1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sự tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện trung ương huế

95 268 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên cho đến thời điểm khảo sát nghiên cứu này chúng tôi thấy rằng có rất ít nghiên cứu đánh giá về tình trạng dinh dưỡng và sự tuân thủ dinh dưỡng điều trị của người bệnh ĐTĐ do đó

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

em đã thường xuyên nhận được sự đào tạo, hướng dẫn tận tình của các thầy, các cô, sự giúp đỡ của bạn bè, sự động viên to lớn của gia đình và người thân

Lời đầu tiên, em xin trân trọng gửi lời cảm ơn của mình tới tập thể Ban chấp hành Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học, cùng toàn thể các thầy cô thuộc Khoa Y tế Công cộng, các thầy cô Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm Trường Đại học Y Dược Thái Bình, các bác sỹ, điều dưỡng của Khoa Nội tiết, Bệnh viện Trung ương Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình giảng dậy, giúp đỡ em học tập và thu thập số liệu

để hoàn thành luận văn này

Em xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và luôn luôn ghi

nhớ mãi công lao của: thầy NGND.PGS.TS Phạm Ngọc Khái, GVCC Trường Đại học Y Dược Thái Bình và thầy NGƯT GS.TS Trần Hữu Dàng,

Chủ tịch Hội Đái tháo đường Việt Nam, đã trực tiếp tận tình hướng dẫn

và tạo mọi điều kiện để giúp đỡ em vượt qua nhiều khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này

Đặc biệt em muốn gửi lời cảm ơn đến các người bệnh đã hợp tác, tạo điều kiện cho em được phép thăm khám và thu thập những thông tin cần thiết

để nghiên cứu và học tập

Thái Bình, ngày 30 tháng 5 năm 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác

Thái Bình, ngày 30 tháng 5 năm 2019

Học viên: Hồ Thị Phương Lan

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADA (American Diabetes Association): Hiệp hội đái tháo đường Mỹ

BMI (Body Mass Index): Chỉ số khối cơ thể

WHR (Waist Hip Ratio): Tỷ số vòng eo/vòng mông

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Định nghĩa đái tháo đường 3

1.2 Chẩn đoán đái tháo đường 5

1.3 Các yếu tố nguy cơ bệnh đái tháo đường 6

1.3.1 Yếu tố tuổi 6

1.3.2 Yếu tố gia đình 6

1.3.3 Yếu tố chủng tộc 7

1.3.4 Yếu tố môi trường và lối sống 7

1.3.5 Tiền sử sinh con nặng trên 4 kg 7

1.3.6 Tiền sử giảm dung nạp glucose: 7

1.3.7 Tăng huyết áp 8

1.3.8 Béo phì 8

1.3.9 Chế độ ăn và hoạt động thể lực 8

1.3.10 Chỉ số WHR 8

1.4 Biến chứng của đái tháo đường 9

1.4.1 Biến chứng cấp tính 9

1.4.2 Biến chứng mạn tính 9

1.5 Khái niệm về dinh dưỡng 11

1.6 Vai trò của dinh dưỡng trong bệnh đái tháo đường 11

1.7 Nguyên tắc dinh dưỡng điều trị 12

1.7.1 Nguyên tắc chung 12

1.7.2 Các thành phần dinh dưỡng trong ngày 13

1.7.3 Tỷ lệ thành phần thức ăn so với tổng năng lượng 14

1.7.4 Phân chia bữa ăn 15

1.7.5 Chọn thực phẩm 15

1.8 Các chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng 15

1.8.1 Chỉ số BMI 15

1.8.2 Chỉ số WHR 16

1.8.3 Albumin huyết thanh 16

Trang 7

1.8.4 Hemoglobin 16

1.8.5 Công cụ đánh giá toàn diện đối tượng 17

1.8.6 Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu 17

1.9 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 18

1.9.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới: 18

1.9.2 Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam: 20

1.9.3 Các đề tài nghiên cứu về dinh dưỡng và sự tuân thủ dinh dưỡng của người bệnh Đái tháo đường týp 2 21

1.10 Đặc điểm sơ lược về khoa Nội tiết - Thần kinh - Hô hấp bệnh viện Trung ương Huế 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.1 Tiêu chí chọn vào 26

2.1.2 Tiêu chí loại trừ 26

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 27

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 28

2.3.2 Phương pháp tổ chức nghiên cứu: 29

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 31

2.4.1 Phương pháp thu thập 31

2.4.2 Công cụ thu thập số liệu 31

2.5 Biến số và phương pháp thu thập các biến số 31

2.5.1 Các biến số về đặc điểm chung: 31

2.5.2 Các biến số nhân trắc: Chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng mông, chỉ số WHR, chỉ số BMI 32

2.5.3 Các chỉ số về tình trạng dinh dưỡng 35

2.6 Phân tích và xử lý số liệu: 37

2.7 Các sai số có thể gặp và biện pháp khống chế sai số 38

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 38

Trang 8

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 39

3.2 Tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh đái tháo đường type 2 42

3.3 Đánh giá sự tuân thủ dinh dưỡng điều trị sau tư vấn ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại bệnh viện Trung ương Huế 48

Chương 4: BÀN LUẬN 53

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 53

4.1.1 Tuổi 53

4.1.2 Giới 53

4.1.3 Nơi cư trú 54

4.1.4 Nghề nghiệp và trình độ học vấn 54

4.1.5 Thời gian mắc bệnh 54

4.1.6 Bệnh kèm 55

4.2 Tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh 55

4.2.1 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh 55

4.2.2 Đặc điểm về lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh 57

4.3 Sự tuân thủ dinh dưỡng điều trị của người bệnh sau khi được tư vấn 62

4.3.1 Thói quen dinh dưỡng của người bệnh trước và sau tư vấn 62

4.3.2 Tần suất sử dụng các loại thực phẩm 64

KẾT LUẬN 69

KIẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Phân loại chỉ số huyết áp theo JNC VI 34

Bảng 2.2 Phân loại chỉ số BMI 34

Bảng 2.3 Phân loại chỉ số WHR 35

Bảng 2.4 Phân loại chỉ số đường huyết theo ADA 35

Bảng 2.5 Phân loại chỉ số Hb theo WHO 36

Bảng 3.1 Tỷ lệ phân bố về tuổi của người bệnh 39

Bảng 3.2 Tỷ lệ phân bố nghề nghiệp và trình độ học vấn của người bệnh 40 Bảng 3.3 Phân tích thói quen dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ 42

Bảng 3.4 Tỷ lệ phân bố giá trị huyết áp của người bệnh 43

Bảng 3.5 Tỷ lệ phân bố tình trạng phù của người bệnh 43

Bảng 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường đã mắc một số biến chứng 44

Bảng 3.7 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh qua chỉ số BMI 45

Bảng 3.8 Chỉ số WHR của người bệnh trước và sau tư vấn 45

Bảng 3.9 Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường type 2 không kiểm soát được đường huyết và có mắc kèm bệnh khác khi nhập viện 46

Bảng 3.10 Tỷ lệ thiếu dinh dưỡng qua xét nghiệm máu ở người bệnh ĐTĐ type 2 47

Bảng 3.11 Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở người bệnh ĐTĐ type 2 47

Bảng 3.12 Tỷ lệ người bệnh thay đổi được thói quen dinh dưỡng sau tư vấn 48

Bảng 3.13 Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ sử dụng thường xuyên nhóm thực phẩm có chỉ số đường huyết cao từ glucid tinh chế 49

Bảng 3.14 Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ sử dụng thường xuyên các loại quả ngọt trước và sau tư vấn 49

