1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của công ty cổ phần logistics vinalink

135 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 231,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài tài “Dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của Công ty cỗ phần Logistics Vinalink” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp, dựa t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại hiện nay, khi đất nước đang vươn tầm để hội nhập cùng thế giớithì dịch vụ giao nhận càng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong hoạtđộng kinh tế Việc gia nhập ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1997), bìnhthương hóa quan hệ với Hoa Kỳ, gia nhập WTO (2006), đã mở ra một thời kỳ mới,tạo ra nhiều cơ hội phát triển nền kinh tế nước ta, hội nhập kinh tế với các nước trênthế giới, thương mại quốc tế ngày một đa dạng và phát triển mạnh mẽ, kéo theo đó lànhu cầu về vận tải, kho bãi Trong xu thế đó, các dịch vụ giao nhận ngày càng đượcquan tâm và phát triển mạnh mẽ

Dịch vụ giao nhận là ngành chiến lược hỗ trợ cho phát triển kinh tế, không chỉgóp phần vào phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở như cảng biển, hệ thống giaothông mà còn làm tăng tính cạnh tranh của một quốc gia trên thị trường quốc tế Giaonhận vận tải hàng hóa bằng đường biển là một khâu quan trọng trong dịch vụ logistics.Trong thương mại quốc tế, trên 3/4 khối lượng hàng hóa được giao nhận và vậnchuyển bằng đường biển Đặc biệt đối với Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài,nằm ngay cạnh biển Đông - một “cầu nối” thương mại đặc biệt quan trọng trên bản

đồ hàng hải thế giới, hệ thống sông ngòi chằng chịt, có biên giới với Trung Quốc,Lào, Campuchia, nằm ở vị trí như một lan can nhìn ra biển, khu vực Bên cạnh đó,trong những năm qua, khối lượng nhập khẩu của Việt Nam với các nước trên thế giớitương đối lớn, dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển ngày một đượcquan tâm và phát triển Đối với các doanh nghiệp, giao nhận được coi là công cụ liênkết các lĩnh vực với nhau đồng thời giải quyết cả đầu vào lẫn đầu ra cho doanh nghiệp,tối ưu hoá quá trình vận chuyển, giúp giảm chi phí, và tăng khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp

Công ty Cổ phần Logistics Vinalink (Vinalink) được thành lập theo quyết địnhcủa Bộ trưởng Bộ Thương mại trên cơ sở cổ phần hóa một phần Công ty Giao nhậnKho vận Ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh (Vinatrans) và chính thức họat độngtheo mô hình công ty cổ phần từ ngày 01/09/1999 với ngành nghề kinh doanh chủyếu là các dịch vụ logistics, giao nhận và kho bãi Trong các năm qua, công ty đãkhông ngừng phát triển và mở rộng mô hình kinh doanh ra các tỉnh thành trên cả

Trang 2

nước, hiện công ty có 15 chi nhánh và văn phòng đại diện trên cả

tin tưởng, hài lòng cho khách hàng Điều này góp phần nâng cao vị thế

trưởng hằng năm của dịch vụ không cao, có xu hướng giảm

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài tài “Dịch vụ giao nhận

hàng nhập khẩu bằng đường biển của Công ty cỗ phần Logistics Vinalink” làm

đề tài khoá luận tốt nghiệp, dựa trên những phân tích về thực trạng dịch vụ giao nhậnhàng nhập khẩu bằng đường biển của công ty nhằm đưa ra những giải pháp giúp công

ty phát huy được những điểm mạnh và khắc phục nhưng điểm yếu nhằm xây dựng vàphát triển dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của công ty trong thờigian tới, phù họp với sự phát triển của thị trường

2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty cổ phầnLogistics Vinalink (Vinalink)

Đe thực hiện mục tiêu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý thuyết về dịch vụ giao nhận bằng đường biểntrong doanh nghiệp;

Trang 3

- Không gian: Công ty cổ phần Logistics Vinalink.

- Thời gian: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ giao nhậnhàng hóa nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty cổ phần Logistics VinalinkVinalink từ năm 2016 đến năm 2018

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Sử dụng phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của

dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Trongbài nghiên cứu tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích tìnhhình sản xuất, kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tạiCông ty Cổ phần Logistics Vinalink thông qua các dữ liệu được tổng kết lại trong quátrình hoạt động của công ty như: Báo cáo tài chính của công ty trong giai đoạn 2016-

2018, báo cáo thường niên của công ty trong giai đoạn 2016-2018, Đại hội đồng cổđông thường niên,

4.2 Sử dụng phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng để phân tích bản chất của vấn đề thông qua việc

so sánh các vấn đề với nhau, trong bài nghiên cứu tác giả đã sử dụng phương phápnày nhằm đánh giá hiệu quả dich vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tạicông ty thông qua việc: so sánh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty qua cácnăm trong khoảng thời gian từ năm 2016-2018, so sánh kết quả hoạt động của hoạtđộng logistics qua các năm từ năm 2016-2018,

4.3 Sử dụng phương pháp nghiên cứu lỷ thuyết

Phương pháp này dùng trong nghiên cứu khoa học với mục đích tổng họp lýthuyết về vấn đề nghiên cứu, thông qua đó làm tiền đề, cơ sở cho những nghiên cứucủa tác giả Trong bài nghiên cứu tác giả đã sử dụng phương pháp này nhằm mụcđích: tổng họp lý thuyết về giao nhận nói chung và lý thuyết về giao nhận trong doanh

Trang 4

nghiệp,., làm cơ sở lý luận và làm tiền đề cho những nghiên cứutrong bài khoá luận

5 Ket cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3chuơng:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển

Chương 2: Thực trạng dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty cỗ phần Logistics Vinalink giai đoạn 2016 - 2018

Chương 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty cỗ phần Logistics Vinalink

Trang 5

CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU

BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1.1 Vấn đề chung về logistics

1.1.1 Khái niệm

Logistics là gì? Đây là một khái niệm vẫn còn mới mẻ đối với phần lớn người

Việt Nam, tuy nhiên trên thế giới thuật ngữ “logỉstỉcs ” đã xuất hiện từ lâu Lúc mới

đầu du nhập vào Việt Nam, nhiều người cho rằng logistics là hậu cần hay tiếp nhậnhoặc tổ chức dịch vụ cung ứng, Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về logistics

Ngay từ giai đoạn đầu mới xuất hiện thuật ngữ logistics người ta đã đưa ra khái

niệm như sau: “Logỉstỉcs là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển và lưu kho của:

Nguyên vật liệu đi vào xỉ nghiệp; Hàng hóa, bán thành phẩm trong quá trình sản xuất; Sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xỉ nghiệp ” (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.6).

Theo Hội đồng quản lý logistics Hoa Kỳ (Council of logistics Management

-CLM): “Logỉstỉcs là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình

lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng” (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.6).

Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of

Supply Chain Management Professionals - CSCMP): “Logỉstỉcs là một phần của quá

trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến thông tin và điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng nhu vầu của khách hàng”.

Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “logỉstỉcs” mà đưa ra khái niệm ' r 'dịch vụ logỉstỉcs” như sau: “Dịch vụ logỉstỉcs là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vẩn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác

có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao ” (Điều

233 - Luật Thương mại Việt Nam năm 2005)

Trang 6

Qua các khái niệm trên, ta thấy rằng sự khác nhau về từ ngữ và cách diễn đạt,nhung các tác giả đều cho rằng: Logistics là hoạt động quản lý dòng lun chuyển củanguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lun kho, sản xuất ra sản phẩm và phânphối đến tay nguời tiêu dùng Mục đích là giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phátsinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục

vụ sản xuất cũng nhu phân phối hàng hóa một cách kịp thời

1.1.2 Vai trò của logistics

Logistics nhu định nghĩa ở trên là cầu nối giữa thị truờng và hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Phạm vi của logistics bao trùm lên toàn bộ hoạt động củadoanh nghiệp, từ việc quản lý nguyên vật liệu đến việc giao sản phẩm cho kháchhàng Tổng chi phí logistics toàn cầu hàng năm chiếm 14% GDP của thế giới (GS,TSHoàng Văn Châu, 2009, tr.17)

Logistics có chức năng rất rộng và có ảnh huởng rất lớn đến toàn xã hội Trongthời đại ngày nay nguời ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽđạt đuợc khi phát triển logistics (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 17)

