1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 trên bệnh nhân cao tuổi điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết – Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

8 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 359,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 (ĐTĐ2), hiệu quả kiểm soát đường huyết và mức độ phổ biến cũng như hiểu biết về hạ đường huyết quá mức của bệnh nhân (BN) ĐTĐ2 cao tuổi đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội Tiết – Bệnh viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI

ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI PHÒNG KHÁM NỘI TIẾT – BỆNH VIỆN

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trần Bảo Bình * , Diệp Thị Thanh Bình ** , Trần Quang Nam ** , Nguyễn Thị Mai Hoàng *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 (ĐTĐ2), hiệu quả kiểm soát đường

huyết và mức độ phổ biến cũng như hiểu biết về hạ đường huyết quá mức của bệnh nhân (BN) ĐTĐ2 cao

tuổi đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội Tiết – Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh M Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 457 BN ĐTĐ2 từ 60 tuổi

trở lên, đã điều trị ít nhất 6 tháng tại phòng khám Nội Tiết từ tháng 5 - 6/2017 BN được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi thiết kế sẵn nhằm ghi nhận thông tin về bệnh, thuốc điều trị, kiểm soát đường huyết và các tác

dụng không mong muốn xảy ra trong quá trình dùng thuốc

Kết quả: Thuốc hạ đường huyết được dùng nhiều nhất là metformin (62,6%), ức chế DPP-4 (52,5%)

và sulfonylurea (44,0%) Đa số BN được chỉ định phối hợp thuốc (74,2%) Tỷ lệ BN kiểm soát tốt đường huyết đói, HbA 1C và cả 2 thông số này lần lượt là 66,7%; 47,8% và 36,8% Tỷ lệ BN biết về hạ đường huyết quá mức là 45,1% Có 27,8% BN đã từng bị hạ đường huyết quá mức trong vòng 1 tháng BN dùng insulin có tỷ lệ hạ đường huyết quá mức và hiểu biết về tác dụng không mong muốn này cao hơn các BN khác (p < 0,05)

Kết luận: Hơn 50% BN ĐTĐ2 chưa kiểm soát được bệnh và chưa hiểu về hạ đường huyết quá mức

BN cao tuổi cần được cung cấp nhiều thông tin hơn về thuốc và tác dụng không mong muốn, đặc biệt là hạ đường huyết quá mức trong quá trình điều trị ĐTĐ2

Từ khóa: đái tháo đường type 2, hạ đường huyết quá mức, thuốc trị đái tháo đường, bệnh nhân cao tuổi

ABSTRACT

INVESTIGATION ON ANTIDIABETIC DRUG USE IN ELDERLY OUTPATIENTS WITH TYPE 2

DIABETES ATTENDING THE ENDOCRINOLOGY CLINIC

OF THE UNIVERSITY MEDICAL CENTER AT HO CHI MINH CITY

Tran Bao Binh, Diep Thi Thanh Binh, Tran Quang Nam, Nguyen Thi Mai Hoang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 213 – 220

Objectives: This study aimed to investigate antidiabetic drug use, glycemic control, the prevalence of

hypoglycemia and patients’ knowledge about this undesirable effect in elderly patients with type 2 diabetes (DT2) at the Endocrinology Clinic of the University Medical Center at Ho Chi Minh City

Methods: We included 457 outpatients of 60 years old or older attending the Endocrinology Clinic

from May to June 2017 with a diagnosis of DT2 for at least 6 months in this cross-sectional study Participants were interviewed using an open questionnaire involving characteristics of diseases,

* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Thị Mai Hoàng ĐT: 0356599822 Email: ntmaihoang@gmail.com

Trang 2

medications, glycemic control and undesirable effects occurring during treatment

Results: The most prescribed medications were metformin (62.6%), DPP-4 inhibitors (52.5%) and

sulfonylureas (44.0%) Most patients were prescribed a combination of drug (74.2%) The rate of patients with well controlled fasting blood glucose, HbA 1 c and both were 66.7%, 47.8% and 36.8%, respectively There were 45.1% of patients having knowledge about hypoglycemia The prevalence of patients suffering hypoglycemia during the previous month was 27.8% Patients treated with insulin had significantly higher

rate of hypoglycemia and better knowledge of hypoglycemia than other patients (p < 0.05)

