Việc tổ chức trả bài kiểm tra thì rất hình thức, không biến việc làm đó thành một hoạt động tổ chức học sinh suy ngẫm trải nghiệm; Kết quả kiểm tra đánh giá không được giáo viên lưu giữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀM THÚY HIỀN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
BẬC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀM THÚY HIỀN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
BẬC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH.Đặng Ứng Vận
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng được gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy cô giáo tham gia giảng dạy đã cung cấp những kiến thức nền tảng cơ bản, sâu rộng và đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Hội đồng Quản trị, Ban giám hiệu, các Phòng, Khoa thuộc Trường Đại học Hòa Bình đã tạo mọi điều kiện để tôi được tham gia khóa học này
Tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TSKH.Đặng Ứng Vận - người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tâm động viên, giúp đỡ
và chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã thực sự nỗ lực, cố gắng rất nhiều song luận văn chắc không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Đàm Thúy Hiền
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Tỷ lệ GV và CBQL đánh giá về nội dung đề
thi/kiểm tra
40
3 Bảng 2.3 Đánh giá về công việc chấm thi 43
4 Bảng 2.4 Ảnh hưởng của việc kiểm tra/đánh giá thường
xuyên tới người học
48
5 Bảng 3.1 Tư duy, nhận thức, ý thức trách nhiệm của
CBQL, GV, SV đối với hoạt động KTĐG
65
6 Bảng 3.2 Đánh giá về việc Bồi dưỡng trình độ chuyên
môn, năng lực quản lý hoạt động KTĐG
67
7 Bảng 3.3 Đánh giá đối với biện pháp Xây dựng và đánh
giá chuẩn đầu ra
68
8 Bảng 3.4 Biện pháp tăng cường hoạt động thanh tra,
kiểm tra
69
9 Bảng 3.5 Kết quả khảo nghiệm Biện pháp Xây dựng
Trung tâm đánh giá giáo dục độc lập ở tầm quốc gia và trong các cơ sở giáo dục
70
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
I Sơ đồ:
1 Sơ đồ 2.1 Bộ máy Tổ chức của Trường Đại học Hòa Bình 35
II Biểu đồ:
2 Biểu đồ 2.2 Các hình thức thi kết thúc học phần môn học 42
3 Biểu đồ 3.1 Đánh giá về cơ chế quản lý và vận hành hệ
thống KTĐG đã xây dựng được
66
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP BẬC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ 8
1.1.Tổng quan các nghiên cứu về Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học ở một số Trường Cao đẳng và Đại học trong nước 8
1.1.1 Kinh nghiệm của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 9
1.1.2 Kinh nghiệm của Trung tâm Đào tạo từ xa – Đại học Huế 11
1.1.3 Kinh nghiệm của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội (ĐHSPHN) 11
1.2.Các khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Quản lý 13
1.2.2 Quản lý Nhà trường 13
1.2.3 Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 13
1.2.4 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục 15 1.3 Hệ thống giáo dục mở 16
1.3.1 Giáo dục mở 16
1.3.2 Hệ thống Giáo đục mở 17
1.3.3 Mục tiêu của Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong nền giáo dục mở 18
1.4 Kiểm tra đánh giá trong Giáo dục Đại học 19
1.4.1 Hệ thống Giáo dục Đại học Việt Nam 19
1.4.2 Sự mở rộng các hình thức đào tạo Giáo dục đại học Việt Nam 21
1.4.3 Ảnh hưởng của xu hướng phát triển giáo dục đại học mở tới quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập 23
1.5 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá trong Giáo dục đại học 24
1.5.1 Xây dựng kế hoạch (hoạt động) kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên 24
Trang 81.5.2 Quản lý tổ chức thực hiện hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập
trong giáo dục đại học 25
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học 25
1.5.4 Kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong nền giáo dục đại học 26
1.5.5 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở 27
1.6 Những yếu tố tác động đến hiệu quả của hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong hệ thống giáo dục mở 28
1.6.1 Nhận thức về vai trò của hoạt động kiểm tra đánh giá 28
1.6.2 Nghiệp vụ của cán bộ tham gia hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên 28
1.6.3 Các chế độ, chính sách của Nhà nước và qui định của Nhà trường 29
1.6.4 Công tác chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra của các cấp quản lý 30
1.6.5 Yếu tố tài chính, điều kiên cơ sở vật chất, môi trường đảm bảo cho công tác kiểm tra đánh giá 31
1.6.6 Yếu tố Giáo dục Mở và hệ thống Giáo dục Mở 32
1.6.7 Yếu tố ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá 33
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH 35
2.1 Khái quát về Trường Đại học Hòa Bình 35
2.1.1 Nhiệm vụ và chức năng 35
2.2.2 Bộ máy tổ chức của Nhà trường 36
2.2.3 Nhân lực của Nhà trường 37
2.2.4 Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ quảng dạy và học tập 38
2.2 Thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV ở Trường ĐH Hòa Bình 39
2.2.1.Việc ra đề thi/kiểm tra 40
2.2.2 Phương pháp, hình thức thi/kiểm tra 42
2.2.3 Việc coi thi 43
Trang 92.2.4 Việc chấm thi 44
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV Trường Đại học Hòa Bình 45
2.3.1 Quản lý Kế hoạch KTĐG: 45
2.3.2 Quản lý Tổ chức thực hiện hoạt động KTĐG: 46
2.3.3 Quản lý Chỉ đạo thực hiện hoạt động KTĐG 46
2.3.4 Quản lý Thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động KTĐG 48
2.4 Đánh giá chung về quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên 48
2.4.1 Những ưu điểm: 48
2.4.2.Những điểm cần khắc phục trong thời gian tới 49
2.4.3 Nguyên nhân 50
Tiểu kết Chương 2 51
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP BẬC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH 52
3.1 Các yêu cầu về biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở 52
3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 52
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 52
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 53
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa và khả thi 53
3.2 Các biện pháp về quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở 54
3.2.1 Đổi mới về tư duy, nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên trong hoạt động kiểm tra – đánh giá 54
3.2.2 Xây dựng cơ chế quản lý và vận hành hệ thống kiểm tra đánh giá đã xây dựng được 55
3.2.3 Bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, năng lực quản lý hoạt động KTĐG cho đối tượng cán bộ, giảng viên 56
3.2.4 Thông qua ngân hàng câu hỏi – bài tập của môn học, xây dựng và đánh giá chuẩn đầu ra phù hợp với các nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo trong hệ thống giáo dục mở 59
Trang 103.2.5 Biện pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 62
3.2.6 Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học 63
3.2.7 Xây dựng các Trung tâm đánh giá giáo dục độc lập ở tầm quốc gia cũng như ở các cơ sở giáo dục 64
3.3 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 65
3.3.1 Kết quả khảo nghiệm đối với biện pháp Đổi mới về tư duy, nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên trong hoạt động kiểm tra – đánh giá 66
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm đối với biện pháp Xây dựng cơ chế quản lý và vận hành hệ thống kiểm tra đánh giá đã xây dựng được 67
3.3.3 Kết quả khảo nghiệm đối với biện pháp Bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, năng lực quản lý hoạt động KTĐG cho đối tượng cán bộ, giảng viên 68
3.3.4 Kết quả khảo nghiệm đối với biện pháp Xây dựng và đánh giá chuẩn đầu ra phù hợp với các nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo trong hệ thống giáo dục mở thông qua ngân hàng đề thi 68
3.3.5 Kết quả khảo nghiệm đối với biện pháp Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 69
3.3.6 Kết quả khảo nghiệm đối với biện pháp Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học 70
3.3.7 Kết quả khảo nghiệm đối với biện pháp Xây dựng Trung tâm đánh giá giáo dục độc lập ở tầm quốc gia và trong các cơ sở giáo dục 71
Tiểu kết Chương 3 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
PHỤ LỤC 76
