1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tiểu luận thi hành án dân sự châu

12 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 25,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi bản án, quyết định dân sự của tòa án có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể có quyền và nghĩa vụ thi hành án đều phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.. Nếu cứ nhất đ

Trang 1

Đề 12: Miễn giảm nghĩa vụ thi hành án là gì? Tại sao lại có chủ trương miễn giảm nghĩa vụ thi hành án? Ý kiến của em về vấn đề này?

Lời mở đầu

Nội dung

I Khái quát chung về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án dân

sự

1 Khái niệm, cơ sở miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự Khi bản án, quyết định dân sự của tòa án có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể có quyền và nghĩa vụ thi hành án đều phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, trên thực tế

có nhiều trường hợp việc thi hành không thể thực hiện được do người phải thi hành án qua một thời gian dài vẫn không có tài sản để thi hành án là không có Nếu cứ nhất định buộc người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức sẽ rất nhiều thời gian, công sức để xác minh theo dõi điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Ngoài ra, cũng có trường hợp tài sản của người thi hành án có giá trị nhỏ nhưng tổ chức thi hành án khi thi hành án thì chi phí lại cao chính vì thế hiệu quả của quá trình thi hành án là không cao … Xuất phát từ thực tế đó, để đảm bảo hiệu quả của công tác thi hành án và sớm ổn định các quan hệ xã hội, pháp luật thi hành án đã quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự của người phải thi hành án trong một số trường hợp nhất định

Thi hành án dân sự trước hết là vì quyền lợi của người được thi hành án, do đó về nguyên tắc việc miễn giảm thi hành án nghĩa vụ thi hành án phải do người được thi hành án quyết định

Trang 2

Tuy nhiên, trong một số trường hợp như được người thi hành án đồng ý hoặc người thi hành án đề nghị hoặc đối với các khoản thi hành án thu cho ngân sách nhà nước như án phí, tiền phạt thì Nhà nước có quyết định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự cho người phải thi hành án

Việc pháp luật quy định về các trường hợp miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc đảm bảo hiệu quả thi hành án và phần nào giảm bớt khó khăn tài chính cho người phải thi hành án Hiện nay, việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án được quy định tại các Điều 61 đến 64 Luật thi hành án dân sự, Điều 26 Nghị định 58/2009/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT- BTP-BTC-BCA- VKSNDTC- TANDTC và

2 Nguyên tắc và các trường hợp được miễn giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự

II Ý nghĩa của chủ trương miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

dân sự

III Đánh giá thực tiễn chủ trương miễn giảm nghĩa vụ thi

hành án dân sự

b) Về kết quả xét miễn, giảm thi hành án

- Đối với các cơ quan THADS:

+ Năm 2011, đã đề nghị xét miễn, giảm đối với 11.954 việc, với số tiền là 36 tỷ 501 triệu 438 nghìn đồng Đã miễn, giảm được 9.943 việc, với số tiền 27 tỷ 722 triệu 231 nghìn đồng (trong đó, miễn 9.095 việc, với số tiền 21 tỷ 847 triệu 349 nghìn đồng; giảm 848 việc, với số tiền 5 tỷ 874 triệu 882 nghìn đồng)

+ Năm 2012, đã đề nghị xét miễn, giảm đối với 11.131 việc, với số tiền 35 tỷ 874 triệu 334 nghìn đồng Đã thực hiện miễn, giảm

Trang 3

được 9.924 việc, với số tiền 29 tỷ 874 triệu 673 nghìn đồng (miễn 8.818 việc, với số tiền 23 tỷ 62 triệu 525 nghìn đồng; giảm 1.106 việc, với số tiền 6 tỷ 812 triệu 148 nghìn đồng)

+ Năm 2013, đề nghị xét miễn, giảm đối với 8.213 việc, với số tiền là 36 tỷ 942 triệu 25 nghìn đồng (giảm 2.918 việc nhưng tăng 1 tỷ 67 triệu 691 nghìn đồng so với năm 2012) Đã được miễn, giảm là 6.006 việc, với số tiền 32 tỷ 857 triệu 723 nghìn đồng (giảm 3.918 việc nhưng tăng 2 tỷ 983 triệu 50 nghìn đồng

so với năm 2012)