Conclusions: More than 50% of type 2 diabetic patients did not control the disease and have poor

knowledge about hypoglycemia Elderly patients should be provided more information about antidiabetic

medications and their undesirable effects, especially hypoglycemia, during treatment of DT2

Key words: Type 2 diabetes (DT2), hypoglycemia, antidiabetic, elderly patients

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 là một trong

những bệnh mạn tính thường gặp nhất ở

người cao tuổi Các biến chứng của ĐTĐ đặc

biệt thường xảy ra nặng nề hơn trên nhóm

bệnh nhân (BN) này(7) Mặt khác, BN ĐTĐ từ

60 tuổi trở lên có tỷ lệ nhập viện cấp cứu do

tình trạng hạ đường huyết cao hơn so với BN

trẻ(3) Tình trạng này có thể ảnh hưởng lớn đến

sức khỏe của BN, dẫn đến gia tăng chi phí

điều trị cũng như gia tăng tỷ lệ tử vong(3)

Tuy nhiên, các biến cố có hại liên quan

đến thuốc trên đối tượng BN ĐTĐ cao tuổi

lại chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam

Vì vậy,chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm

mô tả tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ

type 2 trên BN cao tuổi điều trị ngoại trú tại

phòng khám Nội tiết – bệnh viện Đại học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD),

tỷ lệ BN kiểm soát đường huyết theo

khuyến cáo của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ

(ADA) 2017 và ghi nhận mức độ phổ biến

của hạ đường huyết quá mức cũng như hiểu

biết của BN về nguy cơ này

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực

hiện trên BN ĐTĐ type 2 cao tuổi điều trị

ngoại trú tại phòng khám Nội tiết – BV ĐHYD

từ tháng 5 đến tháng 6/2017 Tiêu chuẩn chọn

mẫu là BN từ 60 tuổi trở lên được chẩn đoán

ĐTĐ type 2 đã điều trị ít nhất 6 tháng và đồng

ý tham gia nghiên cứu BN được giải thích mục đích của nghiên cứu và được mời trả lời đầy đủ bộ câu hỏi được thiết kế sẵn bao gồm các thông tin chung của BN (tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng, tiền sử gia đình, thời gian mắc bệnh ĐTĐ, các bệnh và biến chứng mắc kèm), thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được chỉ định, các xét nghiệm gồm giá trị đường huyết đói, HbA1C tại thời điểm khảo sát, tần suất và biểu hiện của hạ đường huyết quá mức dựa trên hiểu biết của BN Những BN từ chối tham gia nghiên cứu hoặc không hoàn thành toàn

bộ bảng câu hỏi sẽ bị loại khỏi nghiên cứu Trong nghiên cứu này, BN được xem là kiểm soát đường huyết tốt nếu đạt mục tiêu được trình bày trong bảng 1

Bảng 1: Mục tiêu đường huyết đơn giản hóa theo

tiêu chuẩn của ADA 2017 (2)

Tuổi Đường huyết đói

(mmol/L) HbA 1 C (%)

Dựa trên hiểu biết của BN, tình trạng hạ đường huyết trong quá trình điều trị bằng thuốc cũng được ghi nhận bằng bộ câu hỏi định tính với các câu hỏi mở sau:

1) “Cô/bác đã từng được dặn dò về hạ đường huyết chưa? Cô/bác được dặn dò như thế nào?” Với câu hỏi này, BN được ghi nhận

là có hiểu biết về hạ đường huyết quá mức nếu có thể kể được triệu chứng tiêu biểu của

hạ đường huyết (run, tim nhanh, vã mồ hôi,

Trang 3

hạ thân nhiệt, đói, chóng mặt, nhức đầu)(2),

hoặc có thể giải thích như thế nào là hạ đường

huyết (nồng độ glucose máu < 4 mmol/L)(2)