Logistics ngày càng đuợc coi trọng vì các nguyên nhân khác nhau nhu côngnghệ thông tin phát triển, các tổ chức ngày càng coi trọng việc phục vụ khách hàng,các khái niệm tiếp cận hệ thống (system approach) và tổng chi phí (total cost), đònbẩy lợi nhuận từ logistics (Proílt Leverage from Logistics) ngày càng đuợc nhiềunguời công nhận, và nhiều nguời ngày càng nhận thấy rằng logistics có thể đuợc sửdụng nhu một vũ khí chiến luợc trong cạnh tranh trên thị truờng (GS,TS Hoàng VănChâu, 2009, tr.18)

Tác động của đòn bẩy lợi nhuận (Proíit Leverage) của logistics thể hiện ở chỗ:

1 USD tiết kiệm đuợc trong chi phí logistics có tác động lớn hơn nhiều đến khả năngthu lợi nhuận của tổ chức so với việc tăng 1 USD trong doanh số bán hàng Neu tăng

1 USD doanh số bán hàng không có nghĩa là tăng 1 USD lợi nhuận (GS,TS HoàngVăn Châu, 2009, tr.18)

Tiếp cận hệ thống (System approach) là khái niệm then chốt trong logistics.Bản thân logistics là một hệ thống của nhiều hoạt động liên quan nhằm mục đích quản

lý một cách trật tụ dòng luân chuyển vật tu và nhân lục trong kênh logistics Tiếp cận

hệ thống quy định bằng mọi chức năng hay hoạt động cần đuợc hiểu theo nghĩa chúng

Trang 7

tác động tới và bị tác động như thế nào bởi các yếu tố khác mà

tưong hỗ (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.18)

Neu chỉ nhìn vào các hoạt động một cách riêng lẻ thì không thấy được cái toàncục; kết quả của hàng chuỗi hoạt động sẽ lớn hơn nhiều so với kết quả của từng hoạtđộng riêng biệt Đe đáp ứng việc thực hiện các đơn hàng của khách hàng, nếu duy trìlượng hàng dự trữ lớn sẽ làm tăng chi phí dự trữ hàng trong kho, làm tăng rủi ro hàng

bị lạc hậu, mất giá vô hình Đe thấy được phải hoàn thiện hoạt động của tổ chức ởnhững khâu nào, lĩnh vực nào, toàn bộ hệ thống của đơn vị đó phải được xem xét mộtcách toàn diện, tổng thể (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.18)

Tiếp cận hệ thống là then chốt để hiểu vai trò của logistics trong nền kinh tế,vai trò của logistics đối với một tổ chức, đơn vị và hiểu giao diện của logistics trongmarketing, trong khái niệm tổng chi phí và chiến lược logistics (GS,TS Hoàng VănChâu, 2009, tr.18)

1.1.2.1 Vai trò của logỉstỉcs đối với nền kỉnh tế quốc dân

Logỉstỉcs đóng vai trò quan trọng trong nền kỉnh tế, thể hiện ở hai mặt:

Thứ nhẩt, logistics là một trong những khoản chi phí lớn cho kinh doanh, do

vậy nó có tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác

Thứ hai, logistics hỗ trợ cho dòng luân chuyển của nhiều giao dịch kinh tế,

một số hoạt động quan trọng tạo thuận lợi cho việc bán hầu hết các loại hàng hóa vàdịch vụ

Logistics tạo ra giá trị gia tăng bằng cách tạo ra “các tiện ích” Theo quan điểmkinh tế, việc sử dụng thể hiện giá trị và sự hữu ích của một mặt hàng hay dịch vụ nào

đó trong việc đáp ứng một yêu cầu nào đó của người sử dụng Logistics đưa ra 4 tiệních:

- Tiện ích về hình dáng, mẫu mã;

- Tiện ích về sở hữu;

- Tiện ích về thời gian;

- Tiện ích về địa điểm

Tiện ích về hình dáng, mẫu mã và tiện ích về sở hữu không liên quan cụ thểtới logistics, nhưng không thể đạt được hai loại tiện ích này nếu không có được đúngloại sản phẩm cần thiết cho tiêu dùng hay sản xuất tại đúng thời điểm vào đúng thời

Trang 8

gian với đúng điều kiện và đúng giá cả, đó là “5 chữ đúng” của

của 2 loại tiện ích do logistics trực tiếp mang lại là: tiện ích về thời gian

địa điểm (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.20)

Tiện ích thời gian: là giá trị gia tăng khi có đuợc một sản phẩm nào đó vàođúng lúc cần nó Tiện ích về thời gian có thể xảy ra trong một đơn vị, cũng có thể xảy

ra trên thị truờng Một sản phẩm chẳng giúp ích cho nguời nào đó không có đuợc sảnphẩm đó vào đúng lúc anh ta cần nó (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.20)

Neu không có tiện ích thời gian và tiện ích địa điểm do logistics mang lại, sẽkhông thỏa mãn đuợc yêu cầu của khách hàng

Nhu vậy nếu hàng hóa, dịch vụ bị ách tắc ở khâu nào đó trong sản xuất, tronghru thông ở một nơi nào đó vào một thời điểm nào đó mà không đạt đuợc “5 chữđúng” trong logistics đều gây thiệt hại cho hoạt động logistsics nói riêng và cho nềnkinh tế nói chung (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.20)

Neu xem xét ở góc độ tổng thể, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gầnnhu toàn bộ quá trình sản xuất, hru thông và phân phối hàng hóa

Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế Nen kinh tế chỉ

có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục,nhịp nhàng (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.21)

Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi logistics, theo đócác nguồn tài nguyên đuợc biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị đuợctăng lên cho cả khách hàng lẫn nguời sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của mỗi nguời.(GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.21)

1.1.2.2 Vai trò của logỉstỉcs đối với doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn, logistics giúp giảiquyết đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ có thể thay đổicác nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối uu hóa quy trình chu chuyển nguyên vật liệu,hàng hóa, dịch vụ, Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanhnghiệp Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có đuợc chiến luợc và hoạt độnglogistics đúng đắn, nguợc lại có không ít doanh nghiệp khó khăn, thậm chí thất bại,phá sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics

Trang 9

Ngày nay để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đaquốc gia, các công ty nhỏ đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằmtìm kiếm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyết công nghệ, thị trườngtiêu thụ, môi trường kinh doanh, tốt nhất và thế là logistsic toàn cầu hình thành vàphát triển.

Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt làmarketing hỗ họp (4P - Right Product, Right Price, Proper Promotion, and RightPlace) Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơicần đến, vào đúng thời điểm thích họp Sản phẩm/dịch vụ chỉ có thể làm thỏa mãnkhách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn vàđịa điểm quy định

1.2 Dịch vụ giao nhận

1.2.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận

Dịch vụ giao nhận là một phần quan trọng trong chuỗi giá trị vận tải vàlogistics Chi phí giao nhận thường chiếm tới hơn 1/3 tổng chi phí của logistics, muốngiảm chi phí của logistics phải giảm chi phí khấu hao giao nhận vận tải từ nơi sảnxuất tới nơi tiêu thụ khác nhau trên thị trường Việc giao nhận phải đảm bảo về thờigian giao hàng, đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất kịp thời, đúng lúc

Từ đó giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản phẩm đểlàm giảm chi phí logistics nói chung

Trong sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp khó có thể tự mình thỏa mãnnhu cầu về giao nhận vận tải, trên thực tế, nhu cầu này phổ biến do người giao nhậnđáp ứng Người cung cấp dịch vụ giao nhận hoạt động hoàn toàn độc lập cho nêncũng độc lập trong việc thu lợi nhuận từ việc cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của cácdoanh nghiệp Người kinh doanh dịch vụ giao nhận chuyên cung cấp các dịch vụ chocác doanh nghiệp được gọi là nhà trung gian chuyên nghiệp Một kênh logistics cóthể được tạo ra bởi một số nhà trung gian chuyên nghiệp như người giao nhận (FreightForwarders); người kinh doanh vận tải công cộng không có tàu (Non vessel operatingcommon Carries - NVOCC); Các công ty quản lý xuất khẩu (Export managementcompanies - EMCs); Các công ty thương mại xuất khẩu (Export trading companies -ETCs) hay người đóng gói hàng xuất khẩu hoặc môi giới hải quan, và sự thành bại

Trang 10

của mỗi nhà trung gian chuyên nghiệp đuợc quyết định bởi sụ

kênh logistics và là bộ phận có vai trò quan trọng trong hoạt động chuỗilogistics

Giao nhận là tổng thể các loại hình phuơng thức vận tải nhằm mục đích vậnchuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác để đạt đuợc các mục tiêu thuơng mại củacác bên Trong buôn bán quốc tế, nguời bán và nguời mua ở những nuớc khác nhau

