Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú .... Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuố
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN TIẾN ĐẠT
PHÂN TÍCH TUÂN THỦ SỬ DỤNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG,
1 Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
2 Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời tri ân sâu sắc nhất tới
PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà - Trưởng phòng Sau Đại học, Giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội và ThS Lê Thị Uyển -
Trưởng khoa Dược, Bệnh viện Nội tiết Trung Ương, là những người đã hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu, tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ và động viên trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ths Lê Thu Thuỷ và ThS Nguyễn Phương Chi,
các cô đã truyền đạt kiến thức, quan tâm tư vấn và nhiệt tình giúp đỡ tôi từ những ngày đầu thực hiện đề tài đến nay
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, Ban Giám đốc, cán bộ Khoa Dược Bệnh viện Nội Tiết Trung ương cơ sở 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong
suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu và toàn thể các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt kiến thức và dìu dắt tôi trong suốt 5 năm học tại
trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người
luôn cổ vũ, động viên, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Hà Nội, tháng 6 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Tiến Đạt
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Bệnh đái tháo đường 3
1.1.1 Sơ lược về bệnh đái tháo đường và điều trị 3
1.1.2 Gánh nặng do bệnh đái tháo đường 4
1.2 Tuân thủ sử dụng thuốc 4
1.2.1 Khái niệm 4
1.2.2 Vai trò của tuân thủ sử dụng thuốc đối với điều trị 5
1.2.3 Các phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng thuốc 5
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh đái tháo đường 7
1.3.1 Yếu tố nhân khẩu học 8
1.3.2 Yếu tố về lâm sàng 8
1.4 Can thiệp tăng cường tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh đái tháo đường 9
1.4.1 Giải pháp can thiệp 9
1.4.2 Đánh giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp 10
1.5 Một vài nét về Bệnh viện Nội tiết Trung Ương 11
1.6 Tính cấp thiết của đề tài 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 13
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu 13
Trang 52.3.1 Thiết kế nghiên cứu 13
2.3.2 Biến số nghiên cứu 15
2.3.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.3.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 20
2.3.6 Đạo đức nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23
3.1 Kết quả nghiên cứu 23
3.1.1 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú 23
3.1.2 Đánh giá hiệu quả của việc giáo dục cho người bệnh đối với việc tuân thủ sử dụng thuốc 28
3.2 Bàn luận 31
3.2.1 Tuân thủ sử dụng thuốc 31
3.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh ĐTĐ 32
3.2.3 Can thiệp giáo dục người bệnh bởi dược sĩ đến tuân thủ sử dụng thuốc 37
3.2.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 43
4.1 Kết luận 43
4.1.1 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú 43
4.1.2 Hiệu quả của giải pháp can thiệp giáo dục đối với việc tuân thủ sử dụng thuốc 43
4.2 Đề xuất 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể
HIV/AIDS Human immunodeficiency
virus infection / Acquired immunodeficiency syndrome
Hội chứng nhiễm virus (làm) suy giảm miễn dịch ở người
IDF International Diabetes
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các công cụ đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc 6
Bảng 1.2 Một số nghiên cứu can thiệp tuân thủ điều trị trên người bệnh ĐTĐ 11 Bảng 2.3 Các biến số nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu học 15
Bảng 2.4 Các biến số nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, điều trị 16
Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu về đặc điểm kiến thức của người bệnh 18
Bảng 2.6 Tính điểm và phân loại mức độ tuân thủ sử dụng thuốc 21
Bảng 2.7 Tính điểm kiến thức về thuốc điều trị ĐTĐ theo tự đánh giá hiểu biết của người bệnh 21
Bảng 3.8 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh ĐTĐ 23
Bảng 3.9 Đặc điểm lâm sàng, điều trị của người bệnh ĐTĐ 24
Bảng 3.10 Kiến thức về thuốc điều trị ĐTĐ của người bệnh 25
Bảng 3.11 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh 27
Bảng 3.12 So sánh câu hỏi tuân thủ sử dụng thuốc trước và sau can thiệp 29
Bảng 3.13 So sánh điểm tuân thủ sử dụng thuốc trước và sau can thiệp 30
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, đái tháo đường (ĐTĐ) ngày càng trở thành một bệnh lý không lây nhiễm phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam Năm 2019, có khoảng 463 triệu người trưởng thành trong khoảng từ 20-79 tuổi được chẩn đoán mắc ĐTĐ trên toàn thế giới Tại Việt Nam, theo thống kê năm 2015, con số này là khoảng 3,5 triệu người, trong đó có 53,4 nghìn ca tử vong có liên quan đến bệnh lý này [19] Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO), ĐTĐ sẽ là nguyên nhân gây
tử vong đứng hàng thứ 7 vào năm 2030 [29] Tại Việt Nam, tổng chi phí điều trị cho căn bệnh này khoảng 43,5 triệu USD, trong đó 24% dành cho chi phí nhập viện và 70% chi phí liên quan đến biến chứng của bệnh [41] Với số ca mắc và tỷ lệ tử vong cao, chi phí điều trị lớn, ĐTĐ đã và đang trở thành gánh nặng lớn cho xã hội và người bệnh
Chế độ điều trị ĐTĐ là một quá trình rất nghiêm ngặt, cần được người bệnh tuân thủ trong suốt cuộc đời Sử dụng thuốc được coi là biện pháp chính đối với hầu hết tất cả người bệnh, bên cạnh các biện pháp không dùng thuốc như chế độ ăn uống, tập luyện và kiểm tra đường huyết, [3] Tuân thủ sử dụng thuốc đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị, giảm thiểu nguy cơ biến chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh [17]
Việc không tuân thủ sử dụng thuốc có thể làm trầm trọng thêm gánh nặng của bệnh ĐTĐ đối với người bệnh và hệ thống y tế [16] Do đó, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh Các nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm như một số yếu tố thuộc về người bệnh: tuổi [12, 38], giới tính, trình độ học vấn [23, 40], tình trạng hôn nhân [7], một số yếu tố về lâm sàng như: thời gian mắc bệnh, số lượng thuốc điều trị, bệnh mắc kèm [8, 12, 40] và yếu tố kiến thức, hiểu biết của người bệnh [8] có ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc Từ việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng trên, các nghiên cứu đưa ra những kết luận về tác động của chúng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc Các giải pháp can thiệp cũng được đề xuất và thực hiện nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu thực hiện đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, cũng như những đánh giá cụ thể về hiệu quả của các giải pháp can thiệp tới việc tuân thủ sử dụng thuốc của người
Trang 10bệnh ĐTĐ Mặt khác, nhóm người bệnh cần sử dụng insulin có xu hướng tăng lên, chế độ dùng thuốc phức tạp hơn nên việc tuân thủ sử dụng thuốc của nhóm người
bệnh này cần được tìm hiểu rõ Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “ Phân tích tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương, Thành phố Hà Nội ” với hai mục tiêu nghiên cứu:
1 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú có sử dụng bút tiêm insulin tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương
2 Đánh giá hiệu quả của việc giáo dục cho người bệnh đối với việc tuân thủ sử dụng thuốc
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Bệnh đái tháo đường
1.1.1 Sơ lược về bệnh đái tháo đường và điều trị
Theo Bộ Y tế, bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [3]
Về phân loại, Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes Federation - IDF) đã chia bệnh ĐTĐ thành các thể bệnh: ĐTĐ típ 1, ĐTĐ típ 2, ĐTĐ thai kỳ và liên quan đến giảm dung nạp glucose (Impaired glucose tolerance) và giảm đường huyết lúc đói (Impaired fasting glucose) [18] Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y
tế đều có cách phân chia bệnh ĐTĐ tương tự như trên [3, 35] Cụ thể tại Việt Nam, ngoài 3 nhóm bệnh ĐTĐ hay gặp, còn có nhóm thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ với các nguyên nhân khác như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô…[3] Bệnh ĐTĐ típ 2 là loại ĐTĐ phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% tổng số ca trên toàn thế giới và đang gia tăng ở tất cả các vùng, miền [18]
Quản lý đầy đủ chứng rối loạn đường huyết ở bệnh ĐTĐ là vô cùng quan trọng, đặc biệt là để ngăn ngừa hoặc trì hoãn các biến chứng và đảm bảo người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt Cùng với quản lý lối sống (như chế độ ăn uống và hoạt động thể chất), điều trị bằng thuốc ĐTĐ đường uống và/hoặc insulin được khuyến cáo để kiểm soát tăng đường huyết Nhiều nhóm thuốc điều trị ĐTĐ được sử dụng trong đó thuốc metformin (biguanide) là thuốc điều trị đầu tay tối ưu (first line) [33] Điều trị phối hợp kép được khuyến nghị nếu điều trị đơn liệu không đủ Do rối loạn chức năng tế bào beta tiến triển, người bệnh ĐTĐ típ 2 cuối cùng có thể cần điều trị thay thế bằng insulin để kiểm soát bệnh ĐTĐ một cách chính xác Liệu pháp điều trị cũng cần phải điều chỉnh tuỳ theo độ tuổi, bệnh mắc kèm và nguy cơ phát triển các biến chứng [33]
Ngoài ra, điều trị bệnh ĐTĐ còn được coi là phức tạp do các yếu tố khác như bản chất mạn tính của bệnh, yêu cầu suốt đời sử dụng thuốc, yêu cầu thay đổi lối
Trang 12sống và cần phải đối phó với những khó khăn về xã hội, văn hoá và tâm lý có thể xảy
ra với bệnh tật
1.1.2 Gánh nặng do bệnh đái tháo đường
Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, năm 2019 trên thế giới có khoảng 463 triệu người trưởng thành trong khoảng độ tuổi từ 20-79 tuổi mắc ĐTĐ, chủ yếu phân
bố tại các quốc gia có thu nhập thấp hoặc trung bình Theo cơ sở tính toán của năm
2019, ước tính năm 2030 con số này sẽ là 578,4 triệu người và năm 2045 là 700,2 triệu người bệnh Ước tính có khoảng 4 triệu người tử vong do ĐTĐ năm 2019 trên toàn thế giới [18] Độ tuổi mắc ĐTĐ hiện đang trẻ hóa, đồng thời số lượng người bệnh trong nhóm trên 65 tuổi cao, khoảng 136 triệu [18] Theo Tổ chức Y tế thế giới, ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 7 vào năm 2030 [29]
