế của Liên bang Nga nói chung, đặc biệt là vùng lãnh thổ châu Á rộnglớn của nước này Đây là khu vực tập trung nhiều nền kinh tế hàng đầu của thế giới như
Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… Nhìn chung Châu Á -Thái Bình Dương là khu vực
có thị trường lớn và phát triển năng động, tăng trưởng kinh tế cao và là động lực cho sựtăng trưởng kinh tế toàn cầu Do đó, xác lập và tăng cường vai trò của Nga ở khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương sẽ là điều kiện cần nhằm phục vụ cho sự phát triển nước Nga.Hơn nữa, trong sự trỗi dậy của nhiều nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hiện nay,nhiều nước có nhu cầu nhập khẩu lớn về dầu mỏ và khí đốt và Liên bang Nga là nước cókhả năng cung cấp nhu cầu này Việc Mỹ và EU tiến hành trừng phạt kinh tế đối với Ngaliên quan đến cuộc khủng hoảng Ukraine thì Châu Á - Thái Bình Dương sẽ là khu vựcLiên bang Nga càng tập trung sự ưu tiên nhằm đáp ứng nu cầu phát triển kinh tế của nướcNga
Trong lĩnh vực chính trị - an ninh: Châu Á - Thái Bình Dương có vị trí quan trọngmang tính chiến lược đối với Liên bang Nga Tuy là nước kế thừa vị trí của Liên Xô, songtiềm lực và sức mạnh quân sự của Nga hiện nay đã giảm đi đáng kể Tiềm năng vũ khí hạtnhân và địa bàn triển khai của Nga cũng giảm đi đáng kể so với Liên Xô trước đây (domột số lượng vũ khí này được triển khai ở Ukraine, Belarut và Cadacstan) Cùng với việcgiải tán khối quân sự Vacsava, Liên bang Nga không những mất đi khu vực đệm chiếnlược giữa Nga và NATO mà còn mất đi nhiều căn cứ quân sự quan trọng ở phía Tây và
16
Trang 24Nam nước Nga, đặc biệt khi NATO đang mở rộng về phía Đông và tiến đến sát biên giớiphía Tây và Tây - Nam nước Nga.
Liên bang Nga là nước vốn có rất ít căn cứ quân sự ở nước ngoài so với các nướclớn khác, cho nên Châu Á - Thái Bình Dương là môi trường tốt nhất để Liên bang Nga,khi cần thiết, có thể triển khai lực lượng quân sự của mình nhằm bảo vệ lợi ích của nướcNga cũng như có thể can dự đến nhiều vấn đề quốc tế khác có liên quan Nga cho rằng:
“Sự hiện diện của hải quân Nga trên vùng biển quốc tế cần phải được mở rộng và chỉtrong trường hợp đó, các đối thủ sẽ tôn trọng nước Nga hơn” Vấn đề này càng có ý nghĩahơn đối với Nga, khi vấn đề tranh chấp biển đảo đang diễn ra gay gắt ở khu vực Châu Á -Thái Bình Dương
Đông Nam Á nằm ở giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nối liền đại lụcChâu Á với Châu Đại Dương, hình thành “ngã tư” giữa hai châu lục, không những là conđường tất yếu cho sự lưu thông giữa Châu Á, Châu Phi, Châu Âu và Châu Đại Dương, màcòn là khu vực vận tải nhộn nhịp giữa Bắc Mỹ, Nam Mỹ với Nam Á Nơi đây có nhiều eobiển quan trọng mang ý nghĩa chiến lược Với tầm quan trọng của mình, Đông Nam Á trởthành một không gian địa chiến lược và địa chính trị vào loại nhạy cảm ở Châu Á - TháiBình Dương Đồng thời, khu vực này cũng là nơi mà sự đan xen và tương tác quyền lựcgiữa các nước lớn rất phức tạp, với trạng thái cạnh tranh quyết liệt, trong khi sự dung hòalợi ích và quyền lực giữa họ cũng thiếu sự ổn định
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, khu vực Đông Nam Á phải đối diện với haitình huống nổi bật Về phương diện quốc tế, những thách thức do chủ nghĩa khủng bố vàmối lo ngại an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng Về phương diện khu vực, đó là
sự nổi lên của Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quân sự cùng với những hành động gây hấncủa quốc gia này tại khu vực Biển Đông, sự can dự của các cường quốc trong và ngoàikhu vực khiến các nước ASEAN phải đương đầu với những thách thức ở cấp độ quốc gialẫn khu vực, bao gồm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Sự can dự ngàycàng một rõ ràng của các cường quốc, nhất là khi cả Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ đều
có chung mục tiêu lựa chọn là Đông Nam Á làm sân chơi thử nghiệm quyền lực vươn xa,xác lập vai trò thế lực toàn cầu Tương tác quyền lực của các nước lớn chắc chắn sẽ nảysinh va chạm hoặc sự thỏa hiệp có thể mang lại cho ASEAN cả thời cơ lẫn thách thức,
Trang 25đồng thời báo trước sự cạnh tranh ảnh hưởng của họ sẽ là một quá trình dài, có tính chấtphức tạp, với nhiều cách thức và chiêu thuật khác nhau.