Bảng 3.15 Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ sử dụng thường xuyên các loại thực phẩm có nhiều cholesterol trước và sau tư vấn 50

Trang 10

Bảng 3.16 Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ sử dụng thường xuyên các loại nước ngọt,

chất kích thích trước và sau tư vấn 51 Bảng 3.17 Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ sử dụng thường xuyên các loại thực phẩm

giàu protein 51 Bảng 3.18 Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ sử dụng thường xuyên các loại nước uống 52

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phân bố về giới của người bệnh 39 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phân bố nơi cư trú của người bệnh 40 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phân bố thời gian mắc bệnh của người bệnh 41

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 là một bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng và lối sống, có tốc độ phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới Hậu quả của ĐTĐ type 2 là làm gia tăng tỷ lệ tử vong, giảm chất lượng cuộc sống, biến chứng của nó còn gây tăng gánh nặng kinh tế cho bản thân người bệnh, cho gia đình và cho xã hội và cả ngành y tế Tại rất nhiều nước châu Á, tỷ lệ người mắc đái tháo đường type 2 đã gia tăng nhanh chóng

do sự phát triển kinh tế xã hội, thay đổi lối sống cũng như thay đổi thói quen dinh dưỡng

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF) năm 2015 toàn thế giới

có 415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường, tương đương

cứ 11 người có 1 người bị ĐTĐ, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tương đương cứ 10 người có 1 người bị ĐTĐ Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội, cùng với sự thay đổi lối sống, đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 Tại nước ta, vào năm 2012

số hiện mắc ĐTĐ chiếm 4% tổng dân số, số mắc tiền ĐTĐ lên đến 10% dân

số chung Ước tính đến năm 2025 số hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc sẽ là 3 triệu người [42]

Mục tiêu vàng điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ là phải kiểm soát, duy trì nồng

độ glucose máu ở mức bình thường, trong đó có việc hạn chế tăng glucose máu sau ăn, kiểm soát nồng độ glucose máu lúc đói, HbA1c và Insulin Vận động thay đổi lối sống, cụ thể là thói quen ăn uống là bước đầu tiên phải làm trong chăm sóc đái tháo đường toàn diện Do đó kiểm soát chế độ ăn là một phần không thể thiếu trong chăm sóc và kiểm soát bệnh đái tháo đường Tuy nhiên trong quá trình điều trị nội trú và ngoại trú rất nhiều người bệnh không tuân thủ chế độ dinh dưỡng làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị

Trang 13

Tại bệnh viện Trung ương Huế, có rất nhiều người bệnh đến khám và điều trị ĐTĐ hàng ngày Tuy nhiên cho đến thời điểm khảo sát nghiên cứu này chúng tôi thấy rằng có rất ít nghiên cứu đánh giá về tình trạng dinh dưỡng và sự tuân thủ dinh dưỡng điều trị của người bệnh ĐTĐ do đó

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sự tuân thủ dinh dưỡng điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Trung ương Huế” nhằm 2 mục tiêu:

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh ĐTĐ type 2 tại khoa Nội tiết - Thần kinh - Hô hấp, bệnh viện Trung ương Huế

2 Đánh giá sự tuân thủ dinh dưỡng điều trị sau tư vấn ở bệnh nhân ĐTĐ

type 2 tại bệnh viện Trung ương Huế

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa đái tháo đường

Có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐTĐ:

Theo tổ chức Y tế thế giới: ĐTĐ là một hội chứng có đặc điểm biểu hiện bằng tăng Glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có sự liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về ĐTĐ như sau:

Đái tháo đường “Là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: (1) tăng glucose máu, (2) kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein, (3) bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch do hậu quả của

xơ vữa động mạch” [6]

Tháng 1 năm 2003 các chuyên gia thuộc Ủy ban chẩn đoán và phân loại ĐTĐ Hoa Kỳ đưa ra một định nghĩa mới về ĐTĐ: “ĐTĐ là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng Glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin, hoặc cả hai Tăng Glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng

và sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [33]

* Khái niệm về đái tháo đường type 2:

Đái tháo đường type 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ Thể bệnh này bao gồm nhưng người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống bệnh nhân ĐTĐ type 2 không cần insulin để sống sót Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ type 2

Trang 15

nhưng không có 1 nguyên nhân chuyên biệt nào Bệnh nhân không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu Đa số bệnh nhân có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích) Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta

sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ type 2 lâm sàng sẽ xuất hiện Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường

Nguy cơ ĐTĐ type 2 gia tăng với tuổi, béo phì, ít vận động Bệnh cũng thường xuất hiện ở phụ nữ có tiền sử ÐTÐ thai kỳ, những người có tăng huyết

áp, rối loạn lipid máu và ở một số sắc tộc nhạy cảm như Mỹ da đen, Mỹ bản địa, người Mỹ Gốc La tinh, Mỹ gốc Á, dân châu Mỹ La tinh, người gốc Nam Á, một

số đảo vùng Thái Bình Dương Yếu tố di truyền ảnh hưởng mạnh trong bệnh ĐTĐ type 2, tỷ lệ cùng bị ĐTĐ của hai người sinh đôi cùng trứng là 90%, hầu hết người ĐTĐ type 2 đều có thân nhân bị ĐTĐ Có thể bệnh do ảnh hưởng của nhiều gen chi phối Nếu tìm được một gen cụ thể gây tăng glucose huyết, bệnh nhân sẽ được xếp vào thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ

Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến gia tăng tỉ lệ ĐTĐ type 2 liên quan đến béo phì, ăn các loại thực phẩm giàu năng lượng, giàu carbohydrat, ít vận động Do đó tỷ lệ này gia tăng nhanh chóng ở các nước có sự chuyển dịch nhanh chóng về kinh tế, người dân thay đổi lối sống từ lao động nhiều sang ít vận động, ăn các loại thức ăn nhanh giàu năng lượng bột đường làm gia tăng

tỷ lệ béo phì Ở các quốc gia này, người bị ĐTĐ type 2 có thể xuất hiện bệnh

ở lứa tuổi trẻ hơn 40

Trang 16

1.2 Chẩn đoán đái tháo đường

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường

Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây:

a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc:

b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân

ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày

c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế

d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày

Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản

và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ [6]

Trang 17

* Chỉ số HbA1c:

Hemoglobin (Hb) là một trong những thành phần cấu tạo nên tế bào hồng cầu của máu, có vai trò vận chuyển oxy trong máu Bình thường luôn luôn có sự gắn kết của đường trong máu với Hb của hồng cầu HbA1c chiếm phần lớn ở người lớn, nó đại diện cho tình trạng gắn kết của đường trên Hb hồng cầu Sự hình thành HbA1c xảy ra chậm 0,05% trong ngày, và tồn tại suốt trong đời sống hồng cầu 120 ngày, thay đổi sớm nhất trong vòng 4 tuần

lễ Do đó xét nghiệm HbA1c cho biết tình trạng kiểm soát glucose máu trong

12 tuần gần nhất Người bệnh chỉ cần thay đổi chế độ ăn trong một vài ngày

đã có thể giảm glucose máu, nhưng HbA1c chỉ giảm khi họ tuân thủ chế độ điều trị trong cả quá trình 12 tuần [41]

Tháng 7 năm 2009, Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán mới dựa vào mức HbA1c:

- Mức HbA1c 6,5% trở lên được chẩn đoán là đái tháo đường

- Mức HbA1c từ 5,7% đến 6,4% đường được xem như người mắc bệnh tiền đái tháo đường [46]

