1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Hòa Bình

134 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ LÝ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ LÝ

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Mã số: 60.14.01.14

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mai Hương

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo dục và Quý Thầy, Cô giáo, Cán bộ viên chức thuộc các phòng, ban chức năng của Trường đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng tôi đặc biệt cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Hòa Bình, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, hỗ trợ về tinh thần, thời gian và vật chất cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn này vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Vũ Thị Lý

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 ĐHQGHN Đại học Quốc Gia Hà Nội

Trang 4

Bảng 2.9 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp tự

Bảng 2.10 Kết quả khảo sát mức độ đánh giá của sinh viên về các

Bảng 2.11 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng thời gian dành cho

Bảng 2.12 Thực trạng quản lí việc xây dựng và thực hiện đề

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ,

Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của quá trình dạy - học 14 Biểu đồ 2.1 Biểu đồ biểu diễn mức độ quan trọng của việc tự

Biểu đồ 2.2 Biểu đồ biểu diễn sự đánh giá nội dung tự học của

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 6

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên Thế Giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 8

1.2.1 Các khái niệm về quản lí 8

1.2.2 Khái niệm về dạy học và tự học 13

1.3 Đào tạo theo tín chỉ và hoạt động tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ 18

1.3.1 Học chế tín chỉ 18

1.3.2 Hoạt động tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ 23

1.4 Quản lí tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ 29

1.4.1 Quản lí việc xây dựng đề cương môn học có hướng dẫn tự học 29

1.4.2 Quản lí hoạt động hướng dẫn tự học của giảng viên 31

1.4.3 Quản lí hoạt động tự học của sinh viên 33

1.4.4 Quản lí công tác kiểm tra đánh giá hoạt động tự học 36

1.4.5 Quản lí các điều kiện phục vụ tự học của sinh viên 37

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học và quản lí hoạt động tự học của sinh viên 37

1.5.1 Yếu tố chủ quan của người học 37

1.5.2 Yếu tố khách quan đối với người học 40

Trang 7

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH 43

2.1 Giới thiệu chung về Trường Đại học Hòa Bình 44

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Hòa Bình 44

2.1.2 Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Hòa Bình 45

2.1.3 Loại hình và quy mô đào tạo của trường Đại học Hòa Bình 47

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lí của trường Đại học Hòa Bình 49

2.1.5 Đội ngũ cán bộ quản lí, giảng viên và nhân viên Đại học Hòa Bình 52

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học và quản lí hoạt động tự học trong học chế tín chỉ tại Trường Đại học Hòa Bình 54

2.2.1 Mục tiêu của việc nghiên cứu thực trạng 54

2.2.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng 55

2.2.3 Mẫu nghiên cứu 55

2.2.4 Quy trình tổ chức khảo sát ý kiến 55

2.3 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình 56

2.3.1 Đặc điểm của sinh viên và đặc điểm đào tạo của Đại học Hòa Bình 56

2.3.2 Thực trạng nhận thức của sinh viên về vai trò và ý nghĩa của tự học 61

2.3.3 Thực trạng nhận thức về động cơ tự học của sinh viên 65

2.3.4 Thực trạng nội dung tự học của sinh viên 67

2.3.5 Thực trạng sử dụng các phương pháp tự học của sinh viên 69

2.3.6 Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên 70

2.3.7 Nhận xét chung 74

2.4 Thực trạng công tác quản lí hoạt động tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình 75

2.4.1 Thực trạng quản lí hoạt động hướng dẫn tự học của giảng viên 75

2.4.2 Thực trạng quản lí hoạt động học và tự học của sinh viên 79

Trang 8

2.4.3 Thực trạng quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh

viên 81

2.4.4 Thực trạng quản lí các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật phục vụ hoạt động tự học 83

2.5 Đánh giá chung về mức độ thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình 85

2.5.1 Những thuận lợi 85

2.5.2 Những khó khăn, tồn tại cần khắc phục 86

2.5.3 Nguyên nhân 87

Tiểu kết chương 2 89

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC HÒA BÌNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 90

3.1 Nguyên tắc xác định các biện pháp 90

3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 90

3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 90

3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 90

3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa và khả thi 91

3.2 Các biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Hòa Bình 91

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của giảng viên và sinh viên về vai trò của hoạt động tự học 91

3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng và phát triển hệ thống cố vấn học tập đủ về số lượng, mạnh về chất lượng để hướng dẫn sinh viên tự học có hiệu quả 94

3.2.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo tổ chức bồi dưỡng giảng viên đổi mới cách dạy để sinh viên đổi mới cách học hướng tới việc nâng cao tính độc lập, chủ động của sinh viên Trường Đại học Hòa Bình 97

3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá nhằm thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên 100

Trang 9

3.2.5 Biện pháp 5: Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với yêu

cầu đào tạo theo tín chỉ tạo điều kiện cho sinh viên tự học 103

3.2.6 Biện pháp 6: Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng hướng tới hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ 105

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình 107

3.3.1 Mối liên quan của các biện pháp 107

3.3.2 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 108

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114

1 Kết luận 114

2 Khuyến nghị 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 121

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh

mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo; Đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân; Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện; Cuối năm 2013, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế; Đặc biệt, mục tiêu đối với giáo dục đại học là cần phải tập trung đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội

Tự học là yếu tố quyết định chất lượng học tập, chất lượng đào tạo, là con đường nhanh chóng đưa sự nghiệp giáo dục nước ta tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới Tự học xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia tăng sự hiểu biết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người, là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học Để hoạt động tự học của sinh viên đạt được những thành quả như mong đợi thì đổi mới công tác quản lí giáo dục được xem như là giải pháp quan trọng

Trường Đại học Hòa Bình được thành lập theo quyết định số TTg ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Trường định hướng phân tầng là trường ứng dụng, thực hành Trường thực hiện mục đích đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực theo yêu cầu xã hội trong các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Tài chính ngân hàng, kinh tế… và một số lĩnh vực mũi nhọn khác nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao

Trang 11

244/QĐ-dân trí, đáp ứng nhu cầu học tập của người học Với phương châm “Nâng

cánh bay xa”, Trường sẽ là nơi đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cho thế hệ trẻ

thành đạt trên con đường lập nghiệp Trường Đại học Hòa Bình quyết tâm phấn đấu trở thành một trường tư thục phi lợi nhuận kiểu mẫu Để đảm bảo chất lượng đào tạo, đặc biệt trong đào tạo theo học chế tín chỉ thì ngoài việc tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục, cơ sở vật chất đầy đủ; Đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm, tâm huyết với sự nghiệp trồng người; Chương trình học và ngành nghề đào tạo luôn được cập nhật và điều chỉnh thì Trường cũng rất chú trọng tới phương pháp giảng dạy và học tập tích cực trong đào tạo tín chỉ, đặc biệt là khâu tự học của sinh viên

Thực tế giảng dạy theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hòa Bình trong những năm qua cho thấy, nếu sinh viên không chịu khó học tập, đào sâu nghiên cứu, mở rộng thêm kiến thức bằng cách học tập độc lập thì giảng viên

có dạy giỏi, có kiến thức sâu rộng và trình độ nghiệp vụ vững vàng đến mấy thì chất lượng học tập cũng không thể cao Hiện nay, do chưa thích nghi được với phương pháp học tập mới trong đào tạo theo tín chỉ, nhiều sinh viên chưa thực sự tự giác trong học tập, còn thờ ơ với việc tự trang bị kiến thức, học tập còn mang tính chiếu lệ, chỉ cốt quan tâm tới thi cử Giảng viên chưa có phương pháp thích hợp để gây hứng thú cho sinh viên trong việc tự học Vì những lí do trên, đồng thời cũng do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan khác mà quá trình quản lí hoạt động tự học ở Trường vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, dẫn tới hiệu quả giáo dục chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên để từ đó đề xuất ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học cho sinh viên Đại học Hòa Bình là một việc cấp thiết cả về lí luận và thực tiễn

Trang 12

Chính vì vậy tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Quản lí hoạt

động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Hòa Bình” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tự học và quản lí hoạt động tự học của sinh viên

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tự học và quản lí hoạt động

tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình

- Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động tự học cho sinh viên Đại học Hòa Bình để nâng cao chất lượng đào tạo và khảo nghiệm tính khả thi của những biện pháp đó

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình 4.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động tự học của sinh viên Đại học

Hòa Bình

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên ở trường Đại học Hòa Bình hiện nay như thế nào?