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Nghị quyết Hội nghị Trung Ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” đã chỉ ra những yếu kém của giáo dục: Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu găn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thi trường lao động Phương hướng
đề ra là: đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục đào tạo; Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên phát triển giáo dục đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục đào tạo Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục đào tạo, đồng thời giáo dục đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển đất nước; Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt-học tốt
Xã hội phải thừa nhận việc học suốt đời của con người là định hướng của cả thế giới Khi người ta đã đi làm, một thời gian sau người ta cũng phải học nâng cao và học nhiều thứ khác, nhưng không phải ai cũng có thể bỏ việc
để đi học chính quy được cả
Xây dựng một nền giáo dục mở, quản lý tốt, có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng có vai trò hết sức quan trọng Hệ thống giáo dục mở là một hệ thống tạo ra những cơ hội học tập cho mọi đối tượng có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học tập
và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính và tín ngưỡng tôn giáo Khái niệm
Trang 12mềm dẻo và đa dạng, khả thi trong một thời gian và không gian khác nhau Nhờ đó, sự học hành của con người không bị hạn chế ở một lứa tuổi nào đó trong cuộc sống, mà được kéo dài suốt đời Hệ thống giáo dục mở sẽ tạo ra những điều kiện và cơ hội để mỗi con người luôn được hưởng những thành tựu khoa học và công nghệ do tri thức mới mang lại, được cập nhật và ứng dụng những tri thức mới trong công việc mình đang làm Sự mở rộng tri thức trên đây là điều kiện tiên quyết để tăng năng lực con người trong nền kinh tế tri thức …
Thực tiễn giáo dục ở Việt Nam cho thấy: lâu nay xã hội vẫn phê phán
về hình thức đào tạo không chính qui như: tại chức, giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa; Bộ Giáo dục-Đào tạo đã cho phép các trường đại học liên kết đào tạo tại chức với các trung tâm giáo dục thường xuyên ở hầu hết các tỉnh; mặt khác, không có biện pháp kiểm tra, giám sát từ khâu tuyển sinh đến quá trình đào tạo và thi tốt nghiệp Chính sự buông lỏng quản lý đó đã biến những
cơ sở liên kết đào đại học tại chức ở các địa phương thành những “cái chợ” để mua bằng bán điểm và bán luôn cả lương tâm nhà giáo Việc lo ngại về chất lượng giáo dục đại học theo hình thức đào tạo mở (tại chức, từ xa …) là chính đáng, bởi thực tế hiện nay trong hệ thống giáo dục của nước ta vẫn còn tình trạng học giả, bằng thật, học ít, điểm nhiều Nhưng bên cạnh đó, vẫn có những nơi đào tạo ra nhiều người học có trình độ chuyên môn giỏi thực sự, những học viên đang đi làm có thể ứng dụng ngay kiến thức mình được học
mà không cần đợi đến khi ra trường
Nguyên nhân của những điểm còn tồn tại trong hệ thống giáo dục của Việt Nam nói trên chính bởi vì quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng thường xuyên hiện nay còn yếu Thứ nhất bởi tần số đánh giá không cao Thứ hai, khi đánh giá thường xuyên không chú ý phân tích định tính để giáo viên và học sinh biết và kịp thời sửa chữa, điều chỉnh cách dạy cách học Tóm lại, kiểm tra đánh giá không chỉ không đúng lúc kịp thời mà còn đưa lại thông tin phiến diện về kết quả dạy và học
Trang 13Khi thông tin phản hồi không thường xuyên kịp thời sẽ làm cho lỗ hổng kiến thức của học sinh ngày càng lớn, càng bị khoét sâu thêm và kết quả là học sinh ngày càng đuối về học lực Hiện tượng học sinh “ngồi nhầm lớp” có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân giáo viên và học sinh không thường xuyên thu nhận thông tin phản hồi để uốn nắn điều chỉnh việc dạy việc học Giá trị điều khiển của thông tin phản hồi phụ thuộc vào chất lượng của các thông tin đó Chất lượng được đánh giá bởi khả năng phản ánh chính xác, đầy đủ mục tiêu dạy học bao gồm các lĩnh vực về kiến thức, kỹ năng hành động, thái độ
Đánh giá kết quả học tập hiện nay vẫn chỉ là dựa vào khối lượng kiến thức để xếp hạng học trò Học sinh nào nhớ được nhiều kiến thức, thu được nhiều nội dung thì được điểm cao, ít thì điểm thấp Còn đánh giá năng lực học sinh thông qua những tình huống, vấn đề có giá trị ứng dụng thực tiễn, sát với thực tiễn, học sinh giải được những bài tập đòi hỏi vận dụng kiến thức một cách tích hợp thì chưa được quan tâm và chưa phát triển được năng lực người học Các bài kiểm tra chỉ chú ý đánh giá kiến thức Khi chấm điểm giáo viên chỉ cho điểm mà không nhận xét định tính, chỉ ra chỗ được và chưa được trong bài làm của học sinh Việc tổ chức trả bài kiểm tra thì rất hình thức, không biến việc làm đó thành một hoạt động tổ chức học sinh suy ngẫm trải nghiệm; Kết quả kiểm tra đánh giá không được giáo viên lưu giữ một cách hệ thống trong một hồ sơ có giá trị như một “cuốn y bạ” lưu lại “bệnh án” của từng “bệnh nhân”, nghĩa là kiểm tra đánh giá trong giáo dục chưa được giáo viên sử dụng như một hồ sơ để liên tục tác động uốn nắn, dạy học phân hóa đến từng cá nhân học sinh
Đứng trước thực trạng trên, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học trong các trường đại học không chỉ là nhiệm vụ của giáo viên, của các tổ
bộ môn mà còn là nhiệm vụ và công việc quan trọng của các nhà quản lý Với vai trò là một cán bộ quản lý của Trường Đại học Hòa Bình, việc làm sao để
Trang 14toán khó, nhưng còn khó hơn nữa là làm sao để đảm bảo được chất lượng học tập sinh viên của trường đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực của xã hội, đảm bảo cho các em có được việc làm, hòa nhập được với xã hội ngay khi tốt nghiệp, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước lại còn khó hơn rất nhiều lần
Vấn đề quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bậc đại học chưa thực sự phát huy hết vai trò quan trọng của mình và một trong những nguyên nhân của những hạn chế trong kiểm tra đánh giá là hoạt động
tổ chức và quản lý kiểm tra đánh giá chưa tốt Do đó, chuẩn hóa hoạt động kiểm tra đánh giá là một yếu tố góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của tất
cả các cấp bậc học, hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, đảm bảo chất lượng nguồn lực và xây dựng xã hội học tập
Đã có những công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bậc đại học như: “Nghiên cứu thực trạng việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Trung ương” của Nguyễn Thị Hạnh … tuy nhiên đề tài trên mới chỉ nghiên cứu ở mức độ ở một trường công lập, đào tạo theo hình thức chính qui Để hướng tới một xã hội học tập, một hệ thống giáo dục mở, không phân biệt đối tượng người học, đào tạo trong mọi thời điểm khác nhau và không gian khác nhau, hệ thống giáo dục
mở có ưu thế là “mềm dẻo” và đa dạng, thì vai trò kiểm tra đánh giá cần được nâng lên một bước quan trọng trở thành khâu quyết định trong việc đảm bảo chất lượng Vấn đề này còn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ
Chính vì vậy mà tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục
mở tại trường Đại học Hòa Bình” Từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm cải tiến hoạt động kiểm tra đánh giá cho phù hợp với bối cảnh, đặc điểm phát triển của hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học trong giai đoạn tới
Trang 152 Mục tiêu nghiên cứu
Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học trong hệ thống giáo dục mở, nhằm khắc phục tình trạng yếu kém của giáo dục đại học hiện nay đặc biệt là trong các chương trình không chính quy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động KTĐG kết quả học tập
3.2 Khảo sát thực trạng Quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập tại Trường Đại học Hòa Bình
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động KTĐG
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động KTĐG kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống GDM
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp Quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống GDM
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Nội dung quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở cần dựa trên những cơ sở lý luận nào?
