Kiểm tra đánh giá trong Giáo dục Đại học

Một phần của tài liệu Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở tại Trường Đại học Hòa Bình (Trang 29 - 34)

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP BẬC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ

1.4. Kiểm tra đánh giá trong Giáo dục Đại học

Giáo dục đại học nước ta, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì chất lượng đầu ra còn thấp so với yêu cầu do các điều kiện đầu vào và quá trình dạy học còn nhiều bất cập. Dư luận trong và ngoài hệ thống giáo dục đại học đều cho rằng chất lượng giáo dục đại học không chỉ thấp so với chuẩn mực quốc tế, khu vực mà còn ngay cả so với yêu cầu thực tiễn trong nước

Trong nhiều năm qua, giáo dục đào tạo gặp khó khăn nhiều nhất vẫn là việc đánh giá và kiểm tra do chúng ta cứ luẩn quẩn với cách đánh giá truyền thống, nêu thành tích, ít tìm ra nguyên nhân tồn tại của chính mình. Do vậy, mặc dù hàng năm mỗi trường đều có rất nhiều loại tổng kết, báo cáo nhưng

chứng nhận định rằng chất lượng đầu ra (người tốt nghiệp), cũng như chất lượng đào tạo của hệ thống chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và chưa đáp ứng được kỳ vọng của người sử dụng các dịch vụ mà các trường đại học cung cấp.

Các cơ sở giáo dục đại học lạm dụng quyền tự chủ, như: Hạ chuẩn tuyển sinh; tuyển số sinh viên nhiều hơn khả năng đào tạo mà không tính đến số lượng, chất lượng giảng viên, cơ sở vật chất; mở thêm ngành đào tạo ồ ạt mà không theo một chiến lược nào, đổ xô vào ngành “hot” mà bất chấp khả năng, mục tiêu, sứ mạng của mình, làm mất cân đối lớn trong xã hội. Nguyên nhân của vấn đề trên là giáo dục đại học vẫn chưa đưa vào sử dụng hệ thống chỉ số thực hiện và chuẩn mực chất lượng làm cơ sở pháp lý.

Một số trường đại học tư thục đang hoạt động trong điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị chưa đủ (đi thuê của các trường khác) và sử dụng đội ngũ giảng viên cơ hữu từ các trường công lập nên việc chủ động làm việc cho các trường tư thực không thường xuyên. Mặt khác, các trường tư thục không có đủ thư viện, tài liệu và sách vở phục vụ cho việc dạy và học.

Thực trạng chất lượng giáo dục đại học chưa được đánh giá thông qua các chỉ số đầu vào, chỉ số quá trình đào tạo và chỉ số kết quả đầu ra. Hầu như các trường đại học chưa có thói quen sử dụng hệ thống thông tin quản lý, các thông tin chưa được xây dựng trên cơ sở số liệu thống kê mà chỉ tính toán theo chỉ số thực hiện. Một vấn đề khác nữa là hệ thống giáo dục đại học nước ta chưa hình thành nề nếp nhận thông tin định kỳ từ các cơ sở giáo dục đại học theo các chỉ số quy định, và các trường cũng không có thói quen nhận thông tin phản hồi từ người tốt nghiệp và người sử dụng lao động để có cơ sở điều chỉnh chương trình, quy trình đào tạo hiện hành; việc sử dụng hệ thống các chỉ số thực hiện và xác định các chuẩn mực chất lượng tối thiểu là cần thiết và cấp bách.

Bộ máy, cơ chế và cán bộ chưa thay đổi phù hợp với phương thức quản lý mới. Hiện nay, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học vẫn còn

làm thay công việc của các trường, (mặc dù hệ thống đang chuyển sang hướng phi tập trung hóa) mà chưa tập trung vào việc ban hành các chính sách và quy chế đã được thông qua.

Các cơ sở giáo dục đại học, một mặt vẫn yêu cầu nhiều quyền tự chủ hơn, nhưng chưa chủ động thực hiện các công việc quản lý của mình và nhất là chưa thể hiện sự chịu trách nhiệm về chất lượng, giáo dục đại học đào tạo.

Tính chịu trách nhiệm chưa cao thể thiện ở sự công khai với nhà nước, cán bộ, sinh viên và xã hội những hoạt động của nhà trường theo các quy trình, cơ chế được xây dựng và pháp lý hóa.

1.4.2. Sự mở rộng các hình thức đào tạo Giáo dục đại học Việt Nam

Có thể nói chưa bao giờ nền GD của Việt Nam lại có sự bùng nổ về các hình thức đào tạo đại học như hiện nay. Bên cạnh những hình thức đào tạo từ xa, tại chức trong nước, nhiều chương trình đào tạo của các trường đại học nước ngoài cũng nở rộ tại Việt Nam dưới nhiều hình thức như đầu tư trực tiếp mở cơ sở đào tạo, liên kết đào tạo tại chỗ, đào tạo trực tuyến… Nhờ đó người học có nhiều sự lựa chọn hơn, các chương trình này cũng đem lại cho người học rất nhiều lợi ích.

“Đa dạng hoá các quá trình giáo dục – đào tạo, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình . . . mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa giáo dục. . .” (Trích Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành trung ương Đảng CSVN khoá VIII).

Luật giáo dục của nước CHXHCNVN đã chỉ rõ: “Giáo dục không chính qui bao gồm hình thức vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có hướng dẫn là hình thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuốc sống, tìm việc làm và

*Đào tạo từ xa cơ hội học tập cho mọi người

Hình thức giáo dục từ xa thuộc hình thức giáo dục không chính qui trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt thời gian và không gian. Người học theo hình thức giáo dục từ xa chủ yếu là tự học qua học liệu như: giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường. Giáo dục từ xa lấy tự học là chính, đòi hỏi người học phải tự giác, kiên trì và quyết tâm cao để hoàn thành chương trình học tập của mình. (Trích Qui chế về tổ chức và đào tạo, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa, ban hành kèm theo quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/08/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Tại Việt Nam, đặc biệt từ 1994 đến nay hệ đào tạo từ xa đã thật sự là một phương thức học tập có cải tiến theo điền kiện thực tế của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Hệ đào tạo từ xa giúp sinh viên phát huy hơn nữa sự bình đẳng trong giáo dục (so với hệ tại chức), tạo cơ hội được học tập tốt nhất cho tất cả những ai có nhu cầu học tập là được học, nó biểu thị tính nhân văn sâu sắc trong nền giáo dục mà mọi người đều có quyền bình đẳng được hưởng thụ nền giáo dục để tự hoàn thiện mình.

*Tín chỉ là một phương thức đào tạo tỏ ra có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống.

Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu

của thị trường lao động ngoài xã hội. Nó cho phép họ chọn trong số những môn học được thiết kế trong chương trình, nhiều trong số những môn học đó có thể thay thế được với nhau và hữu ích như nhau.

Phương thức đào tạo theo tín chỉ không những có lợi cho giáo viên và sinh viên mà còn có lợi cho các nhà quản lí ở một số khía cạnh sau.

Thứ nhất, nó vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa là thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên.

Thứ hai, nó là cơ sở để các trường đại học tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn nhân lực, có lợi không những cho tính toán ngân sách nội bộ mà còn cả cho việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ khác.

Thứ ba, nó là cơ sở để báo cáo các số liệu của trường đại học cho các cơ quan cấp trên và các đơn vị liên quan: một khi thước đo giờ tín chỉ được phát triển và kiện toàn, việc sử dụng nó như là một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và quản lí hành chính sẽ hữu hiệu hơn.

Ở Việt Nam cách đây dăm năm đã có một số trường đại học chủ động áp dụng phương thức đào tạo tiên tiến này. Tuy nhiên, do tính toán chưa kĩ, chưa có những bước đi phù hợp và nhất là chưa lường trước được những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình áp dụng cho nên kết quả của việc áp dụng này thường không theo mong muốn; rút cuộc là công việc này thường kết thúc dở dang, và khi được hỏi quan điểm về đào tạo theo phương thức tín chỉ, câu trả lời thường là: “Khó, không áp dụng được, không phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam”.

1.4.3. Ảnh hưởng của xu hướng phát triển giáo dục đại học mở tới quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Cùng với mục tiêu XHH GD, hiện nay có rất nhiều hình thức đào tạo phong phú, đáp ứng được nhu cầu của người học. Đối với hình thức đào tạo truyền thống, hoạt động dạy - học diễn ra tại Trường, lớp thì qui trình đánh

giá kết quả học tập của người học (thi/kiểm tra) diễn ra từ khâu kế hoạch - tổ chức – thực hiện – kiểm tra thanh tra. Đối với hình thức đào tạo mang tính

“mở”, không phải nó có ưu điểm hơn hay có thể thay thế hình thức đào tạo truyền thống, mà nó mang tính chất xã hội hóa giáo dục. Hình thức đào tạo này giúp cho người học dễ dàng có cơ hội để học tập, giảm bớt được chi phí và thời gian đi lại trong quá trình học tập. Tuy nhiên, vẫn cần phải đảm bảo chất lượng giáo dục. Do đó, để đánh giá thực chất năng lực của người học, việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá năng lực thực của người học được công bằng,chính xác, khách quan, là nhiệm vụ cần thiết để giáo dục đại học đạt được chuẩn mực không những trong nước mà còn ở các nước bạn có nền giáo dục tiên tiến, đảm bảo được nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội đáp ứng được yêu cầu của thị trường về nguồn nhân lực.

Một phần của tài liệu Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học trong hệ thống giáo dục mở tại Trường Đại học Hòa Bình (Trang 29 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)