Theo đúng lộ trình cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, thời điểm 11/01/2014 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã chính thức tham gia thị trường logistics đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -PHÙNG ANH VŨ
QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS VINALINK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -PHÙNG ANH VŨ
QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS VINALINK
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sựhướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được
sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này , tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn , giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đạihọc Kinh tế - Đaịhocc̣ Quốc gia HàNôị
Trước hết , tôi xin chân thành cảm ơn đến quýthầy cô trường Đại học Kinh tế, đã tận tình hướng dâñ, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Tạ Kim Ngọc đã dành rấtnhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thànhluận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiệnluận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đượcnhững đóng góp tận tình của quýthầy cô và các bạn
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về logistics và quản lý dịch vụ logistics …… 5
1.1.2 Cơ hội và thách thức trong quản lý dịch vụ logistics ở nước ta hiện nay 8
1.2 Cơ sở lý luận của quản lý dịch vụ logistics tại doanh nghiệp ………12
1.2.1 Khái niệm và phân loại về dịch vụ logistics ….……… 12
1.2.2 Quản lý dịch vụ logistics tại doanh nghiệp ………
199 1.3 Kinh nghiệm quản lý dịch vụ Logistics của các công ty logistics trong và ngoài nước và bài học kinh nghiệm cho Vinalink ……… 277
1.3.1 Kinh nghiệm của công ty Maersk Logistics 277
1.3.2 Kinh nghiệm của công ty Transimex 288
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Vinalink 288
CHƯƠNG 2: KHUNG KHỔ PHÂN TÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3030
2.1 Khung khổ phân tích 30
2.1.1 Thiết kế mô hình nghiên cứu 30
2.1.2 Thu thập dữ liệu thứ cấp 30
2.1.3 Phân tích dữ liệu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp thống kê 31
2.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp 31
Trang 62.2.4 Phương pháp kế thừa 32
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS VINALINK 33
3.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Logistics Vinalink 33
3.1.1 Các thông tin chung về công ty 33
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 35
3.1.3 Mô hình quản trị, tổ chức kinh doanh và bộ máy quản lý 36
3.1.4 Đặc điểm về các nguồn lực của công ty 37
3.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua các năm 41
3.2 Thực trạng quản lý dịch vụ logistics tại công ty Cổ phần Logistics Vinalink giai đoạn 2012-1014 43
3.2.1 Dịch vụ khách hàng 43
3.2.2 Quản lý kho 46
3.2.3 Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển và đường hàng không 48
3.2.4 Vận chuyển đường bộ 50
3.2.5 Dịch vụ khai thuê Hải quan 53
3.2.6 Tạo liên kết trong chuỗi dịch vụ logistics 55
3.3 Nhận xét về quản lý dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink 56
3.3.1 Thành tựu 56
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân .57
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS VINALINK 60
4.1 Định hướng quản lý dịch vụ Logistics tại Vinalink 60
4.1.1 Định hướng phát triển dịch vụ Logistics của công ty đến năm 2020 60
4.1.2 Mục tiêu quản lý dịch vụ Logistics của công ty đến năm 2020 60
4.2 Giải pháp và kiến nghị 61
4.2.1 Giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý dịch vụ Logistics tại công ty Cổ phần Logistics Vinalink 61
4.2.2 Kiến nghị với Nhà nước 74
Trang 74.2.3 Kiến nghị với Hiệp hội
75
KẾT LUẬN 76 Danh mục tài liệu tham khảo 77
Trang 1067891011
Trang 11iii
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, dịch vụ logistics đã qua nhiều giai đoạn phát triển, đến nayđang trong thời kỳ quản trị chuỗi cung ứng (SCM) với đặc trưng nổi bật là pháttriển quan hệ đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất, nhà cung cấp với ngườitiêu thụ và những bên liên quan Với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt20%-25%, logistics đã và đang trở thành một ngành dịch vụ đầy triển vọng tạiViệt Nam, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế đất nước
Theo đúng lộ trình cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thời điểm 11/01/2014 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã chính thức tham gia thị trường logistics để cung ứng các dịch vụ kho bãi và dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa Đây là thách thức lớn đối với doanh nghiệp trong nước khi
mà các doanh nghiệp nước ngoài đang đầu tư và kinh doanh sôi động tại Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ trọn gói với trình độ công nghệ hiện đại, kỹ thuật quản lý tiên tiến, bề dày kinh nghiệm cùng uy tín cả trăm năm Trong khi đó, hầu hết doanh nghiệp logistics của nước ta đóng vai trò như những nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài Hiện tại, nhiều doanh nghiệp vẫn chỉ dừng lại ở việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ cơ bản, đơn lẻ như vận chuyển, kho bãi, làm thủ tục hải quan,… mà thiếu hẳn những dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cao Thực tế, doanh nghiệp của chúng ta mới chỉ đáp ứng được khoảng ¼ nhu cầu thị trường với một danh mục nghèo nàn về các loại hình dịch vụ logistics.