Tất cả các đối tác lớn của ASEAN, như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ, Nga,Liên Minh Châu Âu (EU) đều đang thực hiện các chính sách hướng về Đông Nam Á vớiquy mô và cường độ mới, phù hợp với biến động nhanh chóng của tình hình quốc tế vàkhu vực, trong đó dành ưu tiên cao và củng cố thúc đẩy quan hệ với ASEAN, ủng hộ xâydựng cộng đồng ASEAN cũng như vai trò trung tâm của hiệp hội trong cấu trúc khu vựcđang định hình, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác nhằm ứng phó các thách thức đang đặt ra
Cũng như nhiều cường quốc lớn trên thế giới đang chuyển hướng về Đông Nam Á,Nga không thể thờ ơ với việc hợp tác và đầu tư phát triển ở một trong những khu vực pháttriển nhanh nhất thế giới hiện nay Đồng thời, sự xấu đi trong quan hê với Mỹ và phươngTây do vấn đề về Ukraine làm cho nhu cầu tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với cácnước khu vực Đông Nam Á đang trở nên thiết thực với Nga Ngoài các lợi ích về kinh tế,tiềm năng và lâu dài, thì vị thế chiến lược của ASEAN chắc chắn không nằm ngoài sựquan tâm của Nga Các nước Đông Nam Á có tiềm năng đóng vai trò đáng kể trong sựphát triển của Xibiri và Viễn Đông Đến lượt mình Nga có vai trò quan trọng đối với việcduy trì hòa bình, an ninh, ổn định và phát triển trong khu vực tiến trình ASEAN hội nhập
và phát triển cộng đồng chung, sự tham gia của Nga vào các diễn đàn khu vực do ASEANđóng vai trò trung tâm đã làm tăng giá trị, tầm quan trọng của ASEAN
1.2 Khái quát lịch sử mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga
1.2.1 Quan hệ Việt Nam - Liên Xô kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến trước năm 1991
Quan hệ Việt Nam - Liên Xô được xây dựng và phát triển trên nền tảng quan hệ vềchính trị giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô Hai bên đã chínhthức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 30/1/1950 Đây là một dấu mốc quan trọngtrong đường lối đối ngoại của Việt Nam Với việc được Trung Quốc, Liên Xô là nhữngnước đầu tiên và sau đó là các nước XHCN khác lần lượt công nhận và thiết lập quan hệngoại giao, Việt Nam đã phá được thế bao vây cô lập về mọi mặt của đế quốc thực dân,nhất là về chính trị Tại các diễn đàn quốc tế như Liên Hợp Quốc, với tư cách là mộtcường quốc ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, một đồng chủ tịch Hội nghị Geneva về
Trang 26Việt Nam, Liên Xô đã quyết lên án hoạt động phá hoại Hiệp định của bọn đế quốc và taysai, yêu cầu thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định, tiến tới Tổng tuyển cử
và thống nhất đất nước Mối quan hệ chặt chẽ đặc biệt giữa hai nước được thể hiện trongcác lĩnh vực chính trị, kinh tế, kỹ thuật, quân sự, giáo dục, đặc biệt nhân dân Việt Nam vàthế giới đều biết đến Liên Xô là người anh cả, nhà viện trợ lớn đối với công cuộc khángchiến giành độc lập và xây dựng đất nước của Việt Nam
Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô, cũng là thời kỳ nhân dân ViệtNam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đây là thời kỳ diễn ra nhiều biếnđộng phức tạp trong quan hệ quốc tế Đó là sự bất đồng ngày càng nghiêm trọng giữa cácđảng cầm quyền trong các nước xã hội chủ nghĩa về chiến lược và sách lược cách mạng,
sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào khôngliên kết trong khung cảnh căng thẳng của chiến tranh lạnh Đông - Tây Bối cảnh quốc tế
đó đã tác động khá sâu sắc tới quan hệ Việt Nam - Liên Xô Song nhờ những nỗ lực chungcủa lãnh đạo hai nước, đặc biệt là phía Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Liên Xô từng bướcđược xây dựng vững chắc và phát triển ngày càng toàn diện trên cơ sở các hiệp định, hiệpước và nghị định song phương Ngày 12/7/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm hữu nghịchính thức Liên Xô lần đầu tiên với tư cách nguyên thủ quốc gia Trong dịp này, hai nước
đã ký các hiệp định hợp tác, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho các quan hệ hợp tác cụ thểnhiều mặt của Việt Nam với Liên Xô Về phía Liên Xô, chuyến thăm Việt Nam của Chủtịch Xô Viêt tối cao Liên Xô Vorosilov năm 1957, chuyến thăm của Bộ trưởng Liên XôA.N Kosyghin ngày 6/2/1965…Trong khoảng 20 năm, từ tháng 7 năm 1955 đến hết năm
1975, Chính phủ Liên Xô đã ký với Chính phủ Việt Nam 19 Hiệp định, 1 Hiệp ước và 1Nghị định thư Trong đó có trên 50% là hiệp định về việc Liên Xô viện trợ, giúp đỡ ViệtNam trong hầu hết các lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và khoa học, kỹthuật …để Việt Nam thực hiện các kế hoạch khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, tăngcường tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắnglợi [32, tr57-60]
Năm 1975, Việt Nam hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, chínhthức xây dựng một nhà nước Việt Nam thống nhất theo con đường XHCN Quan hệ ViệtNam - Liên Xô vẫn không ngừng được củng cố và phát triển Ngày 3 tháng 11 năm 1978,