1.3 Các yếu tố nguy cơ bệnh đái tháo đường

1.3.1 Yếu tố tuổi

Nguy cơ ĐTĐ tăng theo dần theo quá trình lão hóa Ở các nước phát triển ĐTĐ thường tập trung ở lứa tuổi trên 45 Những thay đổi cấu trúc cơ thể với tình trạng tích mỡ bụng, giảm vận động ở tuổi trung niên và già làm giảm năng lượng tiêu hao dễ dẫn đến tích lũy mỡ bụng gây tình trạng đề kháng Insulin [56]

1.3.2 Yếu tố gia đình

Khoảng 10% bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ type 2 có bà con thân thuộc cũng bị mắc bệnh ĐTĐ type 2 Nghiên cứu trên những gia đình bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ type 2 thấy: có khoảng 6% anh chị em ruột cùng mắc bệnh

Trang 18

ĐTĐ týp 2 và khi bố mẹ bị bệnh ĐTĐ type 2, thì 5% con cái của họ sẽ mắc bệnh ĐTĐ type 2 Hai trẻ sinh đôi cùng trứng, một người mắc bệnh ĐTĐ type

2, người kia sẽ bị xếp vào nhóm đe doạ thực sự sẽ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [57]

1.3.3 Yếu tố chủng tộc

Tỷ lệ ĐTĐ type 2 gặp ở tất cả các dân tộc, nhưng với tỷ lệ và mức độ hoàn toàn khác nhau Ở các dân tộc khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thai kỳ cũng khác nhau, những dân tộc có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 cao, thì có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thai kỳ cao [6]

1.3.4 Yếu tố môi trường và lối sống

Khi ăn uống không hợp lý sẽ dẫn đến sự mất cân bằng và dư thừa năng lượng, kết hợp với lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thúc đẩy nhanh quá trình tiến triển của bệnh, làm tăng nhanh tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [6] Ở Việt Nam, người sống ở đô thị có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 cao hơn ở nông thôn: Hà Nội, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 khu vực thành thị 1,4% so với nông thôn 0,96% Ở Huế, tỷ lệ trên là 1,05% so với 0,60% Như vậy, sự đô thị hoá là yếu tố nguy cơ quan trọng và độc lập của ĐTĐ type 2 [4]

1.3.5 Tiền sử sinh con nặng trên 4 kg

Trẻ mới sinh nặng > 4 kg là một yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ týp 2 cho cả mẹ và con Các bà mẹ này có nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 cao hơn so với phụ nữ bình thường Những trẻ này thường bị béo phì từ nhỏ, rối loạn dung nạp glucose và bị ĐTĐ type 2 khi lớn tuổi [6]

1.3.6 Tiền sử giảm dung nạp glucose:

Những người có tiền sử giảm dung nạp glucose, thì khả năng tiến triển thành bệnh ĐTĐ type 2 rất cao Những người bị rối loạn dung nạp glucose và rối loạn glucose máu lúc đói nếu biết sớm chỉ cần can thiệp bằng chế độ ăn và luyện tập sẽ giảm hẳn nguy cơ chuyển thành bệnh ĐTĐ type 2 thực sự [6]

Trang 19

1.3.7 Tăng huyết áp

Tăng huyết áp được coi là nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2 Đa số bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có THA và tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở người bệnh THA cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường cùng lứa tuổi Tỷ lệ THA ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 đều tăng theo tuổi đời, tuổi bệnh, BMI, nồng độ glucose máu…[6]

1.3.8 Béo phì

Mặc dù sinh bệnh học của ĐTĐ rất phức tạp, béo phì toàn thân trung tâm là một trong những nguyên nhân chính gây tình trạng đề kháng Insulin, cùng các rối loạn chuyển hóa khác như THA và rối loạn mỡ máu đều có khả năng tiến triển thành ĐTĐ nếu không được kiểm soát tốt Ảnh hưởng của béo phì đến ĐTĐ có thể điều chỉnh bằng thay đổi lối sống Dung nạp glucose máu

có thể được cải thiện nếu gia tăng hoạt động thể lực và kiểm soát tốt trọng lượng, từ đó giảm nguy cơ tiến triển thành bệnh ĐTĐ Ở Việt Nam, điều tra dịch tễ học tại Huế cho thấy: béo phì chiếm 12,5% tổng số người bị bệnh ĐTĐ, trong đó nam chiếm 35,42% [6]

1.3.9 Chế độ ăn và hoạt động thể lực

Nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy: những người có thói quen dùng nhiều đường sacarose, ăn nhiều chất béo sẽ có nguy cơ bị ĐTĐ type 2 Tình trạng ăn quá nhiều chất béo đã được nhiều tác giả chứng minh là những yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ type 2 ở người Những người có thói quen uống nhiều rượu, có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 lớn hơn những người uống ít rượu và ăn uống điều độ

1.3.10 Chỉ số WHR (Waist–Hip Ratio): Tỷ lệ vòng eo/vòng mông [64]

Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đã đưa ra những minh chứng chứng minh mối liên quan giữa tỷ lệ vòng eo/vòng mông và nguy cơ sớm mắc bệnh ĐTĐ

Số đo vòng eo và tỷ lệ vòng eo/vòng mông lại phản ánh tốt hơn về sự tích tụ

mỡ bụng và nguy cơ mắc các bệnh ĐTĐ type 2, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid máu [49]

Trang 20

1.4 Biến chứng của đái tháo đường

1.4.1 Biến chứng cấp tính

Hôn mê nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa Glucid do thiếu insulin gây tăng đường máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa tổ chức và hậu quả là mất nước và điện giải trong và ngoài tế bào kèm theo một loạt các rối loạn khác như tăng tiết GH, mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về điều trị và chăm sóc, tỷ lệ tử vong vẫn cao

áp lực thẩm thấu thì tỷ lệ tử vong rất cao từ 30 – 50% [19]

Hôn mê hạ đường huyết: Có thể do dùng thuốc hạ đường huyết quá liều hoặc do thực hiện chế độ ăn quá nghiêm khắc gây thiếu năng lượng

1.4.2 Biến chứng mạn tính

- Biến chứng tim mạch: Hậu quả của tổn thương các mạch máu lớn do xơ

vữa động mạch hoặc tổn thương vi mạch gây ra Ở người bệnh ĐTĐ nguy cơ mắc bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, xuất huyết não, nhũn não cao gấp 2-3 lần người khồng bị ĐTĐ [19]

- Biến chứng thần kinh: Những rối loạn trong hệ thần kinh ở BN ĐTĐ

rất hay gặp và thường xuất hiện sớm Tổn thương hệ thần kinh đặc hiệu nhất trong bệnh ĐTĐ là tổn thương thần kinh ngoại vi Tổn thương vỏ não trong ĐTĐ không đặc hiệu, thường là hậu quả của tình trạng xơ vữa động mạch não Ở bệnh nhân ĐTĐ, 80% số người bệnh có biểu hiện viêm thần kinh ngoại biên hoặc đau thần kinh tọa, rối loạn cảm giác, giảm vận động, liệt hoặc teo cơ [36]

Trang 21

- Biến chứng mắt: Bệnh lý võng mạc ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu của

mù ở người 20-60 tuổi Ở các nước phát triển tỷ lệ người bệnh ĐTĐ bị mù gấp 25 lần so với người không bị ĐTĐ Bệnh lý võng mạc ĐTĐ chiếm tỷ lệ 10-20% số trường hợp ĐTĐ type 2 tại thời điểm được chẩn đoán Nghiên cứu 60BN ĐTĐ type 2 của Nguyễn Kim Lương ở lứa tuổi trên 40 cho thấy tỷ lệ bệnh võng mạc là 22,2% [26]

