CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
2.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV ở Trường ĐH Hòa Bình
Để có thể đánh giá khách quan thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Hòa Bình, tác giả đã tiến hành điều tra xã hội học, thăm dò ý kiến của 300 người trong trường, số phiếu thu được là 253 người (đạt 80%) bao gồm các đối tượng sau:
* 200 sinh viên cuối khóa: Khảo sát về thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên hiện nay tại trường
* 33 giảng viên cơ hữu và thỉnh giảng tại trường: Khảo sát về thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên hiện nay tại trường
* 20 cán bộ quản lý: Khảo sát về mức độ thực hiện và đánh giá thực tế các nội dung quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên, khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá của sinh viên tại trường.
Thời gian khảo sát vào tháng 7 năm 2014 với công cụ khảo sát là Phiếu khảo sát (Anket) dành cho giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên (có phụ lục kèm theo)
2.2.1.Việc ra đề thi/kiểm tra
- Bám sát mục tiêu chương trình đào tạo đã xây dựng theo kế hoạch hàng năm, Ban Giám Hiệu giao cho khoa và phòng đào tạo thực hiện công tác tổ chức kiểm tra đánh giá các lớp, trên cơ sở những tiêu chí quy định của Quy chế kiểm tra, thi hết học phần, thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp và khung chương trình chuẩn của từng học phần.
- Phần lớn, đề thi, kiểm tra mới chỉ đánh giá được kết quả học tập của SV ở mức độ thấp, yêu cầu sinh viên thuộc máy móc về kiến thức, tạo ra tiêu cực trong thi cử như quay cóp. Như vậy, SV không phát huy được khả năng sáng tạo, không cần tư duy nhiều để trả lời câu hỏi. Điều đó cho thấy, tình trạng hiện nay phổ biến ở các trường là điểm số của SV cao, nhưng chất lượng thực sự và quan trọng hơn là khả năng làm việc độc lập kém, không biết ứng dụng kiến thức đã được học và việc làm thực tế. Dẫn đến số lượng sinh viên ra Trường không có việc làm rất nhiều, một số có việc làm thì các doanh nghiệp lại phải đào tạo lại …
- 75% Sinh viên cho rằng đề thi, kiểm tra thường hỏi về nội dung đã được GV trình bày trên lớp, 20% sinh viên không đồng ý và cho rằng nội dung thi không được giảng viên giới thiệu trên lớp, khi làm bài thi sinh viên còn thắc mắc đề thi (một số ít), 5% không có ý kiến; Về việc nội dung thi đã được giảng viên nhấn mạnh trong quá trình dạy – học: 65% SV đồng ý với ý kiến này, 25% sinh viên không đồng ý, một số em cho hay nội dung thi không được giảng viên giảng dạy kỹ, mà chỉ cho các em tự nghiên cứu ở nhà, 10%
Sinh viên không có ý kiến về vấn đề này; Tỷ lệ sinh viên được khảo sát đồng ý về nội dung thi có mang tính chất mở rộng hay vận dụng kiến thức đạt 55%, 30% sinh viên không đồng ý, các em có ý kiến rằng câu hỏi thi ít kiến thức mang tính chất thực hành, vẫn chỉ bài tập trong giáo trình được học.
Biểu đồ 2.1. Nội dung thi/kiểm tra
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
Những vđề trong CTMH
Những vđề GV thường nhấn mạnh
Câu hỏi vận dụng kiến
thức
Đồng ý
Không đồng ý Không có ý kiến
Bên cạnh ý kiến của SV, ý kiến “đồng ý” của cán bộ quản lý và GV về đánh giá nội dung thi được thể hiện như sau:
Bảng2.1. Tỷ lệ GV và CBQL đánh giá về nội dung đề thi/kiểm tra
Yêu cầu GV CBQL Chung
Phù hợp với nội dung môn học 80% 65% 72.5%
Có ý nghĩa thực tiễn 65% 60% 62.5%
Đánh giá chính xác năng lực của SV 60% 45% 52.5%
Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn đề thi /kiểm tra phù hợp với nội dung môn học, ngoài ra đề thi/kiểm tra cũng đã quan tâm đến những nội dung gần với thực tiễn chuyên môn của ngành học; một số ý kiến thì cho rằng đề
trạng quay cóp, xem bài, học tủ, lộ đề thi (có một số ý kiến cho rằng GV đã tiết lộ nội dung thi/kiểm tra trước cho SV)
2.2.2. Phương pháp, hình thức thi/kiểm tra
Kết quả khảo sát thể hiện bằng biểu đồ 2.2: Tỷ lệ 65% số sinh viên được hỏi ý kiến đánh giá hình thức thi/kiểm tra phù hợp là viết tự luận.Theo quan điểm của các em, hình thức viết tự luận không gây ra nhiều áp lực học hành, các em có thể tham khảo thêm kiến thức, kinh nghiệm để tư duy, áp dụng vào bài viết của mình.
Tỷ lệ số sinh viên đồng ý với hình thức thi vấn đáp là 20%. Về hình thức này, các em cho rằng, nếu thi vấn đáp, giảng viên cho nội dung thi vẫn
“bó” trong khuôn khổ của lý thuyết, giáo trình học, gây quá nhiều áp lực cho sinh viên trước khi thi, nhiều em mất bình tĩnh không thể diễn đạt được nội dung.
Tỷ lệ sinh viên chọn hình thức thi trắc nghiệm trên máy chiếm 80%.
Các em cho rằng, thi trắc nghiệm trên máy sẽ mất ít thời gian hơn, nội dung câu hỏi sẽ đa dạng hơn; Thực hành trên máy tính là một phương pháp dạy học có hiệu quả cao. Ví dụ: với sinh viên Khoa Công nghệ và Khoa Kế toán, thực hành nhiều trên máy tính sẽ giúp các em có điều kiện tiếp cận với công nghệ thông tin, với phần mềm quản lý, gần với thực tiễn công việc hàng ngày. Với Khoa Mỹ thuật công nghiệp, Kiến trúc xây dựng, thực hành thiết kế nội thất, thiết kế thời trang … trên máy tính giúp các em được trải nghiệm ngay trên ghế nhà trường những công việc gắn bó với nghề nghiệp sau này. Tuy vậy, vẫn có một số sinh viên được hỏi không ủng hộ hình thức thi này. Có thể là do thi thực hành trên máy đòi hỏi sinh viên phải đầu tư thời gian học nhiều hơn, không thể quay cóp, dựa dẫm bạn bè trong khi thi được.
Biểu đồ 2.2. Các hình thức thi kết thúc học phần môn học
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Viết tự luận
Vấn đáp Thi Trắc nghiệm
Thực hành
Không có ý kiến Không đồng ý Đồng ý
2.2.3. Việc coi thi
Việc coi thi/kiểm tra tuy không liên quan nhiều đến vấn đề chuyên môn nhưng vẫn ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của SV. Việc cán bộ coi thi thực hiện nghiêm túc sẽ góp phần làm cho kết quả kiểm tra đánh giá khách quan, công bằng và chính xác, phản ánh đúng năng lực học tập của SV.
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ sinh viên, giảng viên và cán bộ đồng ý với đánh giá hoạt động coi thi như sau:
Bảng 2.2. Đánh giá về hoạt động coi thi
Yêu cầu SV (%) GV (%) CBQL (%) Chung
Rất nghiêm túc 36% 36.36% 40% 37.45%
Tương đối nghiêm túc 60% 45.46% 45% 50.15%
Chưa nghiêm túc 4% 18.18% 15% 12.40%
Có 37.45% ý kiến đồng ý hoạt động coi thi là rất nghiêm túc, 50.15%
đánh giá công tác coi thi tương đối nghiêm túc và 12.40% cho rằng coi thi
chưa nghiêm túc. Có nguyên nhân này do công tác tổ chức coi thi chưa thực sự chặt chẽ, còn xuất hiện một số tiêu cực: trao đổi bài, quay bài, nhìn bài nhau; một số cán bộ coi thi chưa thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của mình như còn nói chuyện riêng, ra khỏi khu vực thi; một số cán bộ làm việc riêng…
2.2.4. Việc chấm thi
Công việc chấm thi/kiểm tra của GV được đánh giá dựa trên 3 tiêu chuẩn chính xác, công bằng và khách quan.
Bảng2.3. Đánh giá về công việc chấm thi
Tiêu chuẩn SV GV CBQL Chung
Chính xác
Rất đồng ý 7.5% 60.6% 30% 32.7%
Đồng ý 72.5% 39.4% 60% 55.83%
Không đồng ý 16% 0 10% 8.67%
Rất không đồng ý 4% 0 0 1.3%
Khách quan
Rất đồng ý 10.5% 33.3% 20% 21.27%
Đồng ý 72% 66.67% 70% 69.56%
Không đồng ý 16% 0 10% 8.67%
Rất không đồng ý 1.5% 0 0 0.5%
Công bằng
Rất đồng ý 18% 36.36% 25% 26.45%
Đồng ý 60% 60.61% 55% 58.54%
Không đồng ý 14% 3.03% 20% 12.34%
Rất không đồng ý 8% 0 0 2.67%
Kết quả khảo sát cho thấy: về độ chính xác, tỷ lệ trưng cầu ý kiến
“đồng ý” đạt từ 55.83%; tỷ lệ trưng cầu ý kiến “ không đồng ý”: 8.67%, “Rất không đồng ý”: chỉ có 1.3%; Về tính khách quan: ý kiến “Rất đồng ý” đạt tỷ lệ: 21.27%, tỷ lệ trưng cầu ý kiến “đồng ý ” đạt 69.56% , tỷ lệ trưng cầu ý kiến “không đồng ý”: 8.67% và một số ít với ý kiến “rất không đồng ý”; Tính công bằng trong thi cử: ý kiến “rất đồng ý” chiếm tỷ lệ: 26.45%, tỷ lệ “đồng ý” đạt 58.54%, “không đồng ý” là 12.34% và cũng chỉ một số ít rất không đồng ý. Nhìn chung, tỷ lệ khảo sát cũng phản ảnh trung thực được tính chính xác, khách quan và công bằng.
Nguyên nhân có những ý kiến trên bởi vẫn còn hiện tượng tiêu cực chưa khắc phục được như “học gì thi nấy”, quay cóp, chép bài, nâng đỡ điểm do có quan hệ cá nhân, “chạy điểm”, “bệnh thành tích”, kiếm lợi từ việc dạy thêm cho nhóm SV, GV trù dập SV….