Vậy các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đã có những động thái
gì trước biến đổi to lớn trong thị trường kinh doanh đầy sôi động này thời giantới? Ngoài việc nâng cao sức cạnh tranh thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, trangthiết bị, công nghệ thông tin, nhân lực chuyên nghiệp hay phát triển dịch vụ mớithì việc tăng cường quản lý dịch vụ logistics trở thành vấn đề sống
Trang 14còn đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam nói
chung trong đó có Công ty Cổ phần Logistics Vinalink
Công ty Cổ phần Logistics Vinalink với mục tiêu trở thành một trongnhững nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp hàng đầu của Việt Nam
đã và đang chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở các đầu mối trọng điểm,như Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh hướng tới mở rộng và đadạng hóa các loại hình dịch vụ logistics
Hiện nay, ngoài việc không ngừng cải tiến, hoàn thiện những dịch vụ
mà Công ty đang sẵn có Vinalink cũng đã cung cấp thêm một số dịch vụ mới,như kho bảo quản hàng, vận tải hàng hóa, với mục đích phát triển thànhcông chuỗi dịch vụ Logistics Tuy nhiên, cho đến nay những dịch vụ này vẫnchỉ dừng lại ở mức trung bình mà chưa mang lại lợi nhuận tối đa cũng như sự
kỳ vọng của khách hàng Nguyên nhân là do cách thức quản lý và triển khaihoạt động logistics của Công ty Vinalink còn nhiều hạn chế
Để nâng cao khả năng cạnh tranh hơn nữa của Công ty Cổ phầnLogistics Vinalink vấn đề quan trọng đặt ra là Công ty phải tìm kiếm nhữnggiải pháp thích hợp để hoàn thiện quản lý dịch vụ logistics trong thời gian tới
Trên phương diện đó, tôi đã chọn đề tài “Quản lý dịch vụ logistics tại công
ty Cổ phần Logistics Vinalink” cho luận văn thạc sĩ của mình.
Luận văn sẽ trả lời cho câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Vì sao dịch vụ logistics do Vinalink cung cấp còn yếu và rời rạc?
2 Công ty Cổ phần Logistics Vinalink sẽ làm gì để hoàn thiện quản lý dịch vụ logistics?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 152.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận quản lý dịch vụ logistics của doanh
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quản lý dịch vụ logistics tại Công
ty Cổ phần Logistics Vinalink trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink
3.2 Pham vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian:
Số liệu thống kê và khảo sát phục vụ nghiên cứu được thu thập từ năm
2012 đến hết năm 2014 Tầm nhìn của các giải pháp cụ thế đến năm 2020
- Phạm vi về không gian:
Đề tài tập trung nghiên cứu sâu vào quản lý dịch vụ logistics trong chỗi cung ứng (Supply Chain) tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink, trong mối quan hệ với các thị trường chính của công ty, các đối tác chính mà công ty có quan hệ và một vài công ty logistics khác không có quan hệ trực tiếp nhưng có những nét tương đồng với công ty nhằm mục đích học hỏi kinh nghiệm và so sánh đối chứng.
Trang 163
Trang 17- Đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý dịch vụ logsitics của Công ty.
5 Kết cấu của luật văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận của quản lý dịch vụ
logistics tại doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý dịch vụ logistics tại công ty Cổ phần
Logistics Vinalink
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý dịch vụ logistics tại công ty Cổ
phần Logistics Vinalink
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA
QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về logistics và quản lý dịch vụ logistics
Liên quan tới đề tài luận văn đã có nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu là:
* Các công trình nghiên cứu về
logistics: - Các sách chuyên khảo chính:
(1) “Logistics - Những vấn đề cơ bản”, do Đoàn Thị Hồng Vân chủ biên
2003, Nhà xuất bản Lao động - xã hội, Hà Nội Trong cuốn sách này, các tácgiả tập trung vào giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về logistics như kháiniệm, lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinhnghiệm phát triển logistics của một số quốc gia trên thế giới
(2) “Quản trị logistics” Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 2006 Cuốn
sách tập trung vào những nội dung của quản trị logistics như khái niệm quảntrị logistics, các nội dung của quản trị logistics như dịch vụ khách hàng, hệthống thông tin, quản trị dự trữ, quản trị vật tư, vận tải, kho bãi
(3) “Quản trị logistics kinh doanh” do Nguyễn Thông Thái và An Thị
Thanh Nhàn chủ biên Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 2011 Giáo trình nàydành chương đầu tiên để giới thiệu tổng quan về quản trị logistics kinh doanhnhư khái niệm và phân loại logistics, khái niệm và mục tiêu của quản trịlogistics, mô hình quản trị logistics, các quá trình và chức năng logistics cơbản 5 chương còn lại đi sâu vào nội dung quản trị logistics cụ thể như dịch
vụ khách hàng, quản trị dự trữ, quản trị vận chuyển, quản trị các hoạt độnglogistics hỗ trợ, thực thi và kiểm soát logistics
- Các đề tài, dự án trọng điểm:
Trang 19(4) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Thương mại
(5) Đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” do Đặng Đình Đào
Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân chủnhiệm được thực hiện trong 2 năm 2010, 2011 với sự tham gia của nhiều nhàkhoa học và tiến hành thu thập số liệu thông qua điều tra, phỏng vấn ở 10 tỉnh,thành phố trong cả nước Đây là một công trình nghiên cứu khoa học quy mônhất cho đến nay liên quan đến logistics ở Việt Nam Chủ yếu tập trung phân tíchcác dịch vụ logisitcs chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh trên địa bàn Hà Nội Trong khuôn khổ đề tài này, 2 cuốn sáchchuyên khảo đã được xuất bản, cuốn sách chuyên khảo thứ nhất (6) sách
“Logistics - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, tập hợp 26 báo
cáo khoa học tại hội thảo của đề tài do đông đảo các nhà khoa học, nhà nghiêncứu và những người hoạt động logistics thực tiễn ở Việt Nam tham luận tạihội thảo Kết quả nghiên cứu của đề tài được giới thiệu một cách đầy đủ và
chi tiết trong cuốn sách tham khảo thứ hai (7) sách “Dịch vụ logistics ở Việt
Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” Đặng Đình Đào – Nguyễn Minh Sơn
(Đồng chủ biên) Nhà xuất bản Chính trị quốc Gia
* Các công trình nghiên cứu về quản lý dịch vụ logistics:
(8) “Quản lý nhà nước đối với dịch vụ logistics ở cảng Hải Phòng”,
Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế, Viện Nghiên cứu quản lý kinh
Trang 20tế Trung ương (2015) của Nguyễn Quốc Tuấn, Luận văn đã hệ thống hóa cácvấn đề lý luận liên quan đến quản lý nhà nước (QLNN) đối với dịch vụlogistics cảng biển; đánh giá thực trạng QLNN đối với dịch vụ logistics ởcảng Hải Phòng Xác định các nguyên nhân, các vấn đề yếu kém trong QLNNđối với dịch vụ logistics ở cảng Hải Phòng, xác định các yếu tố tác động đếnkết quả QLNN đối với dịch vụ logistics ở cảng Hải Phòng đồng thời kiến nghịvới các cấp QLNN và đưa ra các giải pháp đổi mới QLNN đối với dịch vụlogistics ở cảng Hải Phòng.