Do đó, nguời giao nhận đảm nhận việc di chuyển hàng hóa giữa nguời mua và nguờibán, đây là một khâu rất quan trọng, bảo đảm hàng hóa đến tay nguời mua, việc họpđồng mua bán có thục hiện đuợc hay không phụ thuộc rất nhiều vào khâu này Đecho quá trình vận chuyển đó bắt đầu đuợc, tiếp tục đuợc và kết thúc đuợc, tức là hànghóa đến tay nguời mua đuợc, cần phải thục hiện hàng loạt các công việc khác liênquan đến quá trình chuyên chở nhu: đóng gói, bao bì, luu kho, đua hàng ra cảng, làmthủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng hóa ở dọc đuờng, dỡ hàng ra khỏitàu và giao cho nguời giao nhận Những công việc đó đuợc gọi là dịch vụ giao nhận

Dịch vụ giao nhận (Freỉght Forwardỉng), theo “Quy tắc mẫu của FIATA về

dịch vụ giao nhận”, là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng,

lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như dịch vụ tư vẩn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể các các vẩn đề hải quan, tài chỉnh, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa (GS,TS Hoàng Văn Châu,

2009, tr.129)

Nhu vậy về cơ bản, giao nhận hàng hóa là tập họp những công việc có liênquan đến quá trình vận tải nhằm thục hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng(nguời gửi hàng) đến nơi nhận hàng (nguời nhận hàng)

1.2.2 Nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận

Nghiệp vụ giao nhận truyền thống:

- Chủ yếu là các khâu nghiệp vụ do chủ hàng trục tiếp thục hiện nghĩa vụ củamình đuợc quy định trong họp đồng, bao gồm:

- Tổ chức chuyên chở, xếp dỡ hàng hóa từ nơi sản xuất đến các điểm đầu mốivận tải và nguợc lại;

- Lập các chứng từ có liên quan đến giao nhận vận chuyển nhằm bảo vệ quyềnlợi của chủ hàng;

Trang 11

- Theo dõi và giải quyết những khiếu nại về hàng hóa trong quá trình giao nhậnvận ta, đồng thời thanh toán các chi phí có liên quan đến giao nhận.

Nghiệp vụ giao nhận quốc tế - Dịch vụ giao nhận:

- Trừ truờng họp nguời gửi hàng (hoặc nguời nhận hàng muốn tụ mình thụchiện bất cứ khâu thủ tục và chứng từ nào), còn lại thông thuờng nguời giao nhận thaymặt chủ hàng lo liệ quá trình vận chuyển hàng hóa Nguời giao nhận có thể trục tiếpthục hiện các dịch vụ thông qua các đại lý của họ hoặc thông qua những nguời kýhọp đồng phục vụ

- Nguời làm dịch vụ giao nhận hàng hóa có thể tay mặt nguời xuất khẩu hoặcnguời nhập khẩu hoặc thay mặt cả hai để thục hiện các dịch vụ:

- Nhận ủy thác giao nhận vận tải trong và ngoài nuớc bằng các phuơng tiệnvận tải khác nhau các loại hàng hóa xuất nhập khẩu mậu dịch và phi mậu dịch

- Làm đầu mối vận tải đa phuơng thức: kết họp sử dụng nhiều phuơng tiện vậntải để đua hàng đi bất cứ nơi nào theo yêu cầu của chủ hàng;

- Thục hiện các dịch vụ có liên quan đến giao nhận vận tải nhu ký họp đồngvới nguời chuyên chở, luu cuớc tàu chợ, thuê tàu chuyến, phuơng tiện vận tải nội địa

- Làm thủ tục liên quan gửi và nhận hàng, mua bảo hiểm cho hàng hóa xuấtnhập khẩu, bảo quản, tái chế, thu gom hoặc chia lẻ hàng, cuợc Container, giao hàngđến các địa điểm theo yêu cầu

- Làm tu vấn cho các nhà kinh doanh xuất nhập khâu về vận tải và bảo hiểm,các tổn thất có thể xảy ra, và khiếu nại, bồi thuờng Nhận ủy thác và gom hàng xuấtnhập khẩu

1.2.3 Phân loại và đặc điểm của dịch vụ giao nhận

1.2.3.1 Phân loại dịch vụ giao nhận

Căn cứ vào phạm vỉ hoạt động, dịch vụ giao nhận gồm: giao nhận nội địa và

giao nhận quốc tế

Căn cứ vào nghiệp vụ kỉnh doanh, dịch vụ giao nhận gồm:

- Giao nhận thuần túy chỉ bao gồm thuần túy việc gửi hàng hoặc nhận hàng;

- Giao nhận tổng họp là giao nhận bao gồm tất cả các hoạt động nhu xếp dỡ,bảo quản, vận chuyển

Trang 12

Căn cứ vào phương thức vận tải: Giao nhận bằng đường biển, hàng không,

đường bộ, vận tải đa phương thức,

Căn cứ vào tỉnh chất giao nhận:

- Giao nhận riêng là người kinh doanh xuất nhập khẩu tự tổ chức, không sửdụng dịch vụ giao nhận

- Giao nhận chuyên nghiệp là hoạt động giao nhận của các tổ chức công tychuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận theo sự ủy thác của khách hàng

1.2.3.2 Đặc điểm của dịch vụ giao nhận

Là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ giao nhận hàng hóa cũng mang nhữngđặc điểm chung của dịch vụ, dịch vụ là hàng hóa vô hình nên không có tiêu chuẩnđánh giá chất lượng đồng nhất, không thể cất giữ trong kho, sản xuất và tiêu dùngdiễn ra đồng thời, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận của người đượcphục vụ

Dịch vụ giao nhận không tạo ra sản phẩm vật chất, nó chỉ làm cho đối tượngnày thay đổi vị trí về mặt không gian chứ không tác động về mặt kỹ thuật làm thayđổi các đối tượng đó, nhưng giao nhận hàng hóa có tác động tích cực đến sự pháttriển của sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân

- Mang tỉnh thụ động: đó là do dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của

khách hàng, các quy định của người vận chuyển, các ràng buộc về pháp luật, thể chếcủa Chính Phủ (nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, nước thứ ba)

- Mang tỉnh thời vụ: dịch vụ giao nhận là dịch vụ phục vụ cho hoạt động xuất

nhập khẩu nên nó phụ thuộc rất lớn vào lượng hàng hóa xuất nhập khẩu Thôngthường, hoạt động xuất nhập khẩu mang tính thời vụ nên dịch vụ giao nhận cũng chịuảnh hưởng của tính thời vụ

Ngoài những công việc như làm thủ tục, môi giới, lưu cước, người giao nhậncòn tiến hành các dịch vụ khác như gom hàng, chia hàng, bốc xếp nên để hoàn thànhcông việc tốt hay không còn phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kinhnghiệm của người giao nhận

1.2.4 Vai trò của dịch vụ giao nhận

Dịch vụ giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc, hoạt độngngoại thương giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau

Trang 13

Thứ nhẩt, Giao nhận vận tải là ngành chiến lược hỗ trợ cho phát triển kỉnh tế: Ngành giao nhận vận tải có ảnh hưởng quyết định đến cạnh tranh của ngành công

nghiệp và thương mại của mỗi quốc gia Chi phí giao nhận vận tải chiếm một phầnkhá lớn trong tổng giá trị hàng hóa Ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản thìchi phí này chiếm khoảng 10% trong GDP Với các nước đang phát triển như ViệtNam thì chi phí này có thể lên đến 30% GDP Neu như phát triển ngành giao nhậnvận tải và tiết kiệm được chi phí thì năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp

và thương mại trong nước sẽ tăng mạnh

Trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, thương mại toàn cầu giảm doảnh hưởng của chiến tranh thương mại Hoa Kỳ và Trung Quốc, tốc độ tăng trưởngcủa Việt Nam cũng được dự báo sẽ giảm nhẹ, nhưng vẫn được duy trì ở mức khá cao

là 6,8% trong năm 2019 và 6,7% trong năm 2020 Bên cạnh đó, việc gia nhập WT0

từ năm 2006 và hòa nhập ngày càng sâu vào thương mại quốc tế, các hoạt động hộinhập quốc tế của Việt Nam trong năm 2018: Chính thức thông qua Hiệp định Đối tácTiến bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Ket thúc quá trình rà soátpháp lý Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và thống nhất toàn

bộ các nội dung của Hiệp định Bảo hộ đầu tư được tách ra từ EVFTA trước đây; KýHiệp định Thương mại mới Việt Nam - Cuba, tham gia ngày càng nhiều các chuỗihàng hóa, dịch vụ toàn cầu dẫn đến nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa cũng sẽ tiếp tụctăng