+ Năm 2014, đề nghị xét miễn, giảm 8.086 việc, với số tiền 46

tỷ 959 triệu 182 nghìn đồng; đã xét miễn, giảm được 7.470 việc, tương ứng với số tiền 44 tỷ 483 triệu 385 nghìn đồng, tăng 1.464 việc và 11 tỷ 625 triệu 662 nghìn đồng so với năm 2013 + Năm 2015, đề nghị xét miễn, giảm 9.099 việc, với số tiền là

42 tỷ 375 triệu 27 nghìn đồng; đã xét miễn, giảm được 8.238 việc, với số tiền 39 tỷ 460 triệu 557 nghìn đồng, tăng 768 việc nhưng giảm 5 tỷ 22 triệu 828 nghìn đồng so với năm 2014

- Từ năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2015[1], các cơ quan THA trong quân đội đã lập hồ sơ, phối hợp với Viện kiểm sát quân sự, đề nghị Tòa án quân sự xét miễn, giảm THA Kết quả, Tòa án quân sự đã xét và quyết định miễn, giảm THA khoản thu, nộp NSNN 24 việc với số tiền 125.190.000 đồng, bảo đảm đúng quy trình, không có sai sót, nhầm lẫn

Từ các số liệu nêu trên cho thấy, kết quả xét miễn, giảm hàng năm đều tăng về số việc và giá trị; điều này khẳng định chính sách nhân đạo của Nhà nước được thực thi trên thực tế, đồng thời góp phần giải quyết án tồn đọng

Trang 4

2.1.2.2 Khó khăn, vướng mắc, hạn chế, tồn tại

a) Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Thông tư liên tịch số 10 và các văn bản liên quan

(i) Về đáp ứng các điều kiện để được xét miễn, giảm THA

Theo quy định tại Điều 61 Luật THADS 2008, Điều 26 của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP, ngoài trường hợp xét miễn nghĩa vụ THA đối với các khoản có giá trị nhỏ, các trường hợp xét miễn, giảm THA còn lại phải đáp ứng yêu cầu, người phải THA thi hành được một phần nghĩa vụ (theo Nghị định 58/2009/NĐ-CP là 1/20 và theo Nghị định 125/2013/NĐ-CP là 1/50) nhưng không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch

Thực tiễn thực hiện cho thấy, việc phải thi hành được 1/20 hay 1/50 nghĩa vụ đối với nhiều trường hợp gặp khó khăn, do người phải THA không có điều kiện thi hành, nhất là các trường hợp phạm tội về ma túy, hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo, không có tiền, tài sản, thu nhập để thi hành; gia đình thuộc hộ nghèo, không có khả năng hỗ trợ thi hành án

(ii) Về xác minh điều kiện để được xét miễn, giảm THA

Theo quy định tại Điều 61 Luật THADS 2008, việc không xác minh được địa chỉ của người phải THA không phải là điều kiện để được xét miễn, giảm Trên thực tế, việc xác minh điều kiện THA nói chung và điều kiện THA để xét miễn, giảm THA gặp không ít khó khăn trong việc xác định địa chỉ của người phải THA vì các lý do: sau khi ra tù người phải THA không trở về địa phương, nơi cư trú; người phải THA không có mặt địa phương và

Trang 5

cũng không xác định được nơi thường trú cuối cùng của họ; người phải THA lang thang, cơ nhỡ…

Ngoài ra, có trường hợp việc phối hợp, cung cấp, xác minh, xác nhận về điều kiện miễn, giảm THA theo đề nghị của cơ quan THADS còn chậm so với yêu cầu, có trường hợp nơi nhận được đề nghị xác minh không gửi lại kết quả

(iii) Vướng mắc trong việc áp dụng quy định “mức án phí không

có giá ngạch”

Theo Nghị định số 58/2009/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 125/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS, “người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp NSNN đã thi hành được ít nhất bằng 1/50 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch” Tuy nhiên, quy định về mức án phí không có giá ngạch

có thay đổi, cụ thể là mức 50.000 đồng (theo Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án) đã nâng lên mức 200.000 đồng (theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án) Do chưa có quy định rõ về việc áp dụng “mức án phí không có giá ngạch” tại thời điểm xét miễn, giảm hay tại thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nên có trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hủy quyết định xét miễn, giảm của Tòa án

(iv) Quy định về thẩm quyền của Tòa án quân sự và Viện kiểm sát quân sự còn chưa phù hợp với Luật THADS