- Biến chứng ngoài da: Nhiều người bệnh đi khám vì triệu chứng ngứa

toàn thân hoặc âm hộ, quy đầu, mụn nhọt ngoài da, áp xe vùng nách, chín mé mới biết mình bị ĐTĐ Các dấu hiệu này là hậu quả của tổn thương vi mạch trong biến chứng của ĐTĐ

- Biến chứng hô hấp: Trước kia khi chưa phát hiện ra Insulin, biến chứng

lao phổi thường xuất hiện song hành với sự tiến triển của bệnh ĐTĐ Áp xe phổi là một trong những biến chứng rất thường gặp ở người bệnh ĐTĐ

- Biến chứng thận: Đây cũng là một trong những biến chứng thường gặp,

tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian Các triệu chứng của biến chứng thận là

sự xuất hiện bất thường trong nước tiểu như protein niệu vi thể hoặc đại thể, viêm tiết niệu, hội chứng thận hư, suy thận Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào trên BN ĐTĐ type 2 ở mức độ nặng tại khoa Nội tiết Bệnh viện Chợ Rẫy, tỷ lệ NB có biến chứng thận có protein niệu là 54,1%, suy thận mạn

là 9% [14]

- Biến chứng răng miệng: Hầu hết NB ĐTĐ đều có biểu hiện viêm lợi,

viêm quanh răng, nhiều trường hợp bệnh nhân rụng răng mới phát hiện ĐTĐ

- Biến chứng bàn chân do ĐTĐ: Bệnh nhân ĐTĐ phải cắt cụt chi dưới

nhiều gấp 15 lần so với người không bị ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 45-70% tổng số các trường hợp cắt cụt chi Và trên 50% các trường hợp cắt chân có nguy cơ phải cắt cả chân còn lại trong vòng 4 năm [32]

Trang 22

- Biến chứng nhiễm khuẩn: Bệnh ĐTĐ thường nhạy cảm với tất cả các

loại nhiễm khuẩn do có nhiều yếu tố thuận lợi, nhiễm khuẩn thường gặp là: + Lao phổi là biến chứng thường gặp ở NB ĐTĐ

+ Viêm đường tiết niệu

+ Viêm răng lợi

+ Viêm tủy xương

+ Viêm túi mật

+ Nhiễm nấm

1.5 Khái niệm về dinh dưỡng

Dinh dưỡng là chức năng mà các cá thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, nghĩa là thực hiện các hoạt động sống như: sinh trưởng, phát triển, vận động Quá trình sinh ra, lớn lên và tồn tại của mỗi người không thể tách rời sự

ăn uống hay là sự dinh dưỡng [39] Dinh dưỡng chiếm một vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển cơ thể và giữ gìn sức khỏe của con người Ở mỗi thời kỳ phát triển của một đời người, nhu cầu về dinh dưỡng hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên việc đáp ứng nhu cầu ấy một cách hợp lý lại luôn luôn là vấn đề đáng chú ý, vì đó là nền tảng của sức khỏe Trong y khoa, dinh dưỡng

là một yếu tố liên quan đến hầu hết các chuyên khoa, giữ vai trò quan trọng không thể bỏ qua, vì tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân cũng như các chế

độ ăn phù hợp với các bệnh lý khác nhau đóng góp một phần đáng kể, đôi khi

là phần chính yếu đến kết quả điều trị Dinh dưỡng hợp lý còn có vai trò phòng ngừa bệnh và phục hồi sau bệnh

1.6 Vai trò của dinh dưỡng trong bệnh đái tháo đường

Dinh dưỡng hợp lý góp phần:

- Duy trì sức khoẻ cho bệnh nhân, tránh bị thiểu dưỡng do ăn uống quá kiêng khem Trên thực tế có một số bệnh nhân khi bị bệnh ĐTĐ rất sợ ăn,

Trang 23

kiêng khem nhiều và không dám ăn nhiều loại thực phẩm, lâu dài sẽ làm cho

cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ

- Tránh tăng đường huyết quá mức do không biết chọn thực phẩm, ăn ít cơm nhưng lại ăn nhiều miến, hoặc ăn quá nhiều khoai củ Tất cả là do thiếu kiến thức về giá trị dinh dưỡng của từng loại thực phẩm gây nên vì không được tư vấn làm ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả điều trị bệnh

- Hạn chế được dùng thuốc: nếu bệnh nhân có chế độ ăn uống đúng sẽ làm glucose máu của bệnh nhân không tăng thêm và hạn chế phải dùng thêm thuốc hoặc không phải dùng thuốc nếu chưa có ĐTĐ lâm sàng

- Hạn chế các biến chứng: chế độ ăn hạn chế glucose sẽ góp phần hạn chế các biến chứng xảy ra Các tác giả cho rằng khi glucose máu quá cao thì rất dễ xuất hiện các biến chứng cấp tính

Ở giai đoạn ĐTĐ lâm sàng, thể phụ thuộc insulin hay không phụ thuộc insulin thì riêng chế độ dinh dưỡng không đủ để khống chế đường huyết mà phải điều trị tích cực thêm bằng thuốc và kèm theo chế độ vận động hợp lý Tuy nhiên nếu không có chế độ dinh dưỡng hợp lý ở giai đoạn này thì riêng thuốc không đủ để điều trị

Hiện nay các tác giả đều thống nhất rằng, để điều trị ĐTĐ lâm sàng phải kết hợp chặt chẽ cả ba vấn đề: chế độ ăn - thuốc - hoạt động thể lực

1.7 Nguyên tắc dinh dưỡng điều trị

1.7.1 Nguyên tắc chung

+ Đủ chất đạm, béo, bột, vitamin và các chất khoáng, đủ nước

+ Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn

+ Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn

+ Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày

+ Duy trì được cân nặng lý tưởng

Trang 24

+ Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, tăng huyết

áp, tổn thương thận

+ Phù hợp với thói quen ăn uống của bệnh nhân

1.7.2 Các thành phần dinh dưỡng trong ngày

Glucid (chất bột đường): người bệnh đái tháo đường cần phải hạn chế

glucid, nhưng không được giảm quá nhiều để cơ thể vẫn có thể duy trì được cân nặng và hoạt động bình thường Tỉ lệ năng lượng do glucid được chấp nhận là 50 - 60% (người bình thường là 65%) tổng số năng lượng của khẩu phần Glucid được phân làm 2 loại chính: loại thứ nhất là các mono và disaccarid (gồm glucozo, fructozo, sacarozo) hay các loại đường hấp thu nhanh bởi ống tiêu hóa như bánh kẹo, mứt, nước ngọt… các sản phẩm từ công nghiệp có đường Loại thứ hai là các glucid phức hợp mà đường tiêu hóa hấp thu chậm như trái cây, ngũ cốc, rau xanh, chất bột Chế độ ăn của người

bị bệnh tiểu đường phải giảm đi loại đường hấp thu nhanh, tăng cường ăn các loại thực phẩm chứa đường tiêu hóa chậm sẽ tốt cho sức khỏe Chỉ nên sử dụng đường hấp thu nhanh khi bị hạ đường huyết Người bệnh tiểu đường cũng nên hạn chế ăn các loại thực phẩm chứa nhiều tinh bột như cơm, ngô, mì… bởi nó chứa nhiều glucid hấp thu nhanh, không tốt cho sức khỏe người bệnh Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả Ngoài ra, rau củ quả tươi còn cung cấp nhiều vitamin, chất xơ tốt cho hệ tiêu hóa và giúp cải thiện sức khỏe của người bệnh mà lại không lo bị tăng đường huyết