(9) “Hội nghị chuyên đề về quy hoạch, quản lý khai thác cảng biển và
logistics” do Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) tổ chức ngày 29/9/2012 tại Hà
Nội Các đại biểu đại diện cho Hải Phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu đều cho rằngphát triển cảng biển gắn liền với logistics là hướng đi tất yếu, nhưng cần có
sự quản lý thống nhất, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, sự phối hợpcủa nhiều cơ quan bộ ngành, đồng thời phải tạo ra được cơ chế chính sách cụthể hơn thì mới đạt hiệu quả cao
(10) Bài viết “Đề xuất xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần cảng biển tại khu vực cảng biển Hải Phòng” của Đặng Công Xưởng – Khoa Kinh tế vận tải
biển, Trường Đại học Hàng hải, đăng trên Tạp chí Khoa học Công nghệ
Hàng hải Số 28 – 11/2011, bài viết cho biết việc xây dựng trung tâm dịch vụhậu cần cảng biển có vai trò lớn trong chuỗi vận tải Nó đóng vai trò thu gom,phân loại và làm các thủ tục cần thiết cho hàng hoá xuất nhập khẩu Vì vậy,góp phần làm giảm thời gian ứ đọng hàng và giảm tối đa các chi phí liên quan.Nêu ra được vai trò, tác dụng và các chức năng chính của Trung tâm dịch vụhậu cần cảng biển, cùng kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới Thôngqua việc đánh giá thực trạng hoạt động của dịch vụ hậu cần cảng tại khu vựccảng biển cũ ở Hải Phòng, bài viết đã đưa ra những lý do cần thiết phải xâydựng Trung tâm dịch vụ hậu cần cảng biển tại khu vực cảng biển mới của Hải
Trang 21Phòng Trên cơ sở khu vực địa lý, bài viết đề xuất các phương án xây dựngTrung tâm dịch vụ hậu cần cảng biển, góp phần nâng cao năng lực của khuvực cảng biển Hải Phòng.
Tóm lại có rất nhiều các công trình nghiên cứu về dịch vụ logistics vàquản trị dịch vụ logistics như các tài liệu (1), (2), (3) đã làm rõ được kháiniệm dịch vụ logistics và quản trị dịch vụ logistics, đồng thời đưa ra cácphương pháp nhằm quản trị lĩnh vực dịch vụ này một cách có hiệu quả Cáccông trình nghiên cứu (4), (5), (6), (7), tập trung nghiên cứu và khẳng định giátrị của dịch vụ logistics đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam, lý thuyết hóa
về phương pháp, cách thức quản lý dịch vụ logistics, đánh giá tổng thể vềhoạt động dịch vụ logistics ở Việt Nam và đưa ra mục tiêu, chiến lược chodịch vụ logistics Việt Nam
Các công trình nghiên cứu (8), (9), (10) tập trung nghiên cứu về dịch vụlogistics cảng biển và QLNN về dịch vụ logistics cảng biển, công trình này đã
hệ thống hóa về dịch vụ logistics cảng biển, khẳng định vai trò của dịch vụlogistics cảng biển trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời đề ra phương hướngnhằm phát triển có hiệu quả đối với dịch vụ logistics cảng biển Hải Phòng.Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến quản lý dịch vụ logisticstại công ty Cổ phần Logistics Vinalink
1.1.2 Cơ hội và thách thức trong quản lý dịch vụ logistics ở nước ta hiện nay.
Sau 8 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thịtrường dịch vụ logistics Việt Nam có sự chuyển biến tích cực với số lượng cácdoanh nghiệp hoạt động trong ngành phát triển nhanh và có tốc độ tăng trưởngcao Nếu nhìn vào tốc độ phát triển thương mại nước ta, cũng là mục tiêu pháttriển của ngành dịch vụ logistics, sẽ thấy kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên1,86 lần, thị trường bán lẻ trong nước tăng bình quân 20-25%/năm và kết quả,ngành dịch vụ logistics cũng tăng tương ứng 20-25%/năm Tuy
Trang 22nhiên, theo thống kê cho thấy các công ty logistics Việt Nam mới chỉ hoạtđộng trong phạm vi nội địa hay một vài nước trong khu vực, và chủ yếu làmđại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp logistics quốc tế.Trong khi đó, các công ty nước ngoài (khoảng 25 công ty đa quốc gia, chiếmtới 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam) với phạm vi hoạtđộng gần 100 quốc gia khác nhau Đây là một trong những cản trở cho cácdoanh nghiệp Việt Nam cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng Bởi lẽ,trong xu thế toàn cầu hóa, chủ hàng thường có xu hướng thuê ngoài từ rấtnhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới Mặc dù có thể tính đến vai trò của cácđại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác, nhưng quan hệnày thường khá lỏng lẻo và không đồng nhất.
Đây chính là những nguyên nhân cơ bản làm cho năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp logistics Việt Nam thấp, thua xa so với các doanh nghiệp nướcngoài hiện nay là điều dễ hiểu và các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn đóngvai trò là “vệ tinh” cho các công ty logistics nước ngoài, chỉ đảm nhận một sốdịch vụ đơn lẻ trong hoạt động logistics như làm thủ tục hải quan, cho thuêphương tiện vận tải, kho bãi… Trong bối cảnh khi mà hoạt động xuất nhập khẩucủa Việt Nam ngày càng phát triển, thương mại nội địa ngày càng mở rộng, nhucầu dịch vụ logistics càng gia tăng thì đây là vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm,khắc phục để hạn chế thua thiệt ngay trên “sân nhà” đối với lĩnh vực được coi làngành dịch vụ “cơ sở hạ tầng” của nền kinh tế, không chỉ đem lại nguồn lợi tolớn đối với đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong đổi mới mô hình tăngtrưởng và cơ cấu lại nền kinh tế hiện nay
1.1.2.1 Thách thức
Trên con đường thực hiện mục tiêu hội nhập ngành logistics, Việt Namcũng đang đối mặt với nhiều thách thức như: Cơ sở hạ tầng cho hoạt độnglogistics nghèo nàn và thiếu đồng bộ, hạn chế, dẫn đến chi phí logistics của Việt
Trang 23Nam còn cao hơn nhiều so với các nước; Doanh nghiệp logistics quy mô nhỏ,hoạt động manh mún và thiếu tính chuyên nghiệp, song tính hợp tác và liên kết
để tạo ra sức cạnh tranh lại còn rất yếu nên làm cho khả năng cạnh tranh thấp, vàđây là tiền lệ xấu tạo cho các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh thị trườngngành logistics non trẻ của Việt Nam; thiếu hụt nguồn nhân lực logistics đượcđào tạo bài bản và có trình độ quản lý logistics; môi trường pháp lý còn nhiềubất cập, sự khác biệt về hệ thống luật pháp, thông quan hàng hoá và các thủ tụchành chính là những thách thức đối với nước ta trong hội nhập về logistics
Nhiều cơ quan chức năng, các nhà quản lý, cũng như các doanh nghiệpchưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của ngành Nhìn chung, khi nói đếnđối tượng sử dụng dịch vụ logistics (các công ty thương mại, các doanhnghiệp xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp chế biến sản xuất), các cơ quanquản lý cũng như các doanh nghiệp chưa đánh giá hết được tầm quan trọngcủa việc quản lý dịch vụ logistics và chuỗi cung ứng, đặc biệt là các côngđoạn còn lại từ cảng trong nước đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh các hoạt động logistics hiện nay đã khôngcòn phù hợp, thiếu cập nhật các định chế cần thiết trong lĩnh vực logistics quốc
tế Vì vậy, thị trường dịch vụ logistics vẫn còn thiếu tính minh bạch, cạnh tranhchưa lành mạnh, chưa tạo điều kiện phát triển bền vững cho ngành
Cơ sở vật chất hạ tầng còn chậm phát triển cũng là một hạn chế lớn đốivới sự phát triển của logistics
Hoạt động của chính các doanh nghiệp logistics còn nhiều hạn chế, cả
về quy mô hoạt động, vốn, nguồn nhân lực…
Thiếu sự kết nối giữa doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp logistics
Trang 241.1.2.2 Cơ hội
Nếu nhìn vào bức tranh chung của ngành logistics Việt Nam thì cácdoanh nghiệp nước ngoài đang ở thế trên Tuy nhiên, vẫn có một số lợi thế vềdoanh nghiệp nội địa, đó là:
Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam sở hữu phần lớn kho bãi, khiến
doanh nghiệp nước ngoài phải thuê lại hoặc liên kết, liên doanh để phục vụdịch vụ logistics;
Thứ hai, các doanh nghiệp trong nước hiểu được thị trường, tâm lý
khách hàng, địa lý, thời tiết, văn hóa của người bản địa hơn doanh nghiệpnước ngoài;
Thứ ba, về nhân sự, lao động Việt Nam thông minh, nhanh nhạy nên dễ
dàng nắm bắt các quy trình, công nghệ tiên tiến của nước ngoài
Trong những năm gần đây, thị trường dịch vụ đang được nhà nướcquan tâm chú trọng phát triển, trong đó đáng chú ý là thị trường dịch vụlogistics Tuy còn nhiều bất cập về thể chế, quản lý, đầu tư cơ sở hạ tầng,công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành logistics, nhưng có thể nhìnthấy sự chuẩn bị của Chính phủ, các bộ ngành liên quan đã tạo được diện mạomới cho ngành logistics Việt Nam Chính phủ đã ban hành các quy định,chính sách tạo điều kiện thuận lợi thương mại cho các doanh nghiệp logisticstrong nước hoạt động và phát triển ngành nghề như Nghị định 140/2007/NĐ-
CP của Chính phủ, ngày 05 tháng 09 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thươngmại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics; Nghị định 115/2007/NĐ-CPcủa Chính phủ, ngày 05 tháng 07 năm 2007 về điều kiện kinh doanh dịch vụvận tải biển; Nghị định 87/2009/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 19 tháng 10năm 2009 về vận tải đa phương thức… Kể từ năm 2009, hàng năm Chính phủđều ban hành hàng loạt các quyết định về quy hoạch giao thông vận tải, cảngbiển, đường sắt, đường thuỷ và hàng không… đến năm 2020 tầm nhìn 2030
Trang 25Ngày 27 tháng 01 năm 2011, Quyết định số 175/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ phê duyệt chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụcủa Việt Nam đến năm 2020 đã được ban hành trong đó lần đầu tiên ViệtNam có chiến lược dịch vụ logistics Hàng năm các bộ ngành ban hành nhiềuvăn bản nhằm hướng dẫn, điều chỉnh, giảm bớt các thủ tục phiền hà, thúc đẩycác hoạt động ngành logistics và dịch vụ logistics Ngày 23 tháng 10 năm
2012 Chính phủ ban hành nghị định số 87/2012/NĐ-CP, quy định chi tiết một
số điều của luật Hải quan về thủ tục hải quan điện tử với nhiều cải cách trongthủ tục hải quan Quyết định số 950/QĐ/TTg ngày 25 tháng 07 năm 2012,Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chương trình hành động thực hiện chiếnlược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến 2030 trong
đó đề cập đẩy nhanh xã hội hóa dịch vụ logistics, đầu tư kho bãi tại cảng biểnlớn, các địạ điểm thông quan, quy hoạch hệ thống logistics trên cả nước, nângcao thị phần vận chuyển hàng hóa các doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay, luậtHải quan cũng đang trong quá trình sửa đổi theo hướng tạo thuận lợi thươngmại và logistics cũng như phù hợp thông lệ quốc tế và khu vực
1.2 Cơ sở lý luận của quản lý dịch vụ logistics tại doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và phân loại về dịch vụ logistics
1.2.1.1 Khái niệm về logistics
Xu thế của kinh tế thế giới là toàn cầu hóa với ưu điểm tuyệt đối làm chonền kinh tế phát triển năng động và vững chắc hơn Toàn cầu hóa khiến giaothương của các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triển mạnh mẽ và đươngnhiên kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ khác Xuthế mới này dẫn đến sự nảy sinh và phát triển tất yếu của dịch vụ logistics, đượcghi nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu và là một công cụ mang lại thànhcông cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất cũng như khu vực dịch vụ
Do đó, nghiên cứu về dịch vụ logistics là việc làm cần thiết
Trang 26quan trọng nhằm nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp Việt Nam nói chung và Công ty CP Logistics Vinalink nói riêng.
(Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ, 1988) “Logistics là quá trình lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển và dự trữ hànghóa, dịch vụ từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao chohiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”
Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng thì “Logistics là quá trình tối ưuhóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểmxuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ đến tayngười tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.(Logistics and Supply Chain Management, Ma Shuo, tài liệu giảng dạy củaWorld Maritime University, 1999)
Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức vàquản lý logistics, Trường Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002) “Logistics
là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưukho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của kháchhàng”
Theo quan điểm 7 đúng (seven rights) thì: “Logistics là quá trình cungcấp đúng sản phẩm đến đúng khách hàng, một cách đúng số lượng, đúng điềukiện, đúng địa điểm, đúng thời gian với chi phí phù hợp cho khách hàng tiêudùng sản phẩm” (Douglas M Lambert, James R Stock, Lisa M.Ellram,Fundamentals of Logistics management, McGraw-Hill, 1998, p.11)
PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân đã định nghĩa trong tài liệu “Logistics Những vấn đề cơ bản” NXB Thống kê Hà Nội 2003 “Logistics là quá trình tối
-ưu hoá các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơitiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” Logistics được
mô tả là các hoạt động (dịch vụ) liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao
Trang 27gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi,thủ tục phân phối, hải quan Logistics là tập hợp các hoạt động của nhiềungành nghề, công đoạn trong một quy trình hoàn chỉnh.
Hoặc “ Logistics là nghệ thuật và khoa học giúp quản trị và kiểm soátdòng chảy của hàng hóa, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác”
Quản lý cung ứng vật tư kỹ thuật
(inbound logistics)
Phân phối sản phẩm(outbound logistics)
Hình 1.1 Chuỗi logistics từ sản xuất đến tiêu dùng
Nguồn: http://www.vlr.vn/vn/ (Cổng thông tin logistics Việt Nam)
Như vậy, logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mậtthiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau được thực hiện một cách khoa học và
có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện,kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện các hoạt động bao gồm các công việc liênquan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hảiquan Do đó, logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhautrong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược
1.2.1.2 Khái niệm và phân loại về dịch vụ logistics.
Khái niệm về dịch vụ logistics.
Theo Luật Thương mại Viêt Nam năm 2005 tại Mục 4, Điều 233,
“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực
Trang 28hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưubãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đónggói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến
hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Dịch vụ logistics
là hoạt động kinh doanh thương mại mà chủ thể kinh doanh thực hiện mộtchuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lạilẫn nhau được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bướcnghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát vàhoàn thiện, là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùngmột tổ chức, từ xây dựng chiến lược cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thểnhằm đạt được mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của thị trường
Dịch vụ logistics trong ngành vận tải xuất nhập khẩu, bao gồm mọi hoạtđộng của thương nhân nhằm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện các dịch vụ kinhdoanh liên quan đến vận tải (đường biển, đường bộ, đường hàng không, đườngthủy nội địa,…), lưu kho bãi, sắp xếp, đóng gói, bao bì hàng hóa sẵn sàng choquá trình vận tải và phân phối hàng đi các nơi theo yêu cầu của người ủy thác.Như vậy, không nên hiểu dịch vụ logistics một cách thô sơ như là một khâu vậnchuyển và lưu trữ hoặc chỉ là một dịch vụ hậu cần đơn thuần
Phân loại về dịch vụ logistics.
- Các dịch vụ Logistics chủ yếu
+ Dịch vụ giao nhận vận tải;
+ Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
+ Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
Trang 29+ Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho vàquản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cảchuỗi Logistics.
- Các dịch vụ Logistics liên quan đến vận tải
+ Dịch vụ vận tải hàng hải
+ Dịch vụ vận tải thủy nội địa
+ Dịch vụ vận tải hàng không
+ Dịch vụ vận tải đường sắt
+ Dịch vụ vận tải đường bộ
+ Dịch vụ vận tải đường ống
- Các hình thức khai thác hoạt động logistics
+ Logistics bên thứ nhất (1 PL - First Party Logistics): Người chủ sở
hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứngnhu cầu của bản thân Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phươngtiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vậnhành hoạt động logistics First Party Logistics làm phình to quy mô của doanhnghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có
đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vậnhành hoạt động logistics
+ Logistics bên thứ hai (2 PL - Second Party Logistics): người cung
cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt độngđơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan,thanh toán ) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt độnglogistics Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ,đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trunggian thanh toán
Trang 30+ Logistics bên thứ ba (3 PL - Third Party Logistics): Là người thay mặt
cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức
năng, ví dụ như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu vàvận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thôngquan và vận chuyển hàng tới địa điểm đến quy định Do đó 3PL bao gồmnhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa,
xử lý thông tin và có tính tích hợp vào dây truyền cung ứng của khách hàng
+ Logistics bên thứ tư (4 PL - Fourth Party Logistics): Là người tích
hợp (integrator) người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở
vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xâydựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics 4PL chịu trách nhiệm quản lýdòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp đây truyền cung ứng, hoạchđịnh, tư vấn logistics, quản trị vận tải 4PL hướng đến quản trị cả quá trìnhlogistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưahàng tới nơi tiêu thụ cuối cùng
+ Logistics bên thứ năm (5 PL - Fifth Party Logistics): 5PL phát triển
nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL
và 4PL đứng ra quản lý toàn chuỗi cung ứng trên nền tảng thương mại điện
tử - Phân loại theo quá trình khai thác Logistics
+ Logistics đầu vào (inbound logistics) là các hoạt động đảm bảo
cung
ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn ) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất
+ Logistics đầu ra (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung
cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian
và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp
+ Logistics ngược hay còn gọi là logistics thu hồi (reverse logistics) là
quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến
Trang 31môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xủ lý.
- Phân loại theo dịch vụ cung cấp logistics
+ Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn, đa phương thức
+ Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng
+ Công ty cung cấp dịch vụ giao nhận, kho bãi
+ Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối…
Vai trò của dịch vụ logistics
Lưu thông phân phối hàng hoá, trao đổi giao lưu thương mại giữa cácvùng trong nước với nhau và với nước ngoài là hoạt động thiết yếu của nền kinh tế quốc dân Nếu những hoạt động này thông suốt, có hiệu quả, thì sẽ gópphần to lớn làm cho các ngành sản xuất phát triển; còn nếu những hoạt động này bị ngưng trệ thì sẽ tác động xấu đến toàn bộ sản xuất và đời sống Hệ thống logistics toàn cầu góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Mỗi một vùng địa lý có những đặc điểm về địa hình khác nhau, nguồn tài nguyên khoáng sản khác nhau và có phương thức lao động, tập quánkhác nhau, do đó cần phải có sự phân bố, sắp xếp các ngành sản xuất, các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện riêng
và tổng thể nhằm phát huy được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất Hoạt động logistics không những làm cho quá trình lưu thông, phân phối được thông suốt, chuẩn xác và an toàn, mà còn giảm được chi phí vận tải Nhờ đó hàng hoá được đưa đến thị trường một cách nhanh chóng kịp thời Nhà sản xuất sẽ có hàng hoá mình cần vào đúng thời điểm Người tiêu dùng sẽ mua được hàng hoá một cách thuận tiện, linh hoạt, thỏa mãn nhu cầu của mình Người mua có thể chỉ cần ở tại nhà, đặt mua hàng bằng cách gọi điện thoại, gửi fax, gửi e-mail hoặc giao dịch qua Internet… cho người bán hàng
Trang 32Một nghiên cứu gần đây của Trường Đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kỳ)cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầuhết các nước lớn ở Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á - TháiBình Dương (theo Rushton Oxley & Croucher, 2000) Vì vậy nếu nâng caohiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quảkinh tế - xã hội.
1.2.2 Quản lý dịch vụ logistics tại doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm về quản lý dịch vụ logistics
+ Khái niệm quản lý: Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có
mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lýnhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ratrong sự vận động của sự vật
+ Khái niệm về quản lý dịch vụ logistics:
Xuất phát từ khái niệm quản lý và khái niệm dịch vụ logistics ở trên cóthể xác lập khái niệm: Quản lý dịch vụ logistics là sự tác động có tổ chức lêncác hoạt động của các bộ phận chức năng trong hệ thống dịch vụ logistics củadoanh nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong vàngoài doanh nghiệp, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triểnkinh tế doanh nghiệp, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế
1.2.2.2 Chức năng của quản lý dịch vụ logistics
Quản lý dịch vụ logistics nhằm thực hiện các chức năng quản lý củadoanh nghiệp bao gồm:
+ Định hướng cho sự phát triển hệ thống dịch vụ logistics nhằm đạt đếnmục đích (mục tiêu) nhất định Căn cứ vào điều kiện tài chính của DN trong từngthời kỳ DN sẽ có những định hướng phát triển cụ thể đối với các hoạt
động của hệ thống dịch vụ logistics và hướng dẫn các bộ phận chức năng hoạtđộng theo mục tiêu chung của doanh nghiệp
Trang 33+ Tạo lập môi trường cho sự phát triển của dịch vụ logistics là tập hợp tất cả các yếu tố, điều kiện tạo nên khung cảnh tồn tại và phát triển của lĩnh vực này.+ DN sử dụng quyền năng của mình chi phối lên các hành vi của cácchủ thể kinh doanh trong lĩnh vực logistics, ngăn chặn các tác động tiêu cựcđến quá trình hoạt động của lĩnh vực này, ràng bộc chúng phải tuân thủ các quy định đã có sẵn, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bình thường của DN.
+ Xây dựng hệ thống các quy định, nguyên tắc về phát triển dịch vụ logistics đồng thời dựa vào đó để kiểm tra, giám sát việc thực hiện
1.2.2.3 Mục tiêu quản lý dịch vụ logsitics
+ Mục tiêu chung của quản lý dịch vụ logistics là phát triển doanh sốtrên cơ sở cung cấp trình độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lượcvới tổng chi phí thấp nhất Mục tiêu này đòi hỏi phải tối ưu hóa dịch vụ kháchhàng, có nghĩa, phải đảm bảo trình độ dịch vụ khách hàng đem lại khả năng lợi nhuận cao nhất
+ Các mục tiêu cụ thể bao gồm: Đáp ứng nhanh, tối thiểu hóa các sai lệch và đảm bảo mục tiêu chi phí
1.2.2.4 Nội dung quản lý dịch vụ logistics
Quản lý dịch vụ logistics là quản lý các bộ phận chức năng thực hiệncác hoạt động cụ thể của mình theo các quy trình, quy định mà công ty đã đề
ra nhằm thực hiện và kiểm soát có hiệu quả việc chu chuyển và dự trữ hànghóa, dịch vụ… và những thông tin có liên quan từ điểm đầu đến điểm cuốicùng với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và tối ưu hóa lợinhuận của người kinh doanh dịch vụ logistics Nội dung quản lý dịch vụlogistics bao gồm: dịch vụ khách hàng, quản lý kho, quản lý vận tải hàng hóaquốc tế, vận tải đường bộ, dịch vụ khai thuê hải quan và đẩy mạnh liên kếtgiữa các chủ thể tham gia vào chuỗi logistics
Dịch vụ khách hàng
Trang 34Doanh nghiệp chỉ có thể giữ chân khách hàng, tạo ra những liên minhchiến lược, những bạn hàng bền vững, một khi khách hàng hài lòng vớinhững sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp Vì vậy, doanh nghiệpphải bằng mọi cách nghiên cứu, xác định được nhu cầu thực của khách hàng,trên cơ sở đó xây dựng mục tiêu và mức độ dịch vụ khách hàng phù hợp Dịch
vụ khách hàng bao gồm các hoạt động: trước, trong và sau giao dịch
* Các hoạt động trước giao dịch
- Xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng: Căn cứ vào nhu cầu của kháchhàng và khả năng của công ty để xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng
+ Xác định rõ các dịch vụ khách hàng và tiêu chuẩn của chúng
+ Chế độ kiểm tra , báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ
- Giới thiệu và cung cấp các văn bản về chính sách dịch vụ khách hàng của công ty cho khách hàng
+ Cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết về các loại dịch vụ + Cho khách hàng biết cần phải làm gì khi dịch vụ khách hàng không
được công ty đáp ứng
- Tổ chức bộ máy thực hiện các dịch vụ
+ Phải có một người nắm giữ vị trí cao nhất, có tầm nhìn trong toàn
công ty
+ Có sự hỗ trợ, phối hợp các chính sách đối nội, đối ngoại và cả những
điều chỉnh khi cần thiết
+ Khách hàng phải tiếp cận được dễ dàng đến mọi cá nhân trong tổ chức, những người có thể đáp ứng nhu cầu và trả lời các câu hỏi của họ
* Các hoạt động trong giao dịch
- Thông tin về hàng hóa
+ Lượng hàng tồn kho
+ Tình hình thực hiện lô hàng
+ Ngày chuyển hàng (dự kiến, thực tế)
Trang 3521
Trang 36- Quản lý chu trình làm hàng:
+ Quản lý và thực hiện tất cả các bước trong quy trình làm hàng, phốihợp với các phòng ban chức năng và là người chịu trách nhiệm chính cho đếnkhi hoàn thành mỗi lô hàng
* Các hoạt động sau giao dịch: Là những hoạt động cụ thể để kết nốivới khách hàng tạo nên mối quan hệ gần gũi giữa khách hàng và nhà cung cấpdịch vụ Qua đó nắm bắt được tâm lý cũng như những thay đổi mang tính xuhướng của khách hàng để có những điều chỉnh kịp thời về dịch vụ
Bao gồm việc quản lý hàng hóa xuất, nhập kho; theo dõi tồn trữ và bảoquản hàng hóa; quản lý cơ sở vật chất và đảm bảo an ninh, an toàn trong kho; dán tem nhãn và đóng gói bao bì sản phẩm
Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển và đường hàng không
Xây dựng và quản lý quy trình cung cấp dịch vụ vân tải quốc tế bằngđường biển và đường hàng không
Mở rộng các chi nhánh, văn phòng đại diện, hệ thống đại lý mangthương hiệu của công ty trên nhiều thị trường ở các nước khác nhau để đảmbảo cung cấp dịch vụ trọn gói một cách tốt nhất
Vận chuyển đường bộ
- Quản lý sử chữa định kỳ cho xe
- Xây dựng quy định cho lái xe để đảm bảo chất lượng dịch vụ vận tải
và an toàn giao thông đường bộ
- Quản lý hoạt động của xe và giám sát giao nhận hàng hóa
- Áp dụng mô hình phân phối hàng hóa 3PL (Third Party
Logistics)
Dịch vụ khai thuê Hải quan
Hoạt động khai thuê hải quan là loại hình dịch vụ nằm trong chuỗi dịch
Trang 3722
Trang 38được kỳ vọng nhiều bởi lợi ích nó mang lại không chỉ cho các doanh nghiệp
có hoạt động xuất nhập khẩu mà cho cả các cơ quan quản lý nhà nước trong
đó có Hải quan Để hoạt động Đại lý làm thủ tục hải quan thực sự là cánh taynối dài của lực lượng Hải quan đòi hỏi các doanh nghiệp phải:
- Đảm bảo toàn bộ nhân viên phải được đào tạo về nghiệp vụ Hải quan,
sử dụng thành thạo phần mềm Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS
- Nâng cao tính chuyên nghiệp về dịch vụ khai báo Hải quan
- Nhân viên đại lý phải hiểu, nắm vững văn bản pháp luật Hải quan, chính sách chế độ thuế…, có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu
Đẩy mạnh liên kết giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi dịch vụ logistics.
Logistics là dịch vụ phức hợp của rất nhiều khâu, nhiều hoạt động với cùngmột mục đích vận chuyển, phân phối lô hàng từ nhà sản suất đến người tiêu thụ
Trong đó hoạt động vận tải đóng vai trò hết sức quan trọng Tiêu chí vận
chuyển “Just In Time” – “đúng loại hàng, đúng số lượng đến đúng địa điểm
và vào đúng lúc cần thiết” là mục tiêu của nhà kinh doanh dịch vụ logistics
Mục tiêu đó mang lại lợi ích cho người cung cấp dịch vụ qua việc sửdụng tiết kiệm các nguồn lực, triệt tiêu các lãng phí phát sinh trong quá trìnhcung cấp dịch vụ, mặt khác do chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàngnâng cao, uy tín thương hiệu của họ tăng, giúp tăng năng lực cạnh tranh trênthị trường vận tải
Trên thực tế trong quá trình khai thác dịch vụ vận tải, vẫn phát sinh rấtnhiều lãng phí và chất lượng dịch vụ chưa cao do nhiều lý do chủ quan vàkhách quan khác nhau Để giúp cho các nhà vận tải trong dây chuyền logisticsđạt được mục tiêu “JIT”, nhà kinh doanh dịch vụ logistics cần áp dụng một sốgiải pháp về tổ chức vận tải, phối hợp nhịp nhàng giữa mắt xích cảng (ga, bến)
Trang 39với nhà vận tải và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông giữacác thành viên liên quan trong hoạt động vận tải của chuỗi logistics.
Mỗi doanh nghiệp độc lập khó có thể tự mình phát triển chuỗi dịch vụlogistics hoàn chỉnh để thực hiện được mục tiêu “JIT” Vì vậy, để thúc đẩy sựhoạt động nhịp nhàng các khâu chuỗi logistics bền vững, các nhà cung ứng dịch
vụ cần thúc đẩy và tạo sự liên kết giữa các khâu, các bộ phận dịch vụ trong toànchuỗi Nhằm tạo ra sự đồng bộ và chất lượng dịch vụ ngày càng cao
Trong điều kiện toàn cầu hóa, để thực hiện thành công hoạt độnglogistics, các doanh nghiệp cần liên kết lại, xây dựng các chuỗi cung ứng nộiđịa và chuẩn bị cho mọi sự cần thiết để tham gia vào các chuỗi cung ứng khuvực và toàn cầu
Tùy theo lại hình mà các đối tác sẽ thiết lập nên liên kết theo các dạngnhư sau:
Chuỗi liên kết dọc: Công ty hoạt động giao nhận kết hợp với công tykho bãi, công ty vận tải, môi giới khai thuê hải quan…, thành lập chuỗi có khảnăng cung cấp dịch vụ tổng thể (One Stop Shop)
Chuỗi liên kết ngang: Các công ty sản xuất liên kết với nhau để thànhlập công ty logistics (công ty con) đủ mạnh, đủ khả năng cung cấp dịch vụlogistics cho các công ty mẹ
1.2.2.5 Các phương pháp quản lý dịch vụ logistics
Phương pháp quản lý đối với dịch vụ logistics là tổng thể những cáchthức tác động có chủ đích và có thể có để thực hiện các mục tiêu quản lý.Phương pháp quản lý đối với dịch vụ logistics bao gồm: Phương pháp kinh
tế, phương pháp hành chính và phương pháp giáo dục
1.2.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ logistics
Môi trường bên ngoài
Là những nhân tố tác động đến chất lượng quản lý dịch vụ logistics củadoanh nghiệp Đây là những nhân tố rất khó kiểm soát, tùy vào mức độ tác
Trang 40động của từng nhân tố mà công ty đề ra những chính sách và biện pháp nhằmthích nghi với sự thay đổi đó Các nhân tố bên ngoài tác động tới doanh nghệpgồm có: khách hàng mục tiêu, chính sách pháp luật nhà nước, môi trường vănhóa xã hội, môi trường công nghệ, đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng…
- Khách hàng mục tiêu: Có thể là tổ chức hoặc cá nhân, tùy thuộc vàođối tượng hàng hóa cụ thể Đây là tập khách hàng mà doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ logistics cần quan tâm đặc biệt vì tất cả những sản phẩm dịch
vụ mà công ty cung cấp đều nhằm mục đích thỏa mãn tập khách hàng này.Cũng như nhu cầu của họ ngày càng đa dạng và phong phú, yêu cầu về chấtlượng dịch vụ ngày càng cao, cho nên công ty cần thu thập thông tin về kháchhàng để biết được tâm lý từ đó có những biện pháp thay đổi chất lượng vàloại hình dịch vụ cho phù hợp
- Đối thủ cạnh tranh: Là những doanh nghiệp kinh doanh cùng mặthàng, sản phẩm với Công ty mình và cạnh tranh với mình về giá, chất lượngdịch vụ logistics và mẫu mã chủng loại hàng hóa
- Nhà cung cấp: Là các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và nguyên vật liệu đầu vào cho công ty, họ có thể là các cá nhân hoặc là tổ chức
- Môi trường kinh tế: Sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO,kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới và cũng
chịu tác động đa chiều từ những biến động kinh tế, tài chính toàn cầu
- Môi trường xã hội, pháp luật: Hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ
và ổn
định sẽ giúp công ty dễ dàng xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình góp phần đảm bảo chất lượng dịch vụ logistics
Môi trường bên trong
- Nhân tố quản lý: Muốn tăng cường hiệu quả quản trị logistics, trướctiên doanh nghiệp cần quản lý tốt từng khâu trong hoạt động logistics của