2) “Cô/bác đã từng bị hạ đường huyết quá

mức hay chưa? Nếu có, triệu chứng của cô/bác

đã gặp khi bị hạ đường huyết quá mức ra

sao?” Với câu hỏi này, BN được ghi nhận là đã

từng bị hạ đường huyết quá mức nếu BN kể

được những triệu chứng phù hợp với biểu

hiện của hạ đường huyết (câu 1) mà BN đã

từng gặp phải Trong trường hợp BN không có

nhận thức về tình trạng hạ đường huyết, tình

trạng hạ đường huyết quá mức cũng được ghi

nhận nếu BN xác nhận đã từng có các biểu

hiện hạ đường huyết mà chúng tôi cung cấp

3) “Cô/bác có bị hạ đường huyết quá mức

trong quá trình điều trị hay không? Tình trạng

này có xuất hiện trong vòng 1 tháng vừa qua

hay không?”

4) “Khi bị hạ đường huyết, Cô/bác đã xử

trí như thế nào?” Với câu hỏi này, BN được

xem là có cách xử trí đúng khi trả lời uống

nước đường hay ăn kẹo glucose

5) “Sau khi áp dụng các biện pháp xử trí

trên, Cô/bác có thấy đỡ hơn không?”

Dữ liệu được xử lý thống kê mô tả bằng

phần mềm SPSS 22 với độ tin cậy 95% Phép

kiểm chi bình phương được sử dụng để so sánh

các tỷ lệ bị hạ đường huyết của từng nhóm BN

sử dụng các thuốc khác nhau Khác biệt được

coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Có 457 BN tham gia vào nghiên cứu này

với tuổi trung bình 69,4 ± 7,5 tuổi và thời gian

mắc bệnh trung bình 9,1 ± 7,2 năm Đa số bệnh

nhân là nữ (68,7%) và có thừa cân/béo phì

(54,0%) Tỷ lệ BN có hút thuốc lá hay rượu bia

khá thấp trong nghiên cứu này, lần lượt là

14,4% và 15,8% Có 74,0% BN có tập thể dục,

trong đó 62,4% BN tập từ 5-7 ngày/tuần và

52,5% BN tập từ 30 phút/ngày trở lên theo

khuyến cáo(11) Tăng huyết áp và rối loạn lipid máu là 2 bệnh kèm chiếm tỷ lệ cao nhất trong các

BN khảo sát với tỷ lệ lần lượt là 80,1% và 66,3%

Tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ type 2 trên BN cao tuổi

Các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được sử dụng trên BN cao tuổi

Các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được ghi nhận dựa vào đơn thuốc mới nhất của BN

Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu được chỉ định phối hợp thuốc để kiểm soát ĐTĐ, phổ biến nhất là phối hợp 2 thuốc (40,7%), kế đến là phối hợp 3 thuốc (27,6%), đơn trị (25,8%) Chỉ có 5,9% BN được chỉ định hơn 3 thuốc để kiểm soát ĐTĐ

Trong số các thuốc được chỉ định, metformin là thuốc được dùng phổ biến nhất (62,6%), kế đến là nhóm ức chế dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4), sulfonylurea và insulin với các tỷ lệ lần lượt là 52,5%; 44,0% và 38,7% Trong nhóm ức chế DPP-4, thuốc được sử dụng nhiều nhất là vildagliptine (20,6%) và sitagliptine (16,4%) Thuốc được chỉ định phổ biến nhất của nhóm sulfonylurea là gliclazide dạng viên phóng thích có kiểm soát (modified released – MR) với tỷ lệ 30,6% Hai phối hợp thuốc được sử dụng nhiều nhất là phối hợp ba thuốc sulfonylurea + metformin + ức chế

DPP-4 (1DPP-4,0%) và phối hợp hai thuốc sulfonylurea +

metformin (11,8%)

Bảng 2: Tỷ lệ các thuốc điều trị ĐTĐ type 2 được

sử dụng

Thuốc Tần số Tỷ lệ %

Đơn trị Phối hợp Tổng

Khác :