Thứ hai, Giao nhận vận tải có vai trò như một mạch máu của nền kỉnh tế:

Giao nhận vận tải là mạch máu của nền kinh tế, giao nhận giúp nối liền các ngành,các đơn vị sản xuất với nhau, nối liền khu vực sản xuất với khu vực tiêu dùng, nốiliền thành thị với nông thôn, miền ngược với miền xuôi Góp phần làm cho nền kinh

tế trở thành một khối thống nhất Sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độchuyên môn hóa kéo theo sự phát triển không ngừng của dịch vụ giao nhận

Thứ ba, Giao nhận vận tải là chu kỳ khép kín: Logictics có nghĩa là một chu

kỳ khép kín của sự vận động từ nguyên liệu đến thành phẩm Từ khi bắt đầu sản xuấtđến nơi tiêu thụ cuối cùng Logictics bao gồm 4 yếu tố: giao nhận vận tải, marketing,phân phối và quản lý, trong đó giao nhận vận tải hàng hóa là yếu tố quan trọng nhất

và chiếm nhiều chi phí nhất Việc lựa chọn hình thức giao nhận vận tải, phương thức

Trang 14

vận tải hợp lý sẽ giúp tiết kiệm chi phí và đảm bảo giá thành sản

Trong quá trình mở cửa của Việt Nam, công nghiệp hóa hiện đại hóa cả nướccùng với tác động của tự do hóa thương mại quốc tế, các hoạt động giao nhận vận tảingày một tăng trưởng mạnh, góp phần tích lũy ngoại tệ, đẩy mạnh giao lưu kinh tế,nối liền các hoạt động kinh tế giữa các khu vực trong nước, nước ngoài, làm cho nềnkinh tế nhịp nhàng cân đối

Giao nhận vận tải ảnh hưởng tới phạm vi buôn bán, ảnh hưởng tới mặt hàng,khối lượng hàng hóa và kim ngạch của các quốc gia và các doanh nghiệp Dịch vụgiao nhận đã là dịch vụ được chuyên môn hóa cao, được tổ chức theo quy mô quốcgia và quốc tế, giao nhận có những ưu thế rõ rệt trong việc xúc tiến các hoạt độngthương mại quốc tế: Các thông tin về thị trường hàng hóa như loại hàng hóa được ưachuộng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều được nắm rõ thông tin; Biết rõ ưu vànhược điểm của các phương thức vận tải khác nhau như thời gian, độ an toàn, giá vậnchuyển; Các công ty giao nhận đều có kinh nghiệm trong việc vận tải hàng hóa, thựchiện bảo hiểm đối với hàng hóa khi có yêu cầu và thấy mức rủi ro cao, đặc biệt làtrong vận tải biển; Bên cạnh đó là việc thực hiện được nhiều các dịch vụ khác nhưgom hàng, vận chuyển hàng triển lãm, công trình door to door,

Với tất cả những dịch vụ và ưu điểm như thế, giao nhận ngày càng đóng vaitrò quan trọng, tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn tiết kiệm

và giúp giảm thiểu chi phí trong mua bán quốc tế, rút ngắn thời gian lưu thông hànghóa và khoảng cách giữa các nhà xuất nhập khẩu

1.2.5 Chủ thể cung ứng dịch vụ giao nhận

1.2.5.1 Khái niệm

Trang 15

Chủ thể cung ứng dịch vụ giao nhận hay còn gọi là Người giao nhận

(Forwarder/ Freỉght Forwarder/ Forwardỉng Agent) Người giao nhận có thể là chủ

hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất

cứ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa Theo LuậtThương Mại Việt Nam thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân cógiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa (GS,TS Hoàng VănChâu, 2009, tr.129)

Trước đây, người giao nhận thường chỉ làm đại lý (Agent) thực hiện một sốcông việc do các nhà xuất, nhập khẩu (XNK) ủy thác như: xếp dỡ, lưu kho hàng hóa,làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng, Cùng với

sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ kỹ thuật trong ngành vận tải màdịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn

Ngày nay, người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại và vậntải quốc tế Người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan, hoặc thuê tàu màcòn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa Ởcác nước khác nhau, người kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi tên khác nhau:

“Đại lý hải quan” (Customs House Agent), “Môi giới hải quan” (Customs Broker),

“Đại lý thanh toán” (Clearing Agent), “Đại lý gửi hàng và giao nhận” (Shipping andForwarding Agent), “Người chuyên chở chính” (Principal Carrier) (GS,TS HoàngVăn Châu, 2009, tr.130)

1.2.5.2 Phạm vỉ các dịch vụ của người giao nhận

Phạm vi các dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận khovận Trừ khi bản thân người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) muốn tự mình thamgia làm bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó, còn thông thường người giao nhận cóthể thay mặt người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) lo liệu quá trình vận chuyểnhàng hóa qua các cung đoạn cho đến tay người nhận cuối cùng Người giao nhận cóthể làm dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của nhữngngười thứ ba khác (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 130)

Những dịch vụ mà người giao nhận thường tiến hành là:

- Chuẩn bị hàng hóa để chuyên chở;

- Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga, cảng;

Trang 16

- Tổ chức xếp dỡ hàng hóa;

- Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa;

- Ký kết họp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lim cước;

- Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng;

- Làm thủ tục hải quan kiểm nghiệm, kiểm định;

- Mua bảo hiểm cho hàng hóa;

- Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng;

- Thanh toán, thu đổi ngoại tệ;

- Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người nhận;

- Thu xếp chuyển tải hàng hóa;

- Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận;

- Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và ngườichuyên chở thích họp;

- Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa;

- Lưu kho, bảo quản hàng hóa;

- Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của hànghóa;

- Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi ;

- Thông báo tình hình đi và đến của các phương tiện vận tải;

- Thông báo tổn thất với người chuyên chở;

- Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường

- Ngoài ra, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ đặc biệt theo yêu cầu củachủ hàng như: vận chuyển máy móc thiết bị cho các công trình xây dựng lớn, vậnchuyển quần áo may sẵn trong các Container đến thẳng cửa hàng, vận chuyển hàngtriển lãm ra nước ngoài Đặc biệt trong những năm gần đây, người giao nhận thườngcung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức, đóng vai trò là MTO và phát hành cả chứng

từ vận tải

1.2.5.3 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế

Ngày nay do sự phát triển của vận tải Container, vận tải đa phương thức, ngườigiao nhận không chỉ làm đại lý, người ủy thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải và

Trang 17

đóng vai trò như một bên chính - người chuyên chở (GS,TS Hoàng

tr.131)

- Môi giới hải quan (Customs Broker): Người giao nhận ban đầu chỉ hoạt động

trong nước Nhiệm vụ của người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đốivới hàng nhập khẩu Sau đó đã mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu hoặcnhập khẩu và dành chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàutheo sự ủy thác của người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu, tùy thuộc vào họp đồngmua bán Người giao nhân thay mặt người xuất khẩu, nhập khẩu đddeerkhia báo, làmthủ tục hải quan như một môi giới hải quan (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 132)

- Đại lý (Agent): Trước đây, người giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của

người chuyên chở và chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và ngườichuyên chở như là một đại lý của người chuyên chở hoặc của người gửi hàng Ngườigiao nhận ủy thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công việckhác nhau như: nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho, trên cơ sở họp đồng ủy thác (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 132)

- Người gom hàng (Cargo): Ở Châu Âu, người giao nhận từ lâu đã cung cấp

dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt Đặc biệt, trong vận tải hàng hoắbằng Container dịch vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến lô hàng lẻ (LCL)thành lô hàng nguyên (FCL) để tận dụng sức chở của Container và giảm cước phí vậntải, Khi là người gom hàng , người giao nhận có thể đóng vai trò là người chuyên chởhoặc đại lý (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.132)

- Người chuyên chở (Carrỉer): Ngày nay trong nhiều trường họp, người giao

nhân thường đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp kýkết họp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ mộtnơi này đến nơi khác Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở(Contracting Carrier), nếu trực tiếp chuyên chở thì lúc này người giao nhận là ngườichuyên chở thực tế (Performing/ Actual Carrier) (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009,tr.132)

- Người kỉnh doanh vận tải đa phương thức (MTO): Trong trường họp người

giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hoặc còn gọi là vận tải “door to door” (từcửa đến cửa), thì người giao nhận đóng vai trò là người kinh doanh vận tải đa phương

