1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích của bệnh nhân đến khám, điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh hòa bình (luận văn thạc sĩ)

95 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC ĐINH VĂN THUẦN THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM, ĐIỀU T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

ĐINH VĂN THUẦN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA BỆNH NHÂN

ĐẾN KHÁM, ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA TỈNH HÕA BÌNH

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

THÁI NGUYÊN - NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

ĐINH VĂN THUẦN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA BỆNH NHÂN

ĐẾN KHÁM, ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA TỈNH HÕA BÌNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Đinh Văn Thuần

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư Tiến sỹ Trịnh Xuân Đàn Trưởng khoa Y học cơ sở - Trường đại học học y dược Thái Nguyên - Người thày đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Khoa Y tế cộng cộng, bộ phận Quản lý đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học

Y Dược Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy cho tôi trong hai năm học qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới BGĐ sở y tế, BVĐK tỉnh Hòa Bình, cùng toàn thể anh chị em trong khoa Gây Mê Hồi Sức BVĐK tỉnh đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn bè đồng nghiệp gần xa, đặc biệt tôi cảm

ơn vợ, các con tôi và gia đình hai bên nội ngoại đã tạo mọi điều kiện về tinh thần cũng như vật chất và động viên tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận án này

Học viên

Đinh Văn Thuần

Trang 5

CTSN Chấn thương sọ não DTTS Dân tộc thiểu số HSSV Học sinh sinh viên TNTT Tai nạn thương tích TNGT Tai nạn giao thông TNLĐ Tai nạn lao động TNSH Tai nạn sinh hoạt TTYT Trung tâm y tế

THPT Trung học phổ thông

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục bảng

Danh mục hình, biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Thực trạng nạn thương tích hiện nay 3

1.1.1 Khái niệm tai nạn thương tích 3

1.1.2 Tình hình tai nạn thương tích hiện nay 3

1.2 Nguyên nhân và một số các liên quan đến tai nạn thương tích hiện nay 14

1.2.1 Các yếu tố nguy cơ từ môi trường 15

1.2.2 Các yếu tố nguy cơ từ con người 15

1.2.3 Một số giải pháp phòng chống tai nạn thương tích cho người dân 18 1.3 Tỉnh Hòa Bình 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu 29

2.3.2 Thời gian nghiên cứu 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4.1 Phương pháp và thiết kế 29

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 29

2.5 Các chỉ số nghiên cứu 30

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 32

Trang 7

2.7 Xử lý số liệu 33

2.8 Đạo đức nghiên cứu 33

2.9 Hạn chế của nghiên cứu 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Thực trạng tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 34

3.2 Một số nguyên nhân chủ yếu và yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 38

3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 41

3.2.2 Đề xuất một số giải pháp phòng chống tai nạn thương tích cho người dân tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 - 2020 52

Chương 4 BÀN LUẬN 55

4.1 Thực trạng tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 55

4.2 Một số nguyên nhân chủ yếu và yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 59

4.2.1 Một số nguyên nhân chủ yếu tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 59

4.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình 62

KẾT LUẬN 69

KHUYẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo lứa tuổi 34

Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân TNTT theo giới, dân tộc và trình độ học vấn 34

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân TNTT theo nghề nghiệp và khu vực sống 35

Bảng 3.4 Vị trí tổn thương của bệnh nhân TNTT vào viện 35

Bảng 3.5 Tình trạng bệnh nhân trong quá trình vào viện 36

Bảng 3.6 Địa điểm xảy ra TNTT 37

Bảng 3.7 Tình trạng bệnh nhân vào viện 38

Bảng 3.8 Nguyên nhân tai nạn thương tích của bệnh nhân 38

Bảng 3.9 Mối quan giữa tuổi và giới của bệnh nhân tai nạn thương tích đến tình trạng đa chấn thương 41

Bảng 3.10 Mối liên quan cá nhân của bệnh nhân tai nạn thương tích đến tình trạng đa chấn thương 42

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và trình độ học vấn của bệnh nhân tai nạn thương tích đến tình trạng đa chấn thương 42

Bảng 3.12 Mối liên quan của yếu tố uống rượu, đội mũ bảo hiểm của bệnh nhân với tình trạng đa chấn thương 43

Bảng 3.13 Mối liên quan của yếu tố địa điểm, vùng xảy ra tai nạn thương tích của bệnh nhân với tình trạng đa chấn thương 44

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bệnh nhân tai nạn thương tích với tình trạng tử vong/nặng xin về của người bệnh 45

Bảng 3.15 Mối liên quan của yếu tố uống rượu, đội mũ bảo hiểm, địa điểm xảy ra tai nạn thương tích của bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình dẫn đến tình trạng tử vong/nặng xin về của người bệnh 46

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa giới và hình thức điều trị 47

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và hình thức điều trị 47

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa uống rượu và hình thức điều trị 48

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nơi xảy ra TNTT và hình thức điều trị 48

Bảng 3.20 Liên quan giữa độ tuổi và thời gian điều trị 49

Trang 9

Hòa Bình 50 Hộp 3.4 Ý kiến lãnh đạo huyện Lương Sơn về nguyên nhân tai nạn thương

tích ở tỉnh Hòa Bình 51 Hộp 3.5 Ý kiến về giải pháp phòng chống TNTT ở Hòa Bình 54

Trang 10

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai nạn thương tích là vấn đề toàn cầu, hiện đang là mối quan tâm của toàn thế giới cũng như của mỗi quốc gia Hàng năm trên thế giới có ít nhất 5,5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn do tai nạn thương tích Mỗi ngày có khoảng 16.000 người chết vì các loại tai nạn thương tích, ngoài ra còn có hàng trăm người bị thương tích ở các mức độ khác nhau, nhiều người trong số họ bị di chứng tàn tật suốt đời Thương tích xảy ra ở mọi khu vực và quốc gia, ảnh hưởng đến con người ở mọi lứa tuổi kể cả lứa tuổi lao động với nhiều mức độ khác nhau Tổn thất về xã hội và kinh phí do thương tích là rất lớn Hàng triệu người trên toàn cầu đang phải đối mặt với cái chết hoặc tàn tật của các thành viên trong gia đình do thương tích Ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chi phí này khoảng 65 tỷ đô la Mỹ, nhiều hơn khoản viện trợ mà các nước này nhận được cho phát triển kinh tế

Tổ chức Y tế thế giới đã xem tai nạn thương tích là “Gánh nặng bệnh tật toàn

cầu” [31], [64], [65]