- Repaglinide

- Acarbose

- Dapagliflozine

- Liraglutide

21

19

32

1

0,7 0,0 0,2 0,0

3,9 4,2 6,8 0,2

4,6 4,2 7,0 0,2

Trang 4

Liều và thời điểm sử dụng thuốc

Nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận liều và

thời điểm sử dụng thuốc được chỉ định trong

đơn thuốc của BN Kết quả được trình bày trong bảng 3

Bảng 3: Liều trung bình và thời điểm sử dụng thuốc

Thời điểm sử dụng thuốc Trước bữa

ăn

Trong bữa ăn

Sau bữa ăn

Ức chế DPP-4

- Sitagliptine

- Vildagliptine

- Saxagliptine

- Linagliptine

77,7 ± 25,0 (50,0 – 100,0) 66,7 ± 23,7 (50,0 – 100,0) 4,4 ± 1,1 (2,5 – 5,0) 5,1 ± 0,8 (5,0 – 10,0)

Sulfonylurea

- Gliclazide

- Glimepiride

- Glyburide

49,0 ± 23,6 (30,0 - 120,0) 2,8 ± 1,9 (0,5 – 8,0) 10,3 ± 3,7 (5,0 – 15,0)

Khác

- Acarbose

- Dapagliflozine

- Repaglinide

89,5 ± 45,9 (50,0 – 200,0) 10,0 ± 0,0 (10,0 – 10,0) 2,6 ± 1,3 (1,0 – 6,0)

26,3%

12,5%

95,2%

87,5% 4,8%

* Trung bình ± độ lệch chuẩn (giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất)

Tình hình kiểm soát đường huyết

Có 410 BN (89,7%) được đo đường huyết

đói tại thời điểm khảo sát với mức đường

huyết đói trung bình 9,1 ± 4,5 mmol/L Chỉ có

210 BN (46,0%) được đo HbA1C tại thời điểm

khảo sát với giá trị trung bình 7,9 ± 1,7% Tỷ lệ

lần lượt là 66,7% và 47,8% Chỉ có 36,8% BN

kiểm soát được cả 2 thông số hay nói cách

khác là kiểm soát được bệnh ĐTĐ

Tình trạng hạ đường huyết

Nhận thức của BN về hạ đường huyết

Số BN có hiểu biết về hạ đường huyết

chiếm 45,1% dân số nghiên cứu Nhóm BN sử

dụng insulin có tỷ lệ hiểu biết về hạ đường

huyết quá mức cao nhất (57,6%) Tỷ lệ này cao

hơn có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ ghi nhận

được ở nhóm BN sử dụng sulfonylurea

(40,3%; p = 0,002) và BN sử dụng các nhóm

thuốc khác (37,5%; p = 0,002)

Tỷ lệ BN bị hạ đường huyết

Có 237 BN cho biết đã từng bị hạ đường

huyết quá mức (51,9%), trong đó 127 BN có bị

hạ đường huyết trong vòng 1 tháng vừa qua (27,8%) Đặc biệt, có 7 BN (1,5%) liên tục gặp phải những triệu chứng điển hình của hạ đường huyết như chóng mặt, vã mồ hôi, bụng đói cồn cào, run rẩy tay chân Trong đó, có 3

BN vừa mới chuyển đến khám tại phòng khám, 1 BN đang được điều trị bằng insulin

và 3 BN đang được điều trị bằng sulfonylurea

Tỷ lệ BN được điều trị bằng insulin bị hạ đường huyết nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so với BN được điều trị bằng sulfonylurea (51,2%

so với 39,4%, p = 0,017) hoặc bằng các thuốc điều trị ĐTĐ đường uống khác (51,2% so với 18,9%, p = 0,008)

Các triệu chứng hạ đường huyết thường gặp

Chúng tôi ghi nhận lại các triệu chứng

hạ đường huyết được mô tả ở nhóm BN đã từng bị hạ đường huyết quá mức Trong đó, phổ biến nhất là các biểu hiện đói bụng (36,1%), vã mồ hôi (34,6%), run (26,5%), chóng mặt (26,3%) và mệt mỏi (21,0%) Các triệu chứng hạ đường huyết đã ghi nhận được trình bày trong hình 1