- Thực trạng quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập bậc đại học hiện nay và thực trạng quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập tại Trường Đại học Hòa Bình như thế nào?
- Biện pháp nào có thể sử dụng để quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống GDM có hiệu quả và áp dụng tại trường Đại học Hòa Bình?
6 Giả thuyết khoa học
Trang 16- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học là một trong những khâu quan trọng hàng đầu để đảm bảo chất lượng đào tạo, nhưng thực tế khi
tổ chức triển khai, hoạt động này còn nhiều hạn chế
- Trong nền giáo dục mở, có sự liên thông giữa các trình độ, loại hình, phương thức đào tạo thì đòi hỏi tất yếu phải có hoạt động kiểm tra đánh giá để đảm bảo chất lượng liên thông Tổ chức quản lý việc kiểm tra đánh giá là yếu
tố quyết định thành công trong đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của
hệ thống giáo dục mở
7 Phạm vi nghiên cứu
- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành ở phạm vi một số trường đại học,
ở Trường Đại học Hòa Bình
- Các luận cứ khoa học dựa trên các tài liệu công bố gần đây nhất (từ 2000 trở lại đây) và các Nghị quyết, chỉ thị của Nhà nước…
8 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, đọc tài liệu, nghiên cứu các Nghị quyết, văn bản về các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
8.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia
8.3.Phương pháp xử lý thông tin
Định lượng, định tính, thống kê và phân tích thống kê
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1 Ý nghĩa lý luận
Tổng kết lý luận và thực tiễn, nêu ra được những bài học kinh nghiệm về
“ Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở.”
Trang 17Cung cấp luận cứ khoa học cho các kiến nghị về việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong các trường đại học theo các hình thức đào tạo mở (tại chức, từ xa …)
Có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý và người học, tài liệu hoạch định chính sách
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho trường Đại học Hòa Bình, các cơ sở giáo dục khác trong cả nước và đảm bảo đánh giá đúng chất lượng giáo dục bậc đại học
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường Đại học Hòa Bình
Chương 3: Đề xuất Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở tại trường Đại học Hòa Bình
- Kết luận và khuyến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP BẬC ĐẠI HỌC
TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ 1.1.Tổng quan các nghiên cứu về Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học ở một số Trường Cao đẳng và Đại học trong nước
Chất lượng Giáo dục luôn là vấn đề “nóng” trong bất kỳ một cuộc hội thảo nào ở các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đã có rất nhiều cuộc hội thảo tổ chức trên quy mô toàn quốc về vấn đề này như Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo lần thứ I và III được tổ chức tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000, 2002; Hội thảo Kiểm định, đánh giá và quản lý chất lượng đào tạo Đại học được tổ chức ở Trường Đại học KHoa học XH & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008 … Các đại biểu đã nhận thức
rõ yếu kém, bất cập của hoạt động KTĐG trong GD ĐH và có những đề xuất cải tiến Bên cạnh đó cũng những công trình khoa học nghiên cứu về nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới giáo dục, giải pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập có hiệu quả của người học trong nước và trên thế giới như “Bộ tiêu chí của mạng lưới các Trường Đại học Đông Nam Á” hay
Đề tài cấp ĐH Quốc gia Hà Nội “Xây dựng quy trình, nội dung và hình thức KTĐG kiến thức, kỹ năng của SV ĐH Sư Phạm” do GS Phạm Hữu Tòng chủ trì năm 1998; Đề tài “Tiếp tục đổi mới KTĐG trong dạy - học” do nhóm GV của Khoa Sư Phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2008; “Nghiên cứu Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục Đại học ở Việt Nam” của TS Cấn Thị Thanh Hương (năm 2011)
Trong khuôn khổ luận văn của một thạc sỹ, tác giả chỉ có thể điểm qua tình hình nghiên cứu tại một số Trường Đại học, Cao đẳng tại Việt Nam như sau:
Trang 191.1.1 Kinh nghiệm của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh
Đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá là một trong hai nội dung cơ bản, mang tính đột phá của Nghị quyết đổi mới căn bản toàn diện GD-ĐT , được ưu tiên thực hiện trước Đổi mới công tác đánh giá nhằm tác động đến việc thay đổi cách dạy và cách học
Khắc phục những hạn chế đã xảy ra như chỉ đánh giá người học ở mức rất thấp, ai nhớ nhiều, học thuộc nhiều thì được điểm cao, nảy sinh tâm lý học
để thi không phải thi để học Vì vậy, nội dung cụ thể về đổi mới công tác này như thế nào đang được nhiều học sinh, thầy cô giáo quan tâm PGS.TS Lê Thế Vinh - Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã đưa ra những phân tích cũng như chia sẻ định hướng về khâu đổi mới đột phá này
Hoạt động thi, kiểm tra, đánh giá được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, như thi tuyển sinh đầu vào, kiểm tra thường xuyên trong quá trình dạy học, thi kết thúc môn học, thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi Mỗi trường hợp có mục đích, ý nghĩa riêng, như mục đích của thi tuyển sinh là xác định năng lực của thí sinh để có thể xét vào học một chương trình đào tạo của một ngành nghề cụ thể; Kiểm tra định kỳ môn học để xác định kiến thức, kỹ năng
mà người học đạt được trong quá trình học, giúp giáo viên và người học điều chỉnh cách dạy học cho phù hợp để đạt được mục tiêu của môn học thông qua việc người học tiếp thu từng phần nội dung của môn học; Thi hết môn học để đánh giá kết quả học tập của người học khi học xong môn học đó; Còn thi học sinh giỏi nhằm tuyên dương khen thưởng, tạo phong trào thi đua học tốt cho người học
Với mỗi trường hợp, cách thức đánh giá được chọn phù hợp Ví dụ, đối với thi học sinh giỏi, các kết quả thi cần được công bố công khai đối với tất cả mọi người nhằm khuyến khích khen ngợi những em đạt kết quả cao, còn kiểm tra định kỳ trong quá trình học thì kết quả thi thuộc thông tin cá nhân của mỗi người học, kết quả này chỉ dùng cho người dạy và cá nhân người học biết để
Trang 20điều chỉnh cách dạy, cách học sao cho đạt kết quả cao hơn, nên việc công bố kết quả công khai có thể không tốt với các em đạt kết quả thấp, vì có thể làm các em xấu hổ, giảm tự tin
Về hình thức thi, kiểm tra, đánh giá, hiện nay nhiều cơ sở đào tạo, giáo viên thường sử dụng ba hình thức chủ yếu: tự luận, trắc nghiệm, và vấn đáp Nếu như thi tự luận giúp cho người học trình bày rõ ràng quá trình tư duy logic, thể hiện khả năng diễn đạt thì trắc nghiệm có ưu điểm kiểm tra được nhiều kiến thức, trong một thời gian ngắn, còn vấn đáp có thể đánh giá trực tiếp năng lực của người học thông qua giao tiếp thực tế giữa thầy và trò
Hoạt động thi, kiểm tra, đánh giá như một thước đo, công cụ được sử dụng thường xuyên của giáo viên trong quá trình dạy học Thầy cô giáo, là người thực hiện việc lên lớp giảng bài, hướng dẫn cho HS-SV học tập, hoạt động hình thành năng lực và phẩm chất con người tốt cho các em Để đào tạo được một con người, người thầy dành tâm trí, sức lực, trí thông minh, thời gian để thực hiện.Từng nội dung bài học, kiến thức, kỹ năng, thái độ được thầy cô tổ chức truyền thụ cho học sinh qua việc tổ chức học tập là cả một nghệ thuật với biết bao công sức tìm tòi, nghiên cứu để thực hiện Trong đó, liên tục lắng nghe, điều chỉnh bằng nhiều cách khác nhau khi truyền đạt thành công một nội dung bài học
Hiện nay, đa số người dạy áp dụng cách đánh giá quá trình nhận thức theo các mức của Bloom, gồm các mức: biết, hiểu, áp dụng, phân tích, (tổng hợp), đánh giá và sáng tạo Tùy thuộc vào từng nội dung cụ thể, giáo viên có thể chọn mức độ đánh giá phù hợp Việc giáo viên chủ động lấy ý kiến người học khi kết thúc môn học để có thông tin phản hồi, rút kinh nghiệm cho việc
tổ chức dạy học lần sau cũng rất quan trọng Điều này là tích cực, không nên hiểu là trò đánh giá thầy như nhiều bài viết đã đề cập
Trang 211.1.2 Kinh nghiệm của Trung tâm Đào tạo từ xa – Đại học Huế
Trung tâm Đào tạo Từ xa - Đại học Huế đưa ra biện pháp dưới đây để tạo động lực, kích thích quá trình tự học thường xuyên của sinh viên (SV):
- Vở tự học: tất cả các học phần bắt buộc SV đều phải có vở tự học ở nhà Nội dung ghi trong các vở tự học được Trung tâm qui định trong cuốn Sổ tay sinh viên Đào tạo Từ xa Khi có yêu cầu của Trung tâm, SV phải nộp vở
tự học bất cứ học phần nào
- Bài kiểm tra điều kiện: sinh viên thực hiện bài kiểm tra điều kiện bằng
1 trong 2 hình thức là làm bài kiểm tra tại lớp học trong các đợt tập trung hoặc làm bài thu hoạch ở nhà tùy theo quy định của Trung tâm Bài thu hoạch ở nhà có mục đích thúc đẩy, đánh giá việc tự học của SV Các bài thu hoạch ở nhà được thực hiện theo quy định của Trung tâm theo các đề lấy từ ngân hàng
đề thu hoạch ở nhà, SV phải chép tay và gửi về Trung tâm, bài thu hoạch được rọc phách và chấm Nếu SV nào có điểm 5 bài kiểm tra tại lớp hoặc bài thu hoạch ở nhà gọi là đạt (đây là điều kiện để SV được công nhận kết quả thi kết thúc học phần đó)
- Thi kết thúc học phần: Sau từng đợt tự học, Trung tâm sẽ tổ chức những lần tập trung ngắn hạn tại Trung tâm hoặc tại các Cơ sở tiếp nhận chương trình ĐTTXa để tiến hành hệ thống hoá kiến thức, giải đáp thắc mắc
và thi kết thúc học phần nhằm đánh giá một cách chính xác, khách quan và trung thực chất lượng tự học, tự làm bài ở nhà
1.1.3 Kinh nghiệm của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội (ĐHSPHN)
Từ năm 2000, Trường ĐHSPHN đã có chủ trương đổi mới phương pháp KTĐG kết quả học tập của người học song song với đổi mới phương pháp giảng dạy Nhà trường tập trung vào khâu đổi mới, khâu ra đề thi với
Trang 22mục đích khách quan hóa khâu ra đề thi, cụ thể Trường đã xác lập tiêu chí đánh giá ngân hàng câu hỏi chuẩn cho từng môn học (tự luận và trắc nghiệm khách quan) Thông qua việc triển khai Dự án “Khách quan hóa quá trình kiểm tra, thi của SV các hệ ĐT Trường ĐHSPHN”, Nhà trường đã khuyến khích các khoa tổ chức xây dựng ngân hàng câu hỏi bài tập của các chuyên ngành ĐT gồm các câu hỏi tự luận ngắn và trắc nghiệm khách quan Kết quả
là trường đã xây dựng được số lượng lớn câu hỏi cho từng học phần tuân theo quy trình thẩm định và nghiệm thu nghiêm túc Song song với việc phát triển ngân hàng đề thi, nhà trường đã khuyến khích các hệ ĐT đổi mới hình thức KTĐG kết quả học tập nhằm đánh giá năng lực toàn diện hơn, có chú ý tới kỹ năng thực hành và kỹ năng sáng tạo Các phương pháp KTĐG thông qua viết tiểu luận, bài tập lớn hoặc kết hợp nhiều hình thức được phát triển ở nhiều bộ môn Các dạng đề thi mở đã bước đầu được ứng dụng đối với hệ không chính quy Cho tới năm 2006, 18/22 khoa đã hoàn thành xây dựng ngân hàng câu hỏi bài tập bước 1 và thí điểm sử dụng để chỉnh sửa hoàn thiện
Trường đã ứng dụng CNTT trong tổ chức thi trắc nghiệm khách quan của hai học phần môn chung là Ngoại ngữ và Tâm lý GD Trung tâm Đảm bảo chất lượng và Khảo thí đã thực hiện chức năng trộn đề, chấm thi cho nhiều học phần của các khoa Hóa học, Vật lý, GD Quốc Phòng, … Một số đề thi đã được phân tích đánh giá đo độ khó và độ phân biệt Kết quả phản ánh tương đối khách quan, mục tiêu đánh giá được các GV và SV ủng hộ
Tuy nhiên, trong việc phát triển và ứng dụng ngân hàng đê thi còn có một số khó khăn: GV chưa có kinh nghiệm về việc chọn mục tiêu, cách đặt câu hỏi để nâng cao chất lượng câu hỏi về độ chính xác, mức đánh giá nhận thức và tư duy của câu hỏi Do đó, vẫn còn tình trạng thi theo đề mở nhưng người học vẫn có thể sao chép từng phần trong sách và tài liệu, đề thi cuối khóa chưa bao trùm được mục tiêu môn học
Trang 23Về nguyên tắc, ngân hàng câu hỏi bài tập cần phải được cập nhật thường xuyên cho phù hợp với chương trình đào tạo, nhưng trên thực tế trường ĐHSPHN đã không làm được điều này nên đến nay hầu như ngân hàng câu hỏi bài tập không sử dụng mà việc ra đề lại quay về thực hiện như trước (phỏng vấn một CB của Trường)
Ở nước ta, quản lý KTĐG kết quả học tập cũng được nhiều trường ĐH khác cũng như nhiều CBQL, GV quan tâm Mỗi cơ sở ĐT, mỗi CBQL, GV tiếp cận theo một khía cạnh khác nhau nên chưa đề xuất được những giải pháp đồng bộ, hệ thống Vì vậy, nghiên cứu để đề ra các giải pháp quản lý KTĐG kết quả học tập trong GDĐH trên cơ sở các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn, kinh nghiệm trong nước và nước ngoài cùng với việc phân tích các số liệu thực nghiệm là rất cần thiết
1.2.Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một quá trình tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể
quản lý lên khách thể/đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
1.2.2 Quản lý Nhà trường
Quản lý nhà trường (QLNT), một dạng đặc biệt cuả quản lý, là quá trình hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra của chủ thể quản lý tới quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường nhằm đạt tới các mục tiêu giáo dục đã xác định
1.2.3 Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
* Kiểm tra - đánh giá: là một khâu quan trọng của quá trình quản lý nói chung
và quản lý giáo dục nói chung
Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình quản lý nhằm có được thông tin về tình trạng và kết quả hoạt động của đơn vị, của tổ chức, về những
Trang 24nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp phù hợp, đem lại hiệu quả cho hoạt động của tổ chức đó
Hoạt động đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý nói chung và trong quản lý giáo dục nói riêng Quản lý giáo dục để tạo ra sự thay đổi tích cực trong mỗi cơ sở giáo dục cũng như mỗi con người Muốn biết những biến đổi đó diễn ra ở mức độ nào, cần phải tiến hành một loạt công việc (đó là hoạt động đánh giá) có liên quan mật thiết với nhau như phải xây dựng thước đo
để đo đạc cái cần đo (đo lường); phải xác định mức độ của cái được đo theo chuẩn mực đưa ra (đánh giá); phải chỉ ra giá trị của cái vừa đo trong mối tương quan nào đó (định giá trị)
Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra, bao giờ cũng đi liền với kiểm tra Trong đánh giá, ngoài sự đo lường một cách khách quan dựa trên kiểm tra (hay trắc nghiệm) Còn có ý kiến bình luận, nhận xét, phê phán mang tính chủ quan để tiến tới sự phán xét
Đánh giá giáo dục là “Sự thu thập, chỉnh lí, xử lí, phân tích một cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về sự nghiệp giáo dục, để rồi phán đoán giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, nâng cao trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng xã hội”
* Học tập: là quá trình chuyển kiến thức của người khác thành kiến thức của
mình, là sự lĩnh hội kiến thức, tiếp thu những gì mới mẻ cũng như rèn luyện những kỹ năng đã được người khác truyền lại, ôn lại những gì đã biết
* Kết quả học tập: “ Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của người
học về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” (James Madison University, 2003: James O Nichols, 2002) Hay “Kết quả học tập là kết quả của một môn học, một chuyên ngành hay của cả một khóa đào tạo.”, “Kết quả học tập của sinh viên bao gồm các kiến thức , kĩ năng, thái độ mà học có được Các kiến thức, kĩ năng này được tích lũy từ các
Trang 25môn học khác nhau trong suốt quá trình học được qui định cụ thể trong chương trình đào tạo"
Những quan niệm này tuy cách nói khác nhau nhưng tất cả đều cho rằng kết quả học tập là gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học
có được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
* Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập là một trong những hoạt động quan trọng nhất của quá trình dạy học Bản chất của kiểm tra - đánh giá là thu thập
các thông tin định tính và định lượng, xử lý các thông tin đó và xác định xem mục tiêu của chương trình đào tạo, của môn học có đạt được hay không và nếu đạt được thì ở mức độ nào Kiểm tra - đánh giá là định hướng tới đích cuối cùng để người dạy hướng dẫn người học cùng vươn tới và cũng là để người học tuỳ theo năng lực của bản thân tìm cách riêng cho mình hướng tới Với nghĩa này, kiểm tra - đánh giá sẽ định hướng cách dạy của thầy và cách học của trò sao cho hiệu quả nhất, nghĩa là cùng hướng tới việc đạt mục tiêu Ngoài ra, các thông tin khai thác được từ kết quả kiểm tra - đánh giá sẽ rất hữu ích cho việc điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đồng thời giúp các nhà quản lí có những thay đổi cần thiết trong việc
tổ chức quá trình đào tạo (như điều chỉnh chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy - học)
Nếu xem chất lượng của quá trình dạy - học là sự “trùng khớp với mục tiêu” thì kiểm tra - đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của qui trình đào tạo
1.2.4 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục
Xét về mặt quản lý, có thể hiểu quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập là những tác động của chủ thể quản lý lên quá trình KTĐG kết quả học tập của người học, nhằm làm cho hoạt động KTĐG được chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng chất lượng dạy – học, từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để cải thiện thực trạng chất lượng dạy – học, cũng như chất lượng
Trang 26GD tổng thể
Hay có thể hiểu, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một bộ phận của quá trình quản lý đào tạo, nhằm làm cho hoạt động đánh giá kết quả học tập đạt hiệu quả cao hơn, tức là làm cho hoạt động đánh giá phát huy được vai trò và đảm bảo được các nguyên tắc đề ra Cụ thể là quản lý các hoạt động cơ bản sau:
- Quản lý việc xác định, mục tiêu đánh giá, lập kế hoạch đánh giá kết quả học tập; lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá kết quả học tập
- Quản lý quá trình: Quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học, nội dung chương trình, quá trình tiến hành triển khai và chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá theo kế hoạch, quản lý việc sử dụng các phương pháp và hình thức đánh giá, kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch đánh giá kết quả học tập,
rà soát lại quá trình thực hiện để đánh giá và báo cáo tổng kết về toàn bộ quy trình thực hiện hoạt động đánh giá kết quả học tập của người học
1.3 Hệ thống giáo dục mở
1.3.1 Giáo dục mở
Nền GDM có từ lâu đời Nó được đề cập đến như một triết lý, một tập hợp các thực hành và một phong trào cải cách trong giáo dục thời thơ ấu và tiểu học vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 tại Hoa
Kỳ, sau đó lan sang Anh
GDM tin tưởng vào các nguyên tắc xem trường học là một nơi để chuẩn bị “nền móng” cho một công dân năng động, chủ động, tích cực sáng tạo “phát triển” trong tương lai
GDM được thúc đẩy bởi niềm tin rằng người học mong muốn tự tổ chức việc học của mình, đặc biệt họ muốn: xác định các chủ đề quan trọng mà
họ cần học; thu nhận được các trải nghiệm giáo dục chứ không phải chỉ
Trang 27những hiểu biết thuần túy sách vở, tự chịu trách nhiệm về các quyết định giáo dục của họ
GDM có thể định nghĩa như sau : Nền GDM là nền giáo dục được thiết
kế sao cho tổ chức và hoạt động của nó có khả năng thích ứng với những đổi thay và yêu cầu mới của môi trường kinh tế- xã hội
1.3.2 Hệ thống Giáo đục mở
Hệ thống giáo dục mở trước hết là một hệ thống giáo dục tạo ra những
cơ hội học tập cho mọi đối tượng có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình
độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính và tín ngưỡng tôn giáo Khái niệm “mở” ở đây được biểu hiện là một ưu thế của hệ thống giáo dục mới gồm những thuộc tính mềm dẻo và đa dạng, khả thi trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau Nhờ đó, sự học hành của từng con người không bị hạn chế ở một lứa tuổi nào đó trong cuộc sống, mà được kéo dài
Muốn “mở” và “mềm”, hệ thống GD này cần bảo đảm tính thống nhất, nhất quán, cần được cơ cấu lại sao cho phù hợp, hạn chế tình trạng cát cứ, chia rẽ ngay trong kết cấu GD - ĐT lâu nay, tăng thêm sức mạnh quản lý
Trang 28Hệ thống giáo dục mở, xét ở khía cạnh nào đó, là sự mở rộng của nhà trường cho người lao động trở về với hệ giáo dục ban đầu nếu điều đó là cần thiết
Hệ thống giáo dục mở sẽ tạo ra những cơ hội và điều kiện để mỗi con người luôn luôn được hưởng những thành tựu khoa học và công nghệ do tri thức mới mang lại, được cập nhật những tri thức mới và được ứng dụng những tri thức mới vào công việc mình đang làm
Theo Cao Văn Phường có thể hiểu tính chất “mở” của hệ thống giáo dục ở đây thể hiện ở một cấu trúc hệ thống được thiết kế hợp lý, có nhiều đầu vào và đầu ra, trong đó các bộ phận và tầng bậc liên thông với nhau, tạo điều kiện cho mọi người học dễ dàng thâm nhập hệ thống trong cả quá trình học suốt đời
Cũng theo Phạm Tất Dong 2007 hệ thống giáo dục mở bao gồm những hình thức học tập chính quy và không chính quy nối tiếp nhau, đan xen nhau, bám sát cuộc sống của từng con người, giúp con người học hỏi liên tục suốt đời mình Chính vì thế mà đại chúng hóa đại học trở thành một vấn đề không thể không bàn đến Việc học tập suốt đời sẽ đòi hỏi sự đa dạng của các cơ sở đào tạo đại học ngoài các trường đại học chính quy để đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội và của nền kinh tế đang phát triển
1.3.3 Mục tiêu của Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong nền giáo dục mở
Mục tiêu chung của quản lý kiểm tra đánh giá trong nền GDM là làm cho công tác kiểm tra đánh giá của nhà trường có hiệu quả
Ngoài ra còn đáp ứng các mục tiêu sau :
· Mục tiêu xã hội : Nhà trường phải đáp ứng nhu cầu và thách thức của xã hội đào tạo có chất lượng phù hợp với mục tiêu và tính chất của nền GDM
Trang 29· Mục tiêu của nhà trường :
+ Là việc xây dựng một quy trình kiểm tra đánh giá tiến bộ để từng bộ phận thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của riêng nó phù hợp với mục tiêu chung của toàn trường
+ Là việc xây dựng cơ cấu, tổ chức quá trình kiểm tra đánh giá tương ứng với cơ cấu hoạt động của nhà trường trong nền GDM
· Mục tiêu chức năng và nhiệm vụ : Mỗi bộ phận trong nhà trường đều có chức năng và nhiệm vụ riêng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo, quản lý kiểm tra đánh giá trợ giúp cho các bộ phận này thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình
· Mục tiêu cá nhân : Đây là mục tiêu quan trọng vì đáp ứng được mục tiêu
cá nhân của người học và của giảng viên Một mặt sẽ động viên khích lệ sự say mê, nỗ lực học tập của sinh viên, mặt khác thúc đẩy sự phấn đấu của giảng viên đổi mới chương trình, phương pháp giảng day và nâng cao lòng yêu nghề, tinh thần tận tụy hết lòng vì thế hệ trẻ nhằm hoàn thành chương trình đào tạo một cách hiệu quả nhất, điều này sẽ dẫn tới thành công của nhà trường
1.4 Kiểm tra đánh giá trong Giáo dục Đại học
1.4.1 Hệ thống Giáo dục Đại học Việt Nam
Giáo dục đại học nước ta, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì chất lượng đầu ra còn thấp so với yêu cầu do các điều kiện đầu vào và quá trình dạy học còn nhiều bất cập Dư luận trong và ngoài hệ thống giáo dục đại học đều cho rằng chất lượng giáo dục đại học không chỉ thấp so với chuẩn mực quốc tế, khu vực mà còn ngay cả so với yêu cầu thực tiễn trong nước
Trong nhiều năm qua, giáo dục đào tạo gặp khó khăn nhiều nhất vẫn là việc đánh giá và kiểm tra do chúng ta cứ luẩn quẩn với cách đánh giá truyền thống, nêu thành tích, ít tìm ra nguyên nhân tồn tại của chính mình Do vậy, mặc dù hàng năm mỗi trường đều có rất nhiều loại tổng kết, báo cáo nhưng vẫn không tìm ra nguyên nhân của yếu kém, lạc hậu Có nhiều nguồn minh
Trang 30chứng nhận định rằng chất lượng đầu ra (người tốt nghiệp), cũng như chất lượng đào tạo của hệ thống chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và chưa đáp ứng được kỳ vọng của người sử dụng các dịch vụ mà các trường đại học cung cấp
Các cơ sở giáo dục đại học lạm dụng quyền tự chủ, như: Hạ chuẩn tuyển sinh; tuyển số sinh viên nhiều hơn khả năng đào tạo mà không tính đến
số lượng, chất lượng giảng viên, cơ sở vật chất; mở thêm ngành đào tạo ồ ạt
mà không theo một chiến lược nào, đổ xô vào ngành “hot” mà bất chấp khả năng, mục tiêu, sứ mạng của mình, làm mất cân đối lớn trong xã hội Nguyên nhân của vấn đề trên là giáo dục đại học vẫn chưa đưa vào sử dụng hệ thống chỉ số thực hiện và chuẩn mực chất lượng làm cơ sở pháp lý
Một số trường đại học tư thục đang hoạt động trong điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị chưa đủ (đi thuê của các trường khác) và sử dụng đội ngũ giảng viên cơ hữu từ các trường công lập nên việc chủ động làm việc cho các trường tư thực không thường xuyên Mặt khác, các trường tư thục không có
đủ thư viện, tài liệu và sách vở phục vụ cho việc dạy và học
Thực trạng chất lượng giáo dục đại học chưa được đánh giá thông qua các chỉ số đầu vào, chỉ số quá trình đào tạo và chỉ số kết quả đầu ra Hầu như các trường đại học chưa có thói quen sử dụng hệ thống thông tin quản lý, các thông tin chưa được xây dựng trên cơ sở số liệu thống kê mà chỉ tính toán theo chỉ số thực hiện Một vấn đề khác nữa là hệ thống giáo dục đại học nước
ta chưa hình thành nề nếp nhận thông tin định kỳ từ các cơ sở giáo dục đại học theo các chỉ số quy định, và các trường cũng không có thói quen nhận thông tin phản hồi từ người tốt nghiệp và người sử dụng lao động để có cơ sở điều chỉnh chương trình, quy trình đào tạo hiện hành; việc sử dụng hệ thống các chỉ số thực hiện và xác định các chuẩn mực chất lượng tối thiểu là cần thiết và cấp bách
Bộ máy, cơ chế và cán bộ chưa thay đổi phù hợp với phương thức quản
lý mới Hiện nay, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học vẫn còn
Trang 31làm thay công việc của các trường, (mặc dù hệ thống đang chuyển sang hướng phi tập trung hóa) mà chưa tập trung vào việc ban hành các chính sách
và quy chế đã được thông qua
Các cơ sở giáo dục đại học, một mặt vẫn yêu cầu nhiều quyền tự chủ hơn, nhưng chưa chủ động thực hiện các công việc quản lý của mình và nhất
là chưa thể hiện sự chịu trách nhiệm về chất lượng, giáo dục đại học đào tạo Tính chịu trách nhiệm chưa cao thể thiện ở sự công khai với nhà nước, cán
bộ, sinh viên và xã hội những hoạt động của nhà trường theo các quy trình, cơ chế được xây dựng và pháp lý hóa
1.4.2 Sự mở rộng các hình thức đào tạo Giáo dục đại học Việt Nam
Có thể nói chưa bao giờ nền GD của Việt Nam lại có sự bùng nổ về các hình thức đào tạo đại học như hiện nay Bên cạnh những hình thức đào tạo từ
xa, tại chức trong nước, nhiều chương trình đào tạo của các trường đại học nước ngoài cũng nở rộ tại Việt Nam dưới nhiều hình thức như đầu tư trực tiếp
mở cơ sở đào tạo, liên kết đào tạo tại chỗ, đào tạo trực tuyến… Nhờ đó người học có nhiều sự lựa chọn hơn, các chương trình này cũng đem lại cho người học rất nhiều lợi ích
“Đa dạng hoá các quá trình giáo dục – đào tạo, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa giáo dục .” (Trích Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành trung ương Đảng CSVN khoá VIII)
Luật giáo dục của nước CHXHCNVN đã chỉ rõ: “Giáo dục không chính qui bao gồm hình thức vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có hướng dẫn
là hình thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuốc sống, tìm việc làm và
Trang 32*Đào tạo từ xa cơ hội học tập cho mọi người
Hình thức giáo dục từ xa thuộc hình thức giáo dục không chính qui trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt thời gian và không gian Người học theo hình thức giáo dục từ xa chủ yếu là tự học qua học liệu như: giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường Giáo dục từ xa lấy tự học là chính, đòi hỏi người học phải tự giác, kiên trì và quyết tâm cao để hoàn thành chương trình học tập của mình (Trích Qui chế về tổ chức và đào tạo, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa, ban hành kèm theo quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/08/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Tại Việt Nam, đặc biệt từ 1994 đến nay hệ đào tạo từ xa đã thật sự là một phương thức học tập có cải tiến theo điền kiện thực tế của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Hệ đào tạo từ xa giúp sinh viên phát huy hơn nữa sự bình đẳng trong giáo dục (so với
hệ tại chức), tạo cơ hội được học tập tốt nhất cho tất cả những ai có nhu cầu học tập là được học, nó biểu thị tính nhân văn sâu sắc trong nền giáo dục mà mọi người đều có quyền bình đẳng được hưởng thụ nền giáo dục để tự hoàn thiện mình
*Tín chỉ là một phương thức đào tạo tỏ ra có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống
Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu
Trang 33của thị trường lao động ngoài xã hội Nó cho phép họ chọn trong số những môn học được thiết kế trong chương trình, nhiều trong số những môn học đó
có thể thay thế được với nhau và hữu ích như nhau
Phương thức đào tạo theo tín chỉ không những có lợi cho giáo viên và sinh viên mà còn có lợi cho các nhà quản lí ở một số khía cạnh sau
Thứ nhất, nó vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa là thước
đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên
Thứ hai, nó là cơ sở để các trường đại học tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn
nhân lực, có lợi không những cho tính toán ngân sách nội bộ mà còn cả cho việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ khác
Thứ ba, nó là cơ sở để báo cáo các số liệu của trường đại học cho các cơ quan
cấp trên và các đơn vị liên quan: một khi thước đo giờ tín chỉ được phát triển
và kiện toàn, việc sử dụng nó như là một phương tiện để giám sát bên ngoài,
để báo cáo và quản lí hành chính sẽ hữu hiệu hơn
Ở Việt Nam cách đây dăm năm đã có một số trường đại học chủ động
áp dụng phương thức đào tạo tiên tiến này Tuy nhiên, do tính toán chưa kĩ, chưa có những bước đi phù hợp và nhất là chưa lường trước được những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình áp dụng cho nên kết quả của việc áp dụng này thường không theo mong muốn; rút cuộc là công việc này thường kết thúc dở dang, và khi được hỏi quan điểm về đào tạo theo phương thức tín chỉ, câu trả lời thường là: “Khó, không áp dụng được, không phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam”
1.4.3 Ảnh hưởng của xu hướng phát triển giáo dục đại học mở tới quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Cùng với mục tiêu XHH GD, hiện nay có rất nhiều hình thức đào tạo phong phú, đáp ứng được nhu cầu của người học Đối với hình thức đào tạo truyền thống, hoạt động dạy - học diễn ra tại Trường, lớp thì qui trình đánh
Trang 34giá kết quả học tập của người học (thi/kiểm tra) diễn ra từ khâu kế hoạch - tổ chức – thực hiện – kiểm tra thanh tra Đối với hình thức đào tạo mang tính
“mở”, không phải nó có ưu điểm hơn hay có thể thay thế hình thức đào tạo truyền thống, mà nó mang tính chất xã hội hóa giáo dục Hình thức đào tạo này giúp cho người học dễ dàng có cơ hội để học tập, giảm bớt được chi phí
và thời gian đi lại trong quá trình học tập Tuy nhiên, vẫn cần phải đảm bảo chất lượng giáo dục Do đó, để đánh giá thực chất năng lực của người học, việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá năng lực thực của người học được công bằng,chính xác, khách quan, là nhiệm vụ cần thiết để giáo dục đại học đạt được chuẩn mực không những trong nước mà còn ở các nước bạn có nền giáo dục tiên tiến, đảm bảo được nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội đáp ứng được yêu cầu của thị trường về nguồn nhân lực
1.5 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá trong Giáo dục đại học
1.5.1 Xây dựng kế hoạch (hoạt động) kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Lập kế hoạch là công việc đầu tiên của mỗi tổ chức, cơ sở giáo dục phải thực hiện, để đặt ra mục tiêu, phương hướng cho tổ chức mình cần đạt tới
Kế hoạch hóa hoạt động KTĐG kết quả học tập nghĩa là hoạt động đánh giá kết quả học tập phải được thể hiện trong một kế hoạch chi tiết Kế hoạch đó có thể là kế hoạch đánh giá trong một môn học cụ thể song cũng có thể là kế hoạch đánh giá tổng thể trong một kì, một năm học, một khóa học Lợi ích của việc kế hoạch hóa trong hoạt động KTĐG kết quả học tập là giúp cho nhà quản lí có cái nhìn tổng thể, thấy được sự tương tác giữa các bộ phận trong quá trình đánh giá Kế hoạch hóa hoạt động KTĐG cho phép nhà quản
lí lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức
Kế hoạch hóa hoạt động đánh giá kết quả học tập bao gồm những nội dung chính:
Trang 35+ Xác định căn cứ để xây dựng kế hoạch đánh giá
+ Phân tích trạng thái của chủ thể và đối tượng đánh giá
+ Xác định nội dung kế hoạch đánh giá
+ Lực lượng tham gia và các mốc thời gian
+ Xác định các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch hóa
+ Phối hợp đồng thời các lực lượng
1.5.2 Quản lý tổ chức thực hiện hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học
Tổ chức triển khai hoạt động để giúp mọi người cùng làm việc với nhau, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác Chức năng trong quản lý tổ chức là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Đồng thời thực hiện chức năng này còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang – dọc
Trong giáo dục đại học, để chỉ đạo, điều hành hoạt động KTĐG kết quả học tập của người học, Hiệu trưởng cần tổ chức ra các bộ phận, phòng ban chức năng để tham mưu cho mình Ví dụ phòng Đào tạo: có chức năng tổ chức xây dựng quy chế, chương trình, kế hoạch, quản lí, tổ chức các hoạt động KTĐG (ra đề, coi thi, chấm thi, quản lí điểm …)
Chức năng tổ chức trong quản lí hoạt động KTĐG gồm những nội dung
cơ bản:
+ Xây dựng các văn bản liên quan đến hoạt động KTĐG
+ Sắp xếp nhân sự và giao nhiệm vụ
+ Tập huấn, hướng dẫn thực hiện
Trang 36quyền lực quản lý tác động đến các đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của
hệ thống
Chỉ đạo thực hiện hoạt động KTĐG gồm những nội dung:
+ Ra quyết định đánh giá
+ Thực hiện quyết định đánh giá
+ Kiểm tra việc thực hiện các quyết định
+ Nhận biết thông tin điều chỉnh
+ Tổng kết rút kinh nghiệm
Điểm then chốt ở đây chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và nghệ thuật quản lí của nhà quản lí trong việc điều phối các lực lượng tạo thành sức mạnh tổng hợp của tổ chức hoàn thành các mục tiêu đánh giá đã xác định
1.5.4 Kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong nền giáo dục đại học
Trong bất kì hoạt động quản lí nào nếu bỏ qua công đoạn kiểm tra đồng nghĩa với việc không có sự quản lí Kiểm tra vừa đóng vai trò là phương tiện của quản lí vừa là chức năng của một hoạt động quản lí
Kiểm tra GV thực hiện kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong quá trình giảng dạy: GV chịu trách nhiệm từ khâu ra đề, tổ chức kiểm tra, chấm bài thi đến khi công bố điểm cho SV Trước khi kết thúc môn học, kết quả kiểm tra định kỳ được GV nộp cho khoa phụ trách môn học, kết quả kiểm tra được GV nộp cho khoa phụ trách môn học hoặc bộ phận quản lý của trường Đánh giá công việc của GV được bộ phận quản lý của nhà trường thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau
Thanh tra, kiểm tra các khâu trong kỳ thi kết thúc môn học:
+Thi kết thúc môn học trong trường ĐH gồm các khâu chính là ra đề thi, coi thi, chấm thi, quản lý và xử lý điểm
Trang 37+Việc ra đề thi thường được nhà trường giao cho GV dạy môn học đảm nhiệm, do đó không tránh khỏi tình trạng “thi gì, dạy nấy” Trong quy chế cũng như quy định của nhà trường thì đề thi kết thúc môn học phải do tổ trưởng bộ môn duyệt trước khi nộp cho bộ phận quản lý
+Coi thi là công việc thuần túy, chỉ mang tính chất nghiệp vụ và cần huy động nhiều người tham gia nên rất cần được thanh tra
+Ra đề và chấm thi là hai khâu có tính chất chuyên môn, chủ yếu do
GV thực hiện, đòi hỏi GV vừa phải có chuyên môn, vừa có nghiệp vụ Đây là khâu ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng kiểm tra đánh giá Các khâu sao in
đề hay quản lý điểm là công việc nghiệp vụ nhưng chỉ có sự tham gia của một
số ít cán bộ quản lý nên dễ xảy ra tiêu cực mà khó phát hiện
1.5.5 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở
Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong
hệ thống giáo dục mở về cơ bản vẫn là đánh giá theo quá trình và đánh giá kết quả, yếu tố cốt lõi của nó vẫn là để đảm bảo chất lượng đào tạo, chất lượng dầu ra và cả quá trình thực hiện nhưng về phương thức thực hiện cần vừa phải đáp ứng những nguyên tắc cơ bản của đảm bảo chất lượng vừa phải đáp ứng tính đa dạng, mềm dẻo và dễ liên thông của GDM Nói cách khác cần “dĩ bất biến ứng vạn biến”1 tức là lấy cái chất lượng làm bất biến và phương thức thì vạn biến
Theo quan điểm của cá nhân tác giả thì quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở sẽ được thực hiện theo quy trình Kế - Tổ - Đạo – Kiểm, nhưng việc tổ chức thực hiện sẽ phù hợp với các hình thức đào tạo cả chính qui và không chính qui Có thể tổchức thi qua mạng internet, có ngân hàng đề thi, bài tập, việc chấm thi sẽ do máy tính (được cài đặt phần mềm), sử dụng CNTT để đảm bảo độ tin cậy Ví
1
Câu nói Hồ Chủ tịch dặn dò cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi rời Việt Nam đi dự Hội nghị Fontainebleaux
Trang 38dụ: Việc tổ chức thi: SV học tập tại các trung tâm trực thuộc Trường sẽ được
tổ chức thi online (thi trực tuyến trên máy), SV được cấp mã dự thi, có ngày giờ thi qui định Ngân hàng câu hỏi sẽ do máy chủ đặt tại Trường (do Trung tâm kiểm tra đánh giá độc lập tại Trường Kiểm soát), sau mỗi câu hỏi thi sẽ
có đáp án và máy tính sẽ chấm điểm Số điểm của mỗi SV sẽ được lưu vào Hệ thống phần mềm của toàn trường, Phòng Đào tạo có chức năng theo dõi điểm của SV, cuối mỗi kỳ Phòng Đào tạo hệ thống điểm học phần của SV và chuyển về các Khoa, các Khoa có nhiệm vụ in và gửi về gia đình cho từng SV
để thông báo kết quả học tập của con, em mình
1.6 Những yếu tố tác động đến hiệu quả của hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong hệ thống giáo dục mở
1.6.1 Nhận thức về vai trò của hoạt động kiểm tra đánh giá
Nhận thức đúng thì mới có hành động đúng đắn, đây là yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến quản lý nói chung và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập nói riêng Nhận thức không đúng sẽ dẫn đến hàng loạt những hành động như: bệnh thành tích, Cán bộ QL, GV, SV không nghiêm túc thực hiện quy định, qui chế; SV đối phó với kiểm tra đánh giá, gian lận trong thi cử; xã hội coi trọng bằng cấp …
1.6.2 Nghiệp vụ của cán bộ tham gia hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên
- Cán bộ quản lý: Có định hướng và hoạt động cụ thể, sát thực để quản lí tốt
và đảm bảo quyền lợi cho sinh viên phù hợp với phương thức đào tạo mới Công tác quản lí hồ sơ sinh viên: thay vì quản lí theo ngành của từng khóa đào tạo niên chế, quản lí cụ thể hồ sơ của từng SV
- Giảng viên: Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động
kiểm tra đánh giá và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kiểm tra đánh giá
GV là người đảm nhiệm nhiều công việc trong qui trình kiểm tra đánh giá: thường xuyên, định kỳ, kết thúc môn học; trong đó công việc chủ yếu mà họ phải đảm nhiệm là ra đề thi và chấm bài, đánh giá SV Ra đề phải bám sát
Trang 39mục tiêu môn học đảm bảo đánh giá được toàn diện và chính xác năng lực của SV; chấm khi phải chính xác, khách quan, công bằng; đánh giá việc học tập của SV phải đảm bảo thông tin phản hồi đầy đủ, kịp thời và hợp lý để tạo động cơ thúc đẩy SV học tập tốt hơn Cán bộ QL có nghiệp vụ để thực hiện hoặc tổ chứ thực hiện các công việc liên quan đến kiểm tra đánh giá; hơn nữa phải đánh giá được hiệu quả công việc của GV, quy trình kiểm tra đánh giá
1.6.3 Các chế độ, chính sách của Nhà nước và qui định của Nhà trường
* Nghị Quyết 29 đã chỉ rõ định hướng đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục sẽ được đổi mới theo hướng:
- Đổi mới cả nội dung, phương pháp đánh giá (kiểm tra, thi hết môn, thi lên lớp, thi tốt nghiệp) Chuyển từ đánh giá kiến thức mà người học nắm được sang đánh giá việc hình thành năng lực, phẩm chất của người học
- Kết hợp chặt chẽ kết quả đánh giá định kì của người dạy với kết quả thi, đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường và đánh giá của xã hội
- Tách bạch đánh giá kết quả học tập của từng học sinh với đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường, địa phương và cả nước
- Giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng trong tuyển sinh theo hướng: Các trường lập phương án tuyển sinh của mình theo hướng dẫn, quy định, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, để các trường tăng thêm quyền chủ động và đảm bảo công tác tuyển sinh được thực hiện nghiêm túc
* Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá được coi là giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam là vì:
- Trong bối cảnh của Việt Nam, khi giáo dục nặng về ứng thí và tâm lí sính bằng cấp khá phổ biến trong xã hội thì công tác kiểm tra, thi, đánh giá có
Trang 40kiểm tra, thi, đánh giá sẽ có tác động trở lại đến toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy và học trong các nhà trường Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá không đòi hỏi tốn kém nhiều kinh phí
- Hiện trạng công tác kiểm tra, thi, đánh giá của cả hệ thống nước ta còn có nhiều hạn chế, lạc hậu từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lí, sử dụng kết quả; coi việc đánh giá kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra…; cách tổ chức còn nặng
nề, tốn kém… Do đó, để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nhất thiết phải thực hiện ngay việc đổi mới kiểm tra, đánh giá và thi cử
1.6.4 Công tác chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra của các cấp quản lý
Việc thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian qua đã tạo ra một bước chuyển biến tích cực Tính đến ngày 31/12/2011 đã có 270 trường đại học, cao đẳng xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo; 314 trường
tổ chức rà soát, bổ sung các chỉ số trong chiến lược phát triển trường giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; 294 trường đại học, cao đẳng cam kết chất lượng đào tạo Bên cạnh những thành công đó, vẫn còn một số hạn chế:
- Việc phân cấp, giao quyền tự chủ cho các trường thời gian qua đã xuất hiện một số trường hợp chấp hành chưa nghiêm kỷ cương pháp luật, dẫn tới nhiều sai phạm như: xác định chỉ tiêu không đúng với thực tế; liên tục tuyển sinh vượt chỉ tiêu; thực hiện liên kết đào tạo (trong nước và quốc tế) sai quy định
- Công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học còn chậm so với kế hoạch, chất lượng văn bản chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
- Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học chậm được triển khai; công tác thanh tra, kiểm tra chưa phát huy được hiệu quả, chưa trở