- Biện pháp nào có thể được sử dụng để tăng cường quản lí hoạt động tự học của sinh viên, đáp ứng yêu cầu trong đào tạo theo học chế tín chỉ?

6 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng đồng bộ các biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên được đề xuất trong luận văn thì có thể góp phần vào việc nâng cao hiệu quả tự học cho sinh viên Đại học Hòa Bình, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

7 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động tự học, quản

lí hoạt động tự học và thực trạng công tác quản lí hoạt động tự học của sinh viên hệ chính quy trường Đại học Hòa Bình

- Khảo sát và sử dụng số liệu trong vòng 3 năm, từ khi trường bắt đầu chuyển đổi đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ (năm 2010 đến năm 2013)

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận:

Tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng các khái niệm công cụ và cơ sở lí luận cho đề tài, đồng thời kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó

Nhiều nguồn tài liệu, bài viết, quy chế về giáo dục đào tạo, chất lượng trong đào tạo được nghiên cứu, phân tích nghiêm túc Đây là nguồn tài liệu phong phú, cập nhật và tập hợp được nhiều ý kiến của các chuyên gia và các quy định chuẩn

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp chuyên gia: Đề tài đã đánh giá, nhận định các nội dung liên quan đến quản lí hoạt động tự học trong học chế tín chỉ thông qua việc hỏi ý kiến, tham vấn các lãnh đạo Trường, lãnh đạo Phòng, Khoa liên quan + Phương pháp quan sát, phân tích thực tế: Đề tài quan sát toàn bộ quy trình quản lí và thực hiện việc quản lí hoạt động tự học trong tín chỉ tại Trường, phân tích và đưa ra những đánh giá tổng quan

+ Phương pháp thống kê số liệu: Các số liệu, thông tin về quản lí hoạt động tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ được thống kê theo các tiêu chí cụ thể, liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu

- Phương pháp xử lí thông tin:

Trang 14

Các thông tin định tính và định lượng được xử lí để xây dựng các luận

cứ, khái quát hóa thực trạng phục vụ mục đích nghiên cứu Đối với những thông tin định lượng, các dữ liệu thu thập được xử lí bằng chương trình thống

kê toán học trên Excel Thông tin định tính được xử lí logic bằng việc đưa ra các phán đoán về bản chất các sự việc, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của các sự việc

- Viết báo cáo tổng kết đánh giá, so sánh và đề xuất

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

9.1 Ý nghĩa lí luận

Nghiên cứu đề tài là cơ hội để tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Hòa Bình và từ đó đề xuất biện pháp tăng cường quản lí hoạt động từ học cho sinh viên, tạo ra sự hứng thú về tự học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của nhà trường

9.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho Trường Đại học Hòa Bình, các cơ sở liên kết đào tạo Đồng thời có ý nghĩa tham khảo đối với các Trường Đại học khác

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương: Cơ sở lí luận về tự học và quản lí hoạt động tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Chương 2: Thực trạng về hoạt động tự học và quản lí hoạt động tự học cho sinh viên Trường Đại học Hòa Bình

Chương 3: Các biện pháp quản lí hiệu quả hoạt động tự học cho sinh viên Đại học Hòa Bình đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG

TỰ HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về lí luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của người học và nâng cao chất lượng của hoạt động tự học Song từng giai đoạn lịch sử nhất định, ở mỗi quốc gia tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau

1.1.1 Trên Thế Giới

Khổng Tử (551- 479 TCN), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư phạm vĩ đại của Trung Quốc từ xa xưa đã đề cập tới vấn đề tự học Ông xác định “Học nhi thời tập chí”, tức là việc học phải gắn liền với thực hành “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”, tức là học tập và tư duy độc lập là hai yếu tố có tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau và phải coi trọng cả hai yếu tố

Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế

kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm “Sự học tập do người học là chủ đạo”

Jan Amos Komenxki (1592 - 1670) nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng” Năm 1657, trong tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” ông nêu rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần

mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ”[11, tr 40]

J.Vial, nhà sư phạm Pháp cho rằng “Việc dạy học phải tạo ra tình huống học tập lí tưởng, tạo điều kiện cho đông đảo học sinh hoạt động tự giác, tích cực độc lập, sáng tạo, tạo điều kiện cho học sinh kiểm soát việc tự học của mình” [20, tr 98]

Bobbi Deporter và Mike Hernacki, trong cuốn sách có tựa đề “Phương pháp học tập siêu tốc” đã trình bày khá đầy đủ về kỹ thuật học tập Các ông

Trang 16

coi trọng vai trò tự giác học tập của người học, xác định động lực tự học được hình thành từ tình cảm, từ ý thức của người học [4, tr.116]

1.1.2 Ở Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong tự học, tự rèn luyện “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” Bác cũng luôn nhắc nhở cán

bộ về cách học tập “Học là lấy tự học làm cốt, do chỉ đạo và thảo luận góp vào” Tư tưởng của Người về giáo dục đã được vận dụng, quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ II - BCH TW Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học… nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học” [17, tr.226]

Vấn đề tự học của học sinh, sinh viên cũng đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu gồm: “Quá trình dạy - tự học” của GS Nguyễn Cảnh Toàn, GS.Vũ Văn Tảo; “Luận bàn về kinh nghiệm tự học” của

GS Nguyễn Cảnh Toàn, “Tự học - chìa khoá vàng của giáo dục” của GS.Phan Trọng Luận Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, hình thành ở người học kỹ năng tự học Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp tổ chức, quản lí hoạt động tự học của sinh viên

Các đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ về vấn đề tự học gần đây như luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Văn Tâm “Quản lí hoạt động tự học của học viên tại trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc Đề tài luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thanh Vân “Biện pháp tăng cường hoạt động tự học của sinh viên Khoa ngôn ngữ và văn hóa Pháp”, Đề tài luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Bá Khương “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong đào tạo theo tín

Trang 17

chỉ”… cũng đã đề xuất được những phương hướng, biện pháp quản lí nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động tự học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo

Việc kế thừa tiếp thu những thành quả của các công trình nghiên cứu trên một cách có chọn lọc để đề xuất những biện pháp tăng cường quản lí hoạt động tự học cho sinh viên Trường Đại học Hòa Bình, tạo ra sự hứng thú về tự học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của nhà trường trong giai đoạn hiện nay

1.2 Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Các khái niệm về quản lí

1.2.1.1 Quản lí

Quản lí là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lí có vai trò rất lớn Khi đưa ra khái niệm về quản lí, các tác giả thường đứng trên nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định nghĩa khác nhau Cụ thể:

Theo từ điển Tiếng Việt Quản lí là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” [33]

K.Marx: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo

để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [6, tr.480]

Theo tác giả Harold Koontz: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường

mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian,

Trang 18

tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuât, còn kiến thức có tổ chức về quản lí là một khoa học” [14, tr.33]

F.W Taylor (1856 - 1915) là người được coi là cha đẻ của thuyết quản

lí khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lí là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lí chặt chẽ" "Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất" [14, tr.33]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung

và phù hợp với quy luật khách quan” [31, tr 40]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lí nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới” [4]

Quản lí = Quản + Lí

Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định

- Lí là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển

Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren

Vậy: Quản lí = ổn định + phát triển

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt động quản lí là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr 9]

Như vậy, khái niệm quản lí được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên các quan điểm trên đều đề cập đến bản chất chung của khái niệm quản lí:

Quản lí là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ đích của chủ thể

Trang 19

quản lí lên khách thể quản lí trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Có thể nhận diện khái niệm quản lí bằng 4 yếu

tố gồm: chủ thể quản lí, khách thể quản lí, công cụ quản lí và biện pháp quản lí

Kế hoạch hóa là "xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương

lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu mục đích đó" [7, tr.13]

Kế hoạch hóa có vai trò quan trọng vì nó là chức năng khởi đầu của quá trình quản lí, tạo tiền đề cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác Nó cho phép nhà quản lí hình dung rõ hơn về quá trình phát triển của tổ chức, kịp thời phát hiện, ứng phó với sự thay đổi và tính không chắc chắn của môi trường, giúp tổ chức tập trung sự chú ý vào các mục tiêu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra

Tổ chức là "quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các

thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức" [7, tr.13]

Tổ chức được coi là chức năng cốt lõi của quản lý vì khi được tiến hành khoa học và có hiệu quả nó sẽ giúp người quản lý sử dụng triệt để nhất các nguồn lực của tổ chức, nhất là nguồn nhân lực, giúp cho các thành viên trong

tổ chức phát huy tốt nhất năng lực sở trường, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ

Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ sẵn sàng, cố

gắng, hăng hái hướng tới việc hình thành các mục tiêu Như vậy, chức năng

Trang 20

này bao hàm "việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức" [7, tr.13]

Lãnh đạo là một trong những hoạt động chủ yếu của các nhà quản lý vì

nó giúp biến những sản phẩm của quá trình kế hoạch hóa và tổ chức thành hiện thực thông qua việc tác động đến con người Cũng thông qua lãnh đạo, tài năng của nhà quản lý được thể hiện rõ nét với các công việc như tạo lập ảnh hưởng, hình thành uy tín với các thành viên, dẫn dắt tổ chức

Kiểm tra là một chức năng quản lí, thông qua đó một cá nhân, một

nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết [7, tr.13]

Kiểm tra giúp nhà quản lí xác định chính xác các nguyên nhân không đạt mục tiêu và kịp thời khắc phục, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới tổ chức

Bốn chức năng của quản lí có mối quan hệ mật thiết với nhau và diễn ra

có tính chu kỳ trong khoảng thời gian, không gian xác định Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lí, được coi là mạch máu lưu thông giữa các bộ phận đảm bảo cho toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lí Mối liên hệ giữa các chức năng và thông tin trong quản lí được thể hiện ở sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lí

Kế hoạch

Tổ chức Kiểm tra Thông tin

Chỉ đạo

Quản lí vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Quản lí mang tính khoa học

vì nó luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật,

Trang 21

những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Quản lí còn mang tính nghệ thuật vì nó là một hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đầy biến động, không có những nguyên tắc chung cho mọi tình huống Để đạt được mục tiêu

đề ra của tổ chức, người quản lí cần có những bí quyết sắp xếp nguồn nhân lực, nghệ thuật giao tiếp, kĩ năng ứng xử, khả năng thuyết phục đối với mọi thành viên trong tổ chức

Cùng với sự phát triển chung của xã hội hiện nay, vai trò của quản lí ngày càng được nâng cao Vì vậy, mỗi cấp quản lí, mỗi lĩnh vực hoạt động cần vận dụng lí luận chung và lí luận cụ thể để phù hợp với quy mô và đặc thù của tổ chức mình qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động quản lí

1.2.1.3 Quản lí nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lí giáo dục là quản lí nhà trường, vì nhà trường

là cơ sở giáo dục, là nơi diễn ra các hoạt động và thực hiện các mục tiêu giáo dục Vì vậy, quản lí nhà trường là một loại quản lí giáo dục đặc thù được thực hiện ở tầm vi mô

Giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lí nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [15, tr.2]

Quản lí nhà trường khác với các loại quản lí xã hội khác, được quy định bởi bản chất sư phạm của người giảng viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lí vừa

là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu xã hội và được xã hội thừa nhận

Quản lí nhà trường thực chất là quản lí quá trình giáo dục và dạy học của nhà trường để thực hiện sứ mạng của nhà trường

1.2.1.4 Quản lí quá trình dạy học

Quản lí quá trình dạy học dù trong phương thức đào tạo nào cũng phải

Trang 22

bám sát các giai đoạn của quá trình này, đó là:

- Quản lí giai đoạn chuẩn bị bao gồm việc xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương thức tổ chức dạy học và việc dự kiến các hoạt động của thầy và trò trên lớp cũng như dự kiến các phương thức kiểm tra, đánh gí kết quả của người học

- Quản lí giai đoạn triển khai trên thực tế những điều đã chuẩn bị đó là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò nhằm chiếm lĩnh được nội dung dạy học, thực hiện mục tiêu dạy học đã đề ra

- Quản lí giai đoạn Kiểm tra mức độ thực hiện các nội dung kế hoạch

và mục tiêu đã đề ra cho quá trình dạy học

1.2.2 Khái niệm về dạy học và tự học

1.2.2.1 Hoạt động dạy học

Dạy là quá trình hoạt động của thầy, thông qua sự truyền đạt nội dung

mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm cho trò đạt tới mục đích dạy học [26, tr.91]

Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

và những phương thức hành vi mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt động nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững Để lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách chiếm lĩnh khác nhau Đó có thể là do được truyền thụ, do tự quan sát, đúc kết từ lao động, môi trường sống…

Dạy- học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác [19, tr.26] Theo cách tiếp cận hệ thống, ngoài hai thành tố trung tâm là giảng viên

và sinh viên thì quá trình Dạy- học còn được cấu thành bởi các thành tố khác như: mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, các hình thức tổ chức dạy và học Một quá trình dạy- học bao gồm 3 giai đoạn (Chuẩn bị, thực thi,

Trang 23

đánh giá cải tiến) với các thành tố liên kết với nhau theo một chu trình và tác

động qua lại với nhau

Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của quá trình dạy - học

1.2.2.2 Tự học

Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản

thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích

nhất định

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh thì: “Tự học là học một cách tự động”,

Người đã từng khuyên: “Phải biết tự động học tập” [24, tr 257], [25, tr 28]

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não,

suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng

hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của

mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung

thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại,

lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…)

để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó

thành sở hữu của mình” [28, tr59-60]

Theo Giáo sư Phạm Viết Vượng thì "Tự học là hình thức học ngoài giờ

lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt

trực tiếp của giáo viên Tự học thường được tiến hành tại gia đình hay thư

viện, cách học là hoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu Nội

Trang 24

dung công việc tự học và học bài cũ, chuẩn bị bài mới và làm các bài tập vận dụng kiến thức, làm các bài tập sáng tạo khác" [30, tr.33]