Trang 5

Hình 1: Các triệu chứng hạ đường huyết thường gặp

Các biện pháp cải thiện tình trạng hạ đường

huyết của BN

Ở 237 BN đã từng bị hạ đường huyết quá

mức, khi được hỏi về cách xử trí, BN đã áp

dụng nhiều biện pháp khác nhau Kết quả

được trình bày trong bảng 5

Bảng 4: Các biện pháp cải thiện tình trạng hạ

đường huyết của BN

Biện pháp Tần số Tỷ lệ %

Trong số những BN cho biết đã từng bị

hạ đường huyết, chỉ có 31,6% BN có cách xử

trí đúng khi bị hạ đường huyết là uống nước

đường Có 24,5% BN có thói quen đem kẹo

hoặc bánh bên mình để phòng ngừa hạ

đường huyết quá mức Đặc biệt nghiêm

trọng, số BN cho biết đã từng phải nhập

viện vì hạ đường huyết trong tình trạng hôn

mê là 11,8%

Sau khi xử trí, có 94,5% BN cho biết đã cải thiện các triệu chứng và đã cảm thấy khá hơn

BÀN LUẬN Tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, metformin là thuốc được sử dụng nhiều nhất (62,6%), kế đến là nhóm thuốc ức chế DPP-4 (52,5%) và nhóm sulfonylurea (44,0%) Theo nhiều khuyến cáo trên thế giới, metformin là lựa chọn đầu tay trong việc điều trị ĐTĐ type

2 ngoại trừ các trường hợp BN có chống chỉ định với thuốc Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Lê Văn Chi (metformin là thuốc được sử dụng nhiều nhất với 57,4% BN được chỉ định)(8)

Nhóm thuốc được chỉ định phổ biến thứ hai trong nghiên cứu này là các thuốc ức chế DPP-4 Đây là nhóm thuốc còn khá mới với những ưu điểm đã được chứng minh như có khả năng kiểm soát tốt đường huyết sau ăn và

Tri u

ch ng

Trang 6

ít nguy cơ hạ đường huyết quá mức hơn so

với sulfonylurea Ngoài ra, cũng có bằng

chứng cho thấy nhóm thuốc này thể giúp cải

thiện triệu chứng suy giảm trí nhớ và cải thiện

chuyển hóa xương ở người cao tuổi(9)

Mặc dù có một số nhược điểm như gây

tăng cân, tăng nguy cơ hạ đường huyết quá

mức cũng như bằng chứng an toàn trên tim

mạch chưa rõ ràng(9), nhóm sulfonylurea vẫn

là một trong các lựa chọn điều trị ĐTĐ phổ

biến tại BV ĐHYD So với các sulfonyurea

khác như glyburide hay glimepiride thường

gây ra tình trạng hạ đường huyết, tăng cân

nên thường tránh sử dụng ở BN cao tuổi thì

hoạt chất được chỉ định chủ yếu tại phòng

khám Nội tiết là gliclazide, có ái lực với các

thụ thể của sulfonylurea trên tế bào β tụy thấp

hơn, do đó ít gây hạ đường huyết quá mức

hơn(1,9) Hơn nữa, việc chọn lựa dạng bào chế

phóng thích có kiểm soát (MR) cũng giúp

giảm thiểu nguy cơ hạ đường huyết và đảm

bảo an toàn hơn cho đối tượng BN cao tuổi

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa số

BN được điều trị bằng việc phối hợp thuốc,

chủ yếu là phối hợp hai thuốc (40,7%) và ba

thuốc (25,8%) Điều này có thể do BN đã cao

tuổi và mắc ĐTĐ lâu năm (trung bình hơn 9

năm) nên cần nhiều thuốc để kiểm soát được

bệnh Kết quả này tương tự với nghiên cứu

của Mohamed và cộng sự(10) với đa số BN được

điều trị bằng phối hợp hai thuốc (71,0%)