Lipid (chất béo): người bệnh đái tháo đường rất cần chất béo để cung cấp

năng lượng, bù lại phần năng lượng do glucid cung cấp bị giảm đi Nhưng người bệnh nên hạn chế các loại lipid có nguồn gốc từ động vật như thịt đỏ, gan, mỡ lợn, gà, vịt,… bởi các chất béo bão hòa dễ gây nên hiện tượng xơ vữa động mạch, rất nguy hiểm Người bệnh nên ăn các axit béo bão hòa có trong các loại hạt như dầu đậu nành, dầu mè, dầu hướng dương, dầu bơ, dầu

Trang 25

vừng… Tỉ lệ năng lượng do chất béo nên là 25% tổng số năng lượng khẩu phần (người bình thường là 18-20%) và không nên vượt quá 30%

Protein (chất đạm): khẩu phần ăn có quá nhiều đạm sẽ không tốt cho

thận Tuy nhiên, lượng đạm trong khẩu phần ăn cho bệnh nhân đái tháo đường cần cao hơn so với người bình thường và nên đạt 15 - 20% năng lượng khẩu phần (người bình thường là 12 - 14%) Nên sử dụng phối hợp cả protein động vật như trứng, sữa, thịt, thịt lợn, cá, gia cầm, pho mát… với protein thực vật như các loại đậu, ngũ cốc, đậu phụ, các loại hạt… Nên hạn chế các thực phẩm có nhiều cholesterol như phủ tạng động vật, tôm to, lươn, chocolate…

và chọn các thực phẩm có chứa nhiều chất béo chưa bão hòa có lợi cho sức khỏe như cá, đậu đỗ, vừng, lạc…

- Chất xơ: Chế độ ăn nên giàu chất xơ vì nó có tác dụng khống chế việc

tăng glucoza, cholesterol, triglycerid sau bữa ăn Thực phẩm giàu chất xơ làm chậm lại quá trình hấp thu đường vào máu, qua đó giữ cho mức đường trong máu không bị tăng đột ngột ngay sau bữa ăn, mà tiêu hóa hấp thu từ

từ, giữ cho lượng đường trong máu không xuống quá thấp, có lợi cho quá trình điều trị bệnh Nên có chế độ ăn giàu chất xơ, khoảng 30-40g/ngày Thực phẩm giàu vitamin B: Đặc biệt vitamin nhóm B (B1, B2, PP) cũng cần có mặt trong khẩu phần ăn, vì các vitamin này giúp ngăn ngừa tạo thành thể cetonic

1.7.3 Tỷ lệ thành phần thức ăn so với tổng năng lượng

Glucid: 50 - 60% năng lượng khẩu phần

Protein : 15 - 20% năng lượng khẩu phần

Lipid: 20-30% (với người trọng lượng bình thường và lipid máu bình thường); dưới 30 % (với người béo phì)

Trang 26

1.7.4 Phân chia bữa ăn

Đối với bệnh nhân ĐTĐ cần chia thức ăn thành nhiều bữa để chống tăng đường huyết quá mức sau bữa ăn và chống hạ đường huyết khi đói, nhất là ở bệnh nhân dùng thuốc hạ đường huyết Nên ăn 5 - 6 bữa/ngày

Ăn sáng : 20% tổng năng lượng/ngày

Phụ sáng : 10% tổng năng lượng/ngày

Ăn trưa : 25% tổng năng lượng/ngày

Phụ chiều : 10% tổng năng lượng/ngày

Ăn tối : 25% tổng năng lượng/ngày

Phụ tối : 10% tổng năng lượng/ngày

1.7.5 Chọn thực phẩm

Nên chọn thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp

+ Cung cấp glucid: giảm gạo, mỳ, ngô, khoai; không nên ăn miến

+ Cung cấp protein: các loại thịt nạc, sữa không đường, cá, đậu đỗ, lạc, vừng + Cung cấp lipid: nên dùng dầu thay mỡ, không ăn những sản phẩm nhiều cholesterol như các loại phủ tạng (320 – 5000 mg%)

+ Cung cấp vitamin và khoáng: các loại rau, củ, quả tươi, hạn chế ăn những quả quá ngọt như: chuối, mít, na (glucid từ 11,4 - 22,4%)

Sử dụng chỉ số BMI: Cân nặng/chiều cao bình phương (kg/m2) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo tiêu chí sau:

Trang 27

Gầy : BMI <18,5

Bình thường : 18,5-22,9

BMI : >23 : Béo [1], [6]

1.8.2 Chỉ số WHR (Waist–Hip Ratio): Tỷ lệ vòng eo/vòng mông

Hội Đái tháo đường Hoa kỳ đã đưa ra những minh chứng chứng minh mối liên quan giữa tỷ lệ vòng eo/vòng mông và nguy cơ sớm mắc bệnh ĐTĐ

Số đo vòng eo và tỷ lệ vòng eo/vòng mông lại phản ánh tốt hơn về sự tích tụ

mỡ bụng và nguy cơ mắc các bệnh ĐTĐ type 2, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid máu [49]

Chỉ số vòng eo/

Nam > 0,90 Tăng nguy cơ mắc các bệnh

liên quan đến chuyển hóa

1.8.3 Albumin huyết thanh

Là chỉ tiêu đánh giá nồng độ albumin huyết thanh Chỉ tiêu này không nhạy để đánh giá sự thay đổi ngắn hạn về tình trạng protein do: Thời gian bán hủy từ 14-20 ngày, Albumin huyết thanh đều được bù rất lớn bởi giảm dị hóa, tái phân bố albumin từ ngoại bào vào nội bào Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng

độ albumin huyết thanh giống như các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ protein huyết thanh

1.8.4 Hemoglobin (Hb)

Tồn tại trong hồng cầu, theo máu chảy khắp toàn thân, vận chuyển oxy đến các tổ chức và cơ quan Khi thiếu máu số lượng hồng cầu và Hb cũng giảm Nếu trong chế độ ăn thiếu sắt, hoặc việc hấp thu sắt kém thì sẽ dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt, lúc này nồng độ Hb giảm

Trang 28

1.8.5 Công cụ đánh giá toàn diện đối tượng (Subjective Global Assessment) (SGA)

Đây là một công cụ sàng lọc dinh dưỡng; là phương pháp phân loại chủ quan tình trạng dinh dưỡng của người bệnh bao gồm: dinh dưỡng tốt, suy dinh dưỡng vừa và nặng dựa vào các kết quả thay đổi cân nặng, khẩu phần, các triệu chứng dạ dày - ruột, các thay đổi chức năng và các dấu hiệu lâm sàng liên quan đến thiếu dinh dưỡng SGA lần đầu tiên được Baker, Trường đại học Toronto, Canada mô tả năm 1982 Tác giả đã nhận thấy SGA là công

cụ sàng lọc dinh dưỡng có độ nhạy và độ đặc hiệu cao khi tiên đoán biến chứng và tử vong ở người bệnh phẫu thuật Từ đó nó được phát triển và sử dụng rộng rãi trong các quần thể người bệnh khác nhau [16] SGA là một công cụ sàng lọc lâm sàng có độ lặp lại, có tương quan tốt với những phép đo khác về tình trạng dinh dưỡng, dự đoán những biến chứng, tử vong liên quan Nội dung đánh giá gồm 2 phần dựa trên tiền sử y học của người bệnh và qua thăm khám thực thể với 7 chỉ tiêu như sau:

+ Thay đổi cân nặng trong vòng 6 tháng qua;

+ Khẩu phần ăn;

+ Biểu hiện của các triệu chứng: rối loạn tiêu hoá, sốt…

+ Tình trạng sức khoẻ, thể lực;

+ Sự suy giảm lớp mỡ dưới da;

+ Dấu hiệu teo cơ;

+ Hội chứng phù

1.8.6 Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (Mini-Nutrition Assessment: MNA)