Trang 18

- thức (Multimodal Transport Operator - MTO) MTO cũng là người

có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất và tiết kiệm nhất

1.2.5.4 Quyền và nghĩa vụ của người làm dịch vụ giao nhận

- Theo điều 235 Luật Thương mại Việt Nam 2005, người giao nhận có nhữngquyền và nghĩa vụ sau đây:

- Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí họp lý khác;

- Trong quá trình thực hiện họp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích củakhách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thôngbáo ngay cho khách hàng;

- Khi xảy ra trường họp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phầnhoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng

1.2.5.5 Quyền và nghĩa vụ của chủ thể thuê dịch vụ giao nhận (khách hàng)

- Lựa chọn người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đáp ứng với yêu cầu củamình;

- Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện họp đồng;

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá viphạm họp đồng;

- Cung cấp đầy đủ chỉ dẫn cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá;

- Thông tin đầy đủ, chi tiết và chính xác về hàng hoá cho người làm dịch vụgiao nhận hàng hoá;

- Đóng gói, ghi ký, mã hiệu hàng hoá theo họp đồng mua bán hàng hoá, trừtrường họp người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đảm nhận công việc này;

Trang 19

- Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí phát sinh cho người làm dịch vụ giaonhận hàng hoá nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫn cuả khách hàng hoặc do lỗicủa khách hàng gây ra;

- Trả cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá mọi khoản tiền đã đến hạnthanh toán

1.2.5.6 Trách nhiệm của người giao nhận

- Khỉ người giao nhận là Đại lý:

- + Phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo họp đồng và phải chịutrách nhiệm về:

- + Giao hàng không đúng chỉ dẫn;

- + Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm cho hàng hóa, mặc dù đã có hướng dẫn;

- + Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan;

- + Chở hàng đến sai nơi quy định;

- + Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế;

- + Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng

- + Người giao nhận còn phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại về ngườihoặc

tài sản mà anh ta đã gây ra cho người thứ ba trong hoạt động của mình Tuy nhiên,chủ thể cung ứng dịch vụ giao nhận không chịu trách nhiệm về hành vi hoặc lỗi lầmcủa bên thứ ba như người chuyên chở hoặc chủ thể cung ứng dịch vụ giao nhậnkhác nếu chứng minh được là đã lựa chọn cẩn thận Khi là đại lý chủ thể cung ứngdịch vụ giao nhận phải tuân thủ “Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” (Standard TradingConditions) của mình (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 133)

- Khỉ đóng vai trò là người chuyên chở (Principal Carrỉer)

- + Khi là một người chuyên chở, người giao nhận đóng vai trò là một nhà thầuđộc lập, nhân danh mình chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ mà khách hàng yêucầu Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những hành vi và lỗi lầm của mình,của người chuyên chở, người giao nhận khác mà người chuyên chở đã thuê để thựchiện họp đồng vận tải Trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa như thếnào là do luật lệ của các phương thức vận tải liên quan quy định Người chuyên chởthu ở khách hàng khoản tiền theo giá cả của dịch vụ mà mình cung cấp chứ khôngphải tiền hoa hồng (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 134)

Trang 20

- + Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong trườnghợp tự vận chuyển hàng bằng các phương tiện vận tải của chính mình (PerformingCarrier) mà còn cả trong trường họp người giao nhận, bằng việc phát hành chứng từvận tải của mình hay bằng cách khác, cam kết đảm nhiệm trách nhiệm của ngườichuyên chở (người thầu chuyên chở - Contracting Carrier) Khi người giao nhận cungcấp các dịch vụ liên quan đến vận tải như: đóng gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối thì người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm như người chuyên chở nếu người giao nhậnthực hiện các dịch vụ trên bằng phương tiện và người của mình hoặc người giao nhận

đã cam kết một cách rõ ràng hay ngụ ý, là họ chịu trách nhiệm như một người chuyênchở (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.134)

- + Khi đóng vai trò là người chuyên chở thì các điều kiện kinh doanh tiêuchuẩn

thường không áp dụng mà áp dụng Công ước quốc tế hoặc các Quy tắc do PhòngThương mại Quốc tế ban hành (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 135)

- Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hưhỏng của hàng hóa phát sinh từ những trường họp sau:

- + Do lỗi của khách hàng hoặc của người gửi được khách hàng uỷ thác;

- + Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù họp;

- + Do nội tỳ hoặc bẳn chất của hàng hóa;

- + Do chiến tranh, đình công;

- + Do các trường họp bất khả kháng

- Ngoài ra, người giao nhận không chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng lékhách hàng được hưởng, về sự chậm trễ hoặc giao nhận sai địa chỉa mà không phải

do lỗi của mình

1.2.6 Các tổ chức, các cơ quan giao nhận trên thế giới và ở Việt Nam

- Cùng với sự phát triển của thương mại và vận tải quốc tế, sự cạnh tranh gaygắt giữa các công ty giao nhận, các hiệp hội giao nhận ra đời, điển hình là FIATA -Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận Quốc tế

- - Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận Quốc tế (Fédératỉon Internationale des Assocỉatỉons de Transỉtaỉres et Assỉmỉlés - FIATA), thành lập năm 1962 là một tổ

chức giao nhận, vận tải lớn nhất thế giới FIATA là một tổ chức phi chính trị, tựnguyện, là đại diện của 35.000 công ty giao nhận ở 130 quốc gia trên thế giới Thành

Trang 21

- viên của FIATA là các hội viên chính thức (Ordinary Members)

- FIATA được sự thừa nhận của các cơ quan thuộc Liên Họp Quốc công nhận

là một tổ chức tư vấn về logistics, giao nhận quốc tế

- Mục tiêu chính của FIATA là bảo vệ và tăng cường lợi ích của người giaonhận

trên phạm vi quốc tế, nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận, liên kết nghề nghiệp,tuyên truyền dịch vụ giao nhận vận tải, xúc tiến quá trình đơn giản hóa và thống nhấtchứng từ và các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nhằm cải tiến chất lượng dịch vụcủa hội viên, đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế, tăng cường các quan hệ phối họpgiữa các tổ chức giao nhận với củ hàng và người chuyên chở (GS,TS Hoàng VănChâu, 2009, tr.137)

- Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận các nước ASEAN (AFFA):

- Được thành lập năm 1991, AFFA là một tổ chức nghề nghiệp, tự nguyện,hoạt

động không vì lợi nhuận Mục tiêu của AFFA là: thống nhất tất cả các nhà giao nhậnthuộc khu vực ASEAN thông qua các tổ chức giao nhận quốc gia; khuyến khích, xúctiến, duy trì và phát triển quan hệ họp tác giữa các nhà giao nhận trong khu vựcASEAN; đại diện quyền lợi chung của các hội viên trong lĩnh vực giao hận có tínhđặc thù của khu vực ASEAN; tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn,phẩm chất chuyên môn của các nhà giao nhận

- Hiệp hội Giao nhận - Kho vận Việt Nam (VIFFAS) đã trờ thành thành viênchính thức của AFFA tại Hội nghị lần thứ 9, tổ chức ở Manila, Philippines tháng 11năm 2000

- Cơ quan giao nhận quốc tế ở Việt Nam:

- Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường giao nhận Việt Nam, để bảo vệ quyềnlợi của các nhà giao nhận, Hiệp hội Giao nhận - Kho vận Việt Nam (VIFFAS) đượcthành lập vào ngày 18/11/1993 và trở thành đại diện duy nhất của Việt Nam trở thànhhội viên chính thức của Hiệp hội Giao nhận quốc tế (FIATA) vào tháng 5/1994 Đen

Trang 22

cuối năm 2007, VIFFAS đã có 84 thành viên chính thức Tháng 1/2013, VIFFAS đổitên thành Hiệp hội Doanh nghiệp Logistics Việt Nam (VLA), với sứ mệnh là nâng

Trang 23

- cao tính chuyên nghiệp, phát triển dịch vụ logistics hiện đại,

và toàn cầu, đóng góp hiệu quả vào việc phát triển doanh nghiệp trong

nhu phát triển kinh tế đất nuớc Việt Nam

1.3 Giao nhận vận tải bằng đường biển

1.3.1 Đặc điểm của giao nhận vận tải bằng đường biển

- Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác.Ngay

từ trước thế kỷ V trước công nguyên, con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyếnđường giao thông để giao lưu các vùng miền, các quốc gia với nhau trên thế giới Khivận tải bằng đường biển phát triển, không chỉ có các đại lý hãng tàu vận chuyển màcòn có sự tham gia của các công ty logistics, forwarder thực hiện giao nhận hàng hóacho các chủ hàng Đen nay, giao nhận vận tải đường biển được phát triển mạnh vàtrở thành ngành giao nhận hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế Giao nhận đườngbiển có vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa giữa các quốc gia, cácvùng lãnh thổ với nhau Trên thế giới có khoảng 85% tổng khối lượng hàng hóa buônbán quốc tế vận chuyển bằng đường biển Giao nhận bằng đường biển là một trongnhững dịch vụ thuộc dịch vụ giao nhận nên cững mang những đặc điểm của dịch vụgiao nhận như tính thụ động, tính thời vụ Các đặc điểm của giao nhận vận tải đườngbiển:

- Thứ nhẩt, Giao nhận vận tải bằng đường biển thường được các doanh nghiệp

xuất nhập khẩu lựa chọn vì đặc điểm của vận tải bằng đường biển là năng lực chuyênchở của vận tải đường biển rất lớn, năng lực chuyên chở của công cụ vận tải đườngbiển (tàu biển) không bị hạn chế như các công cụ của các phương thức giao nhận vậntải khác

- Thứ hai, Giao nhận vận tải bằng đường biển giá thành thấp, thích họp với hều

hết các loại hàng hóa trong thương mại quốc tế và không bị hạn chế như các công cụcủa các phương tiện vận tải khác So với giao nhận bằng hàng không thì giao nhậnbằng đường biển rẻ hơn 8 lần và giao nhận hàng không không thích họp cho việc vậnchuyển các loại hàng hóa giá trị thấp, khối lượng lớn và cồng kềnh như đường biển

do vận chuyển bằng máy bay (khoang máy bay còn phụ thuộc vào loại hình máy bay:máy bay chở hàng, máy bay kết họp nhưng khối lượng vận tải hàng hóa không lớn

Trang 24

- được như tàu) và chi phí vận tải cao (gấp 8 lần so với vận tải

-4 lần so với vận tải ô tô và vận tải đường sắt)

- Thứ ba, Giao nhận vận tải bằng đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện

tự nhiên, điều kiện hàng hải, yếu tố thời tiết., .Tốc độ của tàu biển tương đối thấp,chỉ khoảng 14-20 hải lý/giờ Tốc độ này là thấp so với tốc độ của máy bay, tàu hỏa.Thời gian vận chuyển từ 4 - 5 ngày trở lên, trong khi đó đường sắt, đường bộ chỉkhoảng 1 ngày, đường hàng không chỉ từ 1 - 2 giờ đồng hồ Khi lựa chọn giao nhậnbằng đường biển, cân nhắc mặt hàng hóa nào thích họp cho việc đi bằng đường biển,cách thức bảo quản hàng hóa,

- Từ những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nói trên của giao nhận hàng hóa bằngđường biển, ta thể rút ra kết luận một cách tổng quát về phạm vi áp dụng của giaonhận vận tải hàng hóa bằng đường biển như sau:

- Giao nhận vận tải bằng đường biển thích họp với chuyên chở hàng hàng hóatrong buôn bán quốc tế có khối lượng lớn, chuyên chở với cự ly dài nhưng không đòihỏi thời gian giao hàng nhanh chóng

- Việc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển phải dựa trên cơ

sở pháp lý như: các quy phạm luật quốc tế, các quy phạm pháp luật của Nhà Nước vềgiao nhận - vận tải, các loại họp đồng Các băn bản quy phạm pháp luật liên quanđến vận tải, bốc dỡ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu như: Bộ Luật Hàng hải ViệtNam 2005, Luật Hải quan,

1.3.2 Vai trò của giao nhận vận tải đường biển trong thương mại quốc tế

- Đối với dịch vụ giao nhận quốc tế, bên cạnh giao nhận bằng đường hàngkhông

thì còn có thêm hình thức giao nhận bằng đường biển Hình thức giao nhận này tối

ưu được những yêu cầu về khối lượng và chủng loại hàng hóa vận chuyển đa dạng.Đặc biệt nhiều công ty, khách hàng chọn hình thức giao nhận này còn vì mức giá kháhấp dẫn

- Do đặc thù riêng của mình mà hình thức giao nhận vận tải đường biển cónhiều

ý nghĩa thiết thực với vận chuyển hàng quốc tế Có thể kể đến một số ưu điểm củagiao nhận vận tải đường biển như sau:

Trang 25

hàng hóa đặc biệt:

Trang 26

- Với những con tàu to dài có khả năng chứa vài trăm Container lớn thì khảnăng

vận chuyển những hàng hóa có khối luợng và kích thuớc lớn, cồng kềnh của vận tảiđuờng biển là hoàn toàn có thể Đuờng biển rất quan trọng trong hoạt động vận tảiContainer Những loại hàng hóa có tính chất cồng kềnh này rất khó để vận chuyểnbằng đuờng bộ hay đuờng hàng không do khoang chứa đồ đặc thù của các hình thứcvận chuyển này còn bị hạn chế

- Giao nhận vận tải bằng đường biển giúp khai thác tối đa nguồn lợi có sẵn:

- Thông qua hình thức giao nhận đuờng biển thì dịch vụ vận chuyển hàng hóaquốc tế đã tận dụng cũng nhu khai thác đuợc những tiềm lục vốn có của các địa điểm

có biển và cảng biển Các tuyến đuờng vận tải trên biển hầu nhu là những tuyếnđuờng giao thông tụ nhiên, không tốn quá nhiều công để xây dụng, bảo trì và sửachữa Việc khai thác sử dụng vận tải đuờng biển giúp mang lại lợi ích cho nhiều phía,

từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giao thuơng, vận tải

- Bên cạnh đó giao nhận đuờng biển còn giúp tối uu hóa chi phí cho doanhnghiệp, công ty Chi phí là điều cần đuợc quan tâm hàng đầu khi vận chuyển songsong với thời gian Hình thức giao nhận đuờng biển có uu điểm là giúp tiết kiệm chiphí vận chuyển nên đuợc đông đảo doanh nghiệp và công ty sử dụng

- Giao nhận vận tải bằng đường biển là cầu nối giao thương mang tầm quốc tế:

- Giao nhận vận tải bằng đuờng biển đã mở ra thị truờng buôn bán, trao đổihàng

hóa giữa các quốc gia trên thế giới một cách thuận lợi Không những buôn bán trongnuớc, giờ đây công ty, khách hàng có thể vuơn ra hoạt động ở quy mô nuớc ngoài

Và nguợc lại, công ty, khách hàng cũng có thể tăng nguồn hàng của mình từ các nơitrên toàn cầu về địa phuơng một cách nhanh chóng Việc làm này đã góp phần thayđổi không ngừng sụ luân phiên hàng hóa giữa các quốc gia, khu vục

- Vai trò của giao nhận vận tải bằng đuờng biển của mỗi địa phuơng với dịchvụ

chuyển hàng quốc tế là khác nhau Ngoài điều kiện vị trí địa lý thì còn phụ thuộc vào

số luợng hàng hóa, đội tàu vận chuyển và hơn hết là nhu cầu sử dụng cũng nhu buônbán kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu tại địa phuơng Một khi đã khai thác đuợc

Trang 27

vận tải đuờng biển thì hầu nhu cơ hội “vuơn ra biển lớn” của doanh nghiệp, công ty

là điều hoàn toàn có thể thục hiện nhanh chóng

Trang 28

1.3.3 Nguồn luật điều chỉnh nghiệp vụ giao nhận vận tải bằng đường biển

- Dịch vụ logistics, giao nhận liên quan tới vận tải biển chịu sụ tác động củacác

điều uớc quốc tế nhu Công uớc Brussel (1924), Nghị định thu Visby (1968), Cônguớc Hamburg (1978) Liên quan tới vận tải hàng không có Công uớc Vacsava (1929),Nghị định thu Hague (1955), Nghị định thu Montreal (1975), Công uớc Montreal(1999) (Bộ Công Thuơng, 2017, Báo cáo Logistics Việt Nam 2017, tr.20)

- Bên cạnh đó, còn có Công uớc thống nhất thủ tục hải quan Kyoto (1973),Công

uớc quốc tế vận tải đa phuơng thức (1980) Quy tắc của UNCTAD/ICC về chứng từvận tải đa phuơng thức (1992), Có thể nói, các công uớc cũng nhu tập quán quốc

tế đuợc hình thành chủ yếu từ các nuớc phát triển, sau đó đuợc công nhận và trở thànhquy định chung điều chỉnh hoạt động logistics, giao nhận quốc tế (Bộ Công Thuơng,

2017, Báo cáo Logistics Việt Nam 2017, tr.20)