Trang 6

Quy định tại Điều 63 Luật THADS hoàn toàn phù hợp với pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, theo đó: thẩm quyền xét miễn, giảm THA thuộc Tòa án cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực, nơi

cơ quan THADS đang tổ chức việc THA có trụ sở Tuy nhiên, khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC lại quy định, Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm THA là “Toà án quân sự khu vực nơi người phải THA

cư trú, làm việc”, điều này vừa không phù hợp với Điều 63 Luật THADS, vừa gây khó khăn cho cơ quan THA trong quân đội, vì

cơ quan THA cấp quân khu đóng trên địa bàn bao gồm nhiều tỉnh, nếu phải chuyển hồ sơ cho Tòa án quân sự khu vực nơi người phải THA cư trú, làm việc thì có trường hợp chi phí đi lại tốn kém hơn rất nhiều so với khoản tiền được xét miễn, giảm cho đương sự

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC quy định Viện kiểm sát cấp quân khu ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp khu vực nơi người phải THA cư trú, làm việc đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn, giảm phần tiền phạt còn lại quy định tại khoản 2 Điều 58

và khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự là không phù hợp, bởi lẽ, Viện kiểm sát cấp khu vực chính là cơ quan có thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm

Các vấn đề bất cập nêu trên của Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC đang được xem xét sửa đổi, bổ sung, bảo đảm chặt chẽ, phù hợp với pháp luật hiện hành

b) Một số vấn đề kỹ thuật của Thông tư liên tịch số 10

(i) Quy định về thời hạn chưa cụ thể hoặc chưa phù hợp

Trang 7

- Khoản 1 Điều 4 chưa quy định rõ về thời điểm, thời hạn cơ quan THADS có văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm THA Trong khi đó, có trường hợp người phải THA không biết họ có đủ điều kiện để miễn, giảm THA nên không có đơn đề nghị Việc không quy định thời hạn cụ thể có thể gây ra tình trạng cơ quan THADS không tiến hành thủ tục xét miễn, giảm để bảo đảm quyền, lợi ích của người phải THA

- Tại Điều 7, việc quy định thời hạn chuyển hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm THA từ cơ quan THADS sang Viện kiểm sát cùng cấp vào đầu tháng của mỗi quý là khá dài Điều này có thể dẫn đến việc chưa nâng cao trách nhiệm của Chấp hành viên trong việc giảm án tồn đọng; chưa đảm bảo việc xét miễn, giảm kịp thời cho người phải THA Bên cạnh đó, chưa quy định rõ thời hạn để Viện kiểm sát thực hiện việc yêu cầu cơ quan THADS giải thích, bổ sung hồ sơ

(ii) Một số hạn chế về kỹ thuật lập quy

- Bố cục một số điều, khoản của Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-TANDTC-VKSNDTC chưa phù hợp: + Khoản 1 Điều 3 quy định về điều kiện xét miễn, giảm trong trường hợp người phải THA phải thi hành nhiều bản án, quyết định của Tòa án; do đó, để nội dung này ở Điều 3 (nguyên tắc xét miễn, giảm THA) là không phù hợp Các quy định về nguyên tắc phải mang tính chỉ đạo, xuyên suốt quá trình xét miễn, giảm (như khách quan, công khai, minh bạch, kịp thời, đúng đối tượng)

+ Khoản 1 Điều 4: tên điều là thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm, nhưng nội dung lại có các quy định về trình tự, thủ tục

Trang 8

thực hiện việc đề nghị Cần tách các nội dung này thành một điều khác hoặc thiết kế logic hơn

+ Khoản 2 Điều 6 quy định về nội dung xác minh điều kiện THA để xét miễn, giảm Việc xác minh được thực hiện trước giai đoạn lập hồ sơ, là căn cứ để lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm,

do đó, để ở Điều 6 (Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm THA) là không phù hợp

+ Tại Khoản 2 Điều 7 quy định về việc Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan THADS lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm khi có căn cứ cho rằng người phải THA đủ điều kiện để xét miễn, giảm Điều này chỉ có thể thực hiện khi Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát THA, không phải khi kiểm sát hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm Do đó, nội dung này để ở khoản 2 Điều 7 là không phù hợp

+ Khoản 2 Điều 10 quy định việc Tòa án trả lại hồ sơ do không thực hiện đúng thủ tục Đây là hoạt động ở giai đoạn thụ lý hồ

sơ hoặc tại phiên họp xét miễn, giảm, không phải ở giai đoạn thi hành quyết định của Tòa án về xét miễn, giảm THA, do đó, để ở Điều 10 là không phù hợp

