Những yếu tố tác động đến hiệu quả của hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong hệ thống giáo dục mở

Một phần của tài liệu Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở tại Trường Đại học Hòa Bình (Trang 38 - 45)

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP BẬC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ

1.6. Những yếu tố tác động đến hiệu quả của hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong hệ thống giáo dục mở

1.6.1. Nhận thức về vai trò của hoạt động kiểm tra đánh giá

Nhận thức đúng thì mới có hành động đúng đắn, đây là yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến quản lý nói chung và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập nói riêng. Nhận thức không đúng sẽ dẫn đến hàng loạt những hành động như: bệnh thành tích, Cán bộ QL, GV, SV không nghiêm túc thực hiện quy định, qui chế; SV đối phó với kiểm tra đánh giá, gian lận trong thi cử; xã hội coi trọng bằng cấp …

1.6.2. Nghiệp vụ của cán bộ tham gia hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên

- Cán bộ quản lý: Có định hướng và hoạt động cụ thể, sát thực để quản lí tốt và đảm bảo quyền lợi cho sinh viên phù hợp với phương thức đào tạo mới.

Công tác quản lí hồ sơ sinh viên: thay vì quản lí theo ngành của từng khóa đào tạo niên chế, quản lí cụ thể hồ sơ của từng SV.

- Giảng viên: Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động kiểm tra đánh giá và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kiểm tra đánh giá.

GV là người đảm nhiệm nhiều công việc trong qui trình kiểm tra đánh giá:

thường xuyên, định kỳ, kết thúc môn học; trong đó công việc chủ yếu mà họ phải đảm nhiệm là ra đề thi và chấm bài, đánh giá SV. Ra đề phải bám sát

mục tiêu môn học đảm bảo đánh giá được toàn diện và chính xác năng lực của SV; chấm khi phải chính xác, khách quan, công bằng; đánh giá việc học tập của SV phải đảm bảo thông tin phản hồi đầy đủ, kịp thời và hợp lý để tạo động cơ thúc đẩy SV học tập tốt hơn. Cán bộ QL có nghiệp vụ để thực hiện hoặc tổ chứ thực hiện các công việc liên quan đến kiểm tra đánh giá; hơn nữa phải đánh giá được hiệu quả công việc của GV, quy trình kiểm tra đánh giá.

1.6.3. Các chế độ, chính sách của Nhà nước và qui định của Nhà trường

* Nghị Quyết 29 đã chỉ rõ định hướng đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục sẽ được đổi mới theo hướng:

- Đổi mới cả nội dung, phương pháp đánh giá (kiểm tra, thi hết môn, thi lên lớp, thi tốt nghiệp). Chuyển từ đánh giá kiến thức mà người học nắm được sang đánh giá việc hình thành năng lực, phẩm chất của người học.

- Kết hợp chặt chẽ kết quả đánh giá định kì của người dạy với kết quả thi, đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường và đánh giá của xã hội.

- Tách bạch đánh giá kết quả học tập của từng học sinh với đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường, địa phương và cả nước.

- Giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng trong tuyển sinh theo hướng: Các trường lập phương án tuyển sinh của mình theo hướng dẫn, quy định, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, để các trường tăng thêm quyền chủ động và đảm bảo công tác tuyển sinh được thực hiện nghiêm túc.

* Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá được coi là giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam là vì:

- Trong bối cảnh của Việt Nam, khi giáo dục nặng về ứng thí và tâm lí sính bằng cấp khá phổ biến trong xã hội thì công tác kiểm tra, thi, đánh giá có

kiểm tra, thi, đánh giá sẽ có tác động trở lại đến toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy và học trong các nhà trường. Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá không đòi hỏi tốn kém nhiều kinh phí.

- Hiện trạng công tác kiểm tra, thi, đánh giá của cả hệ thống nước ta còn có nhiều hạn chế, lạc hậu từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lí, sử dụng kết quả; coi việc đánh giá kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra…; cách tổ chức còn nặng nề, tốn kém… Do đó, để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nhất thiết phải thực hiện ngay việc đổi mới kiểm tra, đánh giá và thi cử.

1.6.4. Công tác chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra của các cấp quản lý

Việc thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian qua đã tạo ra một bước chuyển biến tích cực. Tính đến ngày 31/12/2011 đã có 270 trường đại học, cao đẳng xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo; 314 trường tổ chức rà soát, bổ sung các chỉ số trong chiến lược phát triển trường giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; 294 trường đại học, cao đẳng cam kết chất lượng đào tạo. Bên cạnh những thành công đó, vẫn còn một số hạn chế:

- Việc phân cấp, giao quyền tự chủ cho các trường thời gian qua đã xuất hiện một số trường hợp chấp hành chưa nghiêm kỷ cương pháp luật, dẫn tới nhiều sai phạm như: xác định chỉ tiêu không đúng với thực tế; liên tục tuyển sinh vượt chỉ tiêu; thực hiện liên kết đào tạo (trong nước và quốc tế) sai quy định.

