Luật quốc tế chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống quốc tế, nó là công cụ, là nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế. Có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn minh của nhân loại, thúc đẩy cộng đồng quốc tế phát triển theo hướng ngày càng văn minh. Thúc đẩy việc phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế đặc biệt là quan hệ kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy để đảm bảo cho các vai trò này được phát huy một cách hiệu quả thì yêu cầu đặt ra đối với các quốc gia đó là sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật quốc tế, tôn trọng các nguyên tắc, bên cạnh việc hưởng quyền thì cũng cần phải thực hiện nghĩa vụ một cách đầy đủ và thiện trí. Tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ, tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc pháp luật quốc tế không phải lúc nào cũng được các quốc gia thực hiện tốt, trong lúc này các chế tài được đặt ra để đảm bảo việc thực hiện các nguyên tắc này được hiệu quả và trừng phạt các quốc gia có hành vi vi phạm luật quốc tế. Vậy luật quốc tế được thực thi như thế nảo? bằng những cách thức nào? do ai thực hiện? Bài tiểu luận này sẽ làm rõ hơn vấn đề “Vấn đề cơ chế thực thi luật quốc tế” để làm trả lời cho những câu hỏi trên.
Trang 1MỤC LỤC
Nội dung 3
I Khái quát chung về Luật quốc tế 3
1 Khái niệm Luật quốc tế 3
2 Các đặc trưng cơ bản của luật quốc tế 3
2.1 Về chủ thể 3
2.2 Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế 4
2.3 Quan hệ pháp luật quốc tế 5
3 Các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế 6
4 Vai trò của luật quốc tế 6
II Cơ chế thực thi của luật quốc tế 7
1 Cưỡng chế riêng lẻ 7
2 Cưỡng chế tập thể 8
2.1 Thông qua Liên hợp quốc 8
2.2 Các quốc gia liên minh thực hiện 11
3 Sử dụng dư luận tiến bộ thế giới 12
Kết luận 15
Tài liệu tham khảo 16
1
Trang 2Lời mở đầu.
Luật quốc tế chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống quốc tế, nó
là công cụ, là nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế Có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn minh của nhân loại, thúc đẩy cộng đồng quốc tế phát triển theo hướng ngày càng văn minh Thúc đẩy việc phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế đặc biệt là quan hệ kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay Vì vậy để đảm bảo cho các vai trò này được phát huy một cách hiệu quả thì yêu cầu đặt ra đối với các quốc gia đó là sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật quốc tế, tôn trọng các nguyên tắc, bên cạnh việc hưởng quyền thì cũng cần phải thực hiện nghĩa vụ một cách đầy đủ và thiện trí Tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ, tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc pháp luật quốc tế không phải lúc nào cũng được các quốc gia thực hiện tốt, trong lúc này các chế tài được đặt ra để đảm bảo việc thực hiện các nguyên tắc này được hiệu quả và trừng phạt các quốc gia có hành vi vi phạm luật quốc tế Vậy luật quốc tế được thực thi như thế nảo? bằng những cách thức nào? do ai thực hiện?
Bài tiểu luận này sẽ làm rõ hơn vấn đề “Vấn đề cơ chế thực thi luật quốc tế”
để làm trả lời cho những câu hỏi trên
Trang 3Nội dung
I Khái quát chung về Luật quốc tế.
1 Khái niệm Luật quốc tế.
Quan hệ quốc tế luôn là vấn đề phức tạp Trong quan hệ quốc tế luôn đan xen nhiều yếu tố với những tính chất và mức độ khác nhau Theo đó, việc định nghĩa luật quốc tế không phải là vấn đề dễ dàng Hiện nay, trong khoa học luật quốc tế vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau và có sự thay đổi nhất định
Mặc dù, định nghĩa luật quốc tế còn được hiểu không giống nhau trong những giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, các định nghĩa về luật quốc tế đều thống nhất với nhau Từ đó có thể định nghĩa: “Luật quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc
và các quy phạm pháp luật do các chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế khi tham gia vào đời sống quốc tế”.1
2 Các đặc trưng cơ bản của luật quốc tế.
2.1 Về chủ thể.
Dấu hiệu của chủ thể luật quốc tế có những yếu tố:
Tham gia vào những quan hệ quốc tế do Luật quốc tế điều chỉnh
Có ý chí độc lập
Có đẩy đủ quyền và nghĩa vụ luật quốc tế
Có khả năng độc lập gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi của chủ thể đó gây ra
Chủ thể luật quốc tế là các thực thể có quyền năng chủ thể tham gia vào quan
hệ pháp lý quốc tế Chủ thể luật quốc tế bao gồm: các quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh nhằm thực hiện quyền dân tộc tự quyết, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia
1 Giáo trình Luật quốc tế Đại học Kiểm sát Hà nội – tr 23.
3
Trang 4Quốc gia: Theo quy định tại Điều 1 của Công ước Montendevio 1933 về quyền và nghĩa vụ của quốc gia thì quốc gia bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Dân cư
ổn định, có lãnh thổ, chính phủ, khả năng tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế
Các tổ chức quốc tế liên chính phủ: Thành viên của tổ chức quốc tế chủ yếu là
các quốc gia Được thành lập và hoạt động trên cơ sở Điều ước quốc tế, có cơ cấu
tổ chức chặt chẽ, phù hợp để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế nhằm thực hiện mục đích đã đề ra và có quyền năng chủ thể riêng biệt
Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết: Bị nô dịch từ một quốc gia hay một dân tộc khác Tồn tại trên thực tế một cuộc đấu tranh với mục đích thành lập một quốc gia độc lập và có cơ quan lãnh đạo phong trào đại diện cho dân tộc đó trong quan hệ quốc tế
Ngoài ba chủ thể trên luật quốc tế còn có một số chủ thể đặc biệt, ví dụ: Hồng Kông, Ma Cao, Vaticang…
2.2 Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế.
Lý luận nhà nước và pháp luật khẳng định đối tượng điều chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội chịu sự tác động, điều chỉnh của các quy phạm pháp luật
đó Mỗi một ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh đặc thù, phân biệt với đối tượng điều chỉnh của ngành luật khác thông qua tính chất của quan hệ xã hội chịu
sự tác động, điều chỉnh của nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế
Thứ nhất, nhà nước muốn tồn tại, phát triển và thực hiện tốt chức năng của mình, nhà nước phải ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhưng không phải tất cả các quan hệ xã hội đều được nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật Trong nội bộ quốc gia, chỉ những quan hệ xã hội quan trọng mới được nhà nước
Trang 5quản lý bằng công cụ pháp luật Thông qua đó nhà nước áp đặt ý chí và định hướng
sự phát triển của các quan hệ xã hội theo cách mà nhà nước mong muốn
Thứ hai, quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật là những quan hệ phát sinh chủ yếu giữa nhà nước với công dân hoặc giữa công dân với công dân thì quan hệ thuộc đối tượng của luật quốc tế là quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế Đó là quan hệ giữa quốc gia với quốc gia, quốc gia với các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, quốc gia với các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia hoặc giữa các chủ thể này với nhau
Thứ ba, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, bên cạnh quan hệ quốc tế được thiết lập giữa các chủ thể của luật quốc tế còn có các quan hệ được thiết lập giữa các cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch khác nhau trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoài
2.3 Quan hệ pháp luật quốc tế
Có thể nói bốn yếu tố chủ thể, khách thể, nội dung, sự kiện pháp lý là các yếu tố dùng để xá định quan hệ pháp luật Là một quan hệ pháp luật, luật quốc tế cũng dựa trên nhưng yếu tố trên để xác định Tuy nhiên, trong quan hệ pháp luật quốc tế cũng có những điểm khác biệt
Thứ nhất, về chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế có chủ thể hẹp hơn các quan
hệ pháp luật khác, các quan hệ pháp luật khác chủ thể có thể là quốc gia, nhà nước, chính phủ, các cá nhân, công dân, tổ chức
Thứ hai, nội dung của quan hệ pháp luật quốc tế thường chung chung, khái quát
Thứ ba, về khách thể của quan hệ pháp luật quốc tế, đó là các lợi ích mà chủ các chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế, có thể là lợi ích tinh thần, hoặc lợi ích vật chất
5
Trang 6Thứ tư, quan hệ phát luật quốc tế chỉ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi
có sự kiện pháp lý Sự kiện pháp lý có thể là hành vi pháp lý hoặc sự biến pháp lý
mà luật quốc tế dự liệu có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật quốc tế
Luật quốc tế bao gồm những nguyên tắc quy phạm pháp luật do các chủ thể luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nhằm điều chỉnh quan hệ nhiều mặt giữa các chủ thể luật quốc tế trong đời sống quốc tế
3 Các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế.
Luật quốc tế còn được điều chỉnh thông qua các nguyên tắc của mình Các nguyên tắc này thực hiện hai chức năng cơ bản là ổn định quan hệ quốc tế và ấn định khuôn khổ xử sự cho các chủ thể trong quan hệ quốc tế, qua đó tạo điều kiện cho quan hệ quốc tế phát triển Các nguyên tắc này gồm có:
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực
Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
Nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ quốc gia khác
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
Nguyên tắc dân tộc tự quyết
Nguyên tắc Pacta sunt servanda (tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế)
4 Vai trò của luật quốc tế.
Luật quốc tế có vai trò quan trọng thể hiện qua nhiều mặt như:
công cụ điều chỉnh các quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của mỗi chủ thể của luật quốc tế trong quan hệ quốc tế
công cụ, là nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế
Có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn minh của nhân loại, thúc đẩy cộng đồng quốc tế phát triển theo hướng ngày càng văn minh
Trang 7 Thúc đẩy việc phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế đặc biệt là quan hệ kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay
II Cơ chế thực thi của luật quốc tế.
Do ảnh hưởng của Cách mạng tháng 10 Nga, Luật quốc tế đã có những thay đổi sâu sắc và thực chất là luật quốc tế mới về chất Luật quốc tế hiện đại với bản chất tiến bộ khác hẳn với luật quốc tế cũ Điều này dễ nhận thấy qua qúa trình tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế và là chủ thể của luật quốc tế Ngày nay, Luật Quốc tế hiện đại thừa nhận và khẳng định nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực đã làm thay đổi hẳn cơ sở của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ 1, thì
“quyền chiến tranh” không còn tồn tại trong luật quốc tế hiện đại và thay vào đó các nguyên tắc, các chế định mới hết sức quan trọng, tiến bộ, dân chủ như: cấm chiến tranh xâm lược, cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Trong Luật Quốc tế không tồn tại cơ quan cưỡng chế, Luật Quốc tế do các chủ thể Luật Quốc tế tự nguyện tuân thủ và thực thi Trong trường hợp có hành vi không tuân thủ, vi phạm Luật Quốc tế thì các quốc gia tiến hành biện pháp cưỡng chế thực thi Luật Quốc tế bằng 2 cách:
1 Cưỡng chế riêng lẻ.
Trong Luật quốc tế, khi một chủ thể bị xâm phạm bởi một chủ thể khác thì chủ thể bị xâm phạm có quyền sử dụng các biện pháp tự vệ hay trả đũa tương xứng: cắt đứt quan hệ ngoại giao, rút đại sứ về nước, bao vây cấm vận kinh tế, giáng trả, hủy bỏ điều ước quốc tế… VD: Cấm vận của Mỹ đối với Cuba, Campuchia triệu hồi đại sứ tại Thái Lan về nước vào ngày 05/11/2009, Tổng thống Venezuela Hugo Chavez ngày 22/07/2010 đã tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Colombia và
1 Nguyễn Bá Diến- Áp dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong Luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông – Thông tin khoa học Đại học kiểm sát.
7
Trang 8yêu cầu các nhà ngoại giao nước này phải rời khỏi Venezuela vì Colombia cáo buộc Venezuela là nơi chứa chấp những phần tử du kích, …
Hay Mỹ yêu cầu Nga đóng cửa lãnh sự quán ở San Francisco cùng 1 công trình phụ trợ đại sứ quán ở Washington D.C và 1 công trình phụ trợ lãnh sự quán ở New York sau khi Nga trục xuất 755 nhân viên ngoại giao của Mỹ đang đóng tại Nga (31/8/2017)
2 Cưỡng chế tập thể
2.1 Thông qua Liên hợp quốc.
Cưỡng chế tập thể là biện pháp mà quốc gia bị hại liên minh với các quốc gia khác trên cơ sở các cam kết phù hợp nhằm chống lại các quốc gia gây hại cho mình Biện pháp cưỡng chế của Liên Hợp Quốc là một tổ chức quốc tế được thành lập từ năm 1945 sau Chiến tranh thế giới thứ hai với mục đích chính duy trì hòa bình và an ninh thế giới Một trong những cơ quan chính trị quan trọng của Liên Hợp Quốc chịu trách nhiệm chính về việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới là Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ưu tiên giải quyết bằng phương pháp hòa bình khi một quốc gia có hành vi không tuân thủ, vi phạm Luật Quốc tế, tuy nhiên nếu quốc gia có hành vi vi phạm nghiêm trọng Luật Quốc tế thì Liên Hợp Quốc, đại diện là Hội đồng Bảo an sẽ có những biện pháp cưỡng chế nhất định Vấn đề này được quy định tại Điều 24 trong Hiến chương Liên hợp quốc, cụ thể trong Chương VII Hiến chương này Các biện pháp cưỡng chế từ Liên Hợp Quốc có thể chia thành 2 nhóm:
Các biện pháp phi vũ trang
Điều 41 Hiến chương Liên Hợp Quốc: Hội đồng bảo an có thẩm quyền quyết định những biện pháp nào phải được áp dụng mà không sử dụng vũ lực để thực hiện các nghị quyết của Hội đồng, và có thể yêu cầu các thành viên của Liên hợp quốc áp dụng những biện pháp ấy Các biện pháp này có thể là cắt đứt toàn bộ
Trang 9hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và các phương tiện thông tin khác, kể cả việc cắt đứt quan
hệ ngoại giao.
Ví dụ: Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ngày 5/8/2017 ra quyết định áp đặt lệnh trừng phạt mới với Triều Tiên Nghị quyết do Mỹ soạn thảo cấm Triều Tiên xuất khẩu than, sắt, quặng sắt, chì, quặng chì và hải sản Nó cũng cấm các nước tăng số lao động Triều Tiên đang làm việc ở nước ngoài, cấm các liên doanh mới với Triều Tiên và những hoạt động đầu tư mới trong các liên doanh hiện nay Biện pháp trừng phạt có thể khiến Triều Tiên thiệt hại một tỷ USD doanh thu xuất khẩu hàng năm Liên Hợp Quốc muốn đánh vào nguồn tiền của Triều Tiên, từ đó ngăn cản nước này theo đuổi tham vọng hạt nhân
Các biện pháp vũ trang.
Điều 42 Hiến chương Liên Hợp Quốc: Nếu Hội đồng bảo an nhận thấy những biện pháp nói ở điều 41 là không thích hợp, hoặc tỏ ra là không thích hợp, thì Hội đồng bảo an có quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân mà Hội đồng bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong toả và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc thực hiện.
Ngoài ra Luật quốc tế còn được thực thi thông qua Liên Hợp Quốc còn được thể hiện qua các cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua các cơ quan tài phán như:
Tòa án công lí quốc tế.
Tòa án công lí quốc tế là cơ quan pháp lí chính của Liên hợp quốc Đây không phải là một tổ chức lập pháp mà chỉ là một cơ quan tài phán đưa ra các phán quyết và các kết luận “tư vấn” trong chừng mực thẩm quyền cho phép Tuy nhiên
9
Trang 10ngày nay không có một cơ quan tài phán nào giải quyết các vấn đề của cộng đồng quốc tế được các quốc gia sử dụng một cách chung nhất trong việc bảo vệ những giá trị của luật quốc tế như Tòa án Công lí quốc tế
Tòa án công lí quốc tế áp dụng luật quốc tế để giải quyết các vấn đề thể hiện tài khoản 1, Điều 38, quy chế của Tòa đã tuyên bố nhiệm vụ của Tòa án là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các tranh chấp ra tòa Trong việc giải quyết nhiệm
vụ này, Tòa sẽ dựa vào các nguồn chính của luật quốc tế dưới đây: Luật điều ước, luật tập quán, các nguyên tắc chung của luật, các quyết định tài phán, Ex aequo et bono
Tòa án Công lí quốc tế đóng góp phát triển Luật quốc tế Các quyết định của Tòa không chỉ giới hạn trong việc giải thích và nhận thức quá trình phát triển của luật quốc tế Đóng góp trong luật án lệ của Tòa là to lớn
Là cơ quan của luật quốc tế, có nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan khác trong giữ gìn hòa bình an ninh thế giới, Tòa án công lí quốc tế đã có những đóng góp không nhỏ vào việc phát triển và hoàn thiện Một số phán quyết quan trọng và tiêu biểu của Tòa án Công lí quốc tế:
Vụ công ti dầu khí Anh Iran
Interhandel (Thụy sĩ kiện Mỹ)
Đền Preah – Vihear (Campuchia kiện Thái lan)
Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa (Nicaragoa kiện Mỹ)
Tòa án quốc tế về luật biển.
Toà án Luật biển quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên cũng như tất các thực thể khác không phải quốc gia thành viên của Công ước trong tất cả các trường hợp liên quan đến việc quản lý và khai thác Vùng
- Di sản chung của nhân loại Bên cạnh đó, Toà còn giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước trong lĩnh vực thực hiện các quyền