Ở Việt Nam tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân hàng đầu của nhập viện và tử vong [1], [2] Theo kết quả điều tra y tế quốc gia 2001-2002 cứ 10 người tử vong do tất cả các nguyên nhân thì có 01 trường hợp tử vong do TNTT [5] Trong những năm gần, tử vong do TNTT, tai nạn giao thông luôn luôn là nguyên nhân hàng đầu (34,8%), tiếp đến là chết đuối (25,8%), tai nạn lao động và tự tử chiếm 6,9% và 8,6 % [54] Tử vong do tai nạn thương tích là nguyên nhân phổ biến thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong (chiếm 11% số trường hợp tử vong), sau các bệnh về tim mạch (18%)

và bệnh truyền nhiễm (15%) [39] Còn theo số liệu của Bộ Y tế cho thấy, 25% tổng số trường hợp tử vong được báo cáo tại Việt Nam là do tai nạn thương tích Nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp bị tai nạn thương tích

và tử vong là tai nạn giao thông đường bộ [6] Trước tình hình trên, Thủ

Trang 11

2

tưởng Chính phủ đã ban hành Chính sách quốc gia phòng, chống tai nạn thương tích giai đoạn 2002-2010 Trong quyết định này mục tiêu chung là từng bước hạn chế tai nạn thương tích trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội góp phần đảm bảo sự bền vững của quốc gia trên các mặt kinh tế, chính, xã hội Chính sách Quốc gia đã đưa ra các giải pháp, các biện pháp tổ chức thực hiện cho các cơ quan Chính phủ và các ban ngành có liên quan và cụ thể hóa vai trò chủ chốt của từng cơ quan, ban ngành trong lĩnh vực phòng chống tai nạn thương tích [45]

Trong thời gian qua, mặc dù thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, theo

số liệu và điều tra thống kê cho thấy, thương tích có chiều hướng giảm song con số tuyệt đối vẫn còn cao Một số loại hình thương tích như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ngộ độc thực phẩm, các loại thương tích trong gia đình và cộng đồng cần tiếp tục quan tâm phòng chống [40], [46]

Hòa Bình là một tỉnh cửa ngõ giao thông lên Tây Bắc Hòa Bình là tỉnh miền núi chủ yếu là người dân tộc Mường Kinh tế văn hóa xã hội ở tỉnh Hòa Binh đang phát triển, đây cũng là thách thức đối với người dân với vấn đề tai nạn thương tích đặc biệt là tai nạn giao thông Câu hỏi đặt ra là thực trạng tỉ lệ mắc và chết do tai nạn thương tích tại các bệnh viện của tỉnh Hòa Bình hiện nay ra sao? yếu tố nào ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc và chết do tai nạn thương tích

và giải pháp nào để phòng chống tai nạn thương tích cho người dân tỉnh tỉnh

Hòa Bình trong thời gian tới Chính vì thế chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực

trạng và một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích của bệnh nhân đến khám, điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình”

Mục tiêu nghiên cứu như sau:

1 Mô tả thực trạng tai nạn thương tích của bệnh nhân đến khám, điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ tháng 9/2014 đến tháng 8/2015

2 Xác định một số nguyên nhân và yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích của bệnh nhân khám, điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình

Trang 12

3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Thực trạng nạn thương tích hiện nay

1.1.1 Khái niệm tai nạn thương tích

Theo World Health Orgaization (WHO) - 1998: Tai nạn thương tích (TNTT) còn gọi là chấn thương, đây là tổn thương của cơ thể có chủ định hay không có chủ định gây nên bởi phơi nhiễm cấp tính đối với năng lượng mang tính gây tổn thương (cơ học, điện, nhiệt, hóa học) hay bởi sự thiếu vắng đột ngột của các yếu tố thiết yếu (như thiếu oxy trong chết đuối, hay sức nóng trong chấn thương do giảm nhiệt) [2]

1.1.2 Tình hình tai nạn thương tích hiện nay

Hàng năm trên thế giới đã có ít nhất 5,5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn do tai nạn thương tích Đây là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 trong 10 nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất Ở nhiều nước, số người

bị TNTT phải nhập viện chiếm 10-30% so với tổng số bệnh nhân, thiệt hại ước tính hàng ngàn tỷ USD, chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân (số liệu của

Tổ chức Y tế thế giới 1993) Dự báo đến năm 2020, số người bị TNTT mỗi năm sẽ tăng thêm 20% Tai nạn giao thông luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số các trường hợp TNTT Hàng năm, trên thế giới có khoảng 700.000 người chết và 10.000.000 người bị thương vì tai nạn giao thông gây thiệt hại ước tính hàng trăm tỷ USD Sau tai nạn giao thông là các thương tích do thảm hoạ thiên tai với số chết trung bình hàng năm khoảng 128.000 người (riêng châu Á trên 43.000 người) Thiệt hại trong 5 năm từ 1991 đến 1995 khoảng

440 tỷ USD Các TNTT trong lao động sản xuất, thương mại dịch vụ ước tính hàng năm xảy ra 250.000.000 trường hợp, làm 330.000 người chết gây tổn thất tương đương 4% tổng sản phẩm xã hội toàn cầu TNTT trong sinh hoạt gia

Trang 13

4

đình chiếm 30-40%, học đường 10%, hoạt động thể thao 15-20%, hoạt động văn hoá và các hoạt động vui chơi giải trí 2-4% [31], [32], [66], [72], [74] Tại Mỹ, tai nạn thương tích chiếm 40,8% số năm sống tiềm tàng bị mất, chi phí ước tính vào khoảng 158 tỉ USD/năm cho cả chấn thương gây nên tử vong và chấn thương không gây nên tử vong; tàn tật do tai nạn thương tích làm mất khả năng hoạt động bình thường vào khoảng 3 ngày/người/năm Nghiên cứu khác của Seifert Julia (2007), cho thấy ước tính tổng số chi phí cho TNTT ở Mỹ năm 2000 là 80,2 tỉ USD; trong đó có 1,1 tỉ USD cho bệnh nhân đột tử; 33,7 tỉ USD cho bệnh nhân nội trú và 45,4 tỉ USD cho bệnh nhân ngoại trú Mặc dù trong tổng số bệnh nhân TNTT, chỉ có 4% cần nhập viện nhưng có tớ 42,0% chi phí dành cho TNTT lại thuộc về nhóm bệnh nhân này [71]

Tại Ai Cập, tai nạn thương tích chiếm 78% số năm sống tiềm tàng bị mất và 10 – 30% của tất cả các trường hợp nhập viện Ở Thái Lan, ước tính cho thấy rằng chi phí cho tai nạn thương tích chiếm vào khoảng 2% sản phẩm quốc nội, không tính đến các chi phí cho tàn phế lâu dài Tại Ấn Độ, nghiên cứu cho thấy chi phí trung bình cho TNTT là 388 USD (95%CI: 332 - 441) cho mỗi lần nhập viện và 12 tháng sau khi bị TNTT là 1046 USD (95%CI:

871 - 1221) Chi phí y tế cho các trường hợp TNGT khi phải nhập viện là 400 USD (95%CI: 344 - 445) và chi phí y tế cho những trường hợp TNTT không

do TNGT là 369 USD (95%CI: 313 - 425) [67]

Nghiên cứu tại Queensland, Australia của Aiken L.M và cộng sự (2010) cho kết quả những bệnh nhân cao tuổi bị TNTT thì sẽ có thời gian nằm việc trung bình là 8 ngày; tỉ lệ sống sót là 95,0% [63] Một nghiên cứu về chi phí thuốc điều t rị do TNGT ở Thái lan cho thấy trong tổng số 3723 bệnh nhân TNGT thì số tiền trung bình của mỗi bệnh nhân là 18,20 USD; thời gian hay xuất hiện tai nạn là từ 18h00 – 24h00 với tổng số chi phí thuốc do TNGT năm 2006 sẽ là 63,408 USD [68]

Trang 14

5

Không chỉ tổn hại về mặt kinh tế mà bệnh nhân bị TNTT còn có những tổn hại về sau Nghiên cứu cho thấy khi so sánh bệnh nhân bị TNTT với bệnh nhân không bị TNTT thì bệnh nhân bị TNTT có sức khỏe chung yếu cao hơn 1,83 lần so với bệnh nhân không bị TNTT ; bệnh nhân bị TNTT tự đánh giá khả năng bị trầm cảm cao hơn 1,33 lần so với bệnh nhân không bị TNTT Mặc dù các ảnh hưởng của TNTT giảm dần theo thời gian tuy nhiên sau khi

bị TNTT thì chấn thương sẽ liên quan mật thiết có ý nghĩa thống kê với cuộc sống của bệnh nhân trong vòng 10 năm sau TNTT [73]

Ở Việt Nam, trong 10 năm gần đây TNTT ngày càng tăng và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại các bệnh viện (30 người chết và 70 người bị thương mỗi ngày) Trong đó tai nạn giao thông (TNGT) chiếm hàng đầu: Trong vòng 10 năm 1990-2001, số vụ TNGT tăng gấp 4 lần so với thập kỷ trước, trong đó tai nạn đường bộ chiếm 97% Số tử vong tăng gấp 5 lần Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng chống TNTT, Chính phủ đã ban hành chính sách quốc gia phòng chống TNTT, trong đó tập trung vào TNGT, tai nạn lao động, tai nạn trong trường học và tại cộng đồng đặc biệt cho trẻ dưới 18 tuổi

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra trong các loại TNTT thì TNGT chiếm cao nhất, rồi đến thương tích do thảm họa thiên tai, tai nạn trong lao động, sinh hoạt gia đình, trường học, hoạt động vui chơi Chính vì vậy tại như cộng đồng việc điều tra tình hình TNTT, tìm hiểu nguyên nhân tai nạn là rất cần thiết Trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp phòng ngừa đồng thời xây dựng các mô hình an toàn trong phòng chống TNTT tại cộng đồng là những giải pháp có hiệu quả nhắm giảm số mắc TNTT cũng như tử vong do TNTT [11], [12], [14]

Về tai nạn giao thông: Theo thống kê của Ủy ban ATGT Quốc gia, năm

2013 cả nước đã xảy ra 29.385 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9.369 người,

Trang 15

số người chết và số người bị thương, trong đó, có 3 tỉnh giảm cả 3 tiêu chí ở mức trên 20% là: Đồng Nai, Quảng Nam, Tây Ninh; 13 tỉnh, thành phố có số người chết giảm từ 10% đến dưới 20% Tuy nhiên, năm 2013, có 19 tỉnh có

số người chết vì TNGT tăng [60]

Một số nghiên cứu về TNGT như nghiên cứu về tình hình tai nạn thương tích và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Dương cũng đã vẽ được các bức tranh TNTT tương tự [13], [16], [17]

Nguyễn Dung, Dương Quang Minh và CS nghiên cứu tình hình mắc và chết do tai nạn thương tích giai đọan 2005 - 2008 tại 12 xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy xu hướng giảm dần tỷ lệ mắc TNTT do các nguyên nhân khác nhau tại 12 xã nghiên cứu Tỷ suất mắc TNTT giảm rõ rệt qua từng năm,

tỷ suất chết do TNTT giảm nhẹ và dao động duy trì ở mức 7,2/100.000; tỷ lệ phần 100.000 mắc TNTT chung là 2.767,7; tỷ suất tử vong bình quân chung là

12 Tai nạn thương tích nam cao hơn nữ ở cả hai tỷ lệ mắc và tử vong (gấp 1,8 lần đối với mắc TNTT và gấp 1,9 lần đối với tử vong do TNTT) Tỷ lệ mắc TNTT ở Nam chiếm 64,62%, nữ chiếm 35,38% Các số liệu trong nghiên cứu cho thấy gần tương đương với các công bố về nghiên cứu TNTT của các tác giả trong nước Có thể nói, chúng ta có thể tính được số mắc chết TNTT qua bộ công cụ giám sát TNTT như sổ ghi chép nguyên nhân tử vong theo sổ A6-YTCS có ở các trạm y tế xã, phường, báo cáo thống kê TNTT, phiếu ghi chép TNTT với điều kiện ghi chép này được thực hiện tốt Qua nghiên cứu cho thấy