- Công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học còn chậm so với kế hoạch, chất lượng văn bản chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

- Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học chậm được triển khai; công tác thanh tra, kiểm tra chưa phát huy được hiệu quả, chưa trở

thành công cụ quan trọng của quản lý nhà nước về giáo dục đại học.

- Việc thực hiện ba công khai còn mang tính hình thức, đối phó, nhiều trường chỉ công khai mức học phí, một số hoạt động đào tạo dẫn đến thiếu thông tin cho người học, công tác kiểm tra, giám sát bị hạn chế.

- Chương trình đào tạo chậm đổi mới, không gắn với thực tiễn; các công nghệ mới và hiện đại về giáo dục đại học chưa được nghiên cứu và áp dụng; phương pháp giảng dạy lạc hậu; khoa học về đánh giá chưa được nghiên cứu và áp dụng.

- Môi trường sư phạm trong nhà trường chưa được quan tâm xây dựng, việc nể nang, giảm nhẹ yêu cầu trong thi cử, đánh giá đã ảnh hưởng tới động cơ học tập của người học, tình trạng gian lận trong thi cử, sao chép luận văn, luận án, các đề tài khoa học trong các cơ sở đào tạo vẫn còn xảy ra.

- Xây dựng và công bố chuẩn đầu ra của các trường còn mang tính hình thức, chưa xác định rõ mục tiêu đào tạo, triển khai thực hiện chương trình; chuẩn đầu ra của nhiều ngành trong cùng một trường đều “na ná”

giống nhau. Các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa đi vào thực chất, thiếu các giải pháp tổng thể để nâng cao chất lượng đào tạo.

- Tổ chức triển khai Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở một số trường còn chậm, thiếu quyết liệt và còn mang tính hình thức, đối phó, hiệu quả không cao, cá biệt có một số cán bộ, giảng viên và một bộ phận sinh viên còn thờ ơ, nhận thức thiếu đầy đủ, chưa đúng mức.

1.6.5. Yếu tố tài chính, điều kiên cơ sở vật chất, môi trường đảm bảo cho công tác kiểm tra đánh giá

Kinh phí đầu tư cho thiết bị điện tử, hệ thống mạng máy tính cho hoạt động dạy – học, kiểm tra – đánh giá là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kiểm tra đánh giá trong hệ thống giáo dục mở. Ví dụ với hình thức

kết nối mạng hoạt động tốt, sinh viên sẽ được làm bài kiểm tra trên máy một cách hiệu quả và hình thức chấm điểm thi/kiểm tra trên máy tính bởi phần mềm chấm điểm sẽ đem lại kết quả chính xác, khách quan.

Bên cạnh đó còn có những môn học yêu cầu chấm điểm thực hành yêu cầu cần có phòng thí nghiệm, xưởng máy thực hành … Đối với các trường công lập, được sự hỗ trợ từ nhà nước về đất đai, về thiết bị máy móc…, việc đầu tư chi thiết bị hiện đại, đáp ứng được yêu cầu thực hành, thi/kiểm tra trên máy là chuyện trong “tầm tay”, còn đối với các trường tư thục, ngoài công lập, chỉ dựa trên nguồn thu từ việc thu học phí của sinh viên thì việc đầu tư về cơ sở vật chất còn rất khó khăn, chưa nói đến vấn đề thiết bị đầy đủ để có thể diễn ra hoạt động dạy – học và hơn cả thiết bị phải đảm bảo yêu cầu hiện đại là vấn đề rất nan giải. Tuy nhiên, nếu có cơ chế và phương thức quản lý phù hợp, nghiêm túc, chặt chẽ trong khâu tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra thì hoạt động kiểm tra đánh giá năng lực của người học về cơ bản vẫn đảm bảo được yêu cầu chính xác, khách quan và công bằng.

1.6.6. Yếu tố Giáo dục Mở và hệ thống Giáo dục Mở

Việc mở cửa nhà trường cho xã hội trong nền GDM để xây dựng một hệ thống GDM có tính đa dạng cả về chương trình, địa điểm và phương thức, mềm dẻo, dễ liên thông, thích ứng với những đối tượng người học rất khác nhau về độ tuổi, trình độ, ngành nghề và tâm nguyên v.v... tạo nên một thách thức rất lớn đối với công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá. Thách thức này đòi hỏi phải có sự thay đổi về cơ bản tất cả các khâu trong quy trình quản lý từ việc lập kế hoạch, lập lịch trình thi cử, tổ chức bộ máy và nhân sự chịu trách nhiệm việc kiểm tra đánh giá, đến việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch. Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường khi mà các yêu tố tác động rất mạnh mẽ đến giáo dục và trước tiên là hệ thống thi cử, kiểm tra đánh giá thì công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá càng bị nhiều áp lực hơn bao giờ hết.

1.6.7. Yếu tố ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá Trong hệ thống GDM, CNTT đóng vai trò hết sức quan trọng do tính chất loại hình đào tạo về thời gian, địa điểm đào tạo khác nhau: học qua internet, email, Google … Với sự xuất hiện của ICT, việc học dần dần diễn tra trên Web sinh viên tương tác với nhau và với giảng viên qua các diễn đàn trực tuyến, ví dụ như “khóa học mở trực tuyến quy mô lớn” (massive open online course - MOOC) để cung cấp các chương trình học bậc đại học với một dải rộng ngành học miễn phí cho người học trên toàn thế giới. Điều này đòi hỏi việc kiểm tra đánh giá cũng phải áp dụng những thành tựu của CNTT cho những lớp học quy mô lớn như thế.

Trong hai đến ba năm tới chúng ta sẽ bắt đầu thấy hai công nghệ đang ngày càng được quan tâm trong giáo dục đại học: học tập dựa trên các trò chơi và phân tích dữ liệu lớn về quá trình học tập. Game giáo dục hứa hẹn mang những trải nghiệm học tập hấp hẫn hơn cho người học, đồng thời cải thiện các kỹ năng quan trọng như hợp tác, sáng tạo và tư duy phản biện.

Các phân tích dữ liệu lớn đã thu hút được nhiều sự chú ý do khả năng tổng hợp dữ liệu về các hoạt động học tập của người học trong một khoảng thời gian xác định là rất cần thiết. Kết quả phân tích được đưa ra sẽ tạo nên sự thay đổi cấu trúc của các yếu tố trong hoạt động giáo dục – các trường học có thể sử dụng dữ liệu này để điều chỉnh chương trình học, phương thức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá của giáo viên và các hoạt động học tập để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học.

Tiểu kết chương 1

Chương I đã trình bày những nội dung rất cơ bản về KTĐG kết quả học tập và quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của người học. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số kinh nghiệm nghiên cứu về hoạt động KTĐG ở một số Trường Đại học, Cao đảng trong nước.

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ĐG kết quả học tập, luận văn đã đưa ra một khái niệm về ĐG kết quả học tập, trong đó gồm 2 mục đích rất quan trọng của KTĐG, đó là xác nhận kết quả học tập của người học và giúp cải thiện quá trình dạy học. Bên cạnh đó, khái niệm HTGD ”mở”, một khái niệm tuy không mới, nhưng cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau.

Xong có thể hiểu HTGD ”mở” là HTGD bao gồm những hình thức học tập chính quy và không chính quy nối tiếp nhau, đan xen nhau, bám sát cuộc sống của từng con người, giúp con người học hỏi liên tục suốt đời mình.

KTĐG kết quả học tập của người học phải được quản lý để đảm bảo tốt nhất những mục tiêu KTĐG đề ra, đồng thời đáp ứng yêu cầu của xã hội. Nội dung về quản lý KTĐG kết quả học tập bao gồm khái niệm, các cách tiếp cận được trình bày trong Chương 1 là sự kết hợp lý thuyết về khoa học quản lý với lý luận về KTĐG kết quả học tập. Tiếp cận quản lý KTĐG theo quá trình và theo chức năng đòi hỏi các cấp quản lý phải quản lý tốt tất cả các khâu trong quy trình KTĐG bằng cách thực hiện tốt 4 chức năng quản lý: ”Kế - Tổ - Đạo – Kiểm”. Quản lý KTĐG kết quả học tập có sự tham gia của nhiều đối tượng như CBQL, GV và người học.

Kết quả KTĐG là mối quan tâm không những của người học mà của toàn xã hội, cho nên nhà quản lý cần phải quan tâm toàn diện đến 03 nội dung được trình bày: quá trình KTĐG, các chức năng quản lý KTĐG và các yếu tố ảnh hưởng.

Với những nội dung nêu trên, Chương 1 sẽ tạo tiền đề cho việc xác định thực trạng quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của người học ở chương sau và là căn cứ khoa học để tác giả đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập bậc đại học trong HTGD mở và áp dụng tại Trường Đại học Hòa Bình.

CHƯƠNG 2

Một phần của tài liệu Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở tại Trường Đại học Hòa Bình (Trang 38 - 45)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)