- Một số quy định chưa cụ thể, thiếu chặt chẽ:

+ Khoản 4, khoản 5 Điều 1 giải thích khái niệm “người phải THA không có tài sản để THA”, “người phải THA lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài”, tuy nhiên, chưa quy định thời hạn để xác định là “kéo dài” khi “lâm vào hoàn cảnh kinh

tế đặc biệt khó khăn” Khoản 6 giải thích khái niệm “người phải THA lập công lớn”, tuy nhiên, hiện nay, ngoài quy định của Bộ Công an về lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù

và một số thành tích (như được tặng thưởng danh hiệu Anh

Trang 9

hùng lao động, được tặng thưởng Huân chương ) để xét đặc xá trong một số trường hợp đặc biệt thì chưa có văn bản nào quy định, hướng dẫn cụ thể về vấn đề này

+ Pháp luật chưa quy định cụ thể nguyên tắc miễn, giảm đối với trường hợp, cùng lúc, một người phải thi hành nhiều bản án, quyết định Đồng thời, Điều 51 Bộ luật Hình sự chỉ mới giải quyết vấn đề tổng hợp hình phạt mà chưa quy định tổng hợp phần nghĩa vụ THA đối với khoản thu, nộp NSNN

- Thủ tục hành chính chưa hoàn thiện: Khoản 1 Điều 4 có quy định việc người phải THA có đơn đề nghị xét miễn, giảm THA, tuy nhiên, chưa quy định cách thức thực hiện (gửi trực tiếp cho

cơ quan THADS, gửi qua bưu điện hay gửi qua internet); việc thông báo về kết quả xác minh chưa đủ điều kiện xét miễn, giảm chưa quy định phải nêu rõ lý do

- Một số quy định không cần thiết:

+ Điều 1: việc giải thích các khái niệm “khoản thu nộp NSNN”,

“miễn THA”, “giảm THA” là không cần thiết vì vấn đề này đã được quy định tại khoản 3 Điều 2, hơn nữa các khái niệm này không được sử dụng trong các quy định còn lại của Thông tư + Quy định về xử lý vi phạm về việc xét miễn, giảm THA tại Điều 11 là không cần thiết vì nội dung này không hướng dẫn cụ thể hay chi tiết hóa quy định nào của Luật THADS, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự

c) Về một số hạn chế, tồn tại trong thực tiễn xét miễn, giảm THA

Về cơ bản, số việc Tòa án đã xét miễn, giảm so với số việc mà

Trang 10

ánh việc đề nghị xét miễn, giảm THA đã bảo đảm chính xác, khách quan và được cơ quan Tòa án quan tâm thực hiện Tuy nhiên, số việc được Tòa án xét miễn, giảm luôn thấp hơn số việc

cơ quan THADS đề nghị xét miễn, giảm, ví dụ: năm 2013 xét miễn, giảm được 6.006 việc/ 8.213 việc đề nghị (đạt tỉ lệ: 73,13%), năm 2014 xét miễn, giảm được 7.470 việc/8.086 việc đề nghị (đạt tỉ lệ: 92,38%); vẫn còn tình trạng chậm xét miễn, giảm

Hạn chế, tồn tại nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Về mặt chủ quan: Việc kiểm tra công tác phân loại hồ sơ THA tuy đã được quan tâm nhưng chất lượng còn chưa cao, thiếu chính xác; công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ chưa được quan tâm đúng mức; quan hệ phối hợp có lúc có nơi còn chưa kịp thời; nhận thức về ý nghĩa, vai trò của công tác miễn, giảm, ý thức trách nhiệm của một bộ phận Chấp hành viên, công chức còn chưa cao Do đó, vẫn còn một số trường hợp chưa đảm bảo quy trình, thời hạn, hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm

- Về mặt khách quan: Một số quy định của pháp luật còn chưa chặt chẽ, thiếu cụ thể (về xác định người phải THA lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, kéo dài, lập công lớn); một số quy định áp dụng chưa thống nhất (mức án phí có giá ngạch; xét miễn giảm 01 năm 01 lần)

Những hạn chế, tồn tại nêu trên cần được khắc phục kịp thời trong quá trình lập hồ sơ và kiểm sát hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, để từ đó nâng cao hơn nữa tỉ lệ được xét trên số việc đề nghị

Ngày đăng: 02/10/2020, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w