- Khi Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, dịch vụ logistics, giao nhận cònchịu tác động của các thỏa thuận tại khu vục nhu Hiệp định vận tải qua biên giới(1999); Hiệp định tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh (1968); Hiệp định khung vậntải đa phuơng thức ASEAN (2005) Trong quá trình kinh doanh dịch vụ logistics,giao nhận, các doanh nghiệp cũng phải thục hiện các tập quán quốc tế, chẳng hạn,điều kiện giao nhận hàng (Incoterms); quy tắc thục hiện tín dụng chứng từ; bảo hiểmhàng hóa trong quá trình vận chuyển, bốc xếp, hru kho, giao nhận (Bộ CôngThuơng, 2017, Báo cáo Logistics Việt Nam 2017, tr.20)

- Hệ thống luật pháp Việt Nam liên quan tới logistics dần đuợc hình thành vàhoàn thiện Luật Thuơng mại năm 2005 đã thay thế Luật Thuơng mại 1997, trong đóthuật ngữ “logistics” đuợc thay cho dịch vụ giao nhận truớc kia Năm 2005, Bộ LuậtHàng hải sửa đổi Bộ Luật Hàng hải 1990, phù họp dần với luật quốc tế Năm 2006,Việt Nam chính thức công nhận Công uớc tạo điều kiện thuận lợi cho tàu biển ra vàocảng biển (FAL-65) Đồng thời với Bộ luật Hàng hải, các luật về hàng không, đuờng

bộ, đuờng sắt, đuờng thủy nội địa, Luật Hải quan, Luật Các tổ chức tín dụng, LuậtBảo hiểm cũng ra đời (Bộ Công Thuơng, 2017, Báo cáo Logistics Việt Nam 2017,tr.20)

- Luật Quản lý ngoại thuơng: Luật Quản lý ngoại thuơng đã đuợc Quốc hội

Trang 29

thông qua năm 2017, chính thức có hiệu lục từ 01/01/2018, gồm 8 Chuơng 113 Điều

Trang 30

- quy định về biện pháp quản lý ngoại thuong, phát triển hoạt

điều chỉnh chủ yếu công tác quản lý nhà nuớc về ngoại thuong bao gồm:

pháp quản lý, điều hành hoạt động ngoại thuơng có liên quan đến mua

quốc tế; không điều chỉnh, can thiệp vào các hoạt động cụ thể của

các thuơng nhân với nhau Luật chỉ điều chỉnh đối tuợng là hàng hóa,

2017, tr.21)

- Nghị định số 163/2017/NĐ-CP (thay thế Nghị định 140/2007 NĐ-CP) quyđịnh chi tiết Luật Thuơng mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam

- Một số Nghị định, Thông tu, Quyết định đuợc ban hành trong thời gian quacó

tác động đến hoạt động dịch vụ logistics, giao nhận vận tải đuờng biển:

- Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ban hành ngày 08/3/2018 quy định chi tiết LuậtQuản lý ngoại thuơng về xuất xứ hàng hóa;

- Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ban hành ngày 20/4/2018 sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ban hành ngày 21/01/2015 của Chính phủquy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra,giám sát, kiểm soát hải quan;

- Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ban hành ngày 15/5/2018 quy định chi tiết một

số điều của Luật Quản lý ngoại thuơng;

- Nghị định số 144/2018/NĐ-CP ban hành ngày 16/10/2018 sửa đổi, bổ sungmột số điều của Nghị định số 87/2009/NĐ-CP ban hành ngày 19/10/2009 của Chínhphủ về vận tải đa phuơng thức, đã đuợc sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011 của Chính phủ

Trang 31

- Thông tu số 12/2018/TT-BCT ban hành ngày 15/6/2018 quy định chi tiết một

số điều của Luật Quản lý ngoại thuơng và Nghị định số 69/2018/NĐ-CP;

Trang 32

- Thông tư số 39/2018/TT-BTC ban hành ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chínhsửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2018 của

Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

- Quyết định, Thông tư và văn bản khác:

- + Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 hướng dẫn về thủ tục hảiquan: kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đốivới hàng hóa xuất, nhập khẩu

- + Quyết định 1037/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020,định hướng đến năm 2030 (Bộ Công Thưong, 2017, Báo cáo Logistics Việt Nam

2017, tr.21)

- + Thông tư 66/2014/TT-BGTVT ngày 12/11/2014 của Bộ trưởng bộ Giaothông vận tải quy định về vận tải hành khách, hành lý, bao gửi bằng tàu khách caotốc giữa các cảng, bến, vùng nước thuộc nội thủy Việt Nam và qua biên giới (BộCông Thương, 2017, Báo cáo Logistics Việt Nam 2017, tr.20)

- Quản lý kho bãi:

- Nghị định 68/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 quy định về điều kiện kinhdoanh

hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sáthải quan (Bộ Công Thương, 2017, Báo cáo Logistics Việt Nam 2017, tr.21)

1.3.4 Nghiệp vụ cơ bản trong giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển

1.3.4.1 Nhiệm vụ của các bên tham gia giao nhận hàng hóa tại cảng biển

- Ký kết họp đồng giao nhận, xếp dỡ, bảo quản, lưu kho hàng hóa với chủ hàng.Cảng phải có hướng dẫn xếp dỡ cho từng loại hàng, từng loại tàu được biết trên khảnăng bốc dỡ thực tế của cảng;

- Giao hàng xuất khẩu cho tàu và nhận hàng nhập khẩu từ tàu, nếu được ủythác;

- Hạch toán với tàu về việc giao nhận hàng hóa và lập các chứng từ cần thiếtkhác để bảo vệ quyền lợi của thương nhân nước ngoài;

Trang 33

- Giao hàng nhập khẩu cho các chủ hàng nội địa theo sự ủy thác của thươngnhân nước ngoài;

- Thực hiện xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu trữ hàng hóa trong khu vựccảng;

- Neu hàng hóa lưu trữ trong kho bãi của cảng bị hư hỏng, tồn thất thì cảngphải bồi thường nếu có biên lai họp lệ và nếu cảng không chứng minh được là cảngkhông có lỗi;

- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa bên trong, nếu bao bì, kiện hoặcdấu còn nguyên vẹn, do ký mã hiệu hàng hóa không chính xác hoặc không rõ ràng.(GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.140)

- Nhiệm vụ của doanh nghiệp xuất nhập khẩu:

- Thực hiện việc giao nhận hàng hóa với tàu hoặc ủy thác cho cảng về việcgiao nhận, nếu không tự giao nhận và tiến hành nhận hàng hóa xuất nhập khẩu vớicảng trong trường họp hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng;

- Ký kết họp đồng bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho với cảng;

- Cung cấp cho cảng các thông tin về hàng hóa và tàu;

- Theo dõi quá trình giao nhận để giải quyết những vấn đế phát sinh;

- Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình giao nhận để có cơ sở pháp lýkhiếu nại các bên có liên quan;

- Thanh toán các loại phí cho cảng

- Toàn bộ quá trình vận chuyển hàng hóa, làm các thủ tục, giấy tờ, trên củadoanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ được ủy thác cho các công ty cung cấp dịch vụlogistics, giao nhận hàng hóa bằng đường biển nếu họ sử dụng dịch vụ của các công

ty logistics, giao nhận này thay vì tự làm trực tiếp Bên cung cấp dịch vụ logistics sẽ

có nhiệm vụ thay mặt bên thuê dịch vụ tiến hành toàn bộ quá trình giao nhận hànghóa với các bên có liên quan (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 141)

- Nhiệm vụ của người vận chuyển (tàu):

- Cung cấp các chứng từ cần thiết cho cảng để cảng giao nhận hàng hóa Đốivới hàng nhập khẩu: 2 bản Lược khai hàng hóa, 2 bản Sơ đồ xếp hàng, 2 bản Chi tiếthầm hàng, 1 bộ vận đơn đường biển (nếu ủy thác giao nhận cho cảng) Các giấy tờtrên phải giao nhận cho cảng trong 24 giờ trước khi tùa đến vị trí hoa tiêu, Neu là

Trang 34

- hàng Container lư kho bãi cảng, người nhận hàng còn phải giao

hàng (có xác nhận của Hải quan), bản sao vận đon

- Chăm lo đủ ánh sáng trong hầm hàng và các nơi cần thiết khác, cũng như cáctrang thiết bị làm hàng để đảm bảo an toán cho việc bốc dỡ hàng hóa;

- Trả chi phí bốc dỡ, đóng gói, theo họp đồng đã ký kết với cảng (GS,TSHoàng Văn Châu, 2009, tr 141)

