Những thông tin này được thể hiện dưới các hình thức như: tài liệu, lời trình bày bằng miệng của các bên đương sự, người làm chứng, người chứng kiến, đồ vật… Chúng được Tòa án sử dụng đ
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
Nội dung 3
I Khái quát chung về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành chính 3
1 Khái niệm chứng cứ trong tố tụng hành chính 3
2 Khái niệm chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành chính 4
II Đánh giá quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành chính.6 Kết luận 10
Tài liệu tham khảo 11
Trang 2Lời mở đầu.
“Chứng minh” dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trong đời thường (ví dụ như chứng minh khi tranh luận trong các cuộc hội thảo, chứng minh khi phát biểu bảo vệ quan điểm trên các diễn đàn ) nhằm "làm cho thấy
rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch
rõ một điều gì đó là đúng" Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá Quá trình chứng minh diễn ra liên tục, trong mọi mặt của đời sống xã hội và nó là động lực cho sự phát triển, khám phá tìm tòi Bên cạnh các lĩnh vực như hình sự, dân
sự thì hành chính là một lĩnh vực khá phổ biến với nhiều vụ án khác nhau và việc chứng minh là điều rất cần thiết Chính vì thế quy định về chứng minh là nội dung quan trọng và phức tạp đã được hoàn thiện trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Sự hoàn thiện và phát triển của Luật Tố tụng hành chính nói chung, của chế định chứng minh nói riêng phản ánh nhà lập pháp và Toà án đã bắt đầu quan tâm đúng mức hơn đến yêu cầu đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của công tác giám sát hoạt động hành chính, cũng như tính thực chất của công tác bảo vệ quyền, lợi ích của người dân
Nhìn thấy được vai trò đó, bài tiểu luận sẽ viết về chủ đề “Đánh giá quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành chính.” để làm rõ
hơn những vấn đề được pháp luật quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành chính
Trang 3Nội dung.
I Khái quát chung về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành
chính.
1 Khái niệm chứng cứ trong tố tụng hành chính.
Trong giải quyết vụ án hành chính, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nhằm hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính hoặc chấm dứt hay phải thực hiện hành vi hành chính, các bên đương sự phải đưa ra những tình tiết, sự kiện liên quan đến quá trình ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính đã diễn ra trước đó tại cơ quan nhà nước
Các tình tiết, sự kiện trên mặc dù đã xảy ra trước khi khởi kiện đến Tòa
án và chúng có thể được các bên đương sự trình bày khác nhau tại Tòa án nhưng các tình tiết, sự kiện đó vẫn được tái diễn lại Những thông tin này được thể hiện dưới các hình thức như: tài liệu, lời trình bày bằng miệng của các bên đương sự, người làm chứng, người chứng kiến, đồ vật… Chúng được Tòa án sử dụng để xác định các tình tiết khách quan khi giải quyết vụ án hành chính, được gọi là chứng cứ
Điều 80 Luật Tố tụng hành chính quy định về chứng cứ trong vụ án hành chính như sau: “Chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”
Một số đặc điểm của chứng cứ trong vụ án hành chính:
Thứ nhất, tính khách quan hay tính có thật của chứng cứ Tính khách
quan được thể hiện ở chỗ các tình tiết, sự kiện về tính hợp pháp của đối tượng
Trang 4khiếu kiện trong vụ án hành chính là những gì có thật, chúng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của các chủ thể chứng minh trong vụ án hành chính
Thứ hai, tính hợp pháp của chứng cứ Tính hợp pháp này thể hiện
thuộc tính pháp lý của chứng cứ, chứng cứ phải được thu thập từ các nguồn hợp pháp, đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính Việc không tuân thủ theo quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ sẽ làm mất giá trị chứng minh của chứng cứ
Thứ ba, tính liên quan của chứng cứ Chứng cứ phải liên quan đến vụ
án hành chính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời các chứng cứ bày phải liên quan đến nhau
Thứ tư, được Tòa án sử dụng Chứng cứ được Tòa án dùng làm căn cứ
để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ pháp luật và hợp pháp hay không
Bốn đặc điểm nói trên của chứng cứ nói chung và chứng cứ trong vụ án hành chính nói riêng là một thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, nếu thiếu một trong ba đặc điểm trên thì không được coi
là chứng cứ
2 Khái niệm chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành chính.
Chứng minh là một chuỗi các hoạt động nhằm làm rõ các tình tiết sự việc của vu án Đó là quá trình dùng lí lẽ lập luận logic hoặc sử dụng tài liệu, sự việc
cụ thể nhằm mục đích khẳng định một điều gì đó là có thật là đúng Trong khoa học pháp lí, khái niệm chứng minh được hiểu là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án do Tòa án và những người tham gia tố tụng thực hiện thông qua các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ Chứng minh trong tố tụng hành chính cũng được hiểu theo nghĩa này Đó chính
là quá trình làm rõ sự thật khách quan vụ án hành chính, được thực hiện bởi các
Trang 5chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng hành chính nhằm giải quyết vụ án hành chính được khách quan công bằng, đúng pháp luật, qua đó bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Căn cứ theo Điều 78 Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính:
“1 Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, trường hợp không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do.
2 Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc có hành vi hành chính.
3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”
Theo Điều 78 quy định người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quy định này của pháp luật xác định của trách nhiệm của các đương sự với vụ án mà họ tham gia tố tụng Ở góc độ nhất định, việc cung cấp chứng cứ chính là quyền của đương sự Bởi lẽ, hơn ai hết đương sự phải là người quan tâm nhất đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Họ phải có quyền cung cấp cho tòa án những chứng cứ để chứng minh yêu cầu hay phản đối của mình là đúng là hợp pháp, cần thiết phải bảo vệ, được thừa nhận
Để hỗ trợ cho việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ khoản 6 Điều 55 Luật
tố tụng hành chính quy định “Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp
Trang 6cho Tòa án ” Chủ thể tố tụng hành chính có quyền cung cấp chứng cứ, nhưng không phải tất cả người tham gia tố tụng đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, không được từ chối nghĩa vụ này Điều 83 Luật tố tụng hành chính quy định “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng
cứ cho Tòa án, nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài liệu, chứng
cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật này để giải quyết vụ án.” Tuy nhiên, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự theo pháp luật tố tụng hành chính chỉ mang tính chất tương đối Điều đó có nghĩa là việc thụ lí, giải quyết vụ án không hoàn toàn phụ thuộc vào chứng cứ do đương sự cung cấp Tòa án vẫn thụ lí, giải quyết vụ
án hành chính trong trường hợp đương sự đã nỗ lực áp dụng các biện pháp cần thiết để cung cấp cho tòa án nhưng không thể có chứng cứ cung cấp cho tòa án Trong trường hợp này, đương sự có thể yêu cầu tòa án tiến hành thu thập chứng
cứ nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính Căn cứ theo khoản 2 Điều 93 Luật tố tụng hành chính năm 2015, đương sự phải viết đơn ghi rõ vấn
đề cần chứng minh, chứng cứ cần thu thập, lí do mình không thể thu thập được Đơn yêu cầu phải ghi rõ tên, địa chỉ của đương sự và tên, địa chỉ cơ quan hoặc tên, địa chỉ cá nhân đang giữ chứng cứ cần thu thập
II Đánh giá quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hành
chính.
Thứ nhất, Luật tố tụng hành chính quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc
về đương sự Đương sự trong vụ án hành chính có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, điều đó đồng nghĩa với việc xác định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Đây là một điểm vô cùng hợp lí của pháp luật tố tụng hành chính Đương sự là những người có quyền lợi, lợi ích liên quan trực tiếp đến vụ án hành chính, chính vì thế họ chính là những người hiểu rõ nhất nội dung vụ án Khi để cho
Trang 7các đương sự chứng minh, Tòa án sẽ có được những bằng chứng xác thực nhất
và liên quan nhất đến vụ án Luật tố tụng hành chính 2015 quy định bổ sung các biện pháp thu thập chứng cứ do đương sự tự mình thực hiện, phân biệt với các biện pháp thu thập chứng cứ do Tòa án tiến hành, cụ thể là đương sự tự mình thu thập chứng cứ bằng các biện pháp sau: Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử, Thu thập vật chứng, Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng, Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý, Yêu cầu UBND cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng, Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ, Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản, Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật Việc bổ sung các biện pháp này sẽ giúp cho đương sự dễ dàng chứng minh những lập luận chứng minh của mình
Thứ hai, việc quy định nghĩa vụ chứng minh cho đương sự là hoàn toàn hợp lí Khi muốn khởi kiện đương sự phải có được những lập luận hay chứng cứ nhất định để có thể chứng minh cho yêu cầu hay phản đối của mình là hợp lí ,là
có căn cứ Điều này sẽ tạo cho đương sự tâm lí có sự chuẩn bị trước khi khởi kiện, không khởi kiện một cách tràn lan gây khó khăn cho tòa án trong giải quyết Luật tố tụng hành chính quy định đương sự có nghĩa vụ chứng minh, nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ, chứng minh thì phải chịu hậu quả về việc đó Song, với các quy định về việc Tòa án sẽ xác minh, thu thập chứng cứ bổ sung khi đương sự yêu cầu do họ không thể tự mình thu thập chứng cứ hoặc Tòa án cũng có thể tự mình xác minh thu thập chứng cứ khi xét thấy cần thiết thì nghĩa vụ chứng minh của đương sự cũng tương đối giống như nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự
Trang 8Thứ ba, việc để cho đương sự chứng minh đối với các chứng cứ chính là một hình thức đảm bảo việc hoạt động đúng đắn của tòa án, một chứng cứ ngoài đáp ứng ba điều kiện là “tính liên quan”, “tính hợp pháp”, “tính khách quan” thì phải đáp ứng được một điều kiện nữa đó chính là “phải được Tòa án sử dụng” chính vì thế một chứng cứ chỉ được sử dụng khi thật sự có ích và có thể giải quyết được vụ án Việc để đương sự chứng minh chính chính là để cho đương
sự tự bảo vệ quyền lợi của chính mình một cách chủ động, đồng thời việc tòa án
có quyền lựa chọn sử dụng chứng cứ nào cũng chính là một cách để lựa chọn được những chứng cứ hợp lí nhất cho quá trình tố tụng diễn ra một cách đúng đắn nhất
Thứ tư, khi gặp khó khăn trong quá trình chứng minh, cung cấp chứng
cứ, đương sự có thể yêu cầu Tòa án giúp đỡ đương sự trong việc thu thập chứng
cứ phục vụ cho quá trình chứng minh Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính Luật tố tụng hành chính 2015 quy định rõ tòa án chỉ được tiến hành thu thập chứng cứ trong các trường hợp do luật định, bổ sung quy định: trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, có thể tiến hành 2 biện pháp thu thập chứng
cứ là: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án Quy định này bảo đảm thực hiện nguyên tắc về cung cấp tài liệu, chứng cứ (Điều 9), tránh tình trạng Tòa án tự mình thu thập chứng cứ không đúng thẩm quyền, ảnh hưởng đến tính khách quan trong việc xác định sự thật của vụ án Đồng thời về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ khi có yêu cầu cung cấp của Tòa
án, Viện kiểm sát (các Điều 10, 93) thì Luật tố tụng hành chính 2010 chưa quy
Trang 9định rõ việc xử lý trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ không cung cấp được đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát khi đã hết thời hạn luật định (15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu)
Thứ năm, việc đương sự có nghĩa vụ chứng minh chính là tuân theo các nguyên tắc: Bảo đảm tranh tụng trong xét xử, bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự của Luật tố tụng hành chính Điều này thể hiện
sự định đoạt của đương sự, ngày càng thể hiện sự công bằng trong mối quan hệ hanh chính vốn chủ yếu mang tính bất bình đẳng Đồng thời đây cũng được coi
là việc đảm bảo “tranh tụng” của đương sự Thực tiễn xét xử thời gian qua cho thấy, khi chưa có quy định cụ thể trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015, khái niệm “tranh tụng” mới chỉ được hiểu là việc tranh luận tại phiên tòa và chỉ thể hiện trong những vụ án có luật sư tham gia hoặc trong những vụ án mà đương sự có trình độ hiểu biết pháp luật nhất định, hoặc bên bị kiện cử người có
đủ thẩm quyền, nắm rõ sự việc liên quan đến khiếu kiện tham gia phiên tòa, tuy nhiên chúng ta cần có cái nhìn rộng hơn về khái niệm tranh tụng ngay cả trước khi diễn ra phiên tòa, đảm bảo chính xác nhất quyền
Tuy nhiên, việc yêu cầu các cơ quan tổ chức có giữ tài liệu chứng cử để giải quyết vụ án là một điều rất khó khăn trên thực tế Có rất nhiều cơ quan lấy
lí do mất, thất lạc hồ sơ để không phải cung cấp tài liệu chứng cứ, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án hành chính
Trang 10Kết luận.
Hành chính nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Hành chính nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động thực thi quyền hành pháp trong cơ cấu quyền lực nhà nước, tức là quyền thực thi pháp luật có tính cưỡng bức đối với xã hội Thông qua hoạt động hành chính nhà nước, các quy phạm pháp luật đi vào đời sông xã hội, điều chỉnh, duy trì trật tự của xã hội theo định hướng mong muốn của nhà nước Tuy nhiên, trong một số tình huống đã xảy ra các tranh chấp hành chính, dẫn đến người dân kiện các quyết định hành chính và hành vi hành chính để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong các vụ án đấy, chứng minh là một hoạt động vô cùng quan trọng nhằm làm sáng tỏ những sự thật khách quan, đương sự là những người có quyền lợi, lợi ích liên quan đến vụ án và việc quy định pháp luật gắn cho họ nghĩa vụ chứng minh là hoàn toàn hợp lí, dưới sự hỗ trợ của tòa án khi khó khăn thì việc thực hiện việc chứng minh của đương sự là khách quan Xã hội chỉ phát triển khi nhân dân
có niềm tin vào nhà nước chính vì thế chúng ta cần giải quyết một cách khách quan hợp lí các vụ án hành chính