Trang 27hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện Xô - Việt Đây được coi là đỉnh caocủa sự hợp tác Xô - Việt và đánh dấu một sự kiện quan trọng trong chính sách đối ngoạicủa Việt Nam Quan hệ hai nước phát triển về mọi mặt: quan hệ giữa hai Nhà nước, haiĐảng, quan hệ kinh tế thương mại, hợp tác về khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo… Hiệpước này, về sâu xa, nhằm bảo vệ cho Việt Nam với tư cách là đồng minh chiến lược củaLiên Xô Cũng theo đó, Việt Nam cho Liên Xô thuê cảng Cam Ranh trong 25 năm chođến năm 2004 để làm căn cứ quân sự, trạm theo dõi trên biển, duy trì sự có mặt chiếnlược ở khu vực Đông Nam Á, đối trọng với các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippin Đốivới Việt Nam sự hiện diện của lực lượng hải quân Liên Xô trên lãnh thổ của mình giúpViệt Nam đảm bảo an ninh trên biển, chống lại những mối đe dọa quân sự từ Mỹ, TrungQuốc…
Cũng trong giai đoạn này hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư giữa Việt Nam vàLiên Xô không ngừng phát triển Trong khi Việt Nam thực hiện các kế hoạch 5 năm (1976
- 1981), (1981 - 1985), Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam về nguồn vốn để phát triểnnông nghiệp, xúc tiến công nghiệp hóa và tạo điều kiện cho Việt Nam xuất khẩu các sảnphẩm nông sản nhiệt đới, hàng công nghiệp và thủy sản như gạo, cà phê, hồ tiêu, than đá,dầu khí, sắt, cá ngừ…Trong khi đó Việt Nam nhập khẩu của Liên Xô các sản phẩm côngnghiệp như máy móc, thiết bị dùng cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp Trong giaiđoạn này một loạt các công trình công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp và hệ thống giao thôngvận tải của Việt Nam cũng được xây dựng nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô như: Thủyđiện Hòa Bình, cầu Thăng Long, Cung Văn hóa hữu nghị Việt - Xô, bảo tàng Hồ ChíMinh và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà máy xi măng Bỉm Sơn…Nhiều dự án khai thácdầu khí cũng được triển khai góp phần giúp Việt Nam phát triển được kinh tế, dần thoátkhỏi những khủng hoảng về kinh tế sau chiến tranh Đặc biệt, Liên Xô đã nhận đào tạohàng vạn cán bộ, sinh viên, công nhân quốc phòng, cán bộ kỹ thuật của Việt Nam Rấtnhiều trong số họ hiện đã trở thành những nhà lãnh đạo của chính trị, giáo dục, kinh tếhàng đầu của Việt Nam
Tóm lại, quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1950 - 1991) có thể coi là hình mẫu củaquan hệ quốc tế giữa các nước XHCN trong thế kỷ XX Đặc biệt trong hoàn cảnh ViệtNam gặp nhiều khó khăn, sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình và đầy hiệu quả về chính trị, kinh
Trang 28tế và quân sự của nhân dân Liên Xô dành cho nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấutranh giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước đã góp phần quan trọng giúp nhân dânViệt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng với Đại thắng mùa Xuân năm 1975 Trong công cuộcxây dựng lại đất nước sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục nhận được sự giúp đỡ to lớn vàtoàn diện của Liên Xô Hàng chục ngàn cán bộ, chuyên gia Việt Nam được đào tạo tạiLiên Xô đã trở thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc đổi mới của Việt Nam Với sự
hỗ trợ của Liên Xô, các ngành chủ chốt của nền kinh tế quốc dân Việt Nam như nănglượng, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật, văn hóa - giáo dục đã được xâydựng và không ngừng phát triển, phục vụ đắc lực cho công cuộc kiến thiết đất nước Bướcvào những năm cuối của thập niên 80 do những sai lầm trong đường lối lãnh đạo củaGorbachev dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô Sự kiện này đã ảnh hưởng sâusắc đến mối quan hệ hai nước Tuy vậy, mối quan hệ thủy chung nghĩa tình giữa Việt Nam
và Liên Xô mãi mãi trong lòng nhân dân hai nước và là nền móng cho mối quan hệ ViệtNam - Liên bang Nga sau này
1.2.2 Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga giai đoạn 1991 - 2000
Trước đây, quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô được đặt lên hàng đầu, là “ hòn đátảng” Quan hệ Việt - Nga là mối quan hệ vừa kế thừa những đường hướng chính trongquan hệ Việt - Xô, vừa có những thay đổi về chất và trải qua một số giai đoạn phát triển:
Giai đoạn thứ nhất, từ cuối năm 1991 đến 1993 - Ngưng trệ tạm thời
Vào cuối năm 1991, Liên Xô giải thể, 15 nước cộng hòa thành viên của Liên Xôbước ra vũ đài quốc tế với tư cách những quốc gia độc lập, có chủ quyền, chủ thể pháp lýquốc tế được các nước khác thừa nhận Riêng Liên bang Nga với tư cách “quốc gia kếtục”, trở thành nước kế thừa Liên Xô trong các mối quan hệ quốc tế, trong đó có quan hệvới Việt Nam Nhưng cũng từ đây tính chất quan hệ Việt - Nga thay đổi sâu sắc Đây làthời kỳ khó khăn nhất trong quan hệ hai nước, khi mối quan hệ này rơi vào trạng tháingưng trệ, suy giảm mạnh trên tất cả các lĩnh vực Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn trướchết từ việc cả hai bên đều xác định lại các lợi ích quốc gia và các ưu tiên đối ngoại
Những năm này, Nga theo đuổi chính sách đối ngoại “ Định hướng Đại Tây Dương ”, coi