tỷ suất bình quân mắc TNTT ở đối tượng học sinh, sinh viên chiếm cao nhất

Trang 16

7

(881), tiếp đến là nông dân (862), tỷ suất mắc thấp nhất là lực lượng vũ trang (11) Đáng chú ý là tỷ suất mắc ở các ngành nghề khác chiếm 495 do việc phân loại nghề nghiệp trong báo cáo TNTT chưa cụ thể, nhóm ngành nghề khác bao gồm nhiều đối tượng chưa phân loại nghề nghiệp theo danh mục, trẻ nhỏ chưa xếp vào diện học sinh sinh viên và người già Địa điểm xảy ra TNTT chủ yếu trên đường đi chiếm 46,6%, tiếp theo TNTT xảy ra tại nhà chiếm 37,4%, TNTT xảy ra ở hồ, ao sông là thấp nhất, chiếm 1,2% Điều đáng lưu ý là tỷ suất bình quân chết do TNTT trên đường đi chiếm cao nhất (6,85/100.000) chủ yếu liên quan đến tai nạn giao thông, như vậy tai nạn giao thông vừa có tỷ lệ mắc cũng như chết là cao nhất Tỷ lệ TNTT xảy ra ở hồ ao, sống chiếm tỷ lệ thấp nhất nhưng tỷ suất bình quân chết lại chiếm hàng thứ hai sau tai nạn giao thông (3,43/100.000), điều này cho thấy tính chất nghiêm trọng đối với loại hình tai nạn xảy ra ở sông nước Nam giới bị TNTT ở hầu hết các địa điểm, tỷ lệ cũng cao hơn nữ Tỷ lệ phần trăm chấn thương chi chiếm tỷ lệ cao nhất (52,1%) và thấp nhất là đa chấn thương (chiếm 8,8%) Tỷ suất mắc bình quân chấn thương chi chiếm tỷ lệ cao nhất (1.442/100.000), nhưng tỷ suất chết bình quân chấn thương chi hầu như không có trong nghiên cứu này Tỷ suất mắc bình quân đa chấn thương chiếm tỷ lệ thấp nhất (242,9/100.000), nhưng tỷ suất tử vong do đa chấn chấn thương lại cao nhất (6,51/100.000), điều này có sự khác biệt với những ghi nhận từ báo cáo điều tra Hộ gia đình về TNTT năm 2005, trong đó những chấn thương đầu mặt cổ tỷ lệ mắc thấp nhất, nhưng lại có tỷ lệ chết cao nhất, phần lớn là do chấn thương sọ não và do tai nạn giao thông gây ra (năm

2005 chưa bắt buộc đội mũ bảo hiểm, có lẽ vì thế nên tỷ lệ chết do chấn thương đầu mặt cổ cao; giai đoạn 2005-2008 tỷ lệ chết do chấn thương đầu mặt cổ thấp

có lẽ có phần tác dụng của đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông [11]

Nguyễn Mai Hương nghiên cứu thực trạng TNGT và kiến thức thực hành của người điều khiển phương tiện về qui định hạn chế sử dụng rượu bia

Trang 17

8

tại 3 tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và Bắc Giang năm 2012 cho thấy: Tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật ở Việt Nam Hàng năm có khoảng 15.000 vụ TNGT xảy ra, làm bị thương hơn 10.000 người và tử vong hơn 12.000 người Tại Việt Nam,

dự án An toàn giao thông đường bộ tại 10 quốc gia (RS-10) do quĩ Bloomberg tài trợ được triển khai tại Hà Nam và Ninh Bình và một tỉnh lựa chọn làm đối chứng là Bắc Giang Dự án tập trung chính vào việc tăng cường đội mũ bảo hiểm và hạn chế sử dụng rượu bia (HCSDRB) khi tham gia giao thông Nghiên cứu này là một hoạt động theo dõi đánh giá của dự án với mục tiêu tìm hiểu thực trạng TNGT và kiến thức, thực hành của người điều khiển phương tiện về quy định HCSDRB khi lái xe Đây là nghiên cứu cắt ngang có phân tích với cỡ mẫu là 1.680 đối tượng là các thành viên trong hộ gia đình hiện có sử dụng phương tiện cơ giới (từ 18 đến 60 tuổi) tại 3 tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và Bắc Giang Các đối tượng được chọn tại hộ gia đình và được phỏng vấn dựa trên bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Nghiên cứu sử dụng các phân tích thống kê mô tả và được tiến hành từ tháng 12/2011 đến tháng 6/2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy có tổng số 115 trường họp TNGT không tử vong ở cả 3 tỉnh, với tỷ suất tương ứng ở tỉnh Ninh Bình, Hà Nam

và Bắc Giang lần lượt là 2.020/100.000 (40 người), 3.020/100.000 (51 người)

và 1.159/100.000 (24 ngưòi) Dưới 50,0% người dân biết quy định HCSDRB

Tỷ lệ đối tượng có hiểu biết đúng về mức độ cho phép sử dụng rượu bia đối với người điều khiển ô tô/máy kéo/xe máy chuyên dùng và xe mô tô/xe gắn máy lần lượt là dưới 60,0% và 31% Có 38,1% trường hợp đã từng lái xe sau khi uống rượu bia và dưới 5% đối tượng bị xử phạt do vi phạm quy định Giới tính và độ tuổi được xác định là có hên quan đến kiến thức về mức nồng

độ cồn cho phép đối vói người điều khiển ô tô, xe máy và hành vi điều khiển phương tiện có sử dụng rượu bia Nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến

Trang 18

9

nghị cho người dân cần chấp hành quy định HCSDRB Cơ quan truyền thông cần tăng cường tuyên truyền về quy định Lực lượng cảnh sát giao thông cần tăng cường giám sát việc chấp hành luật của người dân góp phần giảm thiểu TNGT [23]

Theo Hoàng Thị Hòa, Nguyễn Kim Kế, Lê Hồng Nhung tai nạn thương tích có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi lứa tuổi với nhiều mức độ khác nhau [21], [25],[36] Tại Việt Nam, tai nạn thương tích là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật hàng đầu Để giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của thương tích, các hoạt động về chăm sóc chấn thương trước bệnh viện ngày càng được chú

trọng hơn Một trong số đó là dự án “Tăng cường dịch vụ chăm sóc chấn

thương trước bệnh viện tại Việt Nam” Kể từ khi thực hiện từ năm 2009 đến

nay, dự án đã thu được những kết quả nhất định Nằm trong khuôn khổ của

hoạt động đánh giá dự án “Tăng cường dịch vụ chăm sóc chẩn thương trước

bệnh viện tại Việt Nam ” tiến hành nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích

và khả năng sơ cấp cứu của mạng lưới y tế tuyến xã tại Hà Nội, Thừa Thiên

Huế, thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 với mục đích mô tả tình hình tai nạn

thương tích, thực trạng trang thiết bị chăm sóc chấn thương thiết yếu của hệ thống y tế tuyến xã và kiến thức, thái độ, thực hành sơ cấp cứu của y tế thôn bản để có những khuyến nghị cho hoạt động chăm sóc chấn thương trước bệnh viện Nghiên cứu tại 36 xã đối chứng với 36 xã can thiệp của dự án sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang Nghiên cứu đã thu thập số liệu báo cáo tai nạn thương tích, đánh giá trang thiết bị chăm sóc chấn thương thiết yếu tại 36 Trạm Y tế và phỏng vấn 201 y tế thôn bản nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành về sơ cấp cứu tai nạn thương tích Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ suất mắc tai nạn thương tích năm 2013 là 682/100.000 người Tỷ suất tử vong

do tai nạn thương tích năm 2013 là 46/100.000 người và đang có xu hướng gia tăng Đa số Trạm Y tế không đạt về trang thiết bị chăm sóc chấn thương

Trang 19

10

thiết yếu (97,2%) Tỷ lệ trang thiết bị xử trí đường thở và xử trí ngộ độc đạt thấp nhất (5,6%; 8,3%); Chung cả 3 tỉnh/thành phố: Tỷ lệ y tế thôn bản có kiến thức sơ cấp cứu tai nạn thương tích đạt là 40,3%; thái độ đạt là: 82,1% và thực hành đạt là: 34,1% Trong đó, tại từng tỉnh/thành phố tỷ lệ này lần lượt là: Hà Nội: 38,8%; 86,6%; 23,7%; Thừa Thiên Huế: 46,2%; 81,5%; 43,5%;

TP Hồ Chí Minh: 36,2%; 78,3%; 33,3% Nghiên cứu tìm ra mối liên quan giữa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, bằng cấp chuyên môn về y dược và đào tạo sơ cấp cứu với kiến thức của y tế thôn bản về sơ cấp cứu tai nạn thương tích; giữa giới tính, bằng cấp chuyên môn về y dược và được đào tạo sơ cấp cứu với thái độ của y tế thôn bản về sơ cấp cứu tai nạn thương tích và mối liên quan giữa giới tính, trình độ học vấn với thực hành của y tế thôn bản về

sơ cấp cứu tai nạn thương tích Có mối liên quan giữa kiến thức với thái độ và tực hành về sơ cấp cứu tai nạn thương tích Từ đó, nhóm nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cần Tăng cường đầu tư trang thiết bị phục vụ hoạt động sơ cấp cứu cho các Trạm Y tế và tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức sơ cấp cứu tai nạn thương tích cho y tế thôn bản [41], [44]

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong năm 2010, tai nạn thương tích

đã cướp đi 5,8 triệu người trên thế giới [60] Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế, năm 2011 tại 55 tỉnh/thành phố có 1.247.209 trường hợp mắc tai nạn thương tích (TNTT) với tỉ suất là 1.645/100.000 người, tăng 0,16% so với năm 2010 Nhóm tuổi 15-19 có tỉ suất mắc TNTT cao nhất là 2.402/100.000 người [8] Tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, năm 2012 có

4129 ca mắc tai nạn thương tích đến khám và điều trị, trong đó các nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bạo lực/xung đột, ngã và một số nguyên nhân khác như bỏng, tự tử, vật sắc nhọn, can thiệp phẫu thuật

là 850 trường hợp Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện đa khoa Đức Giang, Hà Nội từ 01/01/2013 đến 31/3/2013 với mục tiêu mô tả thực trạng,

Trang 20

37 tuổi, cao nhất là 92 tuổi, thấp nhất là 2 tuổi Có 5 nhóm nguyên nhân chính nhập viện điều trị tại thời điểm nghiên cứu: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bạo lực/xung đột, ngã, ngộ độc Trong đó chủ yếu là tai nạn giao thông với 139 trường hợp (48,1%) [7]

Tai nạn thương tích có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi lứa tuổi với nhiều mức

độ khác nhau Tại Việt Nam, tai nạn thương tích là nguyên nhân gây tử vong

và tàn tật hàng đầu Nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích và khả năng sơ cấp cứu của mạng lưới y tế tuyến xã tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế, thành phố

Hồ Chí Minh năm 2014 tại 36 xã đối chứng với 36 xã can thiệp của dự án sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang Nghiên cứu đã thu thập số liệu báo cáo tai nạn thương tích, đánh giá trang thiết bị chăm sóc chấn thương thiết yếu tại 36 Trạm Y tế và phỏng vấn 201 y tế thôn bản nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành về sơ cấp cứu tai nạn thương tích Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ suất mắc tai nạn thương tích năm 2013 là 682/100.000 người Tỷ suất tử vong

do tai nạn thương tích năm 2013 là 46/100.000 người và đang có xu hướng gia tăng Đa số Trạm Y tế không đạt về trang thiết bị chăm sóc chấn thương thiết yếu (97,2%) Tỷ lệ trang thiết bị xử trí đường thở và xử trí ngộ độc đạt thấp nhất (5,6%; 8,3%); Chung cả 3 tỉnh/thành phố: Tỷ lệ y tế thôn bản có kiến thức sơ cấp cứu tai nạn thương tích đạt là 40,3%; thái độ đạt là: 82,1% và thực hành đạt là: 34,1% Trong đó, tại từng tỉnh/thành phố tỷ lệ này lần lượt là: Hà Nội: 38,8%; 86,6%; 23,7%; Thừa Thiên Huế: 46,2%; 81,5%; 43,5%;

TP Hồ Chí Minh: 36,2%; 78,3%; 33,3% Nghiên cứu tìm ra mối liên quan

Trang 21

12

giữa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, bằng cấp chuyên môn về y dược và đào tạo sơ cấp cứu với kiến thức của y tế thôn bản về sơ cấp cứu tai nạn thương tích; giữa giới tính, bằng cấp chuyên môn về y dược và được đào tạo sơ cấp cứu với thái độ của y tế thôn bản về sơ cấp cứu tai nạn thương tích và mối liên quan giữa giới tính, trình độ học vấn với thực hành của y tế thôn bản về

sơ cấp cứu tai nạn thương tích Có mối liên quan giữa kiến thức với thái độ và thực hành về sơ cấp cứu tai nạn thương tích [36]

Theo Nguyễn Thị Hồng Tú tình hình tai nạn thương tích (TNTT) ở Việt Nam là vấn đề đang được Nhà nước quan tâm Nghiên cứu chấn thương tại Việt Nam cho biết tỷ suất thương tích chung là 5449,7/100.000 dân Tỉ suất tử vong do chấn thương là 88,4/100.000, cao gấp hơn 3 lần so với bệnh truyền nhiễm và thấp hơn so với bệnh mạn tính Từ thực tế tình hình TNTT, ngày 27/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách Quốc gia phòng chống TNTT giai đoạn 2001-2010, đánh dấu một bước tiến mới cho các hoạt động phòng chống TNTT tại Việt Nam Mục tiêu chung của Chính sách là thực hiện các biện pháp kiên quyết, kịp thời để từng bước hạn chế những TNTT, đặc biệt là những tai nạn nghiêm trọng trong các lĩnh vực: tai nạn giao thông, tai nạn trong trường học, tai nạn tại gia đình và cộng đồng Để thực hiện chính sách quốc gia ngành y tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng chống TNTT theo chức năng, nhiệm vụ của ngành như tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông phòng chống TNTT

hệ thống cấp cứu, phục hồi chức năng, củng cố hệ thống giám sát TNTT, đào tạo nâng cao năng lực phòng chống TNTT, xây dựng các mô hình cộng đồng

an toàn nghiên cứu nâng cao hiểu biết về yếu tố nguy cơ, tuyên truyền mạnh

mẽ tác động của TNTT đến sức khoẻ cộng đồng và kinh tế Tiếp tục và đẩy mạnh những thành công trong giai đoạn 2002-2005, ngành Y tế cũng đã đưa

ra định hướng chiến lược cho công tác phòng chống TNTT trong giai đoạn

Trang 22

13

2006-2010 để góp phần đạt mục tiêu chung của Chính sách quốc gia phòng chống TNTT là giảm tỷ lệ TNTT trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như giao thông, tao động sản xuất, sinh hoạt trong gia đình, nhà trường, nơi công cộng nhằm đạt hiệu quả tích cực trong việc bảo đảm an toàn về tính mạng, tài sản của nhà nước, hạnh phúc của nhân dân, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia trên các mô kinh tế, chính trị, xã hội [54]

Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cơ cấu bệnh tật tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi Bệnh mạn tính và TNTT ngày càng tăng trong khi các bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm dần Số liệu thống kê y tế năm 2002-2003 cho thấy tỷ lệ tử vong do TNTT tại bệnh viện chiếm khoảng 10%-15% tỷ lệ tử vong chung trong bệnh viện Theo điều tra y tế quốc gia 2001-

2002, tỷ lệ tử vong do TNTT chiếm 10,7% trong tổng số các trường hợp tử vong [5]

Nghiên cứu chấn thương tại Việt Nam cũng cho kết quả tương tự, tỷ suất thương tích chung là 5449,7/100.000 dân Tỉ suất tử vong do chấn thương là 88,4/100.000, cao gấp hơn 3 lần so với bệnh truyền nhiễm và thấp hơn so với bệnh mạn tính Tuy nhiên nếu xét về gánh nặng bệnh tật thì chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây nên sự mất mát số năm sống tiềm tàng của con người, sau đó là bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm Trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thì tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ suất chấn do tai nạn giao thông trên thực tế có thể cao hơn các con số thu được trong báo cáo định kỳ (cùng năm đó) khoảng 50% Sau tai nạn giao thông, đuối nước là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây tử vong ở Việt Nam (với tỷ suất là 23,4/100.000 dân) và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 15 tuổi Các nguyên nhân gây tử vong khác như ngã, ngộ độc, tai nạn lao động cũng cần được quan tâm [2], [9], [19]

Trang 23

14

Có rất nhiều nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện chính sách quốc gia

về phòng chống tai nạn thương tích như tử vong do TNGT tại BV Việt Đức,

BV Trung ương Huế [29], [37] Tình hình tai nạn giao thông đường bộ, sự chấp nhận quy định đội mũ bảo hiểm và kiểm soát rượu bia tại Hà Nội, 2010 [56] Nghiên cứu quan sát thực trạng đội mũ bảo hiểm ở 3 tỉnh Yên Bái, Đà Nẵng và Bình Dương 2008 [38] Nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống tai nạn thương tích và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường Trung học Phổ Thông (THPT) huyện Lục Yên – Yên Bái năm 2011 của Nguyễn Thị Lan và CS [27] Nghiên cứu phân tích tổng quan

và chiến lược hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Chính Sách và Phòng Chống Chấn thương Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh TNTT cho học sinh ở Thái Nguyên, Bắc Ninh [13], [18], [43] Đánh giá thực trạng kiến thức và thực hành đội mũ bảo hiểm của thanh niên từ 18-24 tuổi, tại quận Hoàn Kiếm, Hà nội sau 6 tháng thực hiện nghị quyết 32/2007-NQ-CP, 2008 [56] Nghiên cứu đánh giá nhu cầu và năng lực đào tạo trong dự phòng và sơ cấp cứu tai nạn thương tích Nghiên cứu đánh giá chi phí và tổn hại sức khỏe

do Tai nạn thương tích không chủ định của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du, Bắc Ninh giai đoạn năm 2006-2009 Kiến thức, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ và các yếu tố liên quan tại huyện Gia Lâm năm 2008 hay TNTT ở học sinh phổ thông ở thành phố Thái Nguyên [20],[23], [26] Các nghiên cứu trên cho chúng ta thấy một bức tranh đa dạng về TNTT ở Việt Nam

1.2 Nguyên nhân và một số các liên quan đến tai nạn thương tích hiện nay

Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội mà mỗi vùng, mỗi quốc gia có những đặc điểm về yếu tố nguy cơ khác nhau Theo một số nghiên cứu gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) cho thấy rằng 98% trường hợp học sinh sinh bị tai nạn thương tích là ở các nước đang phát triển, tại các nước này

Trang 24

15

học sinh đối diện với rất nhiều yếu tố nguy cơ như ao, hố nước sâu không có rào bảo vệ, biển báo, giếng, bể nước không có nắp đậy, hoá chất, thuốc men không được cất giữ cẩn thận mà để ngay tầm tay với của học sinh, các vấn đề

về an toàn cháy, bỏng, an toàn giao thông chưa được quan tâm Các nghiên cứu này cũng cho thấy rằng, tỷ lệ học sinh chết ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp cao hơn gấp 5 lần so với các quốc gia có thu nhập cao Đây

là bằng chứng cho thấy sự mất cân bằng khá lớn về sức khoẻ học sinh về tình hình tử vong và tàn tật do tai nạn thương tích giữa các quốc gia có thu nhập cao so với các quốc gia có thu nhập thấp Các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích cho học sinh Việt Nam mang đặc thù của các nước đang phát triển và các nước có thu nhập thấp Một số kết quả nghiên cứu tai nạn thương tích tại cộng đồng của Việt Nam cho thấy, học sinh nam có nguy cơ bị tai nạn thương tích cao gấp đôi so với nữ Các nguy cơ gây tai nạn thương tích thường gặp ở học sinh là tai nạn giao thông, ngã, bỏng, chấn thương do vật sắc nhọn, chấn thương do động vật cắn, ngộ độc và đuối nước [31], [59]

1.2.1 Các yếu tố nguy cơ từ môi trường

- Tác nhân vật lý như nhiệt, điện

- Cơ học như ngã, va đập do giao thông, thể thao, động vật tấn công

- Hoá học như hoá chất bảo vệ thực vật, hoá chất xét nghiệm

- Sinh học như ngộ độc thức ăn, côn trùng đốt

1.2.2 Các yếu tố nguy cơ từ con người

- Yếu tố tâm lý xã hội nư sự căng thẳng thần kinh, công việc đơn điệu, quan hệ trong gia đình và xã hội không tốt

- Đặc tính cá nhân như cẩu thả, không cẩn thận

- Yếu tố bệnh lý như mắc một số bệnh mãn tính, mệt mỏi trong lao động, học tập

- Kiến thức kinh nghiệm, hành vi

Trang 25

16

- Tuổi đời, bậc thợ, trình độ kỹ thuật…[53]

Tại Việt Nam, kết quả điều tra về chấn thương [2] đã cho thấy chấn thương do tai nạn thương tích là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với học sinh Việt Nam, 75% các trường hợp tử vong học sinh là do chấn thương thì chỉ có 12% các trường hợp tử vong là do các bệnh truyền nhiễm và tử vong do các bệnh không truyền nhiễm chiếm khoảng 13% Rõ ràng rằng gánh nặng của chấn thương là rất lớn Nếu như tất cả chấn thương gây tử vong ở học sinh được ngăn chặn, sẽ tăng kỳ vọng sống lúc mới sinh lên 7 năm Chấn thương chiếm 2/3 số trường hợp tử vong ở các nhóm tiểu học và vị thành niên, vì vậy tỷ suất tử vong ở các nhóm này sẽ không giảm nếu như các hoạt động phòng chống chấn thương không được quan tâm đúng mức

Về chấn thương không gây tử vong, tỷ suất mắc chấn thương không gây

tử vong là 5449/100.000 có nghĩa là có khoảng 5,5% người Việt Nam bị thương trong năm đó, với mức độ nghiêm trọng đủ để phải cần đến can thiệp

y tế hay phải nghỉ học hoặc nghỉ làm ít nhất một ngày [36], [54]

Theo số liệu của Bộ Y tế trong vòng 5 năm gần đây (từ 2006-2010) cho thấy số lượng và tỷ suất mắc tai nạn thương tích ở nhóm dưới 19 tuổi qua các năm có diễn biến thất thường và vẫn ở mức rất cao, trung bình mỗi ngày có 1.191 trường hợp bị tai nạn thương tích, tỷ suất tử vong năm 2006 là 1.0009/100.0000, năm 2009 là 1.616/100.000; năm 2010 là 1.455/100.000 [6] Nguyễn Dung, Dương Quang Minh và CS ở Sở Y tế Thừa Thiên Huế nghiên cứu đánh giá tình hình mắc và chết do tai nạn thương tích giai đọan 2005

- 2008 tại 12 xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy nguyên nhân gây tai nạn thương tích đó là tỷ lệ % mắc TNTT theo nguyên nhân hàng đầu là tai nạn giao thông (38,1%) tiếp đến là ngã (33,2%), thấp nhất là đuối nước (0,8%) Tỷ suất chết bình quân do tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất (6,85/100.000), thấp nhất là TNTT do súc vật cắn, bỏng, ngộ độc và ngã Đáng chú ý là mặc dù tỷ lệ

Trang 26

tế huyện (TTYT) huyện (chiếm 35,1%) Các đội cấp cứu tại cộng đồng, cơ sở y

tế tư nhân ít có vai trò trong đáp ứng cấp cứu tại cộng đồng do TNTT (chỉ chiếm

từ 0,4% đến 1%) Tuyến BVTW có lẽ chỉ giải quyết các trường hợp TNTT nặng nên tỷ lệ chỉ chiếm 6,6% Cá nhân cũng đóng vai trò nhất định trong việc xử trí các trường hợp TNTT nhẹ, tỷ lệ gia đình hoặc nạn nhân tự điều trị chấn thương chiếm 2,1% Qua phân tích trên có thể thấy việc cần thiết đầu tư con người, vật

tư, thiết bị cấp cứu cho tuyến y tế cơ sở là TYT nơi chiếm phần lớn việc xử trí ban đầu do TNTT (trên 50% số trường hợp bị TNTT) Việc đầu tư kỹ năng, phương tiện cấp cứu cho các đội cấp cứu tại cộng đồng ít phát huy hiệu quả, trong lúc đó tuyên truyền, giáo dục về kỹ năng sơ cấp cứu cơ bản tại cộng đồng

có tác dụng trong việc hỗ trợ gia đình và nạn nhân thực hiện tự sơ cứu ban đầu

So sánh với kết quả điều tra ở 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, các tỷ lệ trên có nhiều điểm khác biệt: ở 2 tỉnh trên, tỷ lệ TNTT tự điều trị cao nhất 33,48%; đến thầy lang chữa 3,7%; người bị TNTT đi lên bệnh viện huyện, tỉnh và Trung ương chỉ chiếm 31% Độ tuổi bị TNTT: Nhóm tuổi mắc TNTT cao nhất là từ 19

- 60 tuổi, chiếm 52,2%; đây là nhóm tuổi có khoảng cách tuổi lớn và là nhóm tuổi lao động chính, tham gia tất cả các hoạt động của xã hội, tỷ lệ mắc TNTT chiếm cao Nhóm tuổi này nếu bị TNTT thì bản thân họ sẽ giảm hoặc mất khả năng lao động trong thời gian nghỉ điều trị, không duy trì được cuộc sống bình thường cho gia đình, gây nên tình trạng nghèo đói cho gia đình (là cái bẫy đói nghèo) và gánh nặng cho xã hội Nhóm tuổi 5 - 14 tuổi đứng hàng thứ hai trong các nhóm tuổi mắc TNTT, điều này cũng phù hợp vì đây là lứa tuổi hiếu động,

có nhiều thay đổi tâm sinh lý, thiếu kinh nghiệm xử lý tình huống trong các hoạt

Trang 27

18

động hàng ngày cho nên có thể dễ xảy ra tai nạn và bị mắc ở mức độ khá nặng

và tỷ lệ TNTT khá cao (chiếm 22,7%) Điều này nhắc nhở chúng ta cần quan tâm bảo vệ trẻ em và thanh niên nhiều hơn nữa trong phòng chống TNTT Nhóm tuổi mắc thấp nhất là 0 - 4 tuổi, đây là nhóm tuổi chưa tham gia vào các hoạt động xã hội, phần lớn được sự quan tâm chăm sóc của người lớn nên tỷ lệ mắc TNTT chiếm thấp nhất (6,5%) [11]

Nguyên nhân gây tai nạn lao động nông nghiệp: Do máy móc sử dụng không được an toàn Không tôn trọng các quy định cũng như không được huấn luyện về công tác an toàn vệ sinh lao động Do chủ quan của người lao động Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn và Nguyễn Thúy Quỳnh ở vùng sản xuất chè Thái Nguyên cho thấy tỷ suất TNTT không tử vong do lao động sản xuất chè là l5,9/%; Tỷ suất TNTT ở nữ ( 16,7/% cao hơn nam (l3,6%), cao nhất là nhóm tuổi 35 - 44 tuổi (24,8/%) Nguyên nhân TNTT thường gặp trong lao động trồng chè là do vật sắc nhọn (38,1%), ngộ độc (l7,5/%) ngã (l7,5%) và say nắng/nóng (11,1%); TNTT xảy ra ở tất cả các công đoạn lao động sản xuất chè, thường gặp nhất là công đoạn chăm sóc (39,7%), thu hoạch (20,6%) và vận chuyển (12,7%) [55]

1.2.3 Một số giải pháp phòng chống tai nạn thương tích cho người dân

Tai nạn thương tích không phải là các sự kiện có tính chất may rủi, ngẫu nhiên mà là sự kiện có thể hiểu được, biết được và phòng ngừa được Do vậy lịch sử phòng chống tai nạn thương tích là một phong trào bắt đầu bằng công việc không coi chúng là các sự kiện hoặc sai sót ngẫu nhiên của những người

bị thương mà coi chúng là kết quả của việc tương tác giữa hàng loạt các yếu

tố Lịch sử phòng chống tai nạn thương tích cũng đã đứng trước việc xây dựng các biện pháp phòng chống mang tính thực tế và có phân tích [24], [54]

Từ quan điểm cho rằng tai nạn thương tích là kết quả của các yếu điểm

cá nhân từ những năm 1960, quan điểm hiện đại về phòng chống tai nạn

Trang 28

19

thương tích không bỏ qua trách nhiệm cá nhân, bên cạnh đó còn nêu lên tầm quan trọng của các yếu tố khác có liên quan Quan điểm hiện đại này đã được một số nhà khoa học tập trung chứng minh và làm sáng tỏ nhằm xây dựng các biện pháp phòng chống tai nạn thương tích có thể thực hiện được

Krug EG đã tạo nên và củng cố một danh mục gồm 10 biện pháp có thể

sử dụng để làm gián đoạn chuỗi sự kiện dẫn đến tai nạn thương tích đó là Ngăn chặn việc tạo ra các nguy hiểm; Giảm số lượng tổng thể của các tác nhân; Phòng chống việc giải phóng các tác nhân; Giảm bớt tỷ lệ xuất hiện của các tác nhân; Tách rời vật chủ ra khỏi tác nhân gây chấn thương có tiềm năng theo thời gian hay không gian; Tách rời vật chủ ra khỏi tác nhân gây chấn thương có tiềm năng bằng các vật cản cơ học; Giảm bớt các số lượng cơ bản của rủi ro; Có biện pháp bảo vệ hơn nữa cho những người có nguy cơ; Bắt đầu đương đầu với nguy hiểm, cải thiện sự đáp ứng của cấp cứu; Cải thiện dịch vụ y tế có liên quan đến cấp cứu và phục hồi chức năng Những can thiệp này thường được chia làm một số nhóm chính [59]

 Luật pháp/qui định cùng với các chế tài thực hiện

 Kỹ thuật/môi trường/thay đổi về thiết kế, các biện pháp khuyến khích

 Giáo dục/thay đổi hành vi và các biện pháp khuyến khích

Người ta nhận thấy rằng trong các hoạt động phòng chống tai nạn thương tích, có một trong hai cách tiếp cận chiếm ưu thế đó là cách tiếp cận

"chủ động" hoặc được gọi là mang tính chất hành vi và cách tiếp cận "bị

động" hay còn gọi là mang tính chất môi trường

Phòng chống tai nạn thương tích mang tính chất "chủ động" chú trọng

nhiều tới nỗ lực của con người và tập trung vào việc thay đổi hành vi, điều này đòi hỏi có sự tham gia và hợp tác của cá nhân tham dự và hiệu quả của phòng ngừa phụ thuộc vào việc sử dụng đúng biện pháp phòng ngừa Phòng

chống tai nạn thương tích mang tính chất "bị động" không yêu cầu nỗ lực cá

Trang 29

20

nhân mà tập trung vào sự thay đổi môi trường Các can thiệp thuộc về môi trường mang tính bị động có thể có hiệu quả cao nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có để có thể áp dụng cho tất cả mọi rủi ro và thường không thể loại

bỏ được mọi mối nguy cơ Các can thiệp thuộc về hành vi, mang tính chủ động thường đòi hỏi các hành động thường xuyên, lặp đi, lặp lại, đòi hỏi phải

có sự hiểu biết về mối nguy cơ và có nguy cơ hành động cao Có thể thấy rằng nếu chỉ áp dụng một trong hai cách tiếp cận hoặc là chủ động hoặc là bị động thì đó không thể là một giải pháp toàn diện đối với các vấn đề về tai nạn thương tích mà cả hai cách tiếp cận đều có một vai trò quan trọng

1.2.3.1 Các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích tại cộng đồng

- Địa phương có kế hoạch hoạt động phòng chống TNTT trong kế hoạch hoạt động của xã, cụ thể có kế hoạch xây dựng cộng đồng an toàn

- Truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống TNTT, để mọi người cùng tham gia xây dựng cộng đồng an toàn

- Có kế hoạch cụ thể để đảm bảo an toàn ở những khu vực công cộng

như đường giao thông, cầu cống, chợ, ao hồ

- Xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, phòng chống bạo lực trong gia đình

- Tăng cường các dịch vụ y tế tại cộng đồng nhằm hạn chế hậu quả của tai nạn thương tích

1.2.3.2 Một số biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích tại nhà

Rất nhiều thương tích nghiêm trọng có thể phòng tránh được nếu cha mẹ

và người chăm sóc trẻ trông trẻ cẩn thận và giữ cho môi trường an toàn Để xây dựng một mô hình ngôi nhà an toàn cho trẻ em mọi gia đình và cộng đồng cần có sự hiểu biết và thực hiện được những điểm sau

-Phòng ngừa ngã: Cầu thang, ban công, cửa sổ và nơi chơi của trẻ cần đảm bảo an toàn để tránh trẻ bị ngã Như cầu thang có cửa chắn, cửa sổ không

Trang 30

- Phòng thương tích do vật sắc nhọn: Dao, kéo và các vật dùng sắc nhọn

và mảnh kính vỡ có thể gây cho trẻ những thương tích nghiêm trọng Không cho trẻ em tiếp xúc với các đồ vật này

- Phòng bỏng: Không để trẻ em đến gần lửa lò sưởi, bếp nấu, nước sôi, đèn dầu, diêm và các thiết bị điện Vì vậy khu vực bếp phải có cửa ngăn hoặc rào quanh bếp nếu bếp trên sàn nhà

- Phòng điện giật: cầu dao, ổ cắm điện phải đặt ở nơi trẻ không với tới

- Phòng hóc sặc: trẻ em thích đưa các thứ vào miệng Không cho trẻ tiếp xúc với các đồ vật nhỏ để phòng ngạt thở