Công cụ đánh giá dinh dưỡng này được xây dựng nhằm đánh giá nhanh

và hiệu quả để sàng lọc SDD ở người già Nhược điểm của MNA là không có những câu hỏi liên quan tới các hội chứng ảnh hưởng của ung thư do vậy ít

Trang 29

giá trị trong lão khoa Phương pháp này chỉ áp dụng cho người bệnh trên 65 tuổi, tương tự như phương pháp SGA tính điểm để xác định người bệnh nguy

cơ suy dinh dưỡng [38]

1.9 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam

1.9.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới:

Vào những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, các chuyên gia của WHO đã dự báo "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh Nội tiết

và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt bệnh ĐTĐ sẽ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất", bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở các nước phát triển

Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội

Số người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu năm 2000 lên 194 triệu năm 2003, đã tăng vọt lên 246 triệu năm 2006 và được dự báo tăng lên 380 -

399 triệu vào 2025 Trong đó các nước phát triển tỷ lệ người mắc bệnh tăng 42% và các nước đang phát triển tỷ lệ này là 170% Trong đó chủ yếu là ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 85-95% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ

5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà và suy thận giai đoạn cuối, nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn thương Cứ 10 giây lại có một người chết do nguyên nhân ĐTĐ và các biến chứng; cứ 30 giây lại có một người ĐTĐ có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi Chi phí cho điều trị ĐTĐ của toàn thế giới năm 2007 ước tính 232 ngàn tỷ đô la Mỹ, dự báo tăng lên 302 ngàn tỷ vào năm 2025 [7], [62]

Bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như

Ấn Độ, Trung Quốc Do sự tăng lên của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng

Trang 30

lượng, của lối sống ít vận động và quá trình đô thị hóa nên số người bị ĐTĐ càng gia tăng trong khi tuổi chẩn đoán ĐTĐ giảm đi

Tỷ lệ ĐTĐ tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao Tại Philippine, kết quả điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ ĐTĐ là 7,2%, suy giảm dung nạp glucose: 6,5% và rối loạn glucose máu lúc đói: 2,1% Tỷ lệ ĐTĐ khu vực thành thị là 8,3% và khu vực nông thôn là 5,8% [48] Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ ĐTĐ tại Indonesia là 5,7%, tỷ lệ suy giảm dung nạp glucose là 10,2% ở lứa tuổi trên 15 tuổi [47]

Theo tác giả Wild S và cộng sự nghiên cứu đưa ra tỷ lệ ĐTĐ cho mọi

độ tuổi trên toàn thế giới năm 2000 là 2,8% và sẽ tăng vào năm 2030 là 4,4% (171 triệu người vào năm 2000 và 366 triệu người vào năm 2030) ngoài ra tác giả còn đưa ra danh sách những quốc gia có tỷ lệ người mắc ĐTĐ cao nhất thế giới Đứng đầu là Ấn Độ, Trung Quốc, và Hoa Kỳ [62]

Nghiên cứu của Shaw JE và cộng sự ước tính số người ĐTĐ trên thế giới năm 2010 và 2030 Nghiên cứu thực hiện từ 91 quốc gia để xác định tỷ lệ ĐTĐ cho tất cả 216 quốc gia năm 2010 và 2030 dựa theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới và hội đái tháo đường Mỹ, nhóm tuổi từ 20-79 Kết quả cho thấy: tỷ lệ ĐTĐ trên toàn thế giới ở người trưởng thành 20-79 là 6,4% (285 triệu người) và tăng lên 7,7% (439 triệu người) năm 2030 Từ năm 2010

và 2030 có 69% người trưởng thành mắc ĐTĐ ở nước đang phát triển và 20%

ở nước phát triển [63]

Nghiên cứu của tác giả David R và cộng sự 2011: Thu thập nguồn dữ liệu từ năm 1980 đến tháng 4 năm 2011 Tổng cộng có 565 nguồn số liệu đã được xem xét trong đó có 170 nguồn từ 110 quốc gia được lựa chọn Trong năm 2011, có 366 triệu người ĐTĐ tuổi từ 20-79, dự kiến sẽ tăng đến 552 triệu vào năm 2030 Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ sống ở quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [50]

Trang 31

1.9.2 Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam:

Ở Việt Nam tỷ lệ người bệnh ĐTĐ gia tăng nhanh chóng những thập niên gần đây Nghiên cứu của Phan Sỹ Quốc và cộng sự năm 1991 trên 4912 đối tượng trên 15 tuổi tại quận nội ngoại thành Hà Nội xác định bệnh theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới (WHO năm 1985), kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại Hà Nội là 1,2% trong đó nội thành là 1,44%, ngoại thành 0,63%, tỷ lệ giảm dung nạp glucose máu là 1,6% [34] Năm

2001, nghiên cứu của Nguyễn Kim Hưng và cộng sự trên 2.932 đối tượng tại

TP HCM kết quả tỷ lệ ĐTĐ là 3,7%, rối loạn dung nạp glucose máu là 2,4%, rối loạn glucose máu lúc đói là 6,9% [7] Năm 2002, Bệnh viện Nội tiết Trung ương tiến hành điều tra toàn quốc về ĐTĐ và yếu tố nguy cơ trên 9.122 người thuộc 90 phường xã, khu vực Tây nguyên là 1833 đối tượng, đồng bằng 2722 đối tượng, thành phố là 2.759 đối tượng, nam chiếm 45%, nữ 55% Người mắc bệnh ĐTĐ týp 2 tăng gần gấp ba lần so với 10 năm trước [7] Năm 2008, kết quả của điều tra quốc gia năm 2008, tỷ lệ bệnh ĐTĐ type 2 trong lứa tuổi

từ 30-69 khoảng 5,7% dân số, nếu chỉ ở khu vực thành phố, khu công nghiệp

tỷ lệ bệnh từ 7,0% đến 10% [7]

Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự năm 2008 trên đối tượng 30-69 tuổi trong 2 cuộc điều tra trên cùng một cộng đồng TP HCM vào thời điểm khác nhau là 2001 và 2008 cùng 1 phương pháp do trung tâm dinh dưỡng tiến hành Kết quả cho thấy tỷ lệ ĐTĐ týp 2 năm 2008 là 7,04%, và tỷ

lệ ĐTĐ tăng dần theo nhóm tuổi [15]

Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ

đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là

Trang 32

7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%) Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 12,8% năm 2012 Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường tuýp 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi Người bị huyết áp cao cũng

có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác hơn 3 lần Người có vòng eo lớn nguy cơ mắc cao hơn 2,6 lần Như vậy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi Đây là con số đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ lệ mắc đái tháo đường mới tăng gấp đôi Trong khi đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về bệnh đái tháo đường [2]

1.9.3 Các đề tài nghiên cứu về dinh dưỡng và sự tuân thủ dinh dưỡng của người bệnh Đái tháo đường type 2

Kiểm soát chế độ ăn là một thành phần quan trọng không thể thiếu trong việc kiểm soát và chăm sóc người bệnh đái tháo đường type 2 và ngày nay càng được quan tâm hơn trong bối cảnh bệnh đang gia tăng nhanh chóng

ở Việt Nam cũng như trên thế giới Vì vậy người bệnh cần được trang bị kiến thức đúng về chế độ ăn để góp phần kiểm soát tốt đường huyết và các biến chứng của bệnh

