CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP BẬC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ
1.2. Các khái niệm cơ bản
Quản lý là một quá trình tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên khách thể/đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
1.2.2. Quản lý Nhà trường
Quản lý nhà trường (QLNT), một dạng đặc biệt cuả quản lý, là quá trình hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra của chủ thể quản lý tới quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường nhằm đạt tới các mục tiêu giáo dục đã xác định.
1.2.3. Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
* Kiểm tra - đánh giá: là một khâu quan trọng của quá trình quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói chung.
Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình quản lý nhằm có được thông tin về tình trạng và kết quả hoạt động của đơn vị, của tổ chức, về những
nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp phù hợp, đem lại hiệu quả cho hoạt động của tổ chức đó.
Hoạt động đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý nói chung và trong quản lý giáo dục nói riêng. Quản lý giáo dục để tạo ra sự thay đổi tích cực trong mỗi cơ sở giáo dục cũng như mỗi con người. Muốn biết những biến đổi đó diễn ra ở mức độ nào, cần phải tiến hành một loạt công việc (đó là hoạt động đánh giá) có liên quan mật thiết với nhau như phải xây dựng thước đo để đo đạc cái cần đo (đo lường); phải xác định mức độ của cái được đo theo chuẩn mực đưa ra (đánh giá); phải chỉ ra giá trị của cái vừa đo trong mối tương quan nào đó (định giá trị).
Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra, bao giờ cũng đi liền với kiểm tra. Trong đánh giá, ngoài sự đo lường một cách khách quan dựa trên kiểm tra (hay trắc nghiệm). Còn có ý kiến bình luận, nhận xét, phê phán mang tính chủ quan để tiến tới sự phán xét.
Đánh giá giáo dục là “Sự thu thập, chỉnh lí, xử lí, phân tích một cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về sự nghiệp giáo dục, để rồi phán đoán giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, nâng cao trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng xã hội”.
* Học tập: là quá trình chuyển kiến thức của người khác thành kiến thức của mình, là sự lĩnh hội kiến thức, tiếp thu những gì mới mẻ cũng như rèn luyện những kỹ năng đã được người khác truyền lại, ôn lại những gì đã biết ..
* Kết quả học tập: “ Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của người học về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” (James Madison University, 2003: James O. Nichols, 2002). Hay “Kết quả học tập là kết quả của một môn học, một chuyên ngành hay của cả một khóa đào tạo.”, “Kết quả học tập của sinh viên bao gồm các kiến thức , kĩ năng, thái độ mà học có được. Các kiến thức, kĩ năng này được tích lũy từ các
môn học khác nhau trong suốt quá trình học được qui định cụ thể trong chương trình đào tạo".
Những quan niệm này tuy cách nói khác nhau nhưng tất cả đều cho rằng kết quả học tập là gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học có được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
* Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập là một trong những hoạt động quan trọng nhất của quá trình dạy học. Bản chất của kiểm tra - đánh giá là thu thập các thông tin định tính và định lượng, xử lý các thông tin đó và xác định xem mục tiêu của chương trình đào tạo, của môn học có đạt được hay không và nếu đạt được thì ở mức độ nào. Kiểm tra - đánh giá là định hướng tới đích cuối cùng để người dạy hướng dẫn người học cùng vươn tới và cũng là để người học tuỳ theo năng lực của bản thân tìm cách riêng cho mình hướng tới.
Với nghĩa này, kiểm tra - đánh giá sẽ định hướng cách dạy của thầy và cách học của trò sao cho hiệu quả nhất, nghĩa là cùng hướng tới việc đạt mục tiêu.
Ngoài ra, các thông tin khai thác được từ kết quả kiểm tra - đánh giá sẽ rất hữu ích cho việc điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đồng thời giúp các nhà quản lí có những thay đổi cần thiết trong việc tổ chức quá trình đào tạo (như điều chỉnh chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy - học).
Nếu xem chất lượng của quá trình dạy - học là sự “trùng khớp với mục tiêu” thì kiểm tra - đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của qui trình đào tạo.
1.2.4. Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục Xét về mặt quản lý, có thể hiểu quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập là những tác động của chủ thể quản lý lên quá trình KTĐG kết quả học tập của người học, nhằm làm cho hoạt động KTĐG được chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng chất lượng dạy – học, từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để cải thiện thực trạng chất lượng dạy – học, cũng như chất lượng
GD tổng thể.
Hay có thể hiểu, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một bộ phận của quá trình quản lý đào tạo, nhằm làm cho hoạt động đánh giá kết quả học tập đạt hiệu quả cao hơn, tức là làm cho hoạt động đánh giá phát huy được vai trò và đảm bảo được các nguyên tắc đề ra. Cụ thể là quản lý các hoạt động cơ bản sau:
- Quản lý việc xác định, mục tiêu đánh giá, lập kế hoạch đánh giá kết quả học tập; lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá kết quả học tập.
- Quản lý quá trình: Quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học, nội dung chương trình, quá trình tiến hành triển khai và chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá theo kế hoạch, quản lý việc sử dụng các phương pháp và hình thức đánh giá, kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch đánh giá kết quả học tập, rà soát lại quá trình thực hiện để đánh giá và báo cáo tổng kết về toàn bộ quy trình thực hiện hoạt động đánh giá kết quả học tập của người học.
1.3. Hệ thống giáo dục mở 1.3.1. Giáo dục mở
Nền GDM có từ lâu đời. Nó được đề cập đến như một triết lý, một tập hợp các thực hành và một phong trào cải cách trong giáo dục thời thơ ấu và tiểu học vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 tại Hoa Kỳ, sau đó lan sang Anh.
GDM tin tưởng vào các nguyên tắc xem trường học là một nơi để chuẩn bị “nền móng” cho một công dân năng động, chủ động, tích cực sáng tạo “phát triển”. trong tương lai.
GDM được thúc đẩy bởi niềm tin rằng người học mong muốn tự tổ chức việc học của mình, đặc biệt họ muốn: xác định các chủ đề quan trọng mà họ cần học; thu nhận được các trải nghiệm giáo dục chứ không phải chỉ
những hiểu biết thuần túy sách vở, tự chịu trách nhiệm về các quyết định giáo dục của họ.
GDM có thể định nghĩa như sau : Nền GDM là nền giáo dục được thiết kế sao cho tổ chức và hoạt động của nó có khả năng thích ứng với những đổi thay và yêu cầu mới của môi trường kinh tế- xã hội.
1.3.2. Hệ thống Giáo đục mở
Hệ thống giáo dục mở trước hết là một hệ thống giáo dục tạo ra những cơ hội học tập cho mọi đối tượng có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính và tín ngưỡng tôn giáo.
Khái niệm “mở” ở đây được biểu hiện là một ưu thế của hệ thống giáo dục mới gồm những thuộc tính mềm dẻo và đa dạng, khả thi trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau. Nhờ đó, sự học hành của từng con người không bị hạn chế ở một lứa tuổi nào đó trong cuộc sống, mà được kéo dài suốt đời.
Ngày nay, một hệ thống GD có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong một thị trường lao động đầy yếu tố chuyển dịch đa dạng và linh hoạt bất ngờ, tạo khả năng hội nhập thời hiện đại cần phải “Mở” và
“mềm” (dẻo).
Hệ thống GD “mở” và "mềm" phải bảo đảm nguyên tắc phân hóa mềm dẻo, liên thông giữa các ngành học (dạy nghề, trung cấp CN, cao đẳng, đại học), đáp ứng yêu cầu học tập từ trẻ mầm non đến người lao động bình thường, theo ba mục tiêu: “Dân trí, nhân lực, nhân tài”.
Muốn “mở” và “mềm”, hệ thống GD này cần bảo đảm tính thống nhất, nhất quán, cần được cơ cấu lại sao cho phù hợp, hạn chế tình trạng cát cứ, chia rẽ ngay trong kết cấu GD - ĐT lâu nay, tăng thêm sức mạnh quản lý.
Hệ thống giáo dục mở, xét ở khía cạnh nào đó, là sự mở rộng của nhà trường cho người lao động trở về với hệ giáo dục ban đầu nếu điều đó là cần thiết.
Hệ thống giáo dục mở sẽ tạo ra những cơ hội và điều kiện để mỗi con người luôn luôn được hưởng những thành tựu khoa học và công nghệ do tri thức mới mang lại, được cập nhật những tri thức mới và được ứng dụng những tri thức mới vào công việc mình đang làm.
Theo Cao Văn Phường có thể hiểu tính chất “mở” của hệ thống giáo dục ở đây thể hiện ở một cấu trúc hệ thống được thiết kế hợp lý, có nhiều đầu vào và đầu ra, trong đó các bộ phận và tầng bậc liên thông với nhau, tạo điều kiện cho mọi người học dễ dàng thâm nhập hệ thống trong cả quá trình học suốt đời.
Cũng theo Phạm Tất Dong 2007 hệ thống giáo dục mở bao gồm những hình thức học tập chính quy và không chính quy nối tiếp nhau, đan xen nhau, bám sát cuộc sống của từng con người, giúp con người học hỏi liên tục suốt đời mình. Chính vì thế mà đại chúng hóa đại học trở thành một vấn đề không thể không bàn đến. Việc học tập suốt đời sẽ đòi hỏi sự đa dạng của các cơ sở đào tạo đại học ngoài các trường đại học chính quy để đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội và của nền kinh tế đang phát triển.
1.3.3. Mục tiêu của Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong nền giáo dục mở
Mục tiêu chung của quản lý kiểm tra đánh giá trong nền GDM là làm cho công tác kiểm tra đánh giá của nhà trường có hiệu quả.
Ngoài ra còn đáp ứng các mục tiêu sau :
ã Mục tiờu xó hội : Nhà trường phải đỏp ứng nhu cầu và thỏch thức của xó hội đào tạo có chất lượng phù hợp với mục tiêu và tính chất của nền GDM.
ã Mục tiờu của nhà trường :
+ Là việc xây dựng một quy trình kiểm tra đánh giá tiến bộ để từng bộ phận thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của riêng nó phù hợp với mục tiêu chung của toàn trường.
+ Là việc xây dựng cơ cấu, tổ chức quá trình kiểm tra đánh giá tương ứng với cơ cấu hoạt động của nhà trường trong nền GDM.
ã Mục tiờu chức năng và nhiệm vụ : Mỗi bộ phận trong nhà trường đều cú chức năng và nhiệm vụ riêng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo, quản lý kiểm tra đánh giá trợ giúp cho các bộ phận này thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình.
ã Mục tiờu cỏ nhõn : Đõy là mục tiờu quan trọng vỡ đỏp ứng được mục tiờu cá nhân của người học và của giảng viên. Một mặt sẽ động viên khích lệ sự say mê, nỗ lực học tập của sinh viên, mặt khác thúc đẩy sự phấn đấu của giảng viên đổi mới chương trình, phương pháp giảng day và nâng cao lòng yêu nghề, tinh thần tận tụy hết lòng vì thế hệ trẻ nhằm hoàn thành chương trình đào tạo một cách hiệu quả nhất, điều này sẽ dẫn tới thành công của nhà trường.