Như vậy, trong Bộ luật dân sự 2015, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “hành vi xâmphạm của người gây thiệt hại”.. Yếu tố nước ngoài đã được Bộ luật Dân
Trang 1MỤC LỤCLời mở đầu 3 Nội dung 4
I Khái quát chung về xung đột pháp luật phát sinh từ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài 4
1 Định nghĩa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 4
2 Định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tốnước ngoài 5
3 Định nghĩa xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng có yếu tố nước ngoài 63.1 Nguyên nhân xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài 63.2 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài 7
II Quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7
1 Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng theo quy định pháp luật Việt Nam 8
2 Đánh giá quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nướcngoài trong Bộ luật dân sự 2015 và Bộ luật dân sự 2005 10
III Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế ở một số lĩnh vực nhất định theo pháp luật Việt Nam 13
1 Pháp luật Việt Nam giải quyết trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại do hành
vi xâm hại bí mật đời tư, quyền nhân thân có yếu tố nước ngoài 13
Trang 22 Pháp luật Việt Nam trong linhc vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
do sản phẩm gây ra có yếu tố nước ngoài 14
3 Pháp luật Việt nam áp dụng đối với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngtrong lĩnh vực sỡ hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài 15
4 Pháp luật Việt Nam áp dụng trong bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực tainạn giao thông có yếu tố nước ngoài 17
5 Pháp luật Việt Nam áp dụng giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong lĩnh vực cạnh tranh có yếu tố nước ngoài 18
Kết luận 19 Tài liệu tham khảo 20
Trang 3Lời mở đầu.
Đời sống của con người luôn vận động với rất nhiều hoạt động chính vìthế việc xảy ra những sai sót và xảy ra những thiệt hại mà mà không có bất kì aimong muốn sự việc đó xảy ra Khi một sự kiện pháp lí xảy ra thì hậu quả của nó
có thể tác động đến con người hoặc tài sản gây ra những thiệt hại nhất định vàđồng thời bên gây thiệt hại chắc chắn phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại chobên bị thiệt hại Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một vấn đề dân sự phátsinh khi có xảy ra thiệt hại trên thực tế nhưng việc bồi thường cho thiệt hại đókhông được thỏa thuận trong hợp đồng Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng có yếu tố nước ngoài thường phức tạp hơn do vướng phải nhiều quy địnhkhác nhau, dẫn đến xung đột pháp luật Việt Nam đã quy định như thế nào đểgiải quyết vấn đề này?
Chính vì thế bài tiểu luận sẽ làm về đề tài “Phân tích các quy định của
pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.”
Trang 4Nội dung.
I Khái quát chung về xung đột pháp luật phát sinh từ bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
1 Định nghĩa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâmphạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi íchhợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trườnghợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Như vậy, “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại quan hệ dân
sự phát sinh ngoài hợp đồng trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra”.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là cơ
sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Về căn cứ làm phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngoài hợp đồng, Bộ luật dân sự
2015 đã được sửa đổi và có sự tiến bộ so với Bộ luật dân sự 2005 Cụ thể,khoản 1 Điều 584 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sứckhoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác củangười khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này,luật khác có liên quan quy định khác” Như vậy, trong Bộ luật dân sự 2015, căn
cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “hành vi xâmphạm của người gây thiệt hại” Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự
2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngoài hợp đồng yêu cầungười gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý” Với quy định như vậy, ngoàiviệc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hạicần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi Bộ luật dân sự 2015 đã quy
Trang 5ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại Theo đó, trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện:
Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng ngoài hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại
về tinh thần Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi íchvật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thànhmột số tiền nhất định Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịuđau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tínnhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất
mà họ phải chịu
Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luậttrong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thôngqua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: Làm những việc mà phápluật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượtquá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ màpháp luật quy định
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra:Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lạihành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Hành vi trái pháp luật sẽ
là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tấtyếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếucủa hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy
ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại
Trang 62 Định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệthại có yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài đã được Bộ luật Dân sự năm
2015, Điều 663 quy định rất cụ thể quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài làquan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưngviệc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tạinước ngoài
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưngđối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài
Dựa vào các cơ sở trên, tác giả rút ra định nghĩa sau về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài là trách nhiệm dân sự
ngoài hợp đồng phát sinh khi có thiệt hại xảy ra và có ít nhất một trong ba yếu tố sau: Thứ nhất, ít nhất một trong các bên tham gia quan hệ có quốc tịch, nơi cư trú hay trụ sở ở nước ngoài; Thứ hai, hành vi gây thiệt hại hoặc hậu quả thiệt hại xảy ra ở nước ngoài; Thứ ba, đối tượng bị thiệt hại ở nước ngoài”.
3 Định nghĩa xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luậtcùng điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể, do có sự khác nhau giữapháp luật của các quốc gia hoặc do tính chất đặc thù của chính đối tượng điềuchỉnh của tư pháp quốc tế
Trang 7Do vậy, “Xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia
khác nhau cùng có thể điều chỉnh các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng có yếu tố nước ngoài”
3.1 Nguyên nhân xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Có hai nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng
Thứ nhất, đó là việc pháp luật của mỗi quốc gia có những quy địnhkhông giống nhau về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thứ hai, các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có sự thamgia của “yếu tố nước ngoài” Đây là hai nguyên nhân chủ yếu đã làm xung độtpháp luật về BTTHNHĐ nảy sinh
3.2 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Tư pháp quốc tế có hai phương pháp giải quyết xung đột cơ bản làphương pháp xung đột và phương pháp thực chất
Phương pháp thực chất là phương pháp giải quyết xung đột bằng cách
áp dụng các quy phạm thực chất Quy phạm thực chất là quy phạm quy địnhsẵn các quyền, nghĩa vụ, biện pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia quan hệ
Tư pháp quốc tế
Phương pháp xung đột là phương pháp giải quyết xung đột bằng cáchxây dựng và thực hiện các quy phạm xung đột Phương pháp xung đột sử dụngquy phạm xung đột nhằm xác định hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụngtrong việc điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế
II Quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật
phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trang 8Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cóyếu tố nước ngoài tại Điều 687 như sau:
“1 Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng.
2 Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối với
cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng.”
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chếđịnh pháp lí có ý nghĩa đối với đời sống nhân dân để đảm bảo lợi ích của nhândân khi có thiệt hải xảy ra Ở Việt Nam bồi thượng thiệt hại ngoài hợp đồng cóyếu tố nước ngoài được quy định chủ yếu trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm
2015 Pháp luật Việt Nam không xây dựng một đạo luật riêng về luật áp dụng(còn gọi là Luật Xung đột) mà các nguyên tắc giải quyết xung đột được quyđịnh trong nhiều đạo luật cụ thể trong đó chủ yếu được quy định trong Bộ luậtDân sự 2015 Ngoài ra, một số các đạo luật khác cũng chứa đựng các quy phạmxung đột như Bộ luật Hàng hải năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Namnăm 2006… Các đạo luật này đều chứa đựng các nguyên tắc chọn luật trong cáctrường hợp cụ thể được xây dựng trên cơ sở các quy định mang tính nền tảngcủa Bộ luật Dân sự Và cuối cùng còn có các điều ước mà Việt Nam là thànhviên
1 Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định pháp luật Việt Nam.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định pháp luậtViệt Nam được quy định tại Điều 687 Bộ luật dân sự 2015 Điều luật này đã ápdụng nhiều hệ thuộc luật được kết hợp với nhau theo trật tự thứ bậc:
Trang 9Hệ thuộc thứ nhất: Luật do các bên thỏa thuận lựa chọn Theo đó, các bênđược thỏa thuận lựa chọn pháp luật cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngcăn cứ theo khoản 1 Điều 687 Bộ luật dân sự 2015.
Quy định này thể hiện sự tôn trọng và mở rộng quyền tự do định đoạt củacác chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng, xuất phát từ chính chất của quan hệdân sự có yếu tố nước ngoài là các quan hệ tư, nên được hình thành dựa trên sựthỏa thuận ý chí của các bên Việc cho phép các bên quyền được chọn thể hiệnđúng bản chất của quan hệ dân sự cũng như việc thỏa thuận giữa các chủ thểkhông ảnh hưởng gì đến quyền lợi của nhà nước, cộng đồng mà còn đảm bảođược quyền lợi ích hợp pháp của các bên nhất là bên bị hại Đồng thời việc đểcho các bên lựa chọn sẽ giúp đảm bảo sự thuận lợi trong quá trình thi hành áncủa tòa án một cách tự nguyện hơn Và hơn cả đó chính là đảm bảo sự quyền tựđịnh đoạt của các bên trong mối quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Việc pháp luật Việt Nam cho phép các bên có quyền được lựa chọn luật
áp dụng để giải quyết là hoàn toàn hợp lí và phù hợp với quy định tại Quy địnhRome II năm 2007 và pháp luật nhiều nơi trên thế giới Tuy nhiên sự lựa chọnnày cũng bị giới hạn tại một số quy định Các bên không được lựa chọn phápluật áp dụng trong trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trúđối với cá nhân hoặc nơi thành lập pháp nhân tại cùng một nước vì pháp luậtnước đó sẽ được áp dụng căn cứ khoản 2 Điều 687 Bộ luật dân sự 2015 Tức là,trong trường hợp này áp dụng pháp luật được áp dụng là pháp luật nơi cư trúchung Quy định này hoàn toàn hợp lí và phù hợp với các quy định trong cácHiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam kí kết với nước ngoài
Ví dụ như anh David người Hà Lan đến Nha Trang du lịch, khi đến NhaTrang anh bị anh Hùng là công dân Việt Nam đâm phải, đập đầu xuống đường,khi tỉnh dậy anh David không có bất kì dấu hiệu bất thường gì Khi về Hà Lananh David mới đổ bệnh và bị phát hiện bị bệnh tâm thần phân liệt nguyên nhân
là do đập đầu xuống đất trong vụ tai nạn tại Việt Nam Đại diện hợp pháp của
Trang 10David đã khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại phía anh Hùng Trong trường hợpnày hai bên chủ thể có quốc tịch khác nhau nên quan hệ giữa các bên sẽ do tưpháp quốc tế điều chỉnh và được thỏa thuận để lựa chọn luật áp dụng.
Hệ thuộc thứ hai: Áp dụng pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả củasự kiện gây thiệt hại, nếu các bên không có sự thỏa thuận Như vậy có thể hiểutrọng vụ án dân sự liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nếu nhưcác bên không có sự thỏa thuận lựa chọn pháp luật để áp dụng thì sẽ được ápdụng pháp luật nơi xảy ra thiệt hại
Trong ví dụ của David và anh Hùng ở trên chúng ta có thể thấy, anhDavid mặc dù bị đâm xe ở Việt Nam nhưng hậu quả lại xảy ra tại Hà Lan chínhvì thế khi giải quyết tòa án tại Việt Nam sẽ áp dụng pháp luật Hà Lan để giảiquyết vấn đề bồi thường, tức là tòa án Việt Nam sẽ áp dụng pháp luật nướcngoài
Việc áp dụng các quy định của nước nơi xảy phát sinh hậu quả để giảiquyết những vấn đề liên quan đến đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cónhững ý nghĩa nhất định như:
Thứ nhất, pháp luật nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại thểhiện tính khách quan, trong trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hạikhông cùng quốc tịch hoặc nơi cư trú thì việc áp dụng nguyên tắc này là phùhợp
Thứ hai, việc áp dụng pháp luật nơi xảy ra thiệt hại là hợp lí Sẽ tạo điềukiện cho việc điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh về thiệt hại thực tế,… Đồngthời cũng đảm bảo được tối đa cho lợi ích của bên bị hại
Thứ ba, nhìn chung nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại có mốiquan hệ gần gũi nhất đối với tranh chấp trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại, xét
về tính chất loại vụ việc thì áp dụng luật nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gâythiệt hại là quy phạm thể hiện được đúng bản chất của quan hệ