Theo tác giả Nguyễn Thị Nhạn, 80% đái tháo đường type 2 là thừa cân, béo phì Sự tăng glucose máu đa phần do đề kháng insulin Những người thừa cân béo phì có đề kháng insulin, nếu giảm trọng lượng về mức bình thường, sẽ giảm được tính đề kháng đó Thay đổi lối sống bao gồm làm giảm trọng lượng

và hoạt động thể lực đều đặn (150-300 phút/tuần) với tiết thực giảm calo, giảm

mỡ, sẽ giảm glucose máu và giảm sự phát triển biến chứng đái tháo đường Do vậy điều trị thay đổi lối sống bao gồm tiết thực và vận động thể lực là được chọn lựa đầu tiên, rồi sau đó là thuốc cải thiện đáp ứng thụ thể [29]

Trang 33

Đối với người bệnh đái tháo đường type 2, chế độ ăn giảm carbonhydrate, tăng cường rau và chất xơ được khuyến cáo Tác giả Post R.E

và cộng sự nghiên cứu phân tích tổng hợp cho thấy khẩu phần ăn giàu chất xơ

ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 làm giảm HbA1c và nồng độ đường huyết lúc đói [58] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thùy Linh nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả tăng lượng chất xơ trong khẩu phần ăn từ rau và bã đậu nành đến kiểm soát đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đống Đa năm 2017 cho thấy việc dùng nước xốt chế biến rau trong 2 tuần giúp bệnh nhân đái tháo đường type 2 cải thiện đáng kể lượng rau và chất xơ tiêu thụ, góp phần cải thiện Fructosamine máu có ý nghĩa thống kê [25]

Tác giả A B Evert cho rằng người bệnh đái tháo đường cần được xây dựng về lối sống bao gồm chế độ ăn và tập luyện suốt đời, trong đó chế độ ăn được xây dựng bởi chuyên gia dinh dưỡng, được gọi là liệu pháp dinh dưỡng (medical nutrition therapy- MNT Các thành phần thiết yếu của liệu pháp dinh dưỡng là đánh giá, chẩn đoán dinh dưỡng, can thiệp (ví dụ: giáo dục và tư vấn) và theo dõi theo dõi liên tục để hỗ trợ thay đổi lối sống lâu dài, đánh giá kết quả và sửa đổi các can thiệp khi cần [52]

Kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Ngát và cộng sự tại bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy năng lượng khẩu phần trung bình/ngày của người bệnh ĐTĐ type 2 là 1634 ± 577,2 kcal Tỷ lệ protein, lipid và carbohydrat lần lượt là 19,7%; 22,4% và 57,9%, tỷ lệ này phù hợp với nhu cầu khuyến nghị của Bộ Y tế có tỷ lệ protein (15 - 20%), lipid (20 - 30%) và carbohydrat (55 - 60%) Tuy nhiên lượng chất xơ người bệnh tiêu thụ hàng ngày là 11,92 ± 5,4g, chỉ đạt 52% nhu cầu chất xơ trong 1 ngày (14g/1000 kcal) [28]

Trang 34

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Cần và cộng sự khi tiến hành nghiên cứu trên 385 người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Đa khoa quận 11, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng về chế

độ ăn là không cao, điểm trung bình về kiến thức là 30.94 ± 13.82 (0‐73) Do

đó nhóm nghiên cứu có khuyến cáo cần thành lập một nhóm tư vấn dinh dưỡng tại bệnh viện với mục đích đào tạo và tư vấn kiến thức về chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường type 2 [10] Tác giả Nguyễn Thị Anh Đào và cộng sự khi tiến hành nghiên cứu về sự tuân thủ điều trị trên 189 người bệnh Đái tháo đường tại bệnh viện Thống Nhất cho thấy tỷ lệ người bệnh tự cho rằng họ tuân thủ về chế độ dinh dưỡng là tương đối cao với tỷ lệ 72% Tuy nhiên nhóm nghiên cứu cho rằng mặc dù đa số người bệnh tự cho rằng mình

đã tuân thủ chế độ dinh dưỡng nhưng chỉ có một số ít người bệnh là được tư vấn thực sự về chế độ dinh dưỡng bởi chuyên gia dinh dưỡng Vì vậy có thể chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân là không hợp lý do đó nhóm nghiên cứu khuyến cáo cần tăng cường hơn nữa các chương trình, hoạt động tư vấn về sức khỏe, câu lạc bộ người bệnh ĐTĐ để đáp ứng những yêu cầu điều trị toàn diện nhằm đạt được mục tiêu điều trị không những về đường huyết mà cả huyết áp và các yếu tố nguy cơ khác [13]

Tác giả Lin B và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu can thiệp trên 84 người bệnh mới được chẩn đoán ĐTĐ type 2 tại một bệnh viện ở Trung Quốc với phương pháp nghiên cứu can thiệp tư vấn chế độ dinh dưỡng và đánh giá lại sau 3 tháng cho thấy tỷ lệ calo, carbohydrat và chất béo trong khẩu phần

ăn có giảm và lượng chất xơ trong khẩu phần ăn hàng ngày tăng có ý nghĩa thống kê sau tư vấn Sự thay đổi thói quen này đã giúp người bệnh giảm được

và cộng sự thực hiện cuộc nghiên cứu can thiệp trên 69 người bệnh ĐTĐ týp

2 ở Ý với chế độ ăn kiêng kiểu Địa Trung Hải (chú trọng vào các loại hải sản, rau quả theo mùa và chất béo có lợi từ dầu của quả ô liu) trong 9 tháng, kết

Trang 35

quả cho thấy hiệu quả can thiệp đã giúp người bệnh có những thay đổi đáng

kể về thói quen dinh dưỡng như ăn 5 bữa một ngày, tăng cường ăn trái cây thay vì ăn vặt, giảm sử dụng chất ngọt Tổng kcal tiêu thụ hàng ngày giảm và

tỷ lệ phần trăm của carbohydrate, protein và lipid đều giảm sau khi can thiệp

Từ hiệu quả này đã giúp người bệnh có sự cải thiện đáng kể về huyết áp tâm thu và tâm trương, chỉ số BMI và chu vi vòng eo, cũng như chỉ số đường huyết [51]

1.10 Đặc điểm sơ lược về khoa Nội tiết - Thần kinh - Hô hấp bệnh viện Trung ương Huế

* Tình hình nhân lực của khoa

- Tổng số cán bộ viên chức: 39

- Trong đó: 11 Bác sĩ (1 Phó giáo sư - tiến sỹ, 1 tiến sỹ - bác sỹ, 3 bác

sỹ chuyên khoa II, 5 thạc sỹ - bác sỹ, 1 bác sỹ), 8 cử nhân điều dưỡng, 1 điều dưỡng cao đẳng, 12 điều dưỡng trung học, 7 Hộ lý

* Hạ tầng cơ sở

- Khoa gồm 3 phân khoa: Nội tiết, Thần kinh và Hô hấp

- Khoa có 72 giường nội trú trong đó có 6 giường cấp cứu và 4 giường bệnh nặng

- Các phòng chức năng khác: 1 Phòng khám ngoại trú, 1 Phòng đo Điện

cơ đồ và đo chức năng hô hấp, Nội soi phế quản (tại Khoa Nội soi)

* Hoạt động chủ yếu của khoa

- Công tác điều trị

Ngoài điều trị thuốc, nhân viên của khoa luôn chú ý hướng dẫn chế độ

ăn, chế độ luyện tập, nghỉ ngơi phù hợp với các bệnh lý khác nhau, hướng dẫn phục hồi chức năng sớm cho các bệnh nhân tai biến mạch máu não, hướng dẫn tiêm Insulin đúng cách cho bệnh nhân ĐTĐ điều trị ngoại trú, cách dùng thuốc, cách tự chăm sóc và theo dõi