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ
lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6% [3] Năm 2015, thống kê tại Việt Nam có khoảng 3,5 triệu người trưởng thành trong độ tuổi từ 20-79 mắc ĐTĐ, trong đó có 53,4 nghìn ca tử vong có liên quan đến bệnh này [19] ĐTĐ là một bệnh
lý nguy hiểm, vì vậy cần có sự hiểu biết và quan tâm đến bệnh một cách sâu sắc Một nghiên cứu về nhận thức và các yếu tố liên quan đến bệnh ĐTĐ tại tỉnh Khánh Hòa năm 2014 đã chỉ ra, hơn hai phần ba số người tham gia nghiên cứu không hiểu hoặc chưa từng nghe tới bệnh ĐTĐ, gần một nửa số ca bệnh không nhận thức được về lịch
sử bệnh của họ [30] Đây là một vấn đề đáng quan tâm và cần có sự can thiệp Bên cạnh những số liệu báo động trên, chi phí điều trị cho bệnh ĐTĐ cũng là một vấn đề được quan tâm Trong một nghiên cứu về chi phí điều trị tại Việt Nam
2020, tổng chi phí điều trị khoảng 43,5 triệu USD, trong đó 24% dành cho chi phí nhập viện và 70% chi phí liên quan đến biến chứng của bệnh [41] Từ những số liệu trên cho thấy ĐTĐ đã, đang và sẽ là một gánh nặng lớn đối từng cá nhân và cả cộng đồng
1.2 Tuân thủ sử dụng thuốc
1.2.1 Khái niệm
Tuân thủ điều trị là mức độ hành vi của người bệnh thực hiện theo khuyến cáo của nhân viên y tế đối với việc sử dụng thuốc, tuân thủ chế độ ăn và/hoặc thực hiện thay đổi lối sống Tuân thủ điều trị ở người bệnh ĐTĐ bao gồm tuân thủ một loạt các
Trang 13hành vi tự chăm sóc: theo dõi glucose tại nhà, điều chỉnh chế độ ăn, sử dụng thuốc, tập thể dục thường xuyên, chăm sóc bàn chân và thăm khám y tế thường xuyên [17] Tuân thủ sử dụng thuốc là một phần của tuân thủ điều trị Tuân thủ sử dụng thuốc thường đề cập tới vấn đề người bệnh có sử dụng thuốc đúng theo qui định hay không (ví dụ như một, hoặc hai lần trong một ngày…), cũng như việc liệu họ có tiếp tục sử dụng thuốc theo qui định hay không, do đó tuân thủ thuốc được chia làm hai khái niệm và tuân thủ và duy trì sử dụng thuốc [22]
Theo một cách cụ thể hơn, tuân thủ sử dụng thuốc là sự hợp tác tự nguyện của người bệnh khi dùng thuốc theo đơn đã được kê, gồm thời gian điều trị, liều lượng
và số lần dùng [10] Một nghiên cứu chỉ ra rằng tuân thủ sử dụng thuốc ĐTĐ đường uống ở người bệnh ĐTĐ típ 2 là 36-93% và với insulin là 63% [16]
1.2.2 Vai trò của tuân thủ sử dụng thuốc đối với điều trị
Tuân thủ có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong việc quản lý điều trị bệnh mạn tính Việc không tuân thủ sử dụng thuốc dẫn đến giảm hiệu quả điều trị, tăng tỷ
lệ nhập viện và chi phí chăm sóc sức khỏe Tại Mỹ, khoảng 20-50% người bệnh mắc các bệnh mạn tính không tuân thủ theo chế độ sử dụng thuốc của họ Việc không tuân thủ sử dụng thuốc tại Mỹ gây ra 125.000 ca tử vong hằng năm và 10-25% ca nhập viện và nhập viện dưỡng lão [26] Tác động và hậu quả của việc không tuân thủ thuốc điều trị ĐTĐ phần lớn bao gồm: tăng chi phí cho các gia đình, đặc biệt là ở hầu hết các nước châu Phi nơi chi phí chăm sóc sức khỏe được chi trả thông qua chi phí cá nhân, tăng chi phí chăm sóc sức khỏe của cả nước, làm xấu đi và tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong [51]
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ngày càng tăng lên và có xu hướng trẻ hóa Các vấn đề liên quan đến việc không tuân thủ sử dụng thuốc có thể làm trầm trọng thêm gánh nặng của bệnh ĐTĐ đối với người bệnh và hệ thống y tế [16] Vì vậy, người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc tốt là một yếu tố quan trọng quyết định thành công của việc điều trị, bên cạnh nhiều yếu tố khác như tâm lý, chế độ ăn uống, luyện tập,
1.2.3 Các phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng thuốc
Đo lường tuân thủ sử dụng thuốc là một hoạt động quan trọng Việc đo lường tuân thủ thuốc điều trị ĐTĐ được đo lường chung, tức là tuân thủ toàn bộ các thuốc điều trị thay vì riêng nhóm thuốc điều trị ĐTĐ [39] Đánh giá tuân thủ không chính
Trang 14xác có thể dẫn đến những kết luận sai trong thực hành và nghiên cứu Ước tính chính xác mức độ tuân thủ sử dụng thuốc sẽ cung cấp bằng chứng tốt hơn về hiệu quả, yếu
tố nguy cơ và từ đó đề ra chiến lược cải thiện tuân thủ sử dụng thuốc phù hợp
Có thể sử dụng các phương pháp trực tiếp và gián tiếp để đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh [27] Phương pháp trực tiếp bao gồm quan sát việc sử dụng thuốc và đo lường nồng độ thuốc hoặc các chỉ số xét nghiệm hóa sinh trong máu hoặc nước tiểu của người bệnh Phương pháp gián tiếp bao gồm phỏng vấn người bệnh, nhật ký sử dụng thuốc, tỷ lệ tái lĩnh thuốc, đếm số lượng thuốc sử dụng, đáp ứng lâm sàng [27] Đối với mỗi câu hỏi nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu thì cần lựa chọn một phương pháp đánh giá phù hợp nhất [15]
Nghiên cứu tổng quan hệ thống về các phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc cho thấy, không có tiêu chuẩn vàng để đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc trên người bệnh điều trị ĐTĐ [15] Tuy nhiên, công cụ tự báo cáo là phương pháp phổ biến nhất để đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ Các công cụ tự báo cáo được sử dụng phổ biến do tính linh hoạt, dễ sử dụng, hiệu quả chi phí và khả năng thu thập dữ liệu xã hội, tình huống và hành vi [28] Có rất nhiều các thang đo hoặc
bộ công cụ sẵn có khác nhau sử dụng để đo lường tuân thủ sử dụng thuốc, mỗi thang
đo hoặc bộ công cụ đều có ưu - nhược điểm riêng Việc lựa chọn thang đo hoặc bộ công cụ nào thường phụ thuộc vào tính dễ sử dụng, tính hợp lý và độ tin cậy Một số
bộ công cụ được sử dụng phổ biến để đánh giá việc tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh ĐTĐ được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1 Các công cụ đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc
Tên Tác giả đầu
Bộ công cụ đánh giá mức độ tuân thủ điều trị dựa vào niềm tin của người bệnh vào thuốc điều trị Ưu điểm của thang này câu hỏi đơn giản và rất hữu ích trong quản lý phòng khám Song nhược điểm của phương pháp này là khó chấm điểm Thang SEAMS áp dụng được trên
Trang 15các người bệnh mắc tăng huyết áp, bệnh mạch vành, ĐTĐ, tăng cholesterol máu [27]
Bảng câu hỏi Brief
Medication
Questionnaire
(BMQ)
Svarstad BL (1999)
Bộ công cụ đánh giá điều trị và khó khăn của người bệnh trong việc ghi nhớ thuốc Nhược điểm của BMQ là khó chấm điểm các câu hỏi, cần phải có danh sách chế độ thuốc đã được phân loại của người bệnh Bộ câu hỏi này có thể áp dụng trên nhóm người bệnh ĐTĐ, trầm cảm và một số bệnh lý mạn tính khác [27]
Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ Morisky MMAS
được coi là bộ công cụ được công bố và sử dụng phổ biến nhất Ưu điểm của bộ công cụ
là câu hỏi đơn giản và dễ cho điểm, dễ thu thập thông tin [27]
Bộ câu hỏi Morisky (MMAS) bao gồm 4 câu hỏi và 8 câu hỏi được sử dụng nhiều nhất trong đánh giá tuân thủ của người bệnh [15] Ban đầu, Bộ câu hỏi MMAS-
4 được sử dụng để đánh giá tuân thủ điều trị trên các người bệnh ĐTĐ, hen, bệnh lý tim mạch, các câu hỏi ở dạng có/không (yes/no), sau đó được cải tiến thành bộ câu hỏi MMAS-8 bao gồm 8 câu hỏi, bổ sung các câu hỏi đánh giá thái độ và hành vi của người bệnh [31] Các câu hỏi trong MMAS-8 được sử dụng đều đơn giản, dễ cho điểm, hạn chế sai số do thói quen trả lời có của người bệnh giống như MMAS-4, nhưng có độ tin cậy cao hơn là 0,83 so với MMAS-4 là 0,61 [44] Do đó, hiện nay
bộ câu hỏi MMAS-8 được sử dụng nhiều hơn
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh đái tháo đường
Đối với điều trị bệnh ĐTĐ nói chung, 4 nhóm yếu tố lớn được cho là có ảnh hưởng tới hành vi không tuân thủ của người bệnh gồm: yếu tố đặc điểm người bệnh, yếu tố điều trị lâm sàng, yếu tố tương tác giữa người bệnh và dịch vụ chăm sóc sức khỏe và yếu tố môi trường [17] Đối với riêng đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh ĐTĐ, có nhiều yếu tố đã được nghiên cứu [40] Bên cạnh các yếu tố về
Trang 16nhân khẩu học và lâm sàng, một số đặc điểm về kiến thức của người bệnh về bệnh ĐTĐ và thuốc điều trị có tác động tới sự thay đổi mức độ tuân thủ sử dụng thuốc [40]
1.3.1 Yếu tố nhân khẩu học
Tuổi được đề cập trong nhiều nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc Cụ thể, tuổi không có mối liên hệ rõ ràng với việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh [40] hoặc tuân thủ sử dụng thuốc có sự cải thiện rõ rệt theo tuổi [38] Tại Cameroon, người bệnh trên 60 tuổi có tỷ lệ không tuân thủ sử dụng thuốc thấp hơn 52% so với nhóm người bệnh dưới 60 tuổi [12] Những người trẻ tuổi cần lao động làm việc nên có khả năng bỏ qua và quên thuốc nên dẫn tới tình trạng không tuân thủ sử dụng thuốc [42], trong khi nhóm người cao tuổi với thời gian mắc bệnh dài hơn được tin rằng có mức độ nhận thức bệnh tật cao nên tuân thủ tốt hơn [12]
Giới tính tuy được đề cập tới nhiều trong các nghiên cứu xong kết quả cho thấy không có mối liên hệ rõ ràng nào về khả năng ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc trên người bệnh ĐTĐ [40, 42] Tuổi và giới tính được coi là yếu tố lâm sàng quan trọng nên trong một số nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ sử dụng thuốc, mặc dù 2 yếu tố này có hay không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê ở mô hình đơn biến những vẫn được đưa phân tích ở mô hình đa biến để hiệu chỉnh [7, 12]
Nghiên cứu một số đặc điểm nhân khẩu học khác của người bệnh cho thấy có mối liên quan tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc như trình độ học vấn [12, 23, 40], tình trạng hôn nhân [7] Cụ thể, nghiên cứu tại Cameroon chỉ ra có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm tuân thủ và không tuân thủ sử dụng thuốc theo trình độ học vấn (p = 0,03) [12] Hay trong một nghiên cứu khác tại Ethiopia, người bệnh có tình trạng độc thân có khả năng không tuân thủ sử dụng thuốc cao hơn, tăng 3,55 lần so với người bệnh đã kết hôn và sống cùng gia đình [7]
1.3.2 Yếu tố về lâm sàng
Bên cạnh các đặc điểm về nhân khẩu học, các đặc điểm về lâm sàng, điều trị đã được đánh giá về mức độ ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc Cụ thể, các nghiên cứu đã xem xét tới yếu tố thời gian mắc bệnh ĐTĐ [8, 12], thuốc điều trị
Trang 17(số lượng thuốc, số loại thuốc) của người bệnh [8, 40] với giả thiết đưa ra một chế
độ sử dụng thuốc phức tạp có thể ảnh hưởng tới khả năng tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh Một nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ không tuân thủ sử dụng thuốc cao hơn
ở nhóm người bệnh ĐTĐ phải sử dụng đồng thời nhiều hơn 4 thuốc để điều trị, vì vậy số lượng thuốc của người bệnh được coi là yếu tố có nguy cơ dẫn tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc [40]
Tại Việt Nam, một nghiên cứu chỉ ra 2/3 số người bệnh ĐTĐ không hiểu rõ về tình trạng bệnh của họ [30] Vì vậy ngoài thực hành điều trị, vấn đề về nhận thức và kiến thức của người bệnh về ĐTĐ cũng là một yếu tố đáng chú ý Nhận định này có thêm cơ sở khi một nghiên cứu chỉ ra trong tất cả người bệnh ĐTĐ tham gia, chỉ có một số lượng rất nhỏ người bệnh có điểm kiến thức về thuốc điều trị tốt (2,5%) [8] Theo nghiên cứu tại Malaysia, kiến thức của người bệnh về thuốc điều trị ĐTĐ có ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc, xu hướng làm giảm 0,965 lần (95%CI: 0,946-0,984) tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc [8]
Sự hiểu biết rõ về các yếu tố có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến việc tuân thủ sử dụng thuốc rất quan trọng, giúp hỗ trợ việc xác định người bệnh có nguy cơ không tuân thủ cao, xác định các rào cản tuân thủ có thể được loại bỏ và phát triển các can thiệp tăng cường tuân thủ [21]
1.4 Can thiệp tăng cường tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh đái tháo đường
1.4.1 Giải pháp can thiệp
Có nhiều giải pháp can thiệp có thể thực hiện để tăng cường tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh như giáo dục người bệnh, sử dụng điện thoại hoặc sử dụng các thiết bị chuyên dụng nhắc nhở sử dụng thuốc Các can thiệp đã thực hiện trên thế giới hầu hết đều tác động trực tiếp vào người bệnh Tuy nhiên, không có giải pháp can thiệp nào được coi là đảm bảo hiệu quả trên tất cả người bệnh ĐTĐ [39]
Giáo dục người bệnh là một phương pháp được sử dụng phổ biến nhằm tăng cường tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh ĐTĐ trên thế giới và tại Việt Nam Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau cũng khác nhau Tại Nigeria, một can thiệp bằng chương trình giáo dục cho người bệnh ĐTĐ đã cho thấy hiệu quả tốt đối với việc tăng cường tuân thủ dùng thuốc, theo dõi đường huyết và kiến thức
Trang 18về bệnh trên nhóm người bệnh tham gia can thiệp [25] Tuy nhiên, một can thiệp giáo dục khác trên nhóm người bệnh Hàn Quốc nhập cư tại Mỹ lại không đem lại hiệu quả trong việc nâng cao tuân thủ sử dụng thuốc [14] Tại Việt Nam, can thiệp bằng hình thức đào tạo cũng đã được thực hiện trên nhóm người bệnh ĐTĐ Can thiệp bằng đào tạo cá nhân từng người bệnh bởi dược sĩ lâm sàng tại bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên đã cho thấy hiệu quả Tuy nhiên, nghiên cứu này lại chỉ đánh giá hiệu quả về kiến thức và thực hành insulin [4] Một nghiên cứu khác sử dụng hình thức nói chuyện truyền thông giáo dục sức khoẻ được thực hiện bởi bác sĩ và điều dưỡng tại bệnh viện Nhân dân Gia Định cho thấy can thiệp có hiệu quả làm tăng cường tuân thủ sử dụng thuốc và giảm chỉ số HbA1c Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc qua một số câu hỏi đơn giản như thường xuyên uống thuốc không đều, bỏ uống thuốc và tiêm insulin mà chưa sử dụng một bộ câu hỏi hoặc thang đo chuẩn [6]
1.4.2 Đánh giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp
Không có giải pháp can thiệp nào đảm bảo có thể cải thiện được vấn đề tuân thủ điều trị một cách toàn diện ở người ĐTĐ típ 2, tuy nhiên hầu hết các can thiệp đều thành công trong việc tác động vào một hoặc một số kết quả có ý nghĩa trong từng điều kiện khác nhau [39] Cụ thể, các can thiệp này hướng đến đánh giá sự thay đổi về việc tuân thủ sử dụng thuốc, các chỉ số lâm sàng (ví dụ HbA1c, huyết áp, lipid máu ) và chỉ số không thuộc về lâm sàng (ví dụ chế độ ăn, tập luyện, kiểm tra đường huyết ) Trong đó, tuân thủ sử dụng các thuốc ĐTĐ được coi là kết quả chính trong hầu hết các nghiên cứu, còn cải thiện HbA1c được coi là vấn đề chính trong kiểm soát đường huyết và tất cả các nỗ lực quản lý đều nhằm mục đích đưa mức HbA1c đến mức chấp nhận được [39]
Một số nghiên cứu can thiệp tuân thủ điều trị trên người bệnh ĐTĐ được mô tả tóm tắt ở bảng sau:
Trang 19Bảng 1.2 Một số nghiên cứu can thiệp tuân thủ điều trị trên người bệnh ĐTĐ
Quốc gia
Tác giả đầu
(Năm)
Biện pháp can thiệp
Thiết kế nghiên cứu
Chỉ số đánh giá hiệu quả can thiệp
Úc [43]
Karen Waller (2019)
Qua tin nhắn điện thoại
RCT Chỉ số HbA1c, Chỉ số
Lipid máu, chế độ tập luyện, dinh dưỡng, Brasil [20]
Ana Laura Galhardo
Figueira (2017)
Giáo dục người bệnh
Can thiệp trước sau không đối chứng
Kiến thức về bệnh ĐTĐ, Tuân thủ sử dụng thuốc, HbA1c
Bồ Đào Nha [13]
Inês Rosendo Carvalho
e Silva Caetano (2017)
Sử dụng tờ rơi phát tay
RCT Tuân thủ sử dụng
thuốc, HbA1c
Đánh giá chính xác về tuân thủ sử dụng thuốc là rất quan trọng để giải thích về hiệu quả của các can thiệp đối với việc tuân thủ sử dụng thuốc Do đó, định nghĩa rõ ràng về tuân thủ sử dụng thuốc và cách đo lường là những vấn đề mà nhà nghiên cứu phải xem xét khi thiết kế và thực hiện các can thiệp
1.5 Một vài nét về Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
Bệnh viện Nội tiết Trung ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành trong lĩnh vực nội tiết và chuyển hóa của cả nước Hiện tại, Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
có 2 cơ sở là cơ sở I tại Thái Thịnh – Đống Đa – Hà Nội và cơ sở II tại Tứ Hiệp – Thanh Trì – Hà Nội, thực hiện khám và điều trị nội trú và ngoại trú cho hàng chục triệu lượt người bệnh liên quan đến các bệnh lý về nội tiết chuyển hóa, trong đó có bệnh ĐTĐ
Theo kết quả thống kê đánh giá mô hình bệnh tật tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương, có khoảng 54.623 người bệnh có bệnh lý về nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa, chiếm 73,4% tổng số người bệnh [1] Trong đó, số lượng người bệnh ĐTĐ là 21.112 người, chiếm hơn 1/3 số lượng người bệnh thuộc nhóm bệnh lý này Đồng
Trang 20thời, kết quả thống kê chỉ ra số lượng người bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú, tính riêng cho nhóm người bệnh có bảo hiểm y tế trong 2 năm 2018 và 2019 lần lượt là 12.645
và 12.750 [1] Số lượng người bệnh ĐTĐ có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây Vì vậy, việc khám, điều trị và đánh giá hiệu quả trên nhóm đối tượng này luôn được chú trọng
1.6 Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh ĐTĐ ngày càng trở nên phổ biến và có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của người bệnh, việc điều trị nói chung và đặc biệt sử dụng thuốc nói riêng luôn là vấn đề rất được quan tâm không chỉ người bệnh mà còn của nhân viên, cán bộ thực hiện chăm sóc y tế Tuân thủ sử dụng thuốc có vai trò quan trọng trong vấn đề kiểm soát đường huyết của người bệnh ĐTĐ, đặc biệt trên nhóm người bệnh sử dụng insulin là dạng dùng có nhiều đặc điểm phức tạp Do đó, cần thiết phải thực hiện nghiên cứu về tuân thủ sử dụng thuốc trên nhóm người bệnh này Trong các nghiên cứu về tuân thủ sử dụng thuốc, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ sử dụng thuốc và đánh giá hiệu quả của các can thiệp đối với việc tuân thủ
sử dụng thuốc là phổ biến và quan trọng Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng giúp xác định được đối tượng có xu hướng không tuân thủ để từ đó lưu ý hơn trong quá trình điều trị, giám sát đến nhóm đối tượng này và có tác động phù hợp Còn nghiên cứu
về can thiệp tuân thủ sử dụng thuốc giúp đánh giá hiệu quả của can thiệp từ đó giúp đưa ra kiến nghị về điều chỉnh, tiếp tục thực hiện hay ngừng can thiệp Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về một số yếu tố ảnh hưởng và hiệu quả của can thiệp giáo dục người bệnh, tuy nhiên tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương theo hiểu biết của chúng tôi thì chưa có nghiên cứu về các vấn đề trên Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh được chẩn đoán mắc ĐTĐ típ 2 và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội Tiết Trung Ương cơ sở Tứ Hiệp - Thanh Trì - Hà Nội Người bệnh thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ sau:
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người bệnh điều trị có sử dụng bút tiêm insulin
- Người bệnh có sức khỏe tình trạng tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp, đối thoại trực tiếp và đối thoại qua điện thoại
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh mắc các thể bệnh ĐTĐ khác
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương cơ sở Tứ Hiệp - Thanh Trì - Hà Nội
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ 8/7/2019 tới 25/02/2020
Thời gian thực hiện:
Đối với mục tiêu 1: “Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ
sử dụng thuốc trên người bệnh điều trị ngoại trú có sử dụng bút tiêm insulin tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương”, nghiên cứu thực hiện thu thập số liệu trong khoảng thời gian từ 08/07/2019 tới 26/07/2019
Đối với mục tiêu 2: “Đánh giá hiệu quả của việc giáo dục người bệnh đối với việc tuân thủ sử dụng thuốc”, nghiên cứu thực hiện thu thập số liệu trong khoảng thời gian từ 08/07/2019 đến tháng 25/02/2020
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang đối với mục tiêu 1 và nghiên cứu can thiệp trước - sau ứng với mục tiêu 2 Nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn đối tượng nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trong khoảng thời gian từ
Trang 22tháng 07/2019 đến tháng 02/2020 Tiến hành nghiên cứu theo các bước:
- Bước 1: Thu thập dữ liệu thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu về: đặc
điểm nhân khẩu học, kiến thức về sử dụng bút tiêm insulin, tuân thủ sử dụng thuốc, kiến thức về thuốc điều trị ĐTĐ
- Bước 2: Đối tượng nghiên cứu được mời, đồng ý tham dự buổi giáo dục tại hội
trường Bệnh viện Nội tiết Trung Ương cơ sở Tứ Hiệp với nội dung giáo dục về tuân thủ sử dụng thuốc thực hiện bởi dược sĩ khoa Dược bệnh viện Nội tiết Trung Ương
- Bước 3: Thu thập dữ liệu về tuân thủ sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu
sau 3 tháng
- Bước 4: Thu thập dữ liệu về tuân thủ sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu
sau 6 tháng
- Bước 5: Xử lý số liệu và phân tích kết quả
Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu được thể hiện ở hình sau:
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHÔNG TUÂN THỦ SỬ DỤNG THUỐC
Lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Thu thập đặc điểm người bệnh
Đặc điểm Nhân khẩu học
Đặc điểm Lâm sàng, điều trị
Thu thập đặc điểm tuân thủ sử dụng thuốc (Sau 3 tháng)
Thu thập đặc điểm tuân thủ sử dụng thuốc (Sau 6 tháng)
Can thiệp giáo dục bởi dược sĩ
Trang 232.3.2 Biến số nghiên cứu
Biến số nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu học được thể hiện ở bảng sau: Bảng 2.3 Các biến số nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu học
STT Tên biến Định nghĩa/
Mô tả biến Giá trị biến
Cách thức thu thập
1 Giới tính Giới tính của người
bệnh
Phân loại:
1: Nam 2: Nữ
Khảo sát bằng bộ câu hỏi trực tiếp (Phụ lục 1)
2 Nhóm tuổi
Tuổi theo thông tin người bệnh điền, sau
đó phân loại thành 2 nhóm tại điểm cắt 60 tuổi [12]
Phân loại:
1: Dưới 60 tuổi 2: Trên 60 tuổi
3 Tình trạng đi
làm
Nghề nghiệp theo thông tin người bệnh điền, sau đó phân loại thành 2 nhóm Không
đi làm (Hưu trí và Thất nghiệp); Đang
đi làm (Viên chức, Kinh doanh tự do, Nông dân, Nghề nghiệp khác)
Phân loại:
1: Không đi làm 2: Đang đi làm
4 Trình độ học
vấn
Trình độ học vấn cao nhất được người bệnh điền
Phân loại:
1: Dưới THPT 2: THPT 3: Trung cấp/Cao đẳng
Trang 244: Đại học/Sau đại học
5 Tình trạng
hôn nhân
Tình trạng hôn nhân theo thông tin người bệnh điền
Phân loại:
1: Đã kết hôn 2: Độc thân
6 BMI
Chỉ số BMI của người bệnh được tính dựa vào chỉ số chiều cao (m) và cân nặng (kg) của người bệnh
Số
Biến số nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, điều trị được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.4 Các biến số nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, điều trị
STT Tên biến Định nghĩa/
Mô tả biến Giá trị biến
Cách thức thu thập
1 Thời gian
mắc bệnh
Thời gian mắc ĐTĐ (năm) theo thông tin của người bệnh điền, sau đó phân loại thành 3 nhóm tại 2 điểm cắt 10 năm và
20 năm
Phân loại:
1: Dưới 10 năm 2: Từ 10 đến 20 năm
3: Trên 20 năm
Khảo sát bằng bộ câu hỏi trực tiếp (Phụ lục 1)
2 Thời gian
tiêm insulin
Thời gian tiêm insulin (năm) theo thông tin người bệnh điền, sau đó phân loại thành 2 nhóm tại điểm cắt 8 năm
Phân loại:
1: Từ 8 năm trở xuống
2: Trên 8 năm
3 Dạng thuốc
được kê đơn
Các dạng thuốc điều trị của người bệnh được kê trong đơn
Phân loại:
1: Chỉ thuốc tiêm
Hồi cứu tài liệu (Dữ liệu bệnh án điện
tử của người bệnh)
Trang 252: Cả thuốc tiêm và thuốc uống
4 Số thuốc
được kê đơn
Tổng số lượng tất cả các thuốc mà người bệnh được kê đơn
Phân loại:
1: Từ 3 thuốc trở xuống 2: Trên 3 thuốc
Hồi cứu tài liệu (Dữ liệu bệnh án điện
tử của người bệnh)
5 Số thuốc
điều trị ĐTĐ
Tổng số lượng thuốc mà người bệnh đang sử dụng
để điều trị bệnh ĐTĐ được kê đơn
Phân loại:
1: 1 thuốc 2: 2 thuốc 3: Từ 3 thuốc trở lên
Hồi cứu tài liệu (Dữ liệu bệnh án điện
tử của người bệnh)
Phân loại:
1: Gặp 1 tác dụng phụ 2: Gặp từ 2 tác dụng phụ trở lên
Khảo sát bằng bộ câu hỏi trực tiếp (Phụ lục 1)
Trang 26Biến số nghiên cứu về đặc điểm kiến thức của người bệnh được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu về đặc điểm kiến thức của người bệnh
STT Tên biến Định nghĩa/
Mô tả biến Giá trị biến
Cách thức thu thập
Phân loại:
1: Không biết 2: Biết một số/Biết tất cả
Khảo sát bằng bộ câu hỏi trực tiếp (Phụ lục 1)
Phân loại:
1: Không biết 2: Biết một số/Biết tất cả
Phân loại:
1: Không biết 2: Biết một số/Biết tất cả
Phân loại:
1: Không biết 2: Biết một số/Biết tất cả
Phân loại:
1: Không biết 2: Biết một số/Biết tất cả
Trang 272.3.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong khoảng thời gian tháng 8/7/2019 đến 26/7/2019 Tiến hành phỏng vấn toàn bộ người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đồng ý tham gia nghiên cứu và tham gia tập huấn Kết quả có
267 người bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú sử dụng bút tiêm insulin tham gia tập huấn được đưa vào phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc Sau 3 tháng tham gia tập huấn, nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn lại lần
1 qua điện thoại 267 người bệnh đã tham gia tập huấn để đánh giá việc tuân thủ sử dụng thuốc Thực tế đã phỏng vấn được 221 người bệnh 3 tháng tiếp theo (tức 6 tháng sau khi tham gia tập huấn), nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn lần 2 qua điện thoại 221 người bệnh đã tham gia phỏng vấn lần 1 Tổng 173 người bệnh thực
tế đã tham gia phỏng vấn lần 2 qua điện thoại Những trường hợp không tham gia phỏng vấn lần 1 và lần 2 là do không liên lạc được, đang nhập viện, từ chối tham gia nghiên cứu Sau khi thu thập dữ liệu nghiên cứu, cỡ mẫu thực hiện nghiên cứu mục tiêu 1 là 267 người bệnh, mục tiêu 2 là 173 người bệnh
7/2019 Thu thập số
liệu lần 1
267 người bệnh tham gia
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ
sử dụng thuốc
10/2019 Thu thập số
liệu lần 2
221 người bệnh tham gia
2/2020 Thu thập số
liệu lần 3
173 người bệnh tham gia
Đánh giá hiệu quả của can thiệp giáo dục với việc tuân thủ
sử dụng thuốc
Hình 2.2 Sơ đồ cỡ mẫu
Trang 282.3.4 Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp khảo sát bằng bộ câu hỏi và hồi cứu tài liệu (trích xuất dữ liệu bệnh án ngoại trú điện tử của bệnh viện thông tin về đơn thuốc ngoại trú của người bệnh) Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc để thu thập dữ liệu tại 3 mốc thời gian về thông tin người bệnh
và tuân thủ dùng thuốc Trước can thiệp giáo dục (7/2019), nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp người bệnh theo Bộ câu hỏi số 1 (Phụ lục 1) Sau can thiệp 3 tháng (10/2019) và 6 tháng (2/2020) nhóm nghiên cứu
sử dụng phương pháp phỏng vấn qua điện thoại cho người bệnh theo Bộ câu hỏi số
Bộ Câu hỏi 2 (Phụ lục 2) gồm 2 phần: A/Thông tin cá nhân (2 câu hỏi); B/ Tuân
thủ sử dụng thuốc (2 câu hỏi)
2.3.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
tích
Tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh được đánh giá thông qua kết quả của
bộ câu hỏi Morisky (MMAS-8) [32] Mức độ tuân thủ sử dụng thuốc được đánh giá dựa trên tổng điểm trả lời câu hỏi của người bệnh theo bộ câu hỏi này Cách tính điểm và phân loại tuân thủ sử dụng thuốc được mô tả ở bảng sau:
Trang 29Bảng 2.6 Tính điểm và phân loại mức độ tuân thủ sử dụng thuốc
Mức độ tuân thủ
Tổng
Mục tiêu 1
Tuân thủ 6 Trả lời Không được tính 1 điểm, Có được tính
0 điểm mỗi câu với câu hỏi D1.1, D1.2, D1.3,
D1.4, D1.6, D1.7 (Phụ lục 1) hoặc câu hỏi B1.1, B1.2, B1.3, B1.4, B1.6, B1.7 (Phụ lục 2)
Trả lời Có được tính 1 điểm, Không được tính
0 điểm với câu hỏi D1.5 (Phụ lục 1) hoặc câu
hỏi B1.5 (Phụ lục 2) Trả lời câu hỏi D2 (Phụ lục 1) hoặc câu hỏi B2
(Phụ lục 2) : Không bao giờ (1 điểm), Hiếm khi (0,75 điểm), Thỉnh thoảng (0,5 điểm), Thường xuyên (0,25 điểm), Luôn luôn (0
điểm)
Không tuân thủ < 6
Mục tiêu 2
Trung bình 6-8
Kém <6
Dựa trên tự đánh giá về hiểu biết liên quan đến thuốc điều trị ĐTĐ (câu hỏi về kiến thức C2 - Phụ lục 01) của người bệnh, tiến hành cho điểm kiến thức Tổng điểm kiến thức tối đa là 5 điểm Cách tính điểm kiến thức về thuốc điều trị của người bệnh được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.7 Tính điểm kiến thức về thuốc điều trị ĐTĐ theo tự đánh giá hiểu biết của người bệnh
Biết một số/Biết tất cả 1 điểm
Tổng điểm Kiến thức = (Điểm C2.1) + (Điểm C2.2) + (Điểm C2.3)
+ (Điểm C2.4) + (Điểm C2.5)
Trang 302.3.5.2 Phân tích số liệu
Thống kê mô tả: các biến liên tục được biểu diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn nếu có phân phối chuẩn, trung vị và khoảng tứ phân vị nếu có phân phối
không chuẩn Các biến phân loại được ước tính tần suất, tỷ lệ %
So sánh 2 nhóm độc lập (mục tiêu 1): với biến phân loại sử dụng Chi square test hoặc Fisher's exact, với biến liên tục sử dụng t-test để so sánh với phân bố chuẩn
và Mann-Whitney test để so sánh với phân bố không chuẩn Các kiểm định so sánh được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
So sánh 2 nhóm phụ thuộc (mục tiêu 2): Sử dụng t-test ghép cặp để đánh giá khác biệt giữa 2 nhóm với biến liên tục, McNecmar test để đánh giá khác biệt giữa 2 nhóm với biến nhị phân, Marginal Homogeneity test để đánh giá khác biệt giữa 2 nhóm với biến phân loại có nhiều hơn 2 đáp án Các kiểm định so sánh được xem là
có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy logistic để phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới nhóm người bệnh không tuân thủ sử dụng thuốc (Tổng điểm trả lời Bộ câu hỏi MMAS-8 nhỏ hơn 6 điểm) Các kết quả phân tích hồi quy được thể hiện ở Odds ratio (OR) với 95% khoảng tin cậy (CI) Ảnh hưởng của các yếu tố được xem là có
ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 hoặc 95% khoảng tin cậy (CI) không chứa 1
2.3.6 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở được sự chấp thuận của Bệnh viện Nội tiết Trung Ương và người bệnh tham gia nghiên cứu, đảm bảo các yếu tố:
- Các thông tin của người bệnh tham gia nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn, tiến hành phân tích trên toàn bộ mẫu, không phân tích hay báo cáo đơn lẻ từng người bệnh
- Dữ liệu thứ cấp (thông tin đơn thuốc ngoại trú) của 267 người bệnh tham gia nghiên cứu được sử dụng có sự chấp thuận của Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
- Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý tham gia của người bệnh, mọi thắc mắc của người bệnh trong quá trình tham gia nghiên cứu đều được giải thích
rõ ràng, chi tiết
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Kết quả nghiên cứu
3.1.1 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú
Nghiên cứu phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ sử dụng thuốc trên tổng số 267 người bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú
3.1.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh
Một số đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh tham gia nghiên cứu được mô
tả như trong bảng sau:
Bảng 3.8 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh ĐTĐ
Đặc điểm Tuân thủ Không
tuân thủ Tổng Mẫu nghiên cứu, N (%) 181 (67,8) 86 (32,2) 267 (100,0)
*Các đặc điểm đều khác biệt không ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p > 0,05)
Tỷ lệ người bệnh không tuân thủ sử dụng thuốc là 32,2% Đa số người bệnh tham gia nghiên cứu thuộc giới nữ, chiếm 64,8%, tỷ lệ người bệnh thuộc nhóm trên
60 tuổi chiếm 70,4% Kết quả này phù hợp với phân loại tình trạng đi làm khi phần