việc cải thiện và phát triển quan hệ với Mỹ và các nước tư bản phát triển phương Tây là
ưu tiên số một Việt Nam đã điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng đa dạng hóa, đa
Trang 29phương hóa, trong đó đặt ưu tiên hàng đầu cho việc cải thiện quan hệ với các nước lánggiềng, các nước trong khu vực Ngoài ra, sự thụ động của cả hai nước trước những thayđổi quá nhanh của tình hình quốc tế, mà hệ quả là trong khi cơ chế quan hệ truyền thống
bị đổ vỡ thì cơ chế mới chưa kịp thiết lập đã cản trở quan hệ hai bên phát triển
Trong lĩnh vực kinh tế - thương mại: Khối lượng buôn bán Việt - Nga tụt giảm mộtcách chưa từng thấy, năm 1992 còn gần 10% so với kim ngạch mậu dịch Việt - Xô năm
1990, năm 1993 đạt 135,4 triệu USD [8,tr1]
Ngoài quan hệ kinh tế, các mối quan hệ khác giữa hai nước cũng chỉ được xúc tiến
ở mức thấp và nhiều khi mang tính hình thức Trên diễn đàn quốc tế, sự phối hợp giữa các
nỗ lực ngoại giao và việc tham khảo quan điểm lẫn nhau về các vấn đề quốc tế và khu vựccũng bị gián đoạn và ngưng trệ Thậm chí, trong quan hệ chính trị đôi lúc có những trởngại Một số thế lực thù địch chống Việt Nam, lợi dụng địa bàn Nga hòng thực hiện âmmưu “ diễn biến hòa bình” với Việt Nam, kích động gây chia rẽ cộng đồng người Việt tạiNga
Tuy vậy, ngay ở giai đoạn này cả Việt Nam và Nga đều đã nhận thấy sự bất cập vàbất lợi do mối quan hệ bị ngưng trệ Cho nên, đã bắt đầu xuất hiện những nỗ lực đầu tiên
từ hai phía nhằm khôi phục quan hệ
Bắt đầu là chuyến thăm Nga của Phó thủ tướng Trần Đức Lương năm 1992; cuốitháng 7/1992, Phó Thủ tướng Nga Makharadze sang thăm Việt Nam và đã chuyển thư củaTổng thống B.Yelstin gửi Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhấn mạnh Nga tiếp tục mọi cam kếtcủa Liên Xô với Việt Nam Tháng 5/1993, Phó Thủ tướng Nga Y.Iarov sang Việt Nam, dựkhóa họp lần thứ 2 Ủy ban liên chính phủ về hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học, kĩthuật Hai bên ký hiệp định về việc Nga kế thừa Hiệp định hợp tác thăm dò, khai thác dầukhí mà Liên Xô ký với Việt Nam năm 1981 và các hiệp định về hàng không, hàng hải vàđánh thuế hai lần Tháng 10/1993, Bộ Trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm sang thămNga, hai bên đã ký các hiệp định về hợp tác văn hóa, khoa học kỹ thuật và đi lại của côngdân Trong thời gian này, Nga đang bắt đầu điều chỉnh chính sách đối ngoại, chú trọnghơn đến hướng Châu Á - Thái Bình Dương và các bạn hàng cũ tại khu vực
Trang 30Giai đoạn thứ hai từ năm 1994 đến năm 1996 - Quan hệ từng bước ấm dần
Với nét đặc trưng tiêu biểu, đó là các nỗ lực mang tính đột phá nhằm tạo dựngkhuôn khổ pháp lý mới đáp ứng được nhu cầu phát triển mối quan hệ của hai nước trongtình hình mới Nhờ vậy, hợp tác Việt - Nga mới bắt đầu khởi tiến nhiều bước tích cực vàthực tế hơn Sự kiện mang ý nghĩa cột mốc đánh dấu, một giai đoạn mới trong quan hệcủa hai nước là việc thăm chính thức đầu tiên của Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, sangNga với việc ký kết hiệp ước với những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ hữu nghị giữaCộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Bang Nga (tháng 6/1994), hiệp ước này đã
dỡ bỏ được cản trở pháp lý chủ yếu vốn kìm hãm quan hệ hai nước, mở đường cho hợptác phát triển, trong lĩnh vực kinh tế thương mại, khoa học - kỹ thuật
Những cố gắng của Việt Nam và Nga nhằm đưa kinh tế, thương mại vượt ra khỏitình trạng ngưng trệ đã đem lại một số kết quả ban đầu Kim ngạch mậu dịch năm 1994đạt 378,9 triệu USD gần gấp đôi so với mức 204,9 USD năm 1992, năm 1995 đạt 453USD, năm 1996 do bị cắt giảm một số hàng hóa đặc biệt, nên giảm xuống còn 280 USD.Hợp tác liên doanh sản xuất có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế hai nước, nổibật phải kể đến liên doanh dầu khí Vietsovpetro Năm 1994, liên doanh này khai thácđược 7 triệu tấn dầu thô, năm 1996 đạt 8,2 triệu tấn, đến tháng 10 năm 1997 đã khai tháctấn dầu thứ 50 triệu Tổng doanh thu bán dầu từ năm 1991 đến tháng 7/1997 đạt khoảng6,3 tỉ USD, trong đó nộp ngân sách nhà nước Việt Nam khoảng 3,4 tỉ USD [8, tr3]
Trong lĩnh vực chính trị, số lượng các đoàn ở các cấp của hai bên đi thăm, làm việctăng gấp hơn hai lần so với giai đoạn 1991- 1993 Nga và Việt Nam đã tiến hành thămkhảo ý kiến nhằm kết hợp hoạt động ngoại giao trong một số diễn đàn quốc tế và khu vựcnhư liên hợp quốc và ARF
Hợp tác quân sự Việt - Nga có dấu hiệu khai thông một bước từ sau chuyến thămNga của Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (3/1994) Trước đó, phíaNga đề xuất hợp tác quân sự giữa Bộ Quốc Phòng hai nước gồm: Công nghiệp quốcphòng, trao đổi đoàn, tư vấn quân sự, huấn luyện xây dựng lực lượng, đảm bảo hậu cầntác chiến và kỹ thuật, thông tin liên lạc, vận hàng, sửa chữa cải tiến thiết bị kỹ thuật hiện
có, đào tạo quân nhân…Trong lĩnh vực văn hóa, khoa học - kỹ thuật, giáo dục cũng từngbước được cải thiện
Trang 31Giai đoạn thứ ba từ năm 1997 đến năm 2000
Hai bên cũng nỗ lực theo hướng đưa quan hệ Việt - Nga lên đến tầm chiến lược lâudài và ổn định Tháng 3/1997, Tổng thống Nga B.Yelstin lần đầu tiên trong Thông điệpđầu năm nhấn mạnh tăng cường quan hệ với Việt Nam Tại khóa họp lần thứ V Ủy banliên chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học kỹ thuật (9/1997), Nga ký thỏathuận tiếp tục đẩy mạnh việc cung cấp cho Việt Nam theo con đường của Tổng công tyxuất nhập khẩu kỹ thuật công nghiệp (Tekhnopromeksport) các thiết bị cho nhà máy thủyđiện Yaly, phụ tùng thay thế cho nhà máy nhiệt điện Phả Lại Phía Nga còn nêu ra các dự
án đầu tư mới vào nhiều lĩnh vực kinh tế Việt Nam như Thủy điện Sơn La, Hàm Thuận
-Đa Mi, Sông Hinh, Playcu… Hai bên đã tổ chức cuộc đàm phán lần thứ nhất về các vấn
đề nợ (11/1997) tại Moscow và ký văn bản công nhận số nợ của Việt Nam với Nga
Mốc quan trọng nhất đánh dấu bước chuyển biến cơ bản về việc lập trường củamỗi bên là chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam lần đầu tiên của Thủ tướng NgaV.Chernomyrdin (11/1997) Thủ tướng V.Chernomyrdin tuyên bố Nga coi Việt Nam là đốitác chiến lược, quan hệ Nga - Việt là một trong những hướng ưu tiên chính sách đối ngoạicủa Nga Lãnh đạo Việt Nam cũng khẳng định chủ trương luôn coi trọng việc củng cố vàphát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và sự hợp tác nhiều mặt với Nga là địnhhướng chiến lược lâu dài của nhà nước Việt Nam Tuyên bố chung giữa hai chính phủkhẳng định tiếp tục hợp tác trên một loạt lĩnh vực như công nghiệp dầu khí, năng lượng,khai thác tài nguyên, cơ khí, luyện kim, điện tử, đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp nhẹ,công nghiệp hóa chất, vi sinh, dược phẩm, nông nghiệp và chế biến nông sản, đánh cá vàchế biến hải sản, giao thông vận tải, bưu điện và hàng không, xây dựng và bảo vệ môitrường, bảo vệ sức khỏe, khoa học - công nghệ và đào tạo, du lịch, văn hóa… Hai bêncũng nhất trí cho việc hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp hai nước cùng phát triển trên các dự
án mới về dầu khí tại Việt Nam, Nga hoặc nước thứ ba
Trong lĩnh vực chính trị, trong các năm 1997 - 2000, Việt Nam và Nga đẩy mạnh
sự tham khảo ý kiến và phối hợp hành động trên nhiều diễn đàn quốc tế Tại Liên hợpquốc và các tổ chức liên hợp quốc, hai nước thường xuyên trao đổi ý kiến, ủng hộ các ứng
cử viên của nhau tham gia vào cơ cấu điều hành, Nga đã ủng hộ Việt Nam tham gia vào
Trang 32Hội đồng kinh tế - xã hội liên hợp quốc (ECOSOC) trên cương vị phó chủ tịch Với vaitrò điều phối viên của Việt Nam, Nga thuận lợi hơn trong việc đối thoại với ASEAN Hainước có nhiều cuộc tiếp xúc hữu ích trong việc tham khảo kinh nghiệm và phối hợp hànhđộng để cùng trở thành thành viên chính thức của APEC vào tháng 11/1998.
Trong khung cảnh quan hệ Việt - Nga được củng cố tích cực, chuyến thăm hữunghị chính thức đầu tiên của Chủ tich nước Trần Đức Lương (8/1998) sang Nga đã gópphần thúc đẩy quan hệ hai nước lên bước phát triển cao hơn Chủ tịch nước Trần Đức
Lương nhấn mạnh “Một trong những hướng ưu tiên chiến lược trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là tiếp tục củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và sự hợp tác nhiều mặt trên cơ sở ổn định lâu dài và cùng có lợi với Liên Bang Nga” [33, tr1] Phát biểu tại cuộc chiêu đãi chủ tịch nước Trần Đức Lương và đoàn đại
biểu Việt Nam đang thăm ở Nga, Tổng thống B.Yelstin sau khi đánh giá cao truyền thốngquan hệ hữu nghị Nga - Việt, đã xác định Việt Nam là đối tác chiến lược của Nga ở ĐôngNam Á Sự gặp gỡ của nhu cầu hợp tác và quyết tâm chính trị nhằm tăng cường quan hệhai nước được thể hiện nổi bật trong tuyên bố chung Việt - Nga do Chủ tịch nướcTrầnĐức Lương và Tổng thống B.Yelstin ký ngày 25/08/1998 Nội dung cơ bản của văn kiệnquan trọng này khẳng định lập trường chung của hai nước trong việc đẩy mạnh quan hệtruyền thống, nhiều mặt và có quy mô lớn; thực hiện sự đối tác bình đẳng, tin cậy nhằmphối hợp hành động, chiến lược giữa hai nước
Như vậy, quan hệ Việt - Nga từ khi kế thừa quan hệ Việt - Xô đến thời điểm bướcsang thế kỷ mới đã trải qua các giai đoạn phát triển thăng trầm, phản ánh sự điều chỉnh vàlựa chọn các hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mỗi nước Sự đứt đoạn độtngột của quan hệ Xô - Việt, những đảo lộn phức tạp về chính trị, kinh tế - xã hội ở Nga và
sự suy giảm ở mức độ lớn mối quan tâm lẫn nhau đã tạo ra tình trạng ngưng trệ quan hệhai nước trong những năm đầu thế kỷ XX Tình trạng đó gây phương hại nhất định đếnlợi ích của mỗi bên và đặt cả hai nước trước yêu cầu cấp thiết phải củng cố, đổi mới mốiquan hệ Với những nỗ lực chung, nhất là sự chủ động của Việt Nam, quan hệ Việt - Nga
có xu hướng ngày càng được củng cố một cách rõ nét Tuy nhiên, trong vận động của mốiquan hệ Việt - Nga, đặc điểm nổi bật là tính vượt trước của lĩnh vực chính trị so với hợptác kinh tế - thương mại Mặc dù còn nhiều trở ngại như đã nêu, song quan hệ Việt - Nga
Trang 33từ năm 1991, đặc biệt là những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đã tạo ra những tiền
đề quan trọng để xác lập quan hệ đối tác chiến lược
1.3 Vị trí, vai trò của Việt Nam, Liên bang Nga trong chính sách của mỗi nước.
Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực tan vỡ, tình hình thế giới có nhiềubiến đổi sâu sắc, phức tạp Tình hình lại càng trở nên phức tạp, khó lường hơn kể từ sau
vụ tấn công khủng bố vào nước Mỹ ngày 11/9/2001 khiến nhiều nước phải điều chỉnhchính sách đối ngoại của mình, trong đó có Việt Nam và Liên bang Nga, nhằm tìm kiếm
và xác lập cho mình một vị trí quốc tế có lợi nhất Trong quan hệ giữa các quốc gia dântộc, vấn đề cơ bản nhất, bao trùm nhất là lợi ích Lợi ích của các quốc gia dân tộc là nộidung ưu tiên hàng đầu trong quá trình hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại củamột nhà nước Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều ưu tiên cho mục tiêu phục vụphát triển kinh tế trong chính sách đối ngoại của mình Việt Nam và Nga cũng nằm trongtính tất yếu đó của đối ngoại
Mặc dù trong chính sách đối ngoại của hai nước không hoàn toàn giống nhau,nhưng Việt Nam và Nga tìm thấy những thuận lợi, những giá trị lợi ích của mình trongviệc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với nhau trong giai đoạn hiện nay
1.3.1 Vị trí, vai trò của Liên bang Nga trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Lợi ích dân tộc chân chính của Việt Nam trong đối ngoại hiện nay là giữ vững hòabình, tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi nhằm phục vụ thành công sự nghiệp xây dựngchủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và
an ninh quốc gia
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã khẳng định những quan
điểm cơ bản trong chính sách đối ngoại đổi mới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển [5] Trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam đã xác
định rõ: mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, trong đó có Liên bang Nga là
Trang 34một trong những hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay Trong điềukiện quá trình toàn cầu hóa sôi động và phức tạp hiện nay, Việt Nam xác định quan điểm cần
phải chú trọng đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã khẳng định trong chuyến thăm Nga năm 2008:“Việt Nam coi trọng quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác toàn diện với Liên bang Nga là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình Việt Nam mong muốn Nga phát triển vững mạnh, giữ vai trò trong những cường quốc hàng đầu, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới” [36, tr 1] Ngoài ra, trong bối cảnh phấn đấu hoàn thành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020, Việt Nam cần tranh thủ yếu tố bên ngoài thuận lợi đểphục vụ cho mục tiêu này trong đó không thể không tính đến vai trò của Nga Cho đến nay,một số ngành công nghiệp then chốt của Việt Nam vẫn là các cơ sở do Liên Xô đã giúp ViệtNam xây dựng trước đây Những công trình lớn và có hiệu quả nhất như Vietsovpetro chiếm90% sản lượng khai thác dầu hàng năm của Việt Nam, Nhà máy thủy điện Hòa Bình, Nhàmáy tuyển quặng Apatit Lào Cai … đang phát huy hiệu quả tốt Việt Nam có nhu cầu lớn vềbảo dưỡng, nâng cấp thiết bị máy móc cho những công trình này Nga là một thị trường rộnglớn, có nhu cầu tiêu thụ hàng hóa lớn, yêu cầu về chất lượng hàng hóa tuy không còn nhưtrước nhưng cũng không phải là quá cao so với khả năng thực tế của Việt Nam Việt Nam cóthể đẩy mạnh phát triển buôn bán làm ăn với vùng Viễn Đông của Nga Việt Nam có một độingũ trí thức và công nhân lành nghề được học tập và đào tạo ở Nga Họ có sự hiểu biết vànhững tình cảm hữu nghị đặc biệt đối với Nga Vì vậy, họ có nhu cầu và mong muốn ViệtNam khôi phục, phát triển có quan hệ với Liên bang Nga và điều này rất có lợi cho cả ViệtNam và Liên bang Nga
Đối với Việt Nam, cân bằng quan hệ với các nước lớn là một trong những trọngtâm trong chính sách đối ngoại Lợi ích về chính trị trong quan hệ với Nga là lợi ích chiếnlược đáng kể đối với chúng ta Dù kinh tế Nga chưa phát triển cao, nhưng Nga là mộttrong những nước có tiếng nói quyết định trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc Nga cótiềm lực quân sự, Nga có nền khoa học công nghệ khá cao và đang dẫn đầu thế giới trongmột số lĩnh vực như chinh phục vũ trụ… Nga là nước duy nhất trên thế giới có thể tự bảođảm tài nguyên khoáng sản và năng lượng cho sự phát triển lâu dài Hơn nữa, trong lịch
sử cũng như hiện tại, đối với Việt Nam, quan hệ với Nga là mối quan hệ không có xung
Trang 35đột, mâu thuẫn lớn, không bị cạnh tranh nhau trong bất cứ lĩnh vực nào mà lại có truyềnthống hữu nghị lâu dài Phát triển quan hệ tốt đẹp với Nga, sẽ tạo thuận lợi cho chúng tatrong quan hệ với các nước lớn trong khu vực và thế giới như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản,Anh, Pháp, Ấn Độ từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Trên cácdiễn đàn quốc tế và khu vực, Nga và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng như đều muốnthúc đẩy một thế giới hòa bình, ổn định, công bằng và dân chủ hơn.
Đặc biệt, trong khi tình hình ở Biển Đông đang diễn biến phức tạp, thì Việt Namcần quan hệ với Nga như một “liên minh mở” để bù đắp sự bất lợi cân bằng về quyền lực
và đây là điều hiển nhiên trong ứng xử quan hệ với Trung Quốc khi các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa ở Biển Đông đang bị các bên tranh chấp Do đó, thúc đẩy quan hệ vớiNga sẽ có lợi cho việc giải quyết tranh chấp ở biển Đông Mặt khác, Nga là nhà cung cấp
vũ khí lớn của Việt Nam Với mối quan hệ truyền thống, tin tưởng lẫn nhau Nga có thểbán cho Việt Nam những loại vũ khí hiện đại mà không cần bất kỳ một điều kiện gì Từ
đó, Việt Nam có thể củng cố sức mạnh quốc phòng để tự bảo vệ mình trước những thế lựcthù địch, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi tình hình Biển Đông đầy phức tạp
Cộng đồng người Việt Nam ở Nga hiện nay có số lượng đông đảo, phần lớn trong
số này là những công nhân sang làm việc theo các hiệp định hợp tác lao động được ký kếtgiữa Việt Nam và Liên Xô trước đây, ngoài ra là số sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứusinh khoa học Tuyệt đại đa số cộng đồng người Việt ở Nga là những người làm ăn chânchính, tích cực lao động, có nhiều đóng góp hướng về Tổ quốc Vì vậy, Việt Nam cần thúcđẩy quan hệ với Nga, tăng cường trao đổi với Nga nhằm tạo điều kiện cho cộng đồngngười Việt sinh sống và làm ăn một cách ổn định, hợp pháp Một điều thực tế là trongnhững năm chuyển đổi kinh tế, chính hoạt động kinh tế thương mại của cộng đồng ngườiViệt này đã góp phần bù đắp những hẫng hụt trong buôn bán giữa hai nước Khôi phục vàtăng cường quan hệ Việt - Nga, ngoài việc góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mạigiữa hai nước phát triển, còn bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho cộng đồng người ViệtNam ở Nga Việt Nam cũng mong muốn thông qua việc thúc đẩy quan hệ với Nga để bày
tỏ một thông điệp về sự tôn trọng và tình cảm thủy chung trong quan hệ với các nước bạn
bè truyền thống Phát triển tốt quan hệ Việt - Nga trong khuôn khổ đối tác chiến lược sẽ là
Trang 36yếu tố quan trọng giúp Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác với các nước ở Trung, Đông
chính sách đối ngoại của mình Nội dung điều chỉnh lớn đó là: Từ “Định hướng Đại Tây Dương” chuyển sang “Định hướng Á - Âu”, trong đó Nga tích cực triển khai chính sách đối ngoại với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Trong Chiến lược an ninh quốc gia (20/01/2000), Học thuyết quân sự của Liên bang Nga (21/04/2000) và Chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga được công bố ngày 26/08/2000 có ghi rõ: “Một đường lối đối ngoại thành công của nước Nga phải được xây dựng trên cơ sở tuân thủ sự cân bằng giữa các mục tiêu và khả năng đạt được các mục tiêu đó Liên bang Nga sẽ theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập và xây dựng chính sách đó dựa trên sự nhất quán, có thể thấy trước và chủ nghĩa thực dụng cùng có lợi Chính sách đó phải hoàn toàn rõ ràng, có tính lợi ích hợp pháp của các nước và nhằm tìm kiếm những giải pháp chung” Khác với
người tiền nhiệm Yeltsin, Tổng thống Putin đã xác định rõ vị thế, vai trò, sức mạnh hiện
có của nước Nga trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực có nhiều thay đổi Ông thựchiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, thực dụng hơn Một mặt Nga vẫnquan hệ với các nước Châu Âu nhưng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được điệnKremlin đặc biệt quan tâm và xác định đây là khu vực chiến lược quan trọng, có nhiều lợiích đối với Nga Nga cho rằng, tăng cường hợp tác với các nước Châu Á - Thái BìnhDương có thể phát huy cả về phương diện đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế Theođịnh hướng đó, Liên bang Nga chủ trương tích cực hội nhập vào tất cả các cơ chế đốingoại của khu vực (ASEAN, ARF, APEC, ), mở rộng mối quan hệ hữu nghị và hợp tácvới các nước trong khu vực, trong đó không thể không kể đến Đông Nam Á
Trang 37Việt Nam từ trước tới nay luôn có một vị trí nhất định trong chính sách đối ngoạicủa Liên Xô trước đây cũng như Liên bang Nga hiện nay ở khu vực Châu Á -Thái BìnhDương Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nga đối với khu vực này là tiền đề quantrọng để Nga có thể lấy lại vị thế cường quốc Á - Âu của mình Với tính toán như vậy,Liên bang Nga coi trọng mối quan hệ với Việt Nam và xác định Việt Nam có một vị tríquan trọng trong chính sách đối ngoại của Nga ở khu vực này Trong kỳ họp thứ 7 Ủy ban
liên Chính phủ Việt Nam - Liên bang Nga (12/2000), Nga khẳng định: “Việt Nam là đối tác chiến lược của Nga, có vị trí quan trọng ở Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương”[30, tr5] Trước khi ký tuyên bố chung với Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Tổng thống Nga Putin khẳng định: “Việc phát triển mối quan hệ trên tất cả các mặt với Việt Nam được chúng tôi coi là một trong những hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga ở Châu Á” [29, tr 1&5] Trong bản “Những định hướng cơ bản chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” được Tổng thống Dmitry Medvedev thông qua (12/
07/2008), Tổng thống đã phát biểu cơ bản là kế tục và phát triển chính sách đối ngoạidưới thời Tổng thống Putin, trong đó lần đầu tiên kể từ thời Yeltsin, Việt Nam được đềcập đích danh trong “Định hướng chính sách của nước Nga tại Đông Nam Á” như sau:
“Chính sách của Nga hướng tới tăng cường tính năng động, tích cực trong quan hệ đối với các quốc gia Đông Nam Á, trước hết là phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam”.
Trong thông điệp Liên bang 2015 của Tổng thống Putin, một lần nữa Việt Nam lạiđược ông nhắc đến trong văn kiện quan trọng này chứng tỏ Việt Nam luôn có một vị trí,
vai trò quan trọng trong chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga.“Chúng ta đã vươn lên một trình độ mới về chất trong việc phối hợp hành động trong khuôn khổ liên minh kinh
tế Á - Âu (Eurasia) Chúng ta đã thành lập được không gian thống nhất cho sự trung chuyển tự do các nguồn vốn, hàng hoá, sức lao động; đã đạt được thoả thuận có tính nguyên tắc về việc kết nối liên kết Á - Âu với sáng kiến Con đường Tơ lụa, Vành đai Kinh
tế của Trung Quốc; đã thành lập hành lang mậu dịch với Việt Nam.”[35]
Về địa - chiến lược, Việt Nam có một vị trí quan trọng ở Đông Nam Á Từ địa bànViệt Nam có thể kiểm soát những tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng qua biểnĐông Chính vì vậy gần một nửa thế kỷ qua Việt Nam luôn là nơi tranh giành ảnh hưởng
Trang 38của các nước lớn Như vậy, với Nga, rõ ràng việc thúc đẩy quan hệ chiến lược với ngườibạn truyền thống Việt Nam là một đích quan trọng để Nga xác lập lại vị trí của mình làmột đối tác quan trọng trong khu vực Đông Nam Á giữa lúc Mỹ, Liên minh Châu Âu,Nhật Bản và Trung Quốc cũng đang có ảnh hưởng đối với khu vực này Hay nói cáchkhác, Nga có thể xem “yếu tố Việt Nam‟‟ là cản trở của Bắc Kinh nếu như Việt Namquan hệ với Nga hoặc Mỹ, Nhật…Khi đó Trung Quốc sẽ mất thế chủ động ở khu vực này.Đây là một hướng quan trọng trong chiến lược giành lại và phát huy vai trò nước lớn củaNga.
