Thể chế chính trị có một vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi quốc gia, chúng can thiệp dù ít nhiều đến đời sống của mỗi công dân và của mọi người dân khác nằm trong lãnh thổ của một quốc gia. Bởi lẽ, mọi người dân không kể có quốc tịch hay không có quốc tịch đều phải phụ thuộc vào các thể chế chính trị quốc gia. Các thể chế chính trị tác động đến sự lựa chọn cách hành xử của cá nhân và tổ chức, tạo dựng sự ổn định, trật tự và phát triển xã hội.
Vị trí, vai trò của thể chế chính trị thể hiện trước tiên trong mối tương quan, tác động giữa thể chế chính trị và cơ sở kinh tế. Thể chế chính trị là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc. C.Mác đã chứng minh sự quy định của cơ sở hạ tầng đối với thượng tầng kiến trúc. V.I.Lênin trong thời kỳ xây dựng chính sách kinh tế mới đã đưa ra luận điểm kinh điển về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị:
Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, hai là, chính trị không thể không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế. Chính trị bao gồm nhiều bộ phận cấu thành: Quan điểm chính trị, hệ tư tưởng chính trị, hoạt động chính trị thực tiễn. Với tư cách là một bộ phận của chính trị nói chung, thể chế chính trị trong quan hệ với kinh tế chịu sự chi phối của quy luật về sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị không thể không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quan hệ chính trị và kinh tế, có thể nhận thấy tương quan và tác động của thể chế chính trị đối với cơ sở kinh tế ở các khía cạnh sau đây:
- Kinh tế quy định sự hình thành và phát triển của các thể chế chính trị. Cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời của các thể chế chính trị. Các thể chế
chính trị sinh ra trên cơ sở các tiền đề kinh tế. Nhà nước- một thể chế chính trị tổ chức căn bản ra đời do sự xuất hiện của chế độ tư hữu và mâu thuẫn giai cấp. Chế độ tư hữu ra đời, đối kháng giai cấp xuất hiện. Để duy trì trật tự xã hội và thống trị bộ phận xã hội còn lại, giai cấp chiếm ưu thế về kinh tế đã tổ chức ra Nhà nước, trở thành giai cấp thống trị về chính trị, Không riêng gì nhà nước, các thể chế chính trị khác ra đời đều do sự quy định của cơ sở kinh tế.
Đảng phái chính trị không phải là một thể chế chính trị cố hữu của mọi xã hội tồn tại nhà nước. Đảng phái chính trị ra đời trong sự xuất hiện và phát triển của chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa. Giai cấp tư sản khi đã chiếm được ưu thế kinh tế so với giai cấp phong kiến, đã tập hợp thành các đảng phái chính trị để đấu tranh giành quyền lực nhà nước.
Nội dung của thể chế chính trị phản ánh các lợi ích kinh tế. Sinh ra trong một xã hội có mẫu thuẫn giai cấp, thể chế chính trị bao giờ cũng thể hiện trước tiên lợi ích của giai cấp chiếm ưu thế về kinh tế. Các thể chế chính trị trong một nền kinh tế bao giờ cũng phản ánh những lợi ích kinh tế căn bản.
Chẳng hạn, đảng cộng sản, công đoàn là sự phản ánh lợi ích căn bản của giai cấp công nhân [16].
Cơ cấu kinh tế quy định cơ cấu thể chế chính trị. Cơ cấu của thể chế chính trị là hình thức biểu hiện các quan hệ kinh tế, phản ánh cơ cấu kinh tế.
Ví dụ về cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm 80 thế kỷ XX là cơ cấu kinh tế tập trung. Hiến pháp Việt Nam năm 1980 xác định cơ cấu của các thể chế chính trị phản ánh cơ cấu kinh tế đó nên cùng mang tính chất tập trung. Điều này biểu hiện ở các quy phạm của Hiến pháp quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội, tính chất tập thể và hội đồng trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, thể chế Hội đồng Nhà
nước - Chủ tịch nước tập thể. Đến Hiến pháp 1992- Hiến pháp của thời kỳ chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cơ cấu của thể chế chính trị cũng có những biến đổi tương ứng. Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội, vừa là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước, được Hiến pháp mở rộng thẩm quyền trong lĩnh vực hành chính. Thủ tướng chính phủ được tăng thêm nhiều quyền hạn. Hội đồng nhà nước tách thành Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Thể chế Chủ tịch nước cá nhân được tái lập.
Tính chất của các quan hệ kinh tế quy định tính chất của các quan hệ của các thể chế chính trị. Chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh nền kinh tế thị trường hoạt động theo cơ chế tự điều chỉnh của bàn tay vô hình, trong điều kiện đó, nhà nước ít can thiệp vào lĩnh vực kinh tế. Chính phủ, về tính chất là một thể chế can thiệp một cách trực tiếp nhất đến đời sống xã hội.
Nhưng trong thời kỳ này, do tình hình trên, chính phủ có ít quyền, phụ thuộc vào nghị viện. Nhưng khi mức độ tập trung tư bản dù cao, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thay thế chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, thì nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào đời sống kinh tế, trở thành bàn tay điều tiết các quan hệ kinh tế. Cùng với sự thay đổi đó, quan hệ giữa các thể chế chính trị ngày càng thay đổi. chính phủ không còn là cơ quan thuần tuý chấp hành luật của Nghị viện, biến Nghị viện thành cơ quan hoạt động hình thức.
- Thể chế chính trị là kiến trúc thượng tầng của cơ sở kinh tế nhưng nó không phản ánh các quan hệ kinh tế một cách thụ động. Thể chế chính trị có tính độc lập tương đối, có ưu thế nhất định, tác động trở lại kinh tế. Điều này biểu hiện ở những khía cạnh sau:
Các thể chế chính trị nếu không phản ánh đúng quy luật khách quan của kinh tế thì chúng sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển kinh tế. Sự tụt hậu, bảo thủ của các thể chế chính trị so với trình độ phát triển của kinh tế sẽ là yếu tố
lực cản đối với sự tiến bộ xã hội. Điều này thấy rõ ở thời kỳ cuối của chế độ phong kiến. Nhà nước phong kiến là một tác nhân cản trở sự phát triển xã hội vì nó lạc hậu so với các quan hệ sản xuất tư bản vào giai cấp đế chế chủ nghĩa, và chiến tranh đế quốc cũng là lực cản đối với sự phát triển xã hội, vì nó mâu thuẫn với các quan hệ sản xuất đang có xu hướng xã hội hoá ngày càng cao, không thể bó hẹp trong khuôn khổ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Các thể chính trị nếu phản ánh đúng đắn sự phát triển khách quan của các quan hệ kinh tế sẽ là một lực lượng cải tạo xã hội. Nhà nước phong kiến trong thời kỳ đầu của nó đã có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển xã hội vì đã tiến hành giải phóng lao động nô lệ, tạo điều kiện cho các quan hệ sản xuất phong kiến phát triển. Nhà nước tư sản ra đời sau sự sụp đổ của chế độ phong kiến, phản ánh đúng hướng phát triển của các quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa nên nó là một tác nhân chính trị quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Sau Cách mạng Tháng Mười, Nhà nước Xô Viết - Một nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời phù hợp với nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, phù hợp với xu hướng xã hội hơn và sự phát triển ngày càng cao của lực lợng sản xuất. Vì vậy, Nhà Nước Xô Viết đã tạo ra sự sự tự phát thần kỳ của xã hội Xô Viết, trở tấm gương cho các nước xã hội chủ nghĩa và các dân tộc [16].
Giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động muốn giải phóng mình khỏi các quan hệ tư sản và tiểu tư sản, cải tạo các quan hệ kinh tế, làm chủ sở hữu của các tư liệu sản xuất cơ bản, phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường kinh tế, trước hết phải tổ chức mình thành giai cấp thống trị. Trong
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai đoạn giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị , là giai đoạn giành lấy dân chủ. Giai cấp vô
sản sẽ dùng sự thống trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung những công cụ sản xuất vào trong tay Nhà nước tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất lên” [38].
Nhà nước - một thể chế chính trị về tổ chức, giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấp thống trị, là một phương tiện, công cụ để đạt được các mục tiêu kinh tế của giai cấp vô sản.
Như vậy, qua những điều trình bày ở trên, có thể thấy rằng thể chế chính trị sẽ là lực lượng cải tạo xã hội khi phản ánh đúng đắn sự phát triển khách quan của các quan hệ kinh tế, đời sống vật chất của xã hội. Cho nên, việc thiết lập các thể chế chính trị phải tính toán một cách toàn diện đến xu h- ướng hoạt động khách quan của các quan hệ kinh tế, đời sống vật chất của xã hội để phát huy vai trò tích cực của thể chế chính trị đối với sự tiến bộ xã hội.
Ngoài yếu tố kinh tế, thể chế chính trị còn chịu sự tác động của các yếu tố khác trong đời sống xã hội. Một số thể chế chính trị tốt và phát huy được vai trò tích cực trong đời sống của mọi xã hội thì phải có sự phù hợp với các yếu tố của xã hội đó. Yếu tố dặc biệt quan trọng sau kinh tế, tác động đến thể chế chính trị là yếu tố văn hoá. Thể chế chính trị phải phản ánh được văn hoá truyền thống của dân tộc. Văn hoá được thừa nhận là động lực và mục tiêu của sự phát triển. Cho nên, để phát huy vai trò thúc đẩy sự phát triển xã hội, việc xây dựng thể chế chính trị phải tính đến các yếu tố văn hóa.
Không có tự do của một cá nhân trong một dân tộc nô lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:“Tất cả dân tộc toàn thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[39].
Quyền con người ở Việt Nam không chỉ là quyền cá nhân mà là cả quyền dân tộc- bộ phận của quyền con người trong nội dung và mục đích của mình.
Ngoài kinh tế, văn hoá, các thể chế chính trị để có thể đóng vai trò tích cực trong đời sống xã hội còn phải phù hợp với hàng loạt các yếu tố khác như điều kiện quốc tế, đặc điểm quan hệ dân tộc, trình độ phát triển khoa học công nghệ, thậm chí các yếu tố địa lý tự nhiên.
Hoạt động của xã hội loài người được quy định bởi nhiều các định chế khác nhau: Các định chế chính trị và các định chế phi chính trị. Định chế chính trị như phần trên đã phân tích, bao gồm các quy tắc, các tổ chức thực hiện quyền lự nhà nước ở tầm vĩ mô. Các định chế phi chính trị có rất nhiều.
Ví dụ: Như các định chế kinh tế, các định chế giáo dục, y tế, định chế xã hội...
Giữa những định chế chính trị và phi chính trị đều có liên quan mật thiết với nhau, có ảnh hưởng tương hỗ cho nhau. Những thể chế liên quan đến nhà nư- ớc cũng tồn tại các loại rất khác nhau, có thể phân tích thành ba loại chính theo nguyên tắc của sự phân chia quyền lực; Thể chế chính trị, thể chế hành chính và thể chế tư pháp. Thể chế chính trị khác với các thể chế còn lại ở chỗ, các công việc nhà nước do thể chế chính trị điều chỉnh ở tâm vĩ mô hơn, có liên quan đến cách thức tổ chức quyền lực nhà nước. Còn thể chế hành chính và thể chế tư pháp được biết đến trong phạm vi thực hiện quyền lực nhà ước ở tầm vi mô. Sự phân biệt này cũng tương tự như sự phân biệt giữa chính trị với hành chính, và giữa chính trị với tư pháp.
Chính trị là những vấn đề liên quan đến quyền lực của nhiều người trong cộng đồng quốc gia, chúng đặt ra những nguyên tắc tổng quát có tính mục tiêu cho hành chính và cho tư pháp. Nếu như các thể chế chính trị có mục tiêu đặt ra những nguyên tắc tổng quát, phi cá nhân, thì của các thể chế hành chính và của thể chế tư pháp là căn cứ vào đó để áp dụng cho các trường hợp cụ thể. Người ta có khuynh hướng tách biệt hoạt động của quốc gia thành hai bậc: Ở bậc trên là của các thể chế chính trị, bậc dưới phụ thuộc các thể chế hành chính và tư pháp. Sự phân biệt trên chỉ tương đối rõ ràng trên bình
diện lý thuyết, nhiều khi trên thực tế, thể chế chính trị và các thể chế hành chính có quan hệ mật thiết với nhau. Các công chức cao cấp của nhà nước như tỉnh trưởng, bộ trưởng..., hoạt động của họ đều mang trong mình cả chính trị và cả hành chính. Trong nhiều trường hợp, các quan chức hành chính cũng có những quyết định mang tính chất chính trị. Ví dụ như họ ban hành các văn bản điều chỉnh các hành vi chính trị của công dân. Nếu như sự phân biệt giữa thể chế chính trị và thể chế hành chính không được rõ ràng ràng do có sự can thiệp thường xuyên, hoặc ảnh hưởng trực tiếp của hành chính đến chính trị, thì sự phân biệt giữa thể chế chính trị và tư pháp rõ ràng hơn. Bởi lẽ, tư pháp chủ yếu là áp dụng các quy định do các thể chế chính trị ban hành. Chỉ trừ trường hợp đặc biệt trong những vụ việc có tranh chấp giữa các quy định áp dụng, thì tư pháp mới có quyền can thiệp đến sự không rõ ràng của các thể chế chính trị, bằng hoạt động xét xử của tư pháp.