Theo kết quả khảo sát, đa số BN trong

nghiên cứu này được chỉ định thời điểm dùng

thuốc hợp lý là metformin uống sau bữa ăn;

sulfonylurea, repaglinide uống trước bữa ăn

và acarbose uống trong hoặc ngay sau bữa ăn

Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ BN được chỉ

định thời điểm dùng thuốc chưa đúng với

hướng dẫn sử dụng như dùng metformin

trước bữa ăn (9,4%), sulfonylurea và

repaglinide sau bữa ăn (lần lượt là 1,0% và

4,8%) hoặc dùng acarbose trước bữa ăn

(26,3%) Ngoài ra, có 1 trường hợp chỉ định

quá liều linagliptine (10 mg/ngày so với liều

khuyến cáo là 5 mg/ngày)(5) Nhìn chung, đa số

BN cao tuổi tại phòng khám Nội tiết – BV ĐHYD được chỉ định thuốc phù hợp Tuy vậy, cần tăng cường công tác kiểm duyệt đơn thuốc ngoại trú để đảm bảo tránh được các sai sót liên quan đến liều và thời điểm dùng thuốc

Tình hình kiểm soát đường huyết

Tỷ lệ BN hiện đang kiểm soát tốt HbA1C trong nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của Lê Văn Chi (47,8% so với 16,7%)(8) Điều này có thể phản ánh hiệu quả điều trị khá tốt tại BV ĐHYD Tuy nhiên, việc chỉ 46,0% BN được đo HbA1C tại thời điểm khảo sát cũng là một hạn chế khiến chúng tôi chưa thể đánh giá toàn diện về hiệu quả kiểm soát thông số này

Tỷ lệ BN kiểm soát tốt ĐTĐ theo khuyến cáo của ADA 2017 vẫn còn khiêm tốn (36,8%) Điều này cho thấy kiểm soát tốt đường huyết ở người cao tuổi vẫn luôn là một thách thức đối với nhà điều trị do ngoài việc sử dụng thuốc, các biện pháp thay đổi lối sống như tập thể dục, điều chỉnh chế độ ăn uống, thói quen dùng rượu bia, thuốc lá cũng như kiểm soát cân nặng là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, rất khó để có thể kiểm soát tốt các yếu tố này, đặc biệt là với BN cao tuổi Trong nghiên cứu này, tỷ lệ BN thừa cân, béo phì còn khá cao (54,0%) Kết quả cho thấy tỷ lệ

BN có tập thể dục khá khả quan (74,0%) Tuy nhiên, khi xét về thời gian vận động theo khuyến cáo dành cho BN ĐTĐ cao tuổi(11) thì tỷ lệ này khiêm tốn hơn với chỉ 52,5% BN tập thể dục ít nhất 30 phút/ngày và 62,4% BN tập thể dục ít nhất 5 ngày/tuần

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không khảo sát về mức độ tuân thủ dùng thuốc cũng như các biện pháp thay đổi lối sống của BN như chế độ ăn uống, mức độ kiểm soát biến chứng cũng như các bệnh lý kèm theo ở BN cao tuổi Điều này cũng góp phần hạn chế việc

Trang 7

xác định nguyên nhân tỷ lệ BN kiểm soát bệnh

chưa cao trong nghiên cứu này

Tình trạng hạ đường huyết

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, chỉ

khoảng một nửa số BN cao tuổi (45,1%) có

hiểu biết về tình trạng hạ đường huyết quá

mức thông qua bác sĩ, bạn bè, người thân…

hoặc tự tìm hiểu trên internet Tuy nhiên, cũng

có nhiều BN có hiểu biết về tình trạng hạ

đường huyết do bản thân đã từng bị hạ đường

huyết quá mức trong quá trình điều trị bằng

thuốc Kết quả nghiên cứu cho thấy BN được

điều trị bằng insulin có hiểu biết về tình trạng

hạ đường huyết cao hơn có ý nghĩa thống kê

so với những BN được điều trị bằng

sulfonylurea (56,7% so với 40,3%, p = 0,002)