Về địa - kinh tế, Việt Nam nằm trong khu vực có sự phát triển kinh tế năng độngnhất thế giới hiện nay Mặt khác, sau những nỗ lực vượt bậc Việt Nam đã và đang hộinhập nhanh vào quá trình hợp tác liên kết khu vực, uy tín của Việt Nam trên trường quốc
tế ngày càng được nâng cao, do vậy Việt Nam có thể đóng vai trò là chiếc cầu nối giúpNga mở rộng và phát triển quan hệ với các nước ASEAN cũng như với các nước khác ởkhu vực Châu Á - Thái Bình Dương Trong khi quan hệ của Nga với các nước ASEANcòn hạn chế, trừ mối quan hệ truyền thống với Việt Nam, thì Việt Nam chính là điểm xuấtphát tốt nhất để từ đó Nga có thể vươn ra xa hơn ở khu vực mà Nga coi là một trongnhững hướng ưu tiên trong chiến lược Châu Á - Thái Bình Dương của mình Hơn thế nữa,chính sách đối ngoại của Nga ngày nay trước hết nhằm phục vụ lợi ích phát triển kinh tế.Liên bang Nga có những lợi ích thiết thực trong quan hệ với Việt Nam thông qua hợp táctrong lĩnh vực dầu khí, năng lượng và buôn bán vũ khí Việt Nam là nơi duy nhất màngành dầu khí của Nga có thể cạnh tranh được với các nước phương Tây và đưa lại nhiềuhiệu quả, đồng thời cũng là nơi có hàng ngàn chuyên gia, kỹ thuật viên tay nghề cao vàcác nhà quản lý nhà nước, kinh tế được đào tạo tại Nga trong thời kỳ Liên Xô trước đây
Đó là điều kiện thuận lợi mà Nga không thể có được trong quan hệ với các nước khác ởĐông Nam Á Đặc biệt, trong những năm gần đây Nga chịu sự cấm vận nặng nề từ Mỹ vàPhương Tây do vấn đề Ukraine nên việc Nga mở rộng phát triển kinh tế ở khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương sẽ giúp Nga giải quyết được vấn đề về kinh tế
Tóm lại, những lợi ích cơ bản và chủ yếu nêu trên đối với mỗi nước, đặc biệt là sựgặp gỡ về lợi ích giữa hai nước chính là cơ sở, động lực rất quan trọng thúc đẩy quan hệViệt - Nga phát triển hơn nữa tương xứng với tầm vóc cần có của quan hệ đối tác chiến
Trang 39lược cũng như truyền thống tốt đẹp vốn có của mối quan hệ hữu nghị giữa chính phủ và nhân dân hai nước.
* Tiểu kết chương 1
Có thể nói, bước sang những năm đầu thế kỉ XXI, tình hình thế giới và khu vực cónhững thay đổi to lớn, phức tạp Sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học côngnghệ, xu thế toàn cầu hóa, sự cạnh tranh, hợp tác và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốcgia ngày càng diễn ra mạnh mẽ Xung đột vũ trang và chiến tranh cục bộ vẫn tiếp tục diễn
ra ở nhiều nơi song hợp tác vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội vẫn là
xu thế lớn chi phối đời sống chính trị thế giới Vận động trong bối cảnh quốc tế và khuvực mới cùng với lịch sử mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, cũng như căn cứ vào đặcđiểm tình hình riêng của mỗi nước, Việt Nam và Liên bang Nga đã đưa ra những sáchlược quan trọng để phát triển mối quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai quốc gia, nhằmphục vụ lợi ích quốc gia của mỗi nước trong tình hình mới góp phần vào sự hòa bình, ổnđịnh của thế giới và khu vực
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ VÀ AN NINH - QUỐC PHÒNG GIAI ĐOẠN 2001 – 2015
Mặc dù bị chi phối và tác động mạnh mẽ bởi tình hình quốc tế và khu vực, songvới những nỗ lực cao của lãnh đạo hai nước, quan hệ Việt - Nga (2001 - 2015) đã ngàycàng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với những thành tựu to lớn trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế, dầu khí, năng lượng, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đặc biệt là trong lĩnh
vực chính trị và an ninh - quốc phòng
2.1 Trong lĩnh vực chính trị
Đối thoại và hợp tác chính trị song phương
Để ghi nhận và nâng lên tầm cao mới cho quan hệ song phương, trong chuyếnthăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống V Putin (từ 28/2 - 2/3/2001), hai nước đã ký
Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Liên bang Nga, chính thức xác định khung khổ pháp lý mới cho quan hệ Việt - Nga.
Chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Liên bang Nga đã đánh dấu một
sự kiện quan trọng, xác lập quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước trong thế kỷ XXI
Tổng thống Putin đã nói:“Thật ngu xuẩn nếu vứt bỏ đi quan hệ hữu nghị hợp tác truyền thống Việt - Xô Quan hệ đó không chỉ đơn thuần là ý thức hệ, mà đằng sau đó là lợi ích chiến lược lâu dài của cả hai nước”.[33, tr1] Đối với Việt Nam, đây là hình thức quan hệ
mới, lần đầu tiên được thiết lập giữa Việt Nam với một nước khác Trong chuyến thămnày, hai bên đã ký được nhiều văn bản quan trọng như nghị định thư liên chính phủ vềviệc rà soát cơ sở, điều ước, pháp lý và hiệu lực các hiệp ước, nghị định song phương, cácvăn kiện về mở rộng hợp tác trong lĩnh vực khai thác dầu khí, phối hợp hành động trongtiêu chuẩn hóa, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, trong lĩnh vực liên ngânhàng Hai bên cũng ghi nhận vai trò then chốt của lĩnh vực dầu khí, đồng thời xác địnhcác phương hướng hợp tác kinh tế có triển vọng, nhất là năng lượng điện, tổ hợp côngnghiệp, nghề cá, công nghiệp nhẹ, hóa chất, dược phẩm và thực phẩm, đóng mới và sửachữa tàu, chế tạo máy, vận tải và thông tin, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, dulịch