Trang 36

Các thăm dò tại khoa: Điện cơ đồ - Hô hấp ký - Nội soi phế quản tại khoa

- Câu lạc bộ Đái tháo đường

Được thành lập và tổ chức sinh hoạt định kỳ nhiều năm nay nhằm tư vấn, hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của bệnh nhân về cách sử dụng thuốc, chế độ luyện tập, ăn uống, cách tự chăm sóc theo dõi điều trị hướng tới cải thiện tiên lượng lâu dài, hạn chế biến chứng cho bệnh nhân

Sinh hoạt định kỳ câu lạc bộ Đái Tháo Đường

- Giảng dạy, đào tạo, chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học

- Tham gia đào tạo Chuyên khoa I Nội khoa và Chuyên khoa II Nội tiết

- Tham gia đào tạo học viên sau đại học

- Kết hợp chặt chẽ với Bộ môn Nội – Đại học Y dược Huế trong công tác điều trị và giảng dạy sinh viên, y sinh và học viên sau đại học Khoa là nơi thực tập và tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học của nhiều học viên sau đại học, là nơi thực tập của nhiều sinh viên nước ngoài

- Giao ban và giảng dạy sinh viên

- Tham gia các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế

- Là thành viên Hội đồng biên soạn hướng dẫn chẩn đoán và điều tri ̣ các bệnh Nội Tiết của Bô ̣ Y Tế

- Thực hiện chương trình phòng chống ÐTÐ quốc gia Tiếp tục duy trì

tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ ĐTĐ định kỳ mỗi quý một lần nhằm mục đích tăng cường quản lý và giáo dục về bệnh ĐTĐ cho cộng đồng Phấn đấu quản

lý tốt, theo dõi và điều trị nội trú cũng như ngoại trú bệnh nhân ĐTĐ đạt tiêu chuẩn kiểm soát đường huyết theo khuyến cáo của Hội Nội Tiết – ĐTĐ Việt Nam và WHO Phối hợp với khoa Laser điều trị một số biến chứng do ĐTĐ như: biến chứng thần kinh, nhiễm trùng Phối hợp với khoa Mắt điều trị bệnh

lý võng mạc ĐTĐ

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường týp 2 theo tiêu chuẩn

của Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ - ADA đang điều trị nội trú tại khoa Nội tiết - Thần kinh - Hô hấp, Bệnh viện Trung ương Huế

2.1.1 Tiêu chí chọn vào

- Người bệnh được bác sỹ tại khoa Nội tiết - Thần kinh - Hô hấp bệnh

viện Trung ương Huế chẩn đoán Đái tháo đường týp 2 không phân biệt chẩn

đoán lần đầu hay đã được chẩn đoán trước đó

- Có khả năng giao tiếp và sức khỏe đủ để trả lời bảng câu hỏi phỏng vấn

- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chí loại trừ

- Người bệnh bị rối loạn tâm thần hoặc được đánh giá quá yếu để tham gia

- Người bệnh từ chối tham gia vào nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện tại khoa Nội tiết - Thần kinh - Hô hấp, Bệnh viện trung ương Huế

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09/2018 đến tháng 03/2019

Trong thời gian 3 tháng thực hiện đề tài nếu có người bệnh ĐTĐ tái phát nhập viện điều trị nhiều lần thì chỉ ghi nhận vào nghiên cứu các đối tượng đến nhập viện lần đầu

Mỗi người bệnh được thăm khám, tư vấn, theo dõi và đánh giá kết quả tư vấn tại 2 giai đoạn vào ngày thứ nhất (D0) và ngày thứ 7 (D7)

Trang 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện qua theo dõi dọc trên cùng 1 nhóm người bệnh ĐTĐ type 2 với 2 giai đoạn phù hợp với 2 phương pháp thiết kế nghiên cứu

Giai đoạn 1 là thiết kế nghiên cứu mô tả với điều tra cắt ngang ngay trong ngày đầu người bệnh nhập viện, đồng thời cung cấp dẫn liệu cho nghiên cứu tiếp theo ở giai đoạn 2

Giai đoạn 2 đã áp dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng với biện pháp tư vấn trực tiếp về dinh dưỡng điều trị mà bệnh nhân ĐTĐ type 2 cần tuân thủ ngay từ ngày đầu nhập viện, sau 7 ngày theo dõi dọc đã điều tra cắt ngang đánh giá lại để so sánh trước can thiệp (Trước CT) với sau can thiệp (Sau CT)

- Giai đoạn 1

Tại ngày đầu lúc người bệnh đái tháo đường type 2 đã hoàn tất các thủ tục nhập viện: Cân đo nhân trắc, khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm theo kỹ thuật thường quy của Bệnh viện Trung ương Huế, khảo sát tình trạng dinh dưỡng của người bệnh bao gồm thói quen và tần suất sử dụng thực phẩm, tư vấn giáo dục về chế độ dinh dưỡng điều trị mà người bệnh đái tháo đường týp 2 cần tuân thủ ngay từ ngày đầu nhập viện

- Giai đoạn 2:

Sau khi đã lấy đủ các thông tin cho nghiên cứu giai đoạn 1, thì tiến hành

tư vấn trực tiếp cho bệnh nhân về dinh dưỡng điều trị mà mỗi bệnh nhân ĐTĐ type 2 cần tuân thủ, hằng ngày nhắc nhở và sau 7 ngày tư vấn sẽ tiến hành kiểm tra các chỉ số: Cân đo lại nhân trắc, thực hiện lại một số xét nghiệm theo kỹ thuật thường quy của Bệnh viện Trung ương Huế, đánh giá lại tình trạng dinh dưỡng bao gồm thói quen và tần suất sử dụng thực phẩm của người bệnh, đánh giá sự tuân thủ dinh dưỡng điều trị sau tư vấn của người bệnh ĐTĐ type 2 tại khoa

Trang 39

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này được áp dụng trong 2 giai đoạn nghiên cứu cụ thể như sau:

a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi

để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân

ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày

c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế

d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán

Trang 40

a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày

- Nghiên cứu viên lập danh sách tất cả ngườ i bê ̣nh đư ợc chẩn đoán ĐTĐ type 2 mới nhập viện trong ngày đầu điều trị nội trú phù hợp với tiêu chí chọn mẫu

- Tiến hành tiếp xúc người bệnh và hỏi về sự đồng thuận tham gia vào nghiên cứu

+ Giai đoạn 2:

Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích là tất cả những bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ type đa hoàn tất lấy số liệu nghiên cứu giai đoạn 1 Tổng số có 126 người bệnh được chọn vào nghiên cứu giai đoạn 1 đã đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu trong giai đoạn 2 để can thiệp và không có người bỏ cuộc trong 7 ngày can thiệp

2.3.2 Phương pháp tổ chức nghiên cứu:

- Nghiên cứu viên lập danh sách tất cả người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 đang nằm điều trị nội trú tại khoa phù hợp với tiêu chí chọn mẫu

- Tiến hành tiếp xúc người bệnh và hỏi về sự đồng thuận tham gia vào nghiên cứu

- Sau đó phỏng vấn người bệnh dựa theo phiếu điều tra bao gồm các nội dung: thông tin chung của người bệnh, thói quen dinh dưỡng và tần suất sử dụng các thực phẩm, khám nhân trắc và lâm sàng Thông tin về các chỉ số đánh giá dinh dưỡng tham khảo trong hồ sơ bệnh án của người bệnh

- Trước khi người bệnh ra viện, tiến hành đánh giá lại các chỉ số nhân trắc, thói quen dinh dưỡng, tần suất sử dụng thực phẩm, sự tuân thủ điều trị dinh dưỡng và các chỉ số cận lâm sàng (nếu có)

Ngày đăng: 30/08/2019, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm