1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi hành án treo theo luật thi hành án hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố hải phòng

123 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nước và pháp luật, số 5/2002; Thi hành án: Bất cập từ cơ quan pháp luật, của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2003; Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phâ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN XUÂN ĐỨC

THI HàNH áN TREO

THEO LUậT THI HàNH áN HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN XUÂN ĐỨC

THI HàNH áN TREO

THEO LUậT THI HàNH áN HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC HẢI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Xuân Đức

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN TREO THEO LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm thi hành án treo theo luật thi hành án hình sự Việt Nam 9

1.2 Các chủ thể thi hành và chấp hành án treo 19

1.2.1 Tòa án 19

1.2.2 Viện kiểm sát 21

1.2.3 Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự 22

1.2.4 Công an cấp xã 27

1.2.5 Gia đình, các cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở, cộng đồng dân cư nơi người bị kết án cư trú 28

1.2.6 Người được hưởng án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ 29

1.3 Nội dung thi hành án treo 30

1.3.1 Ra quyết định thi hành hoặc ủy thác thi hành án treo 30

1.3.2 Trình tự, thủ tục thi hành án treo 31

1.3.3 Thời gian thi hành án treo 32

1.3.4 Rút ngắn thời gian thử thách của án treo 33

1.3.5 Xoá án tích đối với án treo 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN TREO VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG VƯỚNG MẮC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 38

2.1 Thực trạng thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng 38

Trang 5

2.1.1 Tình hình chung về công tác thi hành án hình sự trên địa bàn

thành phố Hải Phòng 38

2.1.2 Tình hình thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng 41

2.1.3 Các cơ quan làm nhiệm vụ thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng 45

2.1.4 Thực trạng thi hành án treo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn thành phố Hải Phòng 47

2.2 Một số tồn tại, khó khăn trong công tác thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng 53

2.2.1 Đối với Tòa án nhân dân 53

2.2.2 Đối với Viện kiểm sát nhân dân 55

2.2.3 Đối với Cơ quan thi hành án hình sự 55

2.2.4 Đối với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn 58

2.2.5 Đối với Công an cấp xã 61

2.2.6 Đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan 63

2.2.7 Đối với người bị kết án và gia đình 64

2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 66

2.3.1 Một số quy định pháp luật về thi hành án treo còn bất cập, chưa hoàn thiện 66

2.3.2 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án treo còn hạn chế 73

2.3.3 Công tác cán bộ, cơ sở vật chất, điều kiện tổ chức thi hành án treo còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu tình hình 74

2.3.4 Công tác phối hợp và tổ chức thi hành án của một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng chưa đồng bộ, chặt chẽ 76

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CHO HƯỞNG ÁN TREO, CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 78

3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thi hành án 78

3.1.1 Nâng cao hiệu quả thi hành án treo bắt nguồn từ sự đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa 78

Trang 6

3.1.2 Nâng cao hiệu quả thi hành án treo bắt nguồn từ những đòi hỏi

của thực tiễn phải khắc phục những tồn tại trong quá trình thi hành án treo hiện nay 81

3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành

án treo 83

3.2.1 Đề nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình

sự, Bộ luật Hình sự có liên quan đến công tác thi hành án treo 83 3.2.2 Đề nghị nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy định

của Luật Thi hành án hình sự 84 3.2.3 Đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan sớm ban hành các

văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự có nội dung liên quan đến thi hành án treo 86

3.3 Giải pháp nâng nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thi

hành án treo 87

3.3.1 Tiếp tục đổi mới về nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với công tác thi hành án treo 87 3.3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thi

hành án treo 91

3.3.3 Phát huy năng lực, trách nhiệm của các chủ thể thi hành án treo 94

3.3.4 Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể thi hành án treo 101 3.3.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm hành vi vi

phạm pháp luật thi hành án treo 103 3.3.6 Đảm bảo các điều kiện cần thiết và có chế độ đãi ngộ cho cán bộ

làm công tác thi hành án treo 105

KẾT LUẬN 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

ảng Thống kê số vụ án hình sự, số bị cáo và số bị cáo được

hưởng án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai

ảng Thống kê số người chấp hành án phạt t được hưởng án

treo và số người thực tế thi hành án treo trên địa bàn TP

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án hình sự là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước nhằm đưa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trong thực tế Hoạt động thi hành án hình sự là khâu cuối c ng và có

ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm hiệu quả thực hiện quyền tư pháp, hiện thực hóa công lý mà Tòa án đã nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định; mặt khác, thi hành án kịp thời, nghiêm chỉnh các phán quyết của Tòa án đối với các hành vi phạm tội chính là biện pháp khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân bị xâm hại, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Từ trước đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự, được quy định phong phú, đa dạng, có sự kế thừa, bổ sung ngày càng hoàn thiện, ph hợp với xu thế phát triển của đất nước và đáp ứng yêu cầu ở từng thời điểm lịch sử khác nhau Hệ thống các văn bản quy pháp pháp luật về thi hành án treo đã được ban hành ở những thời điểm khác nhau nên còn bất cập, chưa đồng bộ, nhiều nội dung chưa được quy định cụ thể, gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Án treo đã được Bộ luật hình sự năm

2015 chỉnh sửa để phần nào khắc phục những khó khăn, bất cập của thực tiễn

và cũng đã có văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành cho thấy, hệ thống các cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án chưa được phân công, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm trong quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, nhất

là vai trò, trách nhiệm của Tòa án, Ủy ban nhân dân các cấp, Mặt trận tổ quốc

và các đoàn thể; Cơ chế giám sát, chế tài cưỡng chế khi người bị kết án không

Trang 9

chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm, có vi phạm chưa được quy định đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tái phạm; Công tác đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính sách, nâng cao trình độ cho cán bộ thực thi và cơ sở vật chất cho công tác thi hành án chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra Tất cả những tồn tại và hạn chế nêu trên đã làm giảm hiệu quả của công tác thi hành án treo trên địa bàn tỉnh thành phố Hải Phòng nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Ngoài ra, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 5/ / 5 của Bộ Chính trị

về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm , định hướng đến năm "; và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm " với nội dung:

Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt t , mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm… Xác định rõ trách nhiệm của U ND xã, phường, thị trấn và của cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, thành phố trong việc thi hành các hình phạt không phải là hình phạt t để thực hiện nghiêm túc các bản án của Tòa án Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án

Dự thảo Luật thi hành án hình sự Việt Nam đang được xây dựng và xin

ý kiến để thông qua trong thời gian gần đây, trong đó có cả vấn đề về thi hành

án treo đã và đang nhận được sự quan tâm của cả xã hội

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn

để làm sáng tỏ về mặt khoa học, tạo cơ sở cho việc hoàn thiện dự thảo Luật

Trang 10

thi hành án hình sự, cũng như đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án treo là cần thiết Những luận chứng trên cho thấy tính cấp

thiết của việc lựa chọn đề tài "Thi hành án treo theo Luật thi hành án hình

sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)" làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Do thi hành hình phạt có vị trí, vai trò quan trọng trong chính sách hình

sự của mỗi quốc gia, thể hiện được hiệu quả đạt được của cả hệ thống tư pháp, nên trong những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về thi hành án hình sự và hệ thống các hình phạt

Trước hết, hoạt động thi hành án hình sự được phân tích trong một số

giáo trình và sách tham khảo như: Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật Thi hành án hình sự, Nxb Lao Động, năm

2011, của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình

sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tái bản lần thứ 5, năm 9, của tập thể tác giả do TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Sách chuyên khảo: Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, năm 6, của tập thể tác giả do PGS TS Võ Khánh Vinh - PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng chủ biên; Sách chuyên khảo Một số vấn đề về thi hành

án hình sự, Nxb Công an nhân dân, năm , của TS Trần Quang Tiệp

Hoặc được đề cập trong một số báo cáo, đề tài, công trình nghiên cứu

khoa học độc lập như: Đề tài khoa học Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả của các biện pháp tư pháp và các hình phạt không phải là tù và tử hình, của Đặng Quang Phương năm 996; Các căn cứ thi hành án, của Trần Văn Độ, Tạp chí Tòa án nhân dân số 6/1998; Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thi hành án hình sự ở nước ta hiện nay, của Nguyễn Trọng Hách, Tạp chí Nhà

Trang 11

nước và pháp luật, số 5/2002; Thi hành án: Bất cập từ cơ quan pháp luật, của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2003; Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước từ góc nhìn của hoạt động thi hành án hình sự, của Phạm Văn Tỉnh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số / 3; Đề tài khoa học Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới, của Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2003; Thực trạng công tác thi hành án hình sự và những kiến nghị, của Nguyễn Phong Hòa, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2006; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Về tổ chức, quản lý công tác thi hành án và báo cáo về kết quả tọa đàm về Mô hình quản lý công tác thi hành án một số nước trên thế giới của Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương năm 3; Chuyên đề khoa học Công tác thi hành án hình sự và việc tổ chức, quản lý công tác thi hành án hình sự - thực trạng và phương hướng hoàn thiện mô hình quản lý

của Nguyễn Ngọc Anh năm 3 v v

Vấn đề thi hành hình phạt không cách ly người bị kết án ra khỏi xã hội, bao gồm cả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, án treo còn được nhiều

văn bản pháp lý quốc tế quan trọng đề cập đến như: Công ước chống đối xử hoặc hình phạt tàn bạo, được thông qua bằng Nghị quyết số 39/ 6 ngày 10/2/1984 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về các biện pháp không giam giữ (các quy tắc Tôkyô, 1990),

được thông qua bằng Nghị quyết số 5/ ngày / / 99 của Đại hội đồng Liên hợp quốc v.v

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta đã

có một số công trình nghiên cứu cơ bản về hệ thống hình phạt và thi hành án hình sự nói chung, hoặc các khía cạnh chuyên sâu về thi hành hình phạt t , tử hình, trục xuất, còn riêng đối với thi hành án treo chưa được quan tâm nghiên

Trang 12

cứu đúng mức hoặc chỉ mới được thể hiện một phần trong kết quả của các công trình nghiên cứu khác về hình phạt, thi hành án hình sự, các quy định của pháp luật có liên quan chứ chưa được triển khai nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, đánh giá lý luận và tổng kết thực tiễn Mặt khác, từ trước đến nay chưa có một đề tài nghiên cứu nào đề cập đến tình hình thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này không tr ng với bất kì công trình nào đã được nghiên cứu trước đây

Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng

định việc nghiên cứu đề tài "Thi hành án treo theo Luật thi hành án hình

sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành án treo, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án treo trong thực tiễn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với phạm vi nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:

- Làm rõ một số nội dung cơ bản về lý luận khoa học và quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, các án treo và nhất là thi hành án treo về: khái niệm, đặc điểm, chủ thể, khách thể, nội dung, nguyên tắc, phương pháp, hình thức thi hành án treo

- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành án treo, trên cơ sở có so sánh, đối chiếu với tình hình thực tiễn thi hành án trên địa bàn thành phố Hải Phòng

- Phân tích, làm rõ những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, khó

Trang 13

khăn trong việc thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thi hành án treo trong 05 năm ( 9 - 2013)

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VII, VIII, IX, X, XI và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày / / , Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc th của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo

Trang 14

của các ngành Công an, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong những năm 2014 - 2018 và thông tin, tài liệu trên mạng Internet để phân tích, đánh giá, tổng hợp các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh hoạt động thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung

5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về thi hành án treo Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng, góp phần giải quyết nhiều vấn đề về phương diện lý luận và thực tiễn thi hành án treo, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ Những điểm mới cơ bản của luận văn là:

- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về thi hành án treo để xây dựng khái niệm thi hành án treo, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời làm rõ quá trình phát triển, hoàn thiện pháp luật và các đặc điểm, nội dung cơ bản của thi hành án treo;

- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình thực tiễn thi hành án treo trên địa bàn thành phố Hải Phòng; chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong thi hành án treo cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó;

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án treo trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay

ên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán

bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ trang bị những kiến thức

Trang 15

chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan Nhà nước trong quá trình quản

lý, tổ chức thi hành án hình sự đảm bảo khách quan, đúng pháp luật

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về thi hành án treo theo luật thi hành

án hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thi hành thi hành án treo và nguyên nhân của

những vướng mắc trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm thi hành án treo

Trang 16

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN TREO

THEO LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, đặc điểm thi hành án treo theo luật thi hành án hình sự Việt Nam

Theo Từ điển tiếng Việt, thi hành là: "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [45, tr 1599] Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện

bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế; còn thi hành án hình sự là thực hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để các cơ quan nhà nước, người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền và lợi ích liên quan thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án Điều đó có nghĩa là chỉ các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới được đem thi hành Đó

là các bản án, quyết định hình sự của Tòa án quy định tại khoản Điều 255

Bộ luật tố tụng hình sự gồm: (1) Những bản án và quyết định của Tòa án cấp

sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; (2) Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; (3) Những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Mục đích, nhiệm vụ của hoạt động thi hành án hình sự khác biệt so với mục đích, nhiệm vụ của hoạt động tố tụng hình sự là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự, xác định rõ có hay không có tội phạm xảy ra, qua đó quyết định việc áp dụng hay không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp tại bản án, quyết định của Tòa án Thi hành án hình sự là công đoạn cuối

c ng của việc thực thi quyền lực tư pháp, hiện thực hóa công lý đã được Tòa

án tuyên trong các bản án, quyết định; là quá trình tiến hành các hoạt động

Trang 17

cần thiết nhằm thực hiện nghiêm các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại Điều

đó không chỉ là ước muốn của mọi người dân, mọi nhà nước dân chủ tiến bộ

mà đã trở thành những cam kết, nguyên tắc, chuẩn mực thực thi quyền tư pháp trên toàn thế giới, thể hiện rõ ràng thông qua các Công ước quốc tế

Để đạt được mục đích trên, đòi hỏi hoạt động thi hành án hình sự phải thực hiện tốt 3 chức năng cơ bản là: ( ) Chức năng bảo đảm, thực thi công lý Công lý được thực thi đầy đủ hay không là một phần phụ thuộc vào quá trình

tổ chức thi hành của các cơ quan, tổ chức thi hành án; ( ) Chức năng cưỡng chế, được thực hiện thông qua những biện pháp cưỡng chế của cơ quan, tổ chức thi hành án; (3) Chức năng giáo dục, được thực hiện bằng các biện pháp động viên, thuyết phục hoặc cưỡng chế người có nghĩa vụ thi hành án, thông qua đó giáo dục thái độ tôn trọng pháp luật, quyền của người khác

Thi hành án hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật hình sự, nhất là mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chặt chẽ với các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt và biện pháp tư pháp Trong mối quan hệ này, hình phạt và biện pháp tư pháp giữ vai trò quyết định, quy định nội dung, phương pháp, hình thức, thời hạn thi hành án hình sự Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của từng loại tội phạm được thực hiện thì mỗi người bị kết

án sẽ bị áp dụng một loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp cụ thể Theo đó, việc thi hành các loại hình phạt, biện pháp tư pháp trong thực tế cũng được thực hiện theo những trình tự, thủ tục khác biệt phụ thuộc vào mục đích và đặc điểm của từng loại hình phạt, biện pháp tư pháp Ngược lại, thi hành án hình sự có tác động trở lại nhất định đối với hình phạt, biện pháp tư pháp, làm

Trang 18

cho mục đích của hình phạt, biện pháp tư pháp được thực hiện trên thực tế Lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, trật tự pháp luật chỉ thực sự được bảo vệ, đảm bảo khi công tác thi hành án hình sự được thực hiện triệt để

Hoạt động thi hành án hình sự có các quan hệ pháp luật, đối tượng điều chỉnh khác với hoạt động tố tụng hình sự Quá trình thi hành bản án và quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực là một hoạt động phức tạp, đa dạng, có liên quan đến nhiều chủ thể như: Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp,

U ND xã, phường, thị trấn, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan quản lý thi hành án hình sự đến UBND quận, huyện, cấp tỉnh, các bộ, ngành hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội và các cá nhân có liên quan

Vai trò của từng loại chủ thể khi tham gia vào quá trình thi hành án hình sự khác nhau và phụ thuộc vào từng loại thi hành án Các chủ thể thi hành án hình sự phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ về thi hành án Những quy định rất chi tiết, cụ thể như: trình tự, thủ tục ra quyết định thi hành án; cách thức tổ chức việc thi hành án; giải quyết khiếu nại hoặc trả lời kháng nghị việc thi hành án Những quy định này được thực hiện một cách độc lập,

do người có thẩm quyền tiến hành mà không phụ thuộc vào các hoạt động tố tụng khác như trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử

Do có nhiều loại chủ thể khác nhau và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, lại thường diễn ra trong một khoảng thời gian khá dài nên các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành án hình sự cũng hết sức phức tạp; có thể phân loại thành các nhóm quan hệ như sau: ( ) Các quan hệ xã hội phát sinh phát sinh sau sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, phản ánh nội dung của việc thi hành và chấp hành các bản án, quyết định của Tòa án, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án; ( ) Quan hệ liên quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức, quy định thẩm quyền và quy chế hoạt động của Cơ quan thi hành

Trang 19

án hình sự; (3) Quan hệ phát sinh trong quá trình giáo dục, cải tạo người bị kết án; quan hệ của các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội khi tham gia vào quá trình giáo dục, cải tạo người bị kết án

Phương pháp thi hành án hình sự có sự kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế Như vậy, phương pháp điều chỉnh

của thi hành án hình sự khác với tố tụng hình sự - sử dụng phương pháp

quyền uy, phương pháp phối hợp và chế ước Sự tự nguyện thi hành án là một trong yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động thi hành án hình sự diễn

ra thuận lợi, đạt được hiệu quả cao nhất Sự tự nguyện đối với người phải thi hành án xuất phát từ bản chất, mục đích tốt đẹp nhân đạo trong việc hướng người thi hành án hòa nhập với cộng đồng, tạo cho họ môi trường thân thiện,

ổn định để họ được học tập, lao động và có cơ hội quyết tâm cải tạo trở thành người có ích trong xã hội Để các chủ thể tự nguyện thi hành án, nhà nước phải áp dụng biện pháp thuyết phục và cưỡng chế, lấy thuyết phục, giáo dục

là chính, làm cho người thi hành án hiểu được các quyền lợi của họ khi thực hiện tốt nghĩa vụ của mình; song, cũng phải xử lý nghiêm minh các chủ thể khi không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật thi hành án nhằm mục đích đảm bảo hiệu lực tối đa của các bản án đã tuyên Việc kết hợp giữa giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế trong quá trình thi hành án hình sự đòi hỏi phải đảm bảo vận dụng linh hoạt, ph hợp t y theo mỗi hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, trong đó chỉ áp dụng cưỡng chế trong trường hợp thật cần thiết khi không có cách nào khác

Thi hành án hình sự là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, các quy phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án hình sự là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế của nhà nước Tuy nhiên, để hoạt động thi hành án hình sự đạt hiệu quả cao nhất thì không chỉ phụ thuộc

Trang 20

vào sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước mà cần có sự chấp hành, phối hợp của nhiều chủ thể, sự quan tâm tham gia của cả cộng đồng xã hội, do vậy hoạt động này còn mang tính xã hội rộng lớn

Từ những phân tích nêu trên, tác giả có thể tổng hợp và đưa ra khái

niệm thi hành án hình sự là: hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan,

tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế

để đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, chế định án treo được qui định ngay từ những năm đầu của Nhà nước dân chủ nhân dân và tồn tại cho đến ngày nay, mặc d chưa có văn bản luật nào đưa ra định nghĩa chính thức án treo là gì, song nhìn chung các văn bản đều đưa ra những qui định về án treo, điều kiện được hưởng án treo Trải theo dòng lịch sử lập pháp Việt Nam, các quy định về án treo có một số thay đổi và ngày càng hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa tội phạm Văn bản đầu tiên quy định về án treo là Sắc lệnh số ngày 14/2/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về tổ chức của Tòa án quân sự thiết lập tại Bắc, Trung và Nam ộ, trong đó:

Khi phạt t , Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành án Nếu trong năm năm bắt đầu từ ngay tuyên án, tội nhân không bị tòa án làm tội một lần nữa về một tội mới thì bản

án đã tuyên sẽ bị hủy đi, coi như không có Nếu trong năm năm ấy, tội nhân lại bị kết án một lần nữa trước một tòa án thì bản án treo sẽ đem ra thi hành [22, tr 2]

Trang 21

Bộ luật hình sự năm 985 và ộ luật hình sự năm 999, được sửa đổi,

bổ sung năm 9 xác định án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt t

có điều kiện Khoản Điều 60 Bộ luật hình sự năm 999 quy định:

Khi xử phạt t không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt t , thì tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm [51, tr 47]

So với Bộ luật Hình sự năm 985, chế định án treo trong ộ luật Hình

sự năm 999 có nhiều thay đổi, trong đó mức hình phạt t xem xét cho hưởng

án treo từ 5 năm xuống còn 3 năm t ; điều kiện thử thách không phạm tội mới thay thế cho điều kiện không phạm tội mới do cố ý hoặc không phạm tội mới

do vô ý và bị phạt t

Thời gian qua, đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm về án treo và mặc d có khác nhau trong cách đặt vấn đề nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất với sự hướng dẫn, giải thích của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân Tối cao tại Nghị quyết số 01/1990/NQ-HĐTP ngày 8/ / 99

và mới đây nhất là Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/ / 3, có thể thống nhất xác định: án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt t

có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt t không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt t Trên cơ sở đó, tác giả rút ra nhận xét về đặc điểm hình phạt t nhưng cho hưởng án treo như sau:

Thứ nhất: án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt t có điều

kiện, không phải là hình phạt t , đây là điểm cần phân biệt Pháp luật Hình sự Việt Nam quy định bảy hình phạt chính trong đó có hình phạt t , còn án treo

là biện pháp miễn chấp hành hình phạt t khi người phạm tội có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành;

Trang 22

Thứ hai: Người được hưởng án treo sẽ phải chịu một thời gian thử

thách bằng lần mức hình phạt t , nhưng không được dưới một năm và không quá năm năm; phương pháp thử thách là thông qua việc phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan tổ chức được Tòa án giao trách nhiệm giám sát, giáo dục để chứng tỏ sự cải tạo tích cực, trở thành người có ích cho xã hội;

Thứ ba: Trong thời gian thử thách, nếu người đó phạm tội mới thì biện

pháp miễn chấp hành hình phạt t bị xóa bỏ, người được hưởng án treo buộc phải chấp hành hình phạt t trong bản án mà Hội đồng xét xử đã cho hưởng

án treo trước đó cộng với hình phạt của bản án về tội phạm mới thực hiện

Theo Nghị định số 6 / /NĐ-CP ngày 3 / / của Chính phủ về thi hành án treo, thì việc thi hành án treo nhằm tạo điều kiện cho người được hưởng án treo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn nơi người được hưởng án treo làm việc, công tác, học tập hoặc cư trú và gia đình của người đó Người được hưởng án treo phải chịu thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục và gia đình của người đó Theo Luật Thi hành án hình sự năm , thi hành án treo là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người bị phạt t được hưởng án treo trong thời gian thử thách

Từ hai quy định trên tác giả nhận thấy, khái niệm thi hành án treo và thi hành

án treo là một, cách giải thích, đặt vấn đề trong Luật Thi hành án hình sự có

cô đọng, ngắn gọn hơn nhưng về bản chất không thay đổi so với quy định tại Nghị định số 6 / /NĐ-CP của Chính phủ

ên cạnh những đặc điểm chung của thi hành án hình sự, thi hành án treo có 6 đặc điểm cơ bản, đặc trưng như sau:

Trang 23

Thứ nhất: Thi hành án treo là một bộ phận cấu thành của công tác thi

hành án hình sự, là hoạt động hành chính - tư pháp của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Thứ hai: Thi hành án treo là một trong những hoạt động thi hành án

phạt không giam giữ, có tính nhân đạo sâu sắc, xuất phát từ bản chất của chế định án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam, kết hợp giữa trừng trị và giáo dục; người chấp hành án treo không bị cách ly hoàn toàn khỏi đời sống xã hội, quyền tự do thân thể của bị án vẫn được đảm bảo, họ chỉ bị hạn chế một

số quyền nhất định do pháp luật quy định và nhận được sự quan tâm tạo điều kiện tối đa để làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình, Uỷ ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội nơi người được hưởng án treo công tác, cư trú Tính nhân đạo trong thi hành án treo còn thể hiện ở phương pháp thi hành án là lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa, động viên, khuyến khích là chính, hạn chế việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc mệnh lệnh hành chính, giúp người bị kết án nhận ra lỗi lầm,

tự nguyện sửa chữa, cải tạo thành người có ích cho xã hội và được thể hiện rất

rõ tại Điều 65 Luật Thi hành án hình sự

Thứ ba: Thi hành án treo có ý nghĩa xã hội to lớn, thể hiện chính sách

nhân đạo của Đảng, Nhà nước, ph hợp với xu thế chung của thế giới Tại Nghị quyết số 9-NQ/TW ngày /6/ 5 của ộ Chính trị về chiến lược cải

cách tư pháp đến năm đề ra: “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình

sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” [25, tr 3] Tại bộ Các quy tắc chuẩn,

tối thiểu của Liên hợp quốc về các biện pháp không giam giữ, hay còn gọi là

Trang 24

các quy tắc Tôkyô năm 99 , được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết số 5/ ngày / / 99 khẳng định:

Các quốc gia thành viên phải xây dựng những biện pháp không giam giữ trong hệ thống pháp luật của nước mình nhằm đưa

ra các cách lựa chọn khác, từ đó giảm sử dụng biện pháp cầm t và nhằm tạo cơ sở hợp lý cho những chính sách tư pháp hình sự, thông qua việc giám sát các quyền con người, các yêu cầu công bằng xã hội cũng như nhu cầu phục hồi của người phạm tội [38, tr 759]

Thứ tƣ: Khác với các hình phạt t , việc thi hành án treo không giao cho

một cơ quan chuyên trách thực hiện, thể hiện rất rõ chính sách xã hội hóa công tác thi hành án của Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây Trong đó, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội giữ vai trò quan trọng, là cơ quan trực tiếp được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục người chấp hành án Sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan, đơn vị, tổ chức xã hội, Mặt trận

Tổ quốc ở cơ sở và gia đình người bị kết án là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc thi hành án treo

Thứ năm: Quá trình thi hành án treo diễn ra trong thời gian thử thách

nhất định do Tòa án ấn định bằng hai lần mức hình phạt t nhưng không được dưới năm và không quá 5 năm, thời điểm bắt đầu ngay từ sau khi Tòa án tuyên bản án, quyết định sơ thẩm cho hưởng án treo Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo lại phạm tội mới thì biện pháp miễn chấp hành hình phạt t bị xóa bỏ, người được hưởng án treo buộc phải chấp hành hình phạt t trong bản án đã cho hưởng án treo trước đó cộng với hình phạt của bản án về tội phạm mới thực hiện

Thứ sáu: So thi hành án phạt t có thời hạn, t chung thân, rõ ràng quá

trình thi hành án treo đã góp phần làm giảm bớt chi phí cho xã hội nhưng vẫn đạt được hiệu quả xã hội cao Đối với thi hành hình phạt t thì người chấp

Trang 25

hành án sẽ bị mất các khoản thu nhập từ các công việc mà họ có trước khi phạm tội và mất đi nguồn thu nhập cũng như cơ hội tìm kiếm việc làm trong thời gian bị cách ly khỏi xã hội; ngoài ra, chi phí hàng năm của Nhà nước cho công tác tổ chức thi hành án phạt t cũng rất lớn, bao gồm đầu tư cho hệ thống cơ sở nhà giam, bộ máy cán bộ làm công tác quản lý, bảo vệ, y tế, thực hiện chế độ chính sách, đảm bảo điều kiện ăn, mặc, sinh hoạt, y tế, giáo dục cho phạm nhân Mặc d ở Việt Nam hiện nay chưa có một công bố chính thức dành cho việc thi hành án phạt t nhưng dễ nhận thấy là gánh nặng rất lớn cho đất nước, trong điều kiện chúng ta còn đang khó khăn Còn thi hành

án treo, Nhà nước chỉ mất chi phí phát sinh liên quan đến việc quản lý, giáo dục người chấp hành án ở địa phương, một phần chi phí hỗ trợ đào tạo, học nghề, hướng nghiệp, khắc phục khó khăn do đó sẽ giảm bớt được rất nhiều chi phí so với thi hành án phạt t ; mặt khác, người chấp hành án treo có điều kiện thuận lợi để tìm kiếm việc làm và gia tăng thu nhập, đặc biệt có ý nghĩa đối với bị án là lao động duy nhất trong gia đình

Thứ bảy: Có quan điểm cho rằng tái hòa nhập cộng đồng chỉ liên quan

tới người chấp hành án phạt t , nhưng theo quan điểm của tác giả cần hết sức quan tâm đến công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành án treo Bởi lẽ, về bản chất, ý nghĩa thì án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ

đã hàm chứa nội dung nhằm tạo điều kiện tối đa cho người bị kết án có điều kiện thuận lợi nhất để sớm tái hòa nhập cộng đồng ngay từ sau khi tuyên án, chứ không chỉ là nằm trong giai đoạn sau khi chấp hành xong án, như thi hành

án phạt t Do đó, việc thi hành án treo đòi hỏi phải gắn bó, lồng ghép hết sức chặt chẽ giữa công tác giám sát, quản lý, giáo dục với tạo điều kiện cho người

bị kết án được tái hòa nhập cộng đồng Đây là hai vấn đề có mối quan hệ hữu

cơ với nhau, tái hòa nhập cộng đồng tốt sẽ tạo điều kiện, làm giảm áp lực, khó khăn cho việc quản lý, giáo dục người hưởng án treo, phòng ngừa họ tái trở

Trang 26

lại con đường phạm tội và ngược lại, giám sát, quản lý, giáo dục tốt sẽ tạo điều kiện cho việc tái hòa nhập cộng đồng những người đó được thuận lợi hơn Người bị kết án treo có thể nhanh chóng tái hòa nhập xã hội trong điều kiện cuộc sống bình thường ngay sau khi bị kết án, có được điều kiện tốt nhất

để cải tạo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có như vậy thì bản

án, quyết định của Tòa án và công sức thi hành án hình sự mới đạt được đến đích cuối c ng

Từ khái niệm, bản chất của án treo và kết quả phân tích những đặc

điểm trên, tác giả rút ra khái niệm của thi hành án treo là một bộ phận của thi hành án hình sự, có tính nhân đạo sâu sắc, do cơ quan không chuyên trách, tổ chức xã hội, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị và giáo dục, khuyến khích, tạo điều kiện để người chấp hành án treo tự lao động, học tập, cải tạo trở thành người lương thiện và nhanh chóng tái hòa nhập xã hội trong môi trường cuộc sống bình thường, nhằm đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực

tế và đạt được hiệu quả xã hội cao, bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.2 Các chủ thể thi hành và chấp hành án treo

Xuất phát từ bản chất tư pháp - hành chính và tính xã hội rộng lớn của hoạt động thi hành án treo nên có nhiều chủ thể tham gia trong quá trình thi hành án Mỗi chủ thể có quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, song các chủ thể đều c ng chung mục đích là cảm hóa, giám sát, giáo dục và giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để người bị kết án cải tạo tốt, trở thành người lương thiện trong điều kiện cuộc sống bình thường ở nơi cư trú, lao động, học tập Có 6 loại chủ thể như sau:

1.2.1 Tòa án: Theo Điều 102 Hiến pháp năm 3, Tòa án nhân dân

tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án khác do luật định là cơ

Trang 27

quan xét xử thực hiện quyền tư pháp Căn cứ quy định của pháp luật, Toà án yêu cầu mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và chính xác nhằm đảm bảo các bản án, quyết định phải đưa ra thi hành nghiêm chỉnh (được quy định tại các điều 31, 57, 58, 59, 60, 63, 64, 66,

67, 73, 76, 77 Bộ luật hình sự; các điều 22, 38, 227, 229, 237, 254, 255, 256,

257, 264, 268, 269, 270, 271, 275, 276, 288, 293, 294, 299 Bộ luật tố tụng hình sự; các điều 20, 61, 62, 66, 69, 72, 73, 77, 78 Luật Thi hành án hình sự),

cụ thể các quyền, trách nhiệm của Tòa án trong thi hành án như sau:

(1) Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Tòa án khác c ng cấp ra quyết định thi hành án

(2) Gửi trích lục bản án, quyết định thi hành án cho người được hưởng

án treo hoặc người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; Viện kiểm sát

c ng cấp; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng án treo, người chấp hành

án phạt cải tạo không giam giữ đang cư trú, làm việc; Sở Tư pháp nơi Tòa án

đã ra quyết định thi hành án có trụ sở

(3) Quyết định miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc rút ngắn thời gian thử thách án treo và gửi cho Viện kiểm sát

c ng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành

án, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở;

(4) Cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho người đã chấp hành xong án treo thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích

(5) Chuyển tài liệu xin xoá án tích cho Viện kiểm sát c ng cấp đối với những trường hợp xóa án tích do Tòa án quyết định

Trang 28

(6) Được Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gửi giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo, chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ

(7) Được Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo bằng văn bản về việc người chấp hành án treo, phạt cải tạo không giam giữ chuyển đến nơi cư trú mới

(8) Các cơ quan thi hành án phải báo cho Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án về việc bản án hoặc quyết định đã được thi hành,

(9) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Tòa án;

(10) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về thi hành án hình sự theo thẩm quyền và các nhiệm vụ, quyền hạn khác

1.2.2 Viện kiểm sát: Là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát

các hoạt động tư pháp, bao gồm cả hoạt động thi hành án Viện kiểm sát được pháp luật giao trách nhiệm, quyền hạn cụ thể để kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Tòa án, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án treo nhằm đảm bảo các bản án, quyết định đó thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời, cụ thể các quyền hạn, trách nhiệm như sau:

( ) Được nhận quyết định thi hành án, trích lục bản án; quyết định miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc quyết định rút ngắn thời gian thử thách án treo của Tòa án

( ) Được Tòa án c ng cấp thông báo bằng văn bản về việc mở phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách, xét giảm thời hạn chấp hành án hoặc xét miễn chấp hành án và được cử Kiểm sát viên tham gia phiên họp

(3) Được Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo bằng văn bản về việc người chấp hành án treo chuyển đến nơi cư trú mới

( ) Xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án c ng cấp xét miễn chấp hành án

Trang 29

(5) Được Tòa án chuyển tài liệu xin xoá án tích để phát biểu ý kiến bằng văn bản đối với những trường hợp xóa án tích do Tòa án quyết định

(6) Yêu cầu Tòa án c ng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành án treo đúng quy định; yêu cầu Tòa án cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án treo;

(7) Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan

và việc giải quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án;

(8) Kháng nghị với Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự c ng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức, đơn vị có vi phạm pháp luật trong việc thi hành

án, yêu cầu chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong thi hành án nếu có

1.2.3 Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự

Luật Thi hành án hình sự năm quy định tương đối đầy đủ về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án treo, gồm 3 loại: ( ) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự; ( ) Cơ quan thi hành án hình sự; (3) Cơ quan được giao một

số nhiệm vụ thi hành án hình sự, bao gồm Ủy ban nhân dân cấp xã và đơn vị quân đội cấp trung đoàn hoặc tương đương

Hiện nay, hệ thống cơ quan làm nhiệm vụ thi hành án hình sự thuộc ộ Công an được tổ chức ở 3 cấp, gồm: ( ) Tổng cục Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc ộ Công an; ( ) Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an cấp tỉnh; (3) Đội Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an cấp huyện

Hệ thống cơ quan làm nhiệm vụ thi hành án hình sự thuộc ộ Quốc phòng được tổ chức ở cấp, gồm: ( ) Cục Điều tra hình sự thuộc ộ Quốc phòng; ( ) Phòng Điều tra hình sự thuộc quân khu, quân đoàn Ngoài ra, các đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương đang làm nhiệm vụ

Trang 30

thi hành án treo với tư cách là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự

- Cơ quan quản lý thi hành án hình sự: Bao gồm cơ quan quản lý thi

hành án hình sự thuộc ộ Công an và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc ộ Quốc phòng, là đầu mối ở trung ương giúp Chính phủ quản lý về công tác thi hành án hình sự nói chung và thi hành thi hành án án treo nói riêng Theo quy định tại điều , 7 Luật Thi hành án hình sự và Quyết định

số 3 57/QĐ- CA ngày /6/ của ộ trưởng ộ Công an ban hành quy định về Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và Cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân, thì Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ

tư pháp là cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc ộ Công an Theo quy định tại điều , 7 Luật Thi hành án hình sự và Quyết định số 39/ /QĐ-BQP ngày 8/ / của ộ trưởng ộ Quốc phòng quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân, thì Cục Điều tra hình sự đang thực hiện nhiệm vụ của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc ộ Quốc phòng

Cơ quan quản lý thi hành án hình sự có một số nhiệm vụ, quyền hạn như sau: ( ) Tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành án hình sự; Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật

về thi hành án hình sự; Tổng kết công tác thi hành án hình sự; (2) Kiểm tra

công tác thi hành án hình sự; (3) Quyết định đưa người chấp hành án phạt t

đến nơi chấp hành án; ( ) Trực tiếp quản lý các trại giam; (5) Thực hiện chế

độ thống kê, báo cáo; (6) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật Thi hành án hình sự; (7) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do ộ trưởng giao

- Cơ quan thi hành án hình sự: gồm Cơ quan thi hành án hình sự Công

an cấp tỉnh; Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và Cơ quan thi hành án

Trang 31

hình sự Công an cấp huyện Đây là những cơ quan có liên quan trực tiếp đến công tác thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ, được thành lập và chính thức đi vào hoạt động sau khi Luật Thi hành án hình sự ra đời, góp phần tạo sự thống nhất trong chỉ đạo, quản lý và tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành án hình sự

Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh: có 5 nhiệm vụ, quyền

hạn cụ thể trong thi hành án treo theo Điều 3 Luật Thi hành án hình sự, gồm:

Giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án treo trên địa bàn cấp tỉnh, bao gồm: chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác thi hành án hình sự đối với Công an cấp huyện; tổng kết công tác thi hành án hình sự và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật Thi hành án hình sự

Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu: Theo quy định tại các điều 3, , 6 , 66, 68, 69, 73,

77, 78, 8 Luật Thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ giúp Tư lệnh quân khu chỉ đạo nghiệp vụ, kiểm tra công tác thi hành án hình sự thuộc quân khu Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có nhiệm vụ: (1) Giúp Trưởng Công an cấp huyện quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn; (2) Hướng dẫn nghiệp vụ thi hành

án hình sự theo thẩm quyền đối với Ủy ban nhân dân cấp xã; (3) Chỉ đạo, kiểm tra Công an cấp xã trong việc giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ thi hành án hình sự

Đối với công tác quản lý, giáo dục người chấp hành án treo, cơ quan trên có 0 nhiệm vụ cụ thể: ( ) Tiếp nhận bản án, quyết định thi hành án, các tài liệu có liên quan do Tòa án chuyển giao; ( ) Triệu tập người chấp hành án,

Trang 32

người đại diện hợp pháp của người chấp hành án là người chưa thành niên đến trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian người được hưởng án treo phải có mặt tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp hành án và lập hồ sơ thi hành

án; (3) Chuyển giao hồ sơ cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để thi

hành án phạt cải tạo không giam giữ, án treo; ( ) Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ, đã chấp hành xong thời gian thử thách và gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn

vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án,

Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở; (5) Lập hồ sơ

và đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc xem xét, quyết định khi có đủ điều kiện để giảm thời hạn chấp hành án, rút ngắn thời gian thử thách; (6) Đề nghị Viện kiểm sát nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án c ng cấp xét miễn chấp hành án và được Tòa án chuyển giao quyết định miễn chấp hành án; (7) Tiếp nhận, lập biên bản và lưu hồ sơ thi hành án treo sau khi hết thời gian thử thách, hết thời gian chấp hành án; (8) Làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo để giám sát, giáo dục; (9) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật Thi hành án hình sự; (10) Thực hiện thống

kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự

- Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, gồm Ủy ban

nhân dân cấp xã và đơn vị quân đội cấp trung đoàn hoặc tương đương; theo quy định Điều 63, 74 Luật Thi hành án hình sự có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau: ( ) Tiếp nhận hồ sơ và tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; ( ) Phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp

Trang 33

hành án phạt cải tạo không giam giữ; (3) Yêu cầu người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình và có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật; ( ) iểu dương người được hưởng án treo, người chấp hành

án phạt cải tạo không giam giữ có nhiều tiến bộ hoặc lập công; (5) Giải quyết cho người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được vắng mặt ở nơi cư trú; (6) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khấu trừ một phần thu nhập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ theo quyết định của Toà án để sung quỹ nhà nước; (7) Phối

hợp với gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án treo, người

chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ làm việc, học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó; (8) Lập hồ sơ đề nghị xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách, giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án gửi cơ quan có thẩm quyền; (9) Nhận xét bằng văn bản và lưu vào sổ theo dõi về quá trình chấp hành án của người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ khi người đó chuyển đi nơi khác; ( ) Thực hiện thống kê, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án treo; ( ) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan

có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; ( ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án treo theo quy định của Luật Thi hành án hình sự

Như vậy, so với Nghị định số 6 , 6 / /NĐ-CP của Chính phủ giao cho nhiều cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án treo như: Cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý người bị kết án nếu người đó là cán

bộ, công chức, người đang học tập tại cơ sở giáo dục, đào tạo; Doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu người bị kết án là người làm công ăn lương Đến nay, Luật Thi hành án hình sự rút gọn còn cơ quan có trách nhiệm giám sát, giáo dục

Trang 34

người bị kết án là Ủy ban nhân dân cấp xã và đơn vị quân đội cấp trung đoàn hoặc tương đương Luật Thi hành án hình sự quy định đơn vị quân đội cấp trung đoàn hoặc tương đương thay cho đơn vị quân đội cấp đại đội như quy định tại Nghị định 6 , 6 / /NĐ-CP của Chính phủ để đảm bảo tính thống nhất, nâng cao hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của tình hình hiện nay Luật Thi hành án cũng bãi bỏ nhiệm vụ cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cải tạo không giam giữ hoặc thời gian thử thách cho người bị kết án đối với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội, đồng thời chuyển giao nhiệm

vụ trên cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, ph hợp với vai trò quản lý và tính chất chuyên trách đặc th của các cơ quan trên

1.2.4 Công an cấp xã

Thực tế trong một thời gian khá dài Ủy ban nhân dân cấp xã ở nhiều địa phương đã rất lúng túng, không thống nhất trong việc phân công người chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục người chấp hành án treo và không rõ bộ phận,

cá nhân nào thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm chính trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên, có địa phương thì giao cho Tư pháp, có địa phương thì giao cho Công an xã chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục người chấp hành án treo Nguyên nhân do Nghị định số 6 , 6 / /NĐ-CP của Chính phủ không quy định rõ bộ phận, cá nhân nào chịu trách nhiệm trong việc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án treo

Ủy ban nhân dân cấp xã là đơn vị hành chính cấp xã, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của chính quyền tại địa bàn cấp xã, trong điều kiện biên chế, khả năng còn hạn chế nhưng thường xuyên phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, trực tiếp liên quan đến quyền, lợi ích của nhân dân Do đó, để đảm bảo cho công tác tổ chức thi

Trang 35

hành án treo tại các xã, phường, thị trấn thực sự có hiệu quả, mang tính khả thi cao trong điều kiện hiện nay, tại Điều 8, 63, 7 Luật Thi hành án hình sự

đã giao cho Công an cấp xã, mà cụ thể là Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án treo

Qua nghiên cứu tham khảo Nghị định số 60, 61/200 /NĐ-CP của Chính phủ đã từng quy định trách nhiệm của người trực tiếp giám sát, giáo dục, Công an xã cần áp dụng đầy đủ các biện pháp như sau: Chủ động gặp gỡ, động viên người kết án chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, ba tháng một lần báo cáo với thủ trưởng cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành án, báo cáo cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục khi người bị kết án có đủ điều kiện được xét giảm thời gian thử thách ; đồng thời, kiến nghị cơ quan,

tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm tạo điều kiện để người bị kết án giáo dục tốt, đề nghị rút ngắn thời gian thử thách cho người bị kết án

1.2.5 Gia đình, các cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở

cơ sở, cộng đồng dân cư nơi người bị kết án cư trú: có trách nhiệm phối hợp

với các cơ quan, tổ chức quản lý giám sát tiến hành tác động, giáo dục, giúp

đỡ người bị kết án, tạo thuận lợi cho họ sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội, không tái phạm Tại Điều 6 Luật Thi hành án hình sự quy

định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong thi hành án hình sự và các cơ quan, tổ chức khác liên quan đến hoạt động thi hành án hình sự nói chung và thi hành án treo theo quy định của pháp luật" [55, tr ] Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức

ở cơ sở có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc tổ chức họp tại cộng đồng dân cư nơi người được hưởng án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cư trú, làm việc để kiểm điểm người đó trong trường hợp họ vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 64, 75 Luật Thi hành án

Trang 36

hình sự và bị nhắc nhở từ hai lần trở lên mà tiếp tục vi phạm nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự

Gia đình người được hưởng án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là chủ thể có vai trò rất quan trọng trong việc giúp cho người bị kết

án cải tạo, tích cực phấn đấu vươn lên trở thành người có ích cho xã hội Xuất phát từ mối quan hệ thân thiết, gần gũi, gắn bó trực tiếp, hàng ngày tạo nên môi trường sống ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, nhận thức và khuynh hướng xử sự của người bị kết án Điều 7 , 8 Luật Thi hành án hình sự quy định gia đình người được hưởng án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có những trách nhiệm: ( ) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và người được phân công trong việc giám sát, giáo dục; ( ) Thông báo kết quả chấp hành án với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; (3) ồi thường thiệt hại và thực hiện các nghĩa vụ dân sự khác do người chấp hành án là người chưa thành niên gây ra; ( ) Phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án theo yêu cầu

1.2.6 Người được hưởng án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ: Điều 64, 75 Luật Thi hành án hình sự quy định người được hưởng

án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có nghĩa vụ: (1) Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và nộp phần thu nhập bị khấu trừ theo bản án của Tòa án; (2) Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; (3) Trường hợp người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đi khỏi nơi cư trú từ ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng; ( ) a tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng

án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực

Trang 37

tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 3 đến 6 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó

1.3 Nội dung thi hành án treo

Nội dung thi hành án treo được xác định bởi tổng thể các quy định về quyền, nghĩa vụ của người bị kết án; trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, gia đình trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án Trình tự thi hành án treo bắt đầu ngay sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm ra bản án, quyết định thi hành án, cụ thể như sau:

1.3.1 Ra quyết định thi hành hoặc ủy thác thi hành án treo

Do có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của công dân nên chỉ Tòa án mới có quyền ra quyết định thi hành án hình sự Tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi bản án hoặc quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc

ủy thác cho Tòa án khác c ng cấp ra quyết định thi hành [52, tr.185]

Từ khi bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm tuyên án hoặc ra quyết định thì chậm nhất là trong 7 ngày ( ngày giao bản án, quyết định và

7 ngày ra quyết định thi hành án) và đối với các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là 3 ngày ( 5 ngày giao bản án, quyết định và 7 ngày ra quyết định thi hành án), các bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm phải được đưa ra thi hành

Việc uỷ thác cho Toà án c ng cấp ra quyết định thi hành án thuộc một trong hai trường hợp theo Theo nội dung khoản Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự 5 quy định:

Trang 38

- Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ủy thác cho Chánh

án Tòa án khác c ng cấp ra quyết định thi hành án;

- Thời hạn ra quyết định THA trường hợp có ủy thác: Trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành án được gửi bởi Chánh án Tòa án đã xét xử;

- Thẩm quyền: Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án

1.3.2 Trình tự, thủ tục thi hành án treo

Trình tự, thủ tục thi hành án treo được Luật Thi hành án hình sự quy định tương đối giống nhau, cụ thể là:

Thứ nhất: Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được

quyết định thi hành án, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu triệu tập người chấp hành án, người đại diện hợp pháp đến trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian phải có mặt tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc và cam kết chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án Hồ sơ gồm: Bản án đã có hiệu lực pháp luật; Quyết định thi hành án; Cam kết của người chấp hành án, riêng đối với người chấp hành án là người chưa thành niên từ đủ đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết phải có sự xác nhận của người đại diện hợp pháp; Tài liệu khác có liên quan

Thứ hai: Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày triệu tập người được

hưởng án treo, người đại diện hợp pháp của người được hưởng án treo thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải giao hồ sơ thi hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để quản lý, bổ sung, cập nhập hồ sơ thi hành án phục vụ theo dõi, giám sát người chấp hành án treo

Trang 39

Thứ ba: Sau khi tiếp nhận hồ sơ thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã,

đơn vị quân đội thực hiện nhiệm vụ giám sát, giáo dục người chấp hành án treo theo Điều 63, 74 Luật Thi hành án hình sự

Thứ tƣ: Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan Thi

hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị Tòa án

c ng cấp xem xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách án treo

Thứ năm: Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự

khu vực nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc, tự mình hoặc theo đề

nghị của Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan Thi hành

án hình sự cấp quân khu xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự c ng cấp xét miễn chấp hành án

Thứ sáu: Trước khi hết thời hạn chấp hành án hoặc thời gian thử thách

3 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội bàn giao hồ sơ thi hành án cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để xem xét, cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách

1.3.3 Thời gian thi hành án treo

Khi Tòa án ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác thi hành án đánh dấu

sự kiện chính thức tổ chức thi hành án treo, đồng thời phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan thi hành án và các cơ quan, cá nhân có liên quan theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, mặc d thời gian chấp hành án treo được tính ngay từ thời điểm Tòa án tuyên án Thời gian thi hành án treo

là thời gian thử thách của án treo, bao gồm một khoảng thời gian do Tòa án ấn định bằng hai lần mức hình phạt t nhưng không được dưới năm và không được quá 5 năm Còn thời gian thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là thời gian chấp hành hình phạt do Tòa án quyết định áp dụng từ 6 tháng đến 3 năm Cách tính thời gian thử thách án treo được quy định cụ thể tại điều 4 Nghị

Trang 40

quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/ / 3 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao, trong đó thời điểm bắt đấu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo và về cơ bản thống nhất với nội dung quy định tại mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày / / 7 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ lúc nào nên thực tiễn áp dụng chưa thống nhất tại các địa phương, cần

sớm được nghiên cứu, khắc phục

1.3.4 Rút ngắn thời gian thử thách của án treo

Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành

án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án khi có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật hình sự Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân

sự khu vực có quyền quyết định giảm toàn bộ, một phần thời hạn hoặc không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt Việc ra quyết định, gửi

quyết định quy định tại khoản 3 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự

Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm gồm: (1) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật Đối với trường hợp xét giảm thời hạn chấp hành án từ lần thứ hai, thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án; ( ) Văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội; (3) Trường hợp được khen thưởng hoặc lập công phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người chấp hành án lập công; ( ) Trường hợp người chấp hành án bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh tật của người đó; (5) Trường hợp đã được giảm thời hạn chấp hành án thì phải có bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án

Rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi có đủ các điều kiện sau: a)

Ngày đăng: 17/03/2021, 15:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w