Theo quan điểm của tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [5, tr.3]

Nhìn chung, các tác giả quan niệm rằng tự học là học với sự độc lập và tích cực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình mà trong đó, chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học

1.2.2.3 Dạy học và tự học ở đại học

Dạy học ở đại học là Dạy cách học Do đặc điểm mục tiêu bậc học đại học là đào tạo nguồn nhân lực tư duy cho xã hội và nội dung đào tạo ở đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bám sát mục tiêu nghề nghiệp nên việc dạy và học ở đại học có đặc thù; như GS Tạ Quang Bửu đã nói: “ Đại học là

tự học ” và bậc đại học chú trọng rèn luyện năng lực tư duy và năng lực thực hiện công tác chuyên môn Vai trò của giáo viên ở bậc đại học là giúp sinh viên tìm kiếm lựa chọn, xử lí nội dung để biến tri thức của nhân loại về lĩnh vực khoa học, nghề nghiệp nào đó thành của mình, từ đó tự mình vận dụng chúng vào cuộc sống, nghề nghiệp

Theo tác giả Lê Đức Ngọc dạy cách học ở trường đại học gồm năm vấn

đề sau:

- Dạy cách lập kế hoạch học tập: gồm dạy cách lập kế hoạch phấn đấu

trong học tập để đạt được mục tiêu đề ra và dạy cách lập kế hoạch sử dụng quỹ thời gian học tập một cách hợp lí

- Dạy cách nghe giảng và ghi bài trên lớp: Nguyên tắc chung là nghe

và ghi bài học đầy đủ, chi tiết Kết hợp đồng thời thính giác, thị giác, tri giác

Trang 25

để lĩnh hội bài học một cách nhanh nhất, có thể tái hiện lại thông tin- tri thức một cách dễ dàng và chính xác nhất

- Dạy cách học bài: có thể là tự học hoặc học theo nhóm Tự học là học

theo các bậc nhận thức cao của Bloom, học tư duy trừu tượng, tư duy phê phán… trong mối quan hệ hệ thống của các kiến thức Học nhóm giúp người học học cách giao tiếp, học cách trình bày diễn đạt bằng lời, học cách thuyết phục đồng nghiệp, học cách quản lí và tổ chức từ một nhóm nhỏ học tập đến một hội thảo đông đảo…

- Dạy cách đọc sách: Đây là khâu cốt lõi của sinh viên đại học trong tự

học Dạy cách đọc sách là dạy sinh viên cách chọn sách phù hợp với mục tiêu môn học, phù hợp với trình độ người học Ngoài việc đọc, người học cũng được dạy cách ghi chép để lưu trữ thông tin, bổ sung bài giảng và để tự học nâng cao tri thức, năng lực

- Dạy cách nghiên cứu và giải quyết vấn đề

Dạy cách nghiên cứu vấn đề: Sau khi chọn vấn đề nghiên cứu phù hợp, cần biết cách xây dung đề cương nghiên cứu, cách thu thập tư liệu, cách viết tổng quan, cách phân tích, tổng hợp và đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề

Dạy cách giải quyết vấn đề: cách chọn phương pháp giải quyết vấn đề, các bước triển khai, giải quyết vấn đề, cách kiểm tra đánh giá kết quả giải quyết vấn đề

Đồng ý với quan điểm trên, Theo tác giả Đặng Xuân Hải trong cuốn kĩ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ [18, tr.115] thì việc hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu trong học tâp đối với sinh viên cần quan tâm thêm 3 vấn đề sau:

- Xác định phong cách học tập của từng sinh viên: Phương pháp học

của mỗi người là sự kết hợp giữa cách người đó tiếp thu và cách tổ chức, xử lí thông tin trong học tập

Đối với những sinh viên có xu hướng tiếp thu tốt thông qua cảm nhận ngôn ngữ nói (học chủ yếu qua phương thức “nghe”) thì việc lựa chọn các giờ

Trang 26

học mang tính chất tư vấn của giảng viên là hợp lí

Đối với những sinh viên tiếp thu tốt thông qua thị giác (học chủ yếu qua phương thức “ nhìn”) thì giảng viên nên thiết kế các phiếu học tập để sinh viên có thể tự điền them kiến thức và học tập tại nhà

Đối với những sinh viên tiếp thu tốt khi được sử dụng các giác quan khác mà thính giác và thị giác chỉ có vai trò hỗ trợ thì người học sẽ học được nhiều nếu họ được trải nghiệm nội dung học trong cuộc sống

- Cung cấp “công cụ” tự học như phiếu học tập, bản đồ tư duy

Phiếu học tập là công cụ hướng dẫn và yêu cầu học tập đối với sinh viên để họ tự tìm hiểu nội dung theo hướng dẫn chi tiết của giảng viên Bản

đồ tư duy cũng là một loại “phiếu học tập” Bản đồ tư duy là hình ảnh trực quan và cảm giác để gợi nhắc dưới hình thức kết nối ý tưởng Để lập bản đồ

tư duy, người học phải huy động tư duy, kích thích bộ nhớ của mình rất nhiều Bản đồ tư duy có khả năng tạo hứng thú học tập và tăng khả năng ghi nhớ cho người học Giảng viên nên tạo lập “xương bản đồ tư duy” để người học hoàn thành tiếp nội dung cụ thể ở ngoài lớp

- Hướng dẫn sinh viên đưa ra tư duy nghiên cứu khoa học vào việc

nghiên cứu tài liệu trong quá trình tự học

Để có một ý tưởng khoa học phải qua các giai đoạn: thu thập và xư lí thông tin; tập hợp tri thức lí luận; ấp ủ ý tưởng; đến một lúc nào đó sẽ “khai trí” (các ý tưởng sẽ nổi lên dưới các dạng khác nhau) và cuối cùng là thẩm định và áp dụng Khi nghiên cứu tài liệu với tư duy của nhà khoa học hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi: Mình có thể làm được gì với những điều đang nghiên cứu; những gì mình đã có so với những điều mình đang nghiên cứu và những điều này đưa đến cho mình những ý tưởng gì thực hiện mục đích nào cho học tập

Trang 27

1.3 Đào tạo theo tín chỉ và hoạt động tự học của sinh viên trong học chế

tín chỉ

1.3.1 Học chế tín chỉ

1.3.1.1 Tín chỉ, giờ tín chỉ (giá trị của giờ tín chỉ )

Trong các từ điển bách khoa, các tài liệu về Giáo dục đại học có thể tìm thấy nhiều quan niệm về tín chỉ Hiện nay có hơn 60 định nghĩa khác nhau về tín chỉ [29] Trong luận văn này, đề cập tới hai cách diễn đạt về khái niệm tín chỉ như sau:

Theo từ điển Giáo dục học: Tín chỉ là đơn vị nội dung trong chương trình môn học bao gồm một khối lượng kiến thức và kỹ năng tương đối gắn kết với nhau về chủ điểm cần được sinh viên hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định tương ứng và được kiểm tra, đánh giá kết quả, mỗi môn học được chia thành nhiều học phần có tối thiểu từ 2 tín chỉ trở lên Sinh viên phải học và có điểm kiểm tra tất cả các tín chỉ quy định mới được coi là hoàn thành chương trình bộ môn Cách tổ chức dạy học theo từng tín chỉ của học phần trong mỗi môn học tạo thuận lợi cho sinh viên phát huy hết năng lực học tập của mình vì được tự do lựa chọn và cơ động thực hiện những tín chỉ phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh của riêng mình

Theo học giả James Quann- học giả người Mĩ gốc Trung thuộc Đại học Washington: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể Thời gian toàn phần bao gồm 3 thành tố: (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu;

và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Giờ học của một học kỳ 2 quý hay của học kỳ 1 quý được ấn định theo tỉ lệ sau đây của các giờ thành phần được dành hàng tuần cho việc học môn đó:

(1) Các môn học lí thuyết- một giờ tiếp xúc hàng tuần cho một giờ tín chỉ (bao hàm 2 giờ chuẩn bị ở nhà); (2) các môn học ở studio hay phòng thí

Trang 28

nghiệm- ít nhất là 2 giờ tiếp xúc hàng tuần cho một giờ tín chỉ (bao hàm 1 giờ chuẩn bị ở nhà); (3) tự nghiên cứu- ít nhất 3 giờ làm việc hàng tuần cho một giờ tín chỉ [3, tr.37]

Sau khi tìm hiểu các định nghĩa về tín chỉ và căn cứ vào thực tiễn quá trình đào tạo hiện nay trong các trường đại học, chúng tôi nhất trí với cách hiểu về tín chỉ như sau: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian học tập của một người học trung bình để học một môn học cụ thể, bao gồm: (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Đối với các môn học lí thuyết, 1 tín chỉ là 1 giờ học trên lớp (+2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; Đối với môn học thực hành, ít nhất là 2 giờ lên lớp (+1 giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần; Đối với việc tự nghiên cứu, ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần”

1.3.1.2 Chương trình đào tạo trong học chế tín chỉ

Theo khái niệm hiện nay, chương trình đào tạo trong học chế tín chỉ được hiểu là một bảng thiết kế tổng thể bao gồm: mục tiêu chương trình; nội dung chương trình; phương thức triển khai và các hình thức kiểm tra- đánh giá kết quả học tập [21]

Chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ được thiết kế theo mô đun với nhiều môn học lựa chọn Số lượng môn học trong cấu gtrucs chương trình của mỗi ngành lớn hơn số lượng môn học mà sinh viên phải chọn cho văn bằng của ngành đó Ngoài các môn học bắt buộc, chương trình phải có nhiều môn học để sinh viên tự chọn cho gói kiến thức của mình

Trong từng môn học của chương trình, thwo quan điểm tín chỉ của Mỹ như đã định nghĩa, số giờ lên lớp trong học chế tín chỉ ít hơn nhiều so với số giờ lên lớp trong học chế niên chế kết hợp học phần Mỗi môn học đều xác định rõ:

- Thời gian học trên lớp

Trang 29

- Thời gian học trong phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành

- Thời gian tự đọc sách, nghiên cứu, chuẩn bị bài ở nhà

Chương trình đào tạo trong học chế tín chỉ cần phải linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho người học lựa chọn, bố trí kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện và khả năng của mình Cách thiết kế cấu trúc chương trình đào tạo này là một yếu tố ảnh hưởng nhiều đến phương pháp dạy và học trong học chế tín chỉ

1.3.1.3 Các hình thức tổ chức dạy học trong học chế tín chỉ

Hình thức tổ chức dạy học là cách tổ chức quá trình học tập của sinh viên phù hợp với mục đích, nội dung bài học nhằm đạt hiệu quả cao nhất cho giờ học Các hình thức tổ chức dạy học thường rất đa dạng trong dạy học theo học chế tín chỉ Hình thức tổ chức dạy và học được lựa chọn theo quan điểm giảng viên thực hiện vai trò định hướng, hỗ trợ, huấn luyện viên, kiểm tra, đánh giá… Người dạy trở thành điểm tựa để người học phát huy tính tích cực, chủ động với việc học của mình và cũng là phương tiện để phát huy thái độ, động cơ đúng đắn của người học trong dạy và học theo phương thức tín chỉ [33]

Việc lựa chọn hình thức tổ chức dạy học nào sẽ do mục tiêu và nội dung dạy học chi phối

Một số hình thức dạy học cần phát huy vai trò trong học chế tín chỉ:

- Giờ lên lớp lí thuyết: với hình thức thuyết trình là giờ dạy học đặc trưng của nhà trường, vì đây là một hình thức triển khai dạy học trên lớp với mục tiêu truyền đạt khối lượng kiến thức lí thuyết đến người học để người học lĩnh hội được tính logic, hệ thống của vấn đề thông qua phần thuyết trình, giảng giải, phân tích, chứng minh, biện luận của giảng viên Giờ lí thuyết tồn tại trong quá trình dạy học ở bất kỳ phương thức đào tạo nào nhưng trong phương thức đào tạo theo tín chỉ thì có thể áp dụng một số kiểu giờ lên lớp lí thuyết như: Giờ lí thuyết định hướng (thông thường triển khai ở tuần đầu tiên của môn học hay giờ bắt đầu một chương, một nội dung học tập lớn); Giờ ly thuyết- vấn đề; Giờ lí thuyết- tư vấn; Giờ lí thuyết tổng kết

Trang 30

- Giờ seminar: Vấn đề của nội dung môn học sẽ được giảng viên giao trước cho sinh viên tự nghiên cứu tìm tòi và tranh luận công khai trên lớp Giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn, điều khiển, tổng kết và đánh giá Một số kiểu giờ seminar trong học chế tín chỉ gồm: Seminar nghiên cứu; seminar bàn tròn; seminar chuyên đề;

- Giờ tư vấn chuyên môn: Đây được coi là hình thức dạy học bắt buộc

do giảng viên hoặc giảng viên tư vấn học tập đảm nhiệm Thông qua hình thức này, tạo cơ hội hỗ trợ cho sinh viên trao đổi, giải đáp thắc mắc, hệ thống hóa, củng cố những vấn đề lí thuyết chưa được sáng tỏ cũng như những vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ môn học Giờ tư vấn về mặt lí thuyết, được triển khai trong suốt học kỳ, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên Giúp rèn luyện và nâng cao khả năng tự tìm kiếm vấn đề, đặt câu hỏi, tự tin trong giao tiếp

- Giờ thực hành, thực tập: tùy thuộc vào đặc thù của môn học mà tổ chức giờ thực hành, thực tập trong quá trình dạy học môn học và đây cũng là hình thức dạy học quen thuộc ở bậc đại học Tuy nhiên, cần lưu ý một vài đặc điểm của loại giờ này trong học chế tín chỉ, đó là: Coi trọng khâu chuẩn bị trước khi triển khai thực hành, thực tế; Giúp sinh viên kiểm chứng các vấn đề

lí thuyết; Dạy cho sinh viên học cách vận dụng các kiến thức lí thuyết vào thực tiễn; Rèn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học và kỹ năng tay nghề, thực nghiệm

Bảng 1.1 Các hình thức tổ chức dạy và học Hình thức

tổ chức dạy

học

Lí thuyết Seminar

Làm việc nhóm

Tự học,

tự nghiên cứu

Tư vấn Thực

hành

Trang 31

1.3.1.4 Các phương pháp dạy học trong học chế tín chỉ

Theo Từ điển Giáo dục học: Phương pháp dạy học, cách thầy (cô) tiến hành dạy nội dung đi đôi với việc dạy cách học cho học trò nhằm giúp cho trò trau dồi phương pháp tự học để nắm vững nội dung đang học, đồng thời để rèn luyện cách tự học suốt đời [27]

Theo GS - TSKH Nguyễn Bá Kim (Trong cuốn “Phương pháp dạy học môn toán”): Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học Như vậy, có thể thấy rằng: Phương pháp dạy học của thầy cũng có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên

Phương pháp dạy học là một yếu tố thể hiện rõ nhất sự khác biệt trong quá trình dạy học theo học chế tín chỉ Có nhiều ý kiến cho rằng không có phương pháp dạy học riêng cho phương thức đào tạo theo niên chế hay tín chỉ

vì đã dạy học ở đại học là dạy cách nghiên cứu nội dung Đây là một quan điểm luôn đúng trong lí luận dạy học đại học vì phương pháp không có mục đích tự than Tuy nhiên, cách thức để thực hiện mục tiêu đào tạo nói chung

và dyaj học các môn học nói riêng trong học chế tín chỉ mềm dẻo nên kép theo tính đa dạng của phương pháp dạy học Để có thể triển khai được các nội dung học theo yêu cầu của học chế tín chỉ, giảng viên à sinh viên phải đổi mới cách dạy và cách học Dạy từ chỗ chuyển giao kiến thức đã được đóng gói cho người học sang dạy cách thu thập và xử lí thông tin theo mục tiêu bài học, môn học mà các nhà giáo dục thường gọi là dạy “cách học”

Giảng viên có thể lựa chọn, vận dụng, triển khai trong dạy học đại học nói chung và trong phương thức đào tạo theo tín chỉ nói riêng các phương pháp thường dùng sau đây:

- Phương pháp thuyết trình (diễn giảng…)

- Phương pháp thảo luận nhóm (hội thảo, seminar…)

- Phương pháp trình diễn (thực hành, thực tập…)

Trang 32

- Phương pháp hướng dẫn tự học (tự nghiên cứu…)

- Phương pháp bài luyện (bài tập lớn, ôn luyện…)

- Phương pháp nghiên cứu điển hình (nghiên cứu trường hợp, tình huống…)

- Phương pháp đóng vai

- Phương pháp thực hành, thực tế

Khi đã xác định được mục đích, nội dung, chương trình dạy học thì phương pháp dạy học quyết định chất lượng của quá trình dạy học Vì vậy, vấn đề là phải chỉ đạo giảng viên lựa chọn và kết hợp các phương pháp dạy học trên cơ sở thực hiện được mục tiêu đó

1.3.1.5 Các hình thức kiểm tra đánh giá trong học chế tín chỉ

Trong học chế tín chỉ, có hai hình thức đánh giá cơ bản trong quá trình dạy học, đó là: Đánh giá trong tiến trình và đánh giá tổng kết

- Đánh giá trong tiến trình: gồm việc đánh giá chuyên cần, đánh giá ý thức học tập, kiểm tra định kỳ Trong học chế tín chỉ, các bài kiểm tra cần tiến hành thường xuyên để đánh giá được việc học tích cực của sinh viên Điểm trung bình của các lần đánh giá được coi là điểm tiến trình và có một trọng số đáng kể trong điểm đánh giá môn học Các hình thức đánh giá rất đa dạng: kiểm tra viết trên lớp, trình bày bài chuẩn bị ở nhà, tham gia thảo luận nhóm, làm bài tập lớn, tiểu luận…

- Đánh giá tổng kết bao gồm bài kiểm tra, tiểu luận hết môn Trong bài kiểm tra hết môn phải đặc biệt chú trọng tới việc thiết kế nội dung để đảm bảo đánh giá được chính xác các năng lực, kỹ năng cần tích lũy và yêu cầu nội dung đề cập được toàn bộ các kiến thức cơ bản của môn học Hạn chế các câu hỏi kiểm tra học thuộc, thay vào đó là câu hỏi mang tính phân tích, tổng hợp, đánh giá để phù hợp với yêu cầu đối với sinh viên đại học là khả năng tư duy

và khả năng diễn đạt

1.3.2 Hoạt động tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ

1.3.2.1 Các hình thức tự học của sinh viên

Tự học ở đại học là sinh viên phải biết tự lập kế hoạch học như: Làm đề

Trang 33

cương, đọc sách, ghi nhớ bài, làm bài tập, chuẩn bị tham gia seminar, làm thí nghiệm, xây dựng hồ sơ học tập, chuẩn bị tham gia các hoạt động thực tế như tham gia các câu lạc bộ, đi thực tập

Tự học có thể diễn ra dưới các hình thức sau:

- Tự học theo nhu cầu cá nhân: Hoạt động tự học này diễn ra độc lập,

không có sự hướng dẫn của giảng viên Nền tảng cho nhu cầu tự học này là niềm khao khát khám phá tri thức mới, đồng thời người học cũng phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu Người học có cách thức riêng trong việc tiếp cận tri thức và hoàn toàn tự chủ trong việc lựa chọn nội dung, hình thức học tập theo nhu cầu và phù hợp với hoàn cảnh của mình

- Tự học dưới sự hướng dẫn, điều khiển, chỉ đạo gián tiếp của giáo viên: Hình thức tự học này đòi hỏi người học tuân thủ theo những chỉ dẫn của

thầy để hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao Hình thức tự học này có thể thực hiện dưới nhiều cách thức Cụ thể:

+ Tự học dưới dạng học lại bài cũ và vận dụng để giải bài tập mới Hình thức này không chỉ giúp người học tái hiện lại kiến thức đã học mà việc vận dụng giải bài tập sau khi lĩnh hội kiến thức mới còn giúp người học khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, vận dụng thực tế để kiến thức trở nên gần gũi, dễ hiểu Giải bài tập mới còn mang ý nghĩa người học phải biết chuẩn bị bài trước khi đến lớp, tự đặt ra những câu hỏi, đánh dấu những chỗ chưa hiểu

để có thể thảo luận với giảng viên cũng như các bạn trên lớp Cách học này giúp người học chủ động với kiến thức mới, hiểu nhanh hơn, nhớ bài lâu hơn

+ Tự học qua hình thức nghiên cứu khoa học (làm tiểu luận, đề án môn học…) là một hình thức tự học rất hiệu quả Mục đích của hình thức này là để kích thích người học phát triển trí tuệ, hình thành hứng thú học tập và óc tìm tòi, sáng tạo nhằm giải quyết vấn đề về lí luận hay thực tiễn trong phạm vi hẹp Sinh viên làm tiểu luận hay đề án môn học đều có giáo viên hướng dẫn Chọn đề tài theo yêu cầu của môn học, người học sẽ phải đối diện với một thực tế công việc cần nghiên cứu sâu, tìm hiểu kĩ Do vậy, hoạt động tự học

Trang 34

trong trường hợp này trở thành một nhu cầu cần thiết và sẽ mang lại hiệu quả

cụ thể, thiết thực

- Tự học diễn ra có dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo điều khiển trực tiếp của giáo viên: Hình thức này diễn ra trong giờ lên lớp, dưới sự chỉ đạo,

điều khiển, hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Với hình thức học này người

học có điều kiện thuận lợi hơn so với hai hình thức trên Thông qua các biện

pháp, quản lí, tổ chức, định hướng, điều khiển, thiết kế chỉ đạo của người thầy nhằm giúp người học tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công hoạt động học của mình bằng hoạt động tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự hoàn chỉnh, nhằm hoàn thành các nhiệm vụ học tập Kết quả tự học cuả sinh viên trong hình thức tự học này phụ thuộc vào mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa người học và người dạy, trong đó vai trò hướng dẫn chỉ đạo của thầy đóng vai trò quan trọng Yếu tố đóng vai trò quyết định là tính tích cực, tính tự giác, năg lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của sinh viên Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của người thầy trong hình thức tự học này là tạo điều kiện, môi trường để học sinh phát huy được tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập hoàn thành các nhiệm vụ học tập, hình thành phương pháp cho sinh

viên để họ có khả năng tự học, tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập Hình thức

này bao gồm:

+ Tự học trong lúc nghe giảng bài: Sự tự học của người học được thể hiện bởi sự tập trung chú ý đến cao độ, sử dụng bộ não một cách triệt để, huy động được những năng lực tiềm ẩn trong quá trình nghe giảng Khi nghe giảng, người học phải tư duy tích cực, khẩn trương để liên tưởng bài giảng với tri thức đã học từ trước Hoạt động trí tuệ căng thẳng để tạo ra hệ thống tri thức có tính liên tục, kế thừa giữa cái cũ và cái mới, từ đó tạo nên vốn kiến thức riêng cho mình Song song với nghe giảng là sự ghi chép, ghi chép không chỉ có tác dụng hỗ trợ cho trí nhớ mà còn giúp cho việc nắm kiến thức được sâu hơn

Trang 35

+ Tự học qua thảo luận nhóm: là một sự trao đổi ý tưởng, quan điểm nhận thức giữa các học viên và giáo viên, để làm rõ và làm giàu sự hiểu biết các nội dung phù hợp với hoạt động đào tạo Làm việc theo nhóm là cách tự học rất hiệu quả vì khi làm việc theo nhóm người học sẽ được tiếp thu tri thức bằng những thông tin cụ thể, dễ nhớ từ bạn bè trong nhóm Bổ sung rất nhiều những kiến thức mà việc học tập cá nhân bị thiếu sót Việc tự học này cũng giúp người học tự học được những kĩ năng rất cần thiết như: kĩ năng hợp tác,

kĩ năng tự kiểm tra, điều chỉnh, kĩ năng ứng xử Hơn nữa, cách làm việc nhóm cũng tạo tâm lí thoải mái trong học tập

Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở đại học nói riêng giáo viên luôn giữ một vai trò quan trọng, không thể thiếu được đó là sự quản lí, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên Nhưng thực

tế cho thấy rằng, dù giáo viên có kiến thức uyên thâm đến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch

và phương pháp hợp lí, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao

1.3.2.2 Yêu cầu tự học trong quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ

Tự học được đánh giá là rất quan trọng và nó càng trở nên quan trọng hơn đối với đào tạo theo tín chỉ Học theo tín chỉ là phải áp dụng phương pháp học tích cực, đó là phương pháp lấy tự học và học cái cốt lõi là chính Phương pháp học này phát huy tính năng động và sáng tạo của sinh viên Sinh viên phải tự hình thành tính tự giác học tập, khi đã có nhu cầu thì sinh viên sẽ tự tìm được phương pháp học tập phù hợp Mô hình đào tạo này vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho sinh viên mới rèn luyện và thích nghi, để tự tin hơn trong xu thế hội nhập

Đào tạo theo học chế tín chỉ sinh viên phải vừa tiếp thu kiến thức trên lớp thông qua bài giảng của giảng viên, vừa thảo luận, làm bài tập trên lớp và tìm kiếm tích luỹ kiến thức ngoài lớp học (qua các tài liệu mà giảng viên yêu

Trang 36

cầu đọc, qua các bài tập, thí nghiệm mà giảng viên giao) vừa tự học ở nhà, thư viện…Giờ học trên lớp giảm mà tăng thời gian thảo luận, học nhóm và thời gian tự học Để lĩnh hội được kiến thức đòi hỏi mỗi sinh viên phải hiểu rõ được bản chất của học chế tín chỉ, từ đó mới tìm ra được phương pháp học tập phù hợp với từng loại hình lớp học

- Học lí thuyết trên lớp:

Giờ học lí thuyết sinh viên không chỉ ghi chép những lời thầy cô giảng trên lớp một cách thụ động mà phải nghe, suy ngẫm và nắm được “linh hồn” những vấn đề mà thầy cô truyền đạt Thầy cô đặt vấn đề thế nào? Tại sao lại đặt vấn đề như vậy? Nguyên tắc để giải quyết vấn đề là gì? Sinh viên chưa cần nắm rõ những chi tiết cụ thể Vì thế sinh viên không đến lớp sẽ không có được bức tranh tổng quát của học phần, của từng chương, từng mục

- Học thảo luận trên lớp:

Giờ thảo luận trên lớp là giờ để làm rõ những vấn đề của giờ lí thuyết

áp dụng vào những bài toán cụ thể Nếu như giờ lí thuyết sinh viên chủ yếu là nghe, suy ngẫm thì giờ thảo luận sinh viên phải nói nhiều và tranh luận Ưu tiên đặt câu hỏi hơn là trả lời, không nên nôn nóng hiểu sâu, mà phải hiểu những vấn đề cơ bản trước

- Học ở nhà:

Học cách tự đọc tài liệu, tham khảo giáo trình để hiểu sâu “linh hồn” của từng chương và tiến tới cả học phần Cụ thể việc đọc sách, tài liệu phải được thực hiện theo các bước sau:

+ Bước 1: Đọc lướt để nắm ý chung + Bước 2: Đọc kỹ để nắm ý chi tiết + Bước 3: Đọc và nắm thông tin theo từng chủ để + Bước 4: Ghi chép lại những vấn đề đọc được

Tự triển khai những vấn đề cụ thể của học phần như giải bài tập, thiết

kế, chuẩn bị câu hỏi cho các giờ thảo luận trên lớp Tăng cường trao đổi bài theo nhóm

Trang 37

Cuối cùng mấu chốt là kĩ năng tự học; bản thân mỗi cá nhân đều tiềm

ẩn một khả năng tự học, khả năng đó được tăng cường hay không là nhờ vào cách dạy của giảng viên và ý thức học tập của họ Lối học nhồi nhét sẽ làm người học thui chột khả năng tự học; trái lại, lối học tự tìm tòi, nghiên cứu, chú trọng sự phát triển óc tư duy, vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống sẽ tăng cường khả năng tự học Như vậy, cách học có tác dụng rõ ràng đến việc phát triển năng lực tự học Với lối dạy - tự học, mức độ, đặc điểm hành động của người học quyết định đến hiệu quả học tập Hiệu quả của các hành động học tập tự học cao hay thấp tùy thuộc vào kĩ năng thực hiện các hành động đó Vì vậy việc hình thành kĩ năng trong học tập có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy - tự học có thể đưa râ mẫu kế hoạch tự học theo hệ thống tín chỉ Học tập trong học chế tín chỉ cần xác định cho bản thân

một kế hoạch học tập phù hợp

1.3.2.3 Quy trình triển khai hoạt động tự học theo học chế tín chỉ

Theo PGS.TS Đặng Xuân Hải, để triển khai hoạt động học và tự học theo học chế tín chỉ cần nắm được các nguyên tắc cơ bản về việc học Cụ thể các bước triển khai như sau:

Thứ nhất, cần xác định được mục đích và kế hoạch của việc học: Nguyên tắc này cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng ý thức và tạo lập nhu cầu cho người học, từ đó giúp người học xác định đúng mục đích của việc học Sau khi đã xác định được mục đích của việc học, người học cần xác định động cơ, thái độ và trách nhiệm với việc học của mình Để có động cơ học tập, cần lập được kế hoạch phấn đấu và mục tiêu cụ thể của môn học Trong

kế hoạch học tập, cần phân bổ thời gian một cách hợp lí cho các công việc, các nội dung bài học, điều này giúp người học làm chủ được quỹ thời gian, không bị động trước các mục tiêu môn học

Thứ hai, cần tuân thủ quy trình của việc học:

- Trước hết phải nắm vững mục tiêu của môn học, mục tiêu chính là cái

la bàn định hướng hoạt động học

Trang 38

- Lựa chọn nội dung học trên cơ sở đã xác định được mục đích, thấu hiểu mục tiêu cần đạt

- Thu thập và xử lí thông tin liên quan đến nội dung học đã xác định

- Xác định phương pháp và hình thức học phù hợp

- Xác định tiêu chí nhận diện kết quả đạt được của việc học

Thứ ba, học đi đôi với hỏi và học đi đôi với hành: Luôn đặt ra các câu hỏi cho việc học của mình, ví dụ: mình học đã đúng hướng chưa?, Nội dung nào là cốt yếu mà mình cần phải chiếm lĩnh?, cách thức lưu trữ nội dung học như thế nào để thuận tiện cho việc sử dụng? Học đi đôi với hành tức là luôn liên hệ nội dung học với thực tiễn liên quan

Trong học tập theo học chế tín chỉ, sinh viên cần có ý thức nắm vững mục tiêu môn học và mục tiêu của từng bài học để làm cơ sở xây dựng kế hoạch tự học cho phù hợp và nghiêm túc thực hiện kế hoạch đó; Ngoài ra sinh viên cũng cần đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trước giờ lên lớp Trong quá trình tự học, sinh viên cần suy nghĩ, sáng tạo và mạnh dạn đưa ra những ý kiến, nhận xét, thắc mắc của mình mà không quá phụ thuộc vào tài liệu và những bài giảng của giảng viên

1.4 Quản lí tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ

1.4.1 Quản lí việc xây dựng đề cương môn học có hướng dẫn tự học

Đề cương môn học là công cụ định hướng cho hoạt đọng dạy học theo tín chỉ Dựa trên chương trình đào tạo đã được nhà trường phê duyệt, các Khoa, Bộ môn phải cụ thể hóa chương trình dạy học thông qua đề cương môn học Đề cương môn học tối thiểu phải mô tả được: Mục đích môn học, mục tiêu môn học, nội dung chi tiết môn học, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá…

Đề cương môn học trong dạy học theo tín chỉ là một công cụ quan trọng nhất tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc triển khai kế hoạch dạy học của mình sau khi đã được cấp quản lí phê duyệt Đề cương môn học cũng là công cụ giám sát, theo dõi và

Trang 39

quản lí tiến trình dạy học và việc thực hiện các quy định trong dạy học theo tín chỉ Có thể nói rằng để “thống nhất trong đa dạng” khi triển khai đào tạo theo tín chỉ thì vai trò của đề cương môn học là rất quan trọng Đề cương môn học thường bao gồm các nội dung: Thông tin về giảng viên phụ trách môn học; các môn học tiên quyết, môn học kế tiếp; mục tiêu chung môn học, nội dung cốt lõi môn học; mục tiêu chi tiết môn học, nội dung chi tiết môn học; các hình thức và tiêu chí kiểm tra, đánh giá; lịch trình chung của môn học; lịch trình chi tiết môn học; chính sách môn học do giảng viên quy định

Trong học chế tín chỉ, việc xây dựng đề cương môn học có hướng dẫn

tự học cho sinh viên mang ý nghĩa hết sức quan trọng Hướng dẫn tự học thường được xây dựng trong mục “hình thức tổ chức dạy học và nội dung dạy học của từng tuần cụ thể trong một học kỳ” của bản đề cương Mục đích của phần đề cương này là nhằm cung cấp định hướng cách thức dạy và học, các nội dung của môn học và địa chỉ các tài liệu để sinh viên tự tích lũy nội dung học tập từng tuần; thông qua đó chỉ ra cách tự học đối với từng nội dung của môn học, tương ứng với định hướng cho việc tự học và tạo điều kiện cho sinh viên tự đánh giá mức độ đạt được nội dung cốt lõi của môn học theo tuần

Do đặc thù của hình thức tổ chức dạy học theo tín chỉ, mỗi nội dung kiến thức đều được tổ chức dưới các hình thức chủ yếu như: lí thuyết, thảo luận, thực hành, luyện tập, hoạt động theo nhóm, tự học, tự nghiên cứu Do vậy, ở mỗi nội dung học tập, giảng viên cần phải xác định rõ số giờ tín chỉ se thực hiện cho từng hình thức học tập nói trên Căn cứ vào nội dung học tập

mà lựa chọn hình thức dạy học phù hợp

Để quản lí được việc xây dựng đề cương có hướng dẫn tự học thì bản thân mỗi giảng viên trước tiên phải ý thức được tầm quan trọng của việc này trong đào tạo theo học chế tín chỉ Tiếp đó, khoa chuyên ngành và bộ môn có trách nhiệm kiểm duyệt, thống nhất trong đa dạng các bản đề cương để đưa ra một bản đề cương môn học phù hợp nhất Trong quá trình triển khai thực hiện, giảng viên cần phân tích cho sinh viên hiểu được tầm quan trọng của

Trang 40

vấn đề tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ để sinh viên chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ học tập được giao

1.4.2 Quản lí hoạt động hướng dẫn tự học của giảng viên

Hoạt động dạy của giáo viên mang tính quyết định chất lượng giáo dục

- đào tạo nói chung và chất lượng dạy học nói riêng Đặc biệt trong đào tạo theo tín chỉ, việc quản lí hoạt động dạy, chú trọng tới hướng dẫn tự học cho sinh viên là một khâu quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Có nhiều kỹ thuật để việc hướng dẫn tự học của giảng viên cho sinh viên mang lại hiệu quả cao:

Thứ nhất, xác định được phong cách học của từng sinh viên Đây là một nội dung mà khi hướng dẫn tự học cần lưu ý và tận dụng Phương pháp học của một người là sự kết hợp giữa cách người đó tiếp thu và tổ chức, xử lí thông tin Có sinh viên có xu hướng tiếp thu tốt qua ngôn ngữ nói, những sinh viên này phù hợp với những giờ tư vấn của giảng viên; có sinh viên lại tiếp thu tốt hơn qua thị giác, đối tượng này phù hợp với phiếu học tập mà giảng viên giao về nhà để tự nghiên cứu;…Trong thực tế, phần lớn chúng ta bắt gặp nhiều phong cách học tập trong cùng một con người, vì vậy, những cách phân chia trên chỉ mang tính chất tham khảo, có tính tương đối và có trọng số ưu tiên khác nhau giữa những đối tượng cụ thể khác nhau Nhưng nếu khi lên lớp, giảng viên nắm bắt được phong cách học tập của số đông sinh viên trong lớp sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc lựa chọn phương thức ưu tiên để chuyển tải nội dung dạy học

Thứ hai, cung cấp công cụ tự học như phiếu học tập, bản đồ tư duy để sinh viên có thể tự học hiệu quả Hướng dẫn sinh viên vẽ bản đồ tư duy, hãy khuyến khích sinh viên “cá nhân hóa” bản đồ tư duy của riêng mình vì mỗi sinh viên có cách tư duy riêng

Thứ ba, hướng dẫn sinh viên cách ghi chép để sinh viên có tư liệu liên kết việc học trên lớp và tự học ở nhà Ghi chép có kỹ thuật, có khoa học và hợp lí cũng tạo động lực cho sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w