- Tiến hành thủ tục Hải quan, thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quanđối với tàu biển, hàng hóa nhập khẩu;

- Đảm bảo thực hiện các quy định của nhà nước về xuất khẩu, về thu thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu;

- Tiến hành các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra và xử lý hành vi buônlậu, gian lận thương mại hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền ViệtNam qua cảng biển (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 142)

1.3.4.2 Quy trình giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển

- Yêu cầu đối việc giao nhận hàng nhập khẩu: Nhận hàng nhanh chóng, kếttoán

chính xác, lập kịp thời, đầy đủ, họp lệ các chứng từ, biên bản liên quan đến tổn thấtcủa hàng hóa để khiếu nại các bên có liên quan

- Chủ hàng thường phải tiến hành các bưởc sau:

- Kiểm tra việc trả tiền hay việc mở L/C;

- Nắm thông tin về hàng và tàu, về thủ tục hải quan đối với nặt hàng liên quan;

- Nhận các giấy tờ như: Thông báo sẵn sàng (NOR), thông báo tàu đến (Notice

of Arrival), B/L (Bill of Lading) và các chứng từ khác về hàng hóa;

- Nhận hàng từ cảng hoặc tàu

- Hàng nhập khẩu đóng trong Container:

- Đối với hàng nguyên (FCL/LCL):

- + Khi nhận được “Giấy thông báo hàng đến ” từ hãng tàu hay đại lý, chủ

hàng

mang B/L gốc và giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để lấy Lệnh giao hàng(D/O) và đóng lệ phí;

Trang 35

- + Chủ hàng mang biên lai nộp lệ phí, 3 bản D/0 cùng bộ chứng từ nhận hàngđến Văn phòng quản lý tại cảng để xác nhận D/0, đồng thời mang 1 bản D/0 đến Hảiquan giám sát tại cảng để đối chiếu với Manifest;

- + Cán bộ giao nhận đến bãi tìm vị trí Container;

- + Cán bộ giao nhận của chủ hàng ngoại thuong mang 2 bản D/O đã có xácnhận của hàng tàu trên đó có gì rõ phuơng thức nhận hàng (nhận nguyên Containerhoặc “rút ruột”) đến bộ phận kho vận phiếu xuất kho;

- + Sau khi đóng các lệ phí, cán bộ giao nhận mang D/O đã xác nhận đếnThuơng

vụ cảng lấy phiếu vận chuyển để chuẩn bị nhận hàng;

- + Neu nhận nguyên Container thì phải xuất trình giấy muợn Container củahàng

và đến bãi yêu cầu xếp Container lên phuơng tiện vận tải Neu nhận theo phuơng thức

“rút ruột” thì phải có lệnh điều động nhân công để dỡ hàng ra khỏi Container và xếphàng lên phuơng tiện vận tải (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 146)

- Đối với hàng lẻ (LCL/LCL):

- + Chủ hàng mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gom hàng đến hãng tàu hoặc đại

lý của nguời gom hàng để lấy D/O;

- + Sau khi xác nhận, đối chiểu D/O thì mang đến thủ kho để nhận phiếu xuấtkho;

- + Sau đó mang chứng từ đến kho CFS để nhận hàng;

- + Đối với các loại hàng nhập khẩu khác: Hàng hóa nhập khẩu khác bao gồm:hàng nguyên tàu, nguyên hầm, hàng rời khác Việc giao nhận những loại hàng này cóthể tiến hành giữa cảng với tàu, giữa chủ hàng với tàu hay giao nhận tay ba (tàu, cảng

và chủ hàng) (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 148)

- Làm thủ tục Hải quan:

- Sau khi có B/L và D/O có thể tiến hành làm thủ tục hải quan cho hàng nhậpkhẩu Thủ tục hải quan thuờng qua các buớc sau:

- + Chuẩn bị hồ sơ hải quan: Bộ hồ sơ hải quan đối với hàng mậu dịch gồm có:

Tờ khai hải quan nhập khẩu, phiếu tiếp nhận hồ sơ, giấy giới thiệu của cơ quan, giấyphép kinh doanh, vận đơn, điện giao hàng (nếu là B/L Surrendered), lệnh giao hàng,giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), giấy chứng nhận phẩm chất, hóa đơn thuơng mại

Trang 36

- + Khai và tính thuế nhập khẩu Chủ hàng tụ khai và áp mã tính thuế;

Trang 37

- + Đăng ký tờ khai: Hải quan nhận hồ sơ, kiểm tra hồ sơ, kiểm tra doanhnghiệp

còn nợ thuế quá 90 ngày không? Neu hồ sơ đầy đủ và không nợ thuế, nhân viên hảiquan sẽ ký xác nhận và chuyển hồ sơ qua đội truởng hải quan đế phúc tập tờ khai.Sau đó bộ phận thu thuế sẽ kiểm tra, vào sổ sách máy tính và ra thông báo thuế Chủhàng nhận thông báo thuế cùng với phiếu tiếp nhận hồ sơ, còn bộ hồ sơ chuyển qua

- + Nhận thông báo thuế, đóng thuế và lệ phí hải quan; Thanh toán các chi phícho cảng nhu: tiến thuởng phạt xếp dỡ, tiền phạt hru Container, tiền hru kho bãi,

- Nghiệp vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại cảng biển bao gồm nhiều buớc.Mỗi buớc có những yêu cầu và nội dung nghiệp vụ riêng biệt Song các buớc nghiệp

vụ lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau Đe nghiệp vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩutại cảng biển đạt kết quả tốt nhất cần nắm vững tất cả các khâu nghiệp vụ có liênquan (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr 148)

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giao nhận hàng hóa bằng đường biển

1.3.5.1 Các yếu tố khách quan

- - Môi trường chính trị, xã hội:

- Môi trường chính trị, xã hội ổn định của mỗi đất nước tạo điều kiện cho sựphát triển của nước đó trong các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, là mộttrong những yếu tố cho sự họp tác với các công ty, tập đoàn nước ngoài

- Các biến động trong môi trường chính trị và xã hội ở các nước có hoạt độnggiao nhận sẽ có tác động không nhỏ tới hoạt động xuất xuất nhập khẩu bằng đường

Trang 38

biển.

Trang 39

- Môi trường pháp luật:

- Phạm vi hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển baogồm nhiều quốc gia khác nhau Môi trường pháp luật nên được hiểu ở đây là môitrường pháp lý không chỉ của nước xuất xứ của hàng hóa mà còn của nước hàng hóa

đi qua, nước hàng hóa được gửi đến và quốc tế;

- Mỗi thay đổi của Chính Phủ về chính sách liên quan đến giao nhận hàng hóabằng đường biển cũng sẽ có tác động đến xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu sẽ thường tăng hoặc giảm số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu từ các thịtrường trên thế giới

- Môi trường công nghệ:

- ứng dụng công nghệ vào quá trình giao nhận hàng hóa sẽ giúp quá trình giaonhận tiết kiệm được thời gian, công sức, Một khi công nghệ được phát triển và cáccông ty áp dụng được vào quá trình làm việc thực tế thì sẽ giúp gia tăng chất lượngdịch vụ, thông tin về hàng hóa đến với khách hàng nhanh chóng hơn, giá cước sẽgiảm so với trước kia

- Thời tiết:

- Thời tiết tác động rất lớn đến việc giao nhận hàng hóa, đây là một trongnhững

yếu tố khách quan mà con người không thể kiểm soát, yếu tố này ảnh hưởng đến tốc

độ vận chuyển, mức độ an toàn của hàng hóa Trong quá trình vận chuyển hàng hóa,thời tiết xấu có thể gây thiệt hại hoàn toàn, khiến chậm giao hàng, có thể phát sinhhậu quả kinh tế cho những bên có liên quan

- Điều kiện hàng hải, thời tiết sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hàng hóa, đâylà

một trong những nguyên nhân khách quan gây ra các mâu thuẫn giữa các bên nếukhông có điều kiện cụ thể trong họp đồng giao nhận vận chuyển Nó cũng là cơ sởcho việc xây dựng trường họp bất khả kháng và khả năng miễn trách nhiệm cho ngườigiao nhận

- Đặc điểm của hàng hóa:

- Hàng hóa giao nhận bằng đường biển hiện nay có vô số các loại mặt hàng,mỗi

loại hàng hóa sẽ có những đặc điểm riêng của chúng Trước khi giao nhận, người giao

Trang 40

nhận phải xác định loại Container phù họp với mỗi loại hàng hóa, ví dụ nếu vận

Ngày đăng: 27/08/2021, 20:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w