hoặc bằng thuốc điều trị ĐTĐ khác (57,6% so

với 37,5%, p = 0,002) Điều này có thể là do hạ

đường huyết quá mức là một tác dụng phụ

nguy hiểm của insulin Do đó, có thể những

BN được điều trị bằng thuốc này đã được bác

sĩ dặn dò kỹ hơn Ngoài ra, kết quả nghiên

cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ BN đã từng bị hạ

đường huyết quá mức trong nhóm dùng

insulin cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các

nhóm thuốc khác (p < 0,05) Như vậy, các BN

dùng insulin có thể có nhiều kinh nghiệm bị

hạ đường huyết hơn và do đó có hiểu biết

nhiều hơn so với các nhóm BN còn lại

Việc sử dụng các thuốc điều trị ĐTĐ, đặc

biệt là các thuốc dễ gây hạ đường huyết quá

mức như insulin và sulfonylurea, nên được

theo dõi cẩn thận trên đối tượng BN cao tuổi

Do đó, BN cao tuổi cần được cung cấp những

thông tin chính xác, phù hợp với khả năng

nhận thức của BN về tác dụng phụ của thuốc,

đặc biệt là hạ đường huyết quá mức, để giúp

BN có những biện pháp phòng tránh hiệu quả

và có thể kiểm soát tình trạng hạ đường huyết quá mức được tốt hơn

Các biện pháp xử lý tình trạng hạ đường huyết của BN

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, chỉ

có 31,6% BN biết dùng nước đường để giải quyết tình trạng hạ đường huyết quá mức khi gặp phải Cần chú ý rằng, mặc dù tỷ lệ BN biết về tình trạng hạ đường huyết quá mức cao hơn (45,1%) nhưng không phải tất cả các BN trong số

họ đều có những biện pháp đúng để phòng tránh hạ đường huyết quá mức kịp thời

Theo Hiệp hội Đái Tháo Đường Canada,

để có thể xác định đúng tình trạng hạ đường huyết và có những biện pháp xử lý đúng, BN cần phải đo đường huyết mao mạch của mình ngay tại thời điểm nghi ngờ hạ đường huyết xảy ra Nếu kết quả đường huyết < 4 mmol/L, bệnh nhân cần được bổ sung ngay 15 – 20 g glucose dưới dạng kẹo glucose hay nước đường Nếu đường huyết ≥ 4 mmol/L, có thể uống sữa hay ăn trái cây ngọt(4) Tuy nhiên, tất

cả BN cao tuổi trong nghiên cứu này đều không có thói quen đo đường huyết mao mạch tại nhà Do đó, BN có nguy cơ không đánh giá được mức độ hạ đường huyết, dẫn đến không có những biện pháp xử lý phù hợp Thực tế, có 4,6% BN không có biện pháp xử lý nào để cải thiện tình trạng hạ đường huyết khi gặp phải, cũng như có 1,7% BN đã tự ngưng dùng thuốc một thời gian Những cách xử trí này có thể dẫn đến hậu quả hết sức nặng nề, khiến BN không thể kiểm soát được tình trạng bệnh, có thể ảnh hưởng đến tính mạng cũng như tạo ra gánh nặng về chi phí điều trị cho

BN Nghiên cứu cũng ghi nhận 11,8% BN đã từng phải nhập viện vì bị hạ đường huyết quá mức trong tình trạng hôn mê, không loại trừ sau khi áp dụng các biện pháp xử trí hạ đường huyết không thích hợp

Một kết quả đáng ngạc nhiên là có đến 94,5% số BN cho biết đã cải thiện các triệu chứng sau khi xử trí Kết quả này có vẻ mâu

Trang 8

thuẫn với tỷ lệ BN có cách xử trí đúng Điều

này có thể cho thấy khả năng BN đã không

phân biệt được chính xác hạ đường huyết quá

mức với các tình trạng khác do chỉ dựa trên

triệu chứng mà không đo đường huyết cụ thể

Trong khi đó, có nhiều biểu hiện hạ đường

huyết quá mức ghi nhận được ở các BN này

rất khó phân biệt với những rối loạn thông

thường của tuổi già như mệt mỏi (21,0%),

chóng mặt (26,3%) Cùng với việc sử dụng

các thuốc dễ gây hạ đường huyết như insulin

và sulfonylurea, tuổi già và sự suy giảm chức

năng thận trên đối tượng BN cao tuổi đều là

những yếu tố nguy cơ cao làm gia tăng tình

trạng hạ đường huyết quá mức(6) Do đó, cần

thiết phải nâng cao hiểu biết của BN, giúp BN

hiểu rõ được mức độ nghiêm trọng của tình

trạng hạ đường huyết quá mức, nâng cao sự

tuân thủ trong điều trị cũng như có những

biện pháp khắc phục tình trạng hạ đường

huyết đúng và kịp thời, ví dụ như giúp BN có

thói quen đo đường huyết mao mạch thường

xuyên, hay luôn mang theo kẹo glucose bên

mình để sử dụng khi gặp những triệu chứng

của hạ đường huyết, không bỏ bữa sau khi

dùng thuốc…

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số BN cao

tuổi được điều trị bằng phối hợp hai thuốc

hoặc phối hợp ba thuốc để có thể kiểm soát tốt

đường huyết Tỷ lệ BN cao tuổi đã kiểm soát

ĐTĐ vẫn còn chưa cao Có gần 30% bệnh nhân

cho biết đã từng bị hạ đường huyết trong

vòng 1 tháng trước Tuy nhiên, hiểu biết của

BN cao tuổi về tình trạng hạ đường huyết quá

mức cũng như cách phòng ngừa, xử trí vẫn

còn hạn chế Do đó, BN cần được cung cấp

nhiều thông tin hơn về thuốc và về tác dụng

phụ của thuốc, đặc biệt là tình trạng hạ đường

huyết quá mức, để có thể kiểm soát ĐTĐ hiệu quả và an toàn hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 ADVANCE Collaborative Group (2008) Intensive blood glucose control and vascular outcomes in patients with

type 2 diabetes The New England Journal of Medicine, 358:

pp.2560-2572

2 American Diabetes Association (2017) Standards of

medical care in diabetes, Older adults Diabetes Care, 37:

pp.81-85

3 Budnitz DS et al (2011) Emergency hospitalizations for

adverse drug events in older Americans The New England

Journal of Medicine, 365: pp.2002-2012

4 Comité d’experts des Lignes directrices de pratique clinique de l’Association canadienne du diabète (2003) Lignes directrices de pratique clinique 2003 de l’Association canadienne du diabète pour la prévention et

le traitement du diabète au Canada Canadian Journal of

Diabetes, 27 (Suppl 2): S48

5 Inzucchi SE, Bergenstal RM, et al (2015) Management of hyperglycemia in type 2 diabetes, 2015: a patient-centered approach: update to a position statement of the American Diabetes Association and the European Association for the

Study of Diabetes Diabetes Care, 38: pp.140-149

6 Jaap AJ, et al (1998) Perceived symptoms of hypoglycemia

in elderly type 2 diabetic patients treated with insulin

Diabetic medicine: a journal of the British Diabetic Association,

15(5): pp.398-401

7 Kirkman MS, et al (2012) Diabetes in older adults Diabetes

Care, 35: pp.2650-2664

8 Lê Văn Chi, Trần Quang Trung (2011) Tình hình sử dụng thuốc hạ glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Dược Huế http://bomonnoiydhue.edu.vn/?cat_id=138&id=332

9 Masahiro Fukuda, et al (2011) Survey of Hypoglycemia in Elderly People With Type 2 Diabetes Mellitus in Japan,

Journal of Clinical Medicine Research, 7(12): pp.967-978

10 Mohamed M, Diabcare–Asia 2003 Study Group (2008) An audit on diabetes management in Asian patients treated by

specialists, the Diabcare – Asia 1998 – 2003 studies Current

Medical Research and Opinion, 24 (2): pp.507 - 514

11 Sheri Colberg (2013) Older Adults In: Sheri Colberg Exercise and Diabetes: A Clinician’s Guide to Prescribing Physical Activity, 1 st edition, pp 374 - 384 American Diabetes Association

Ngày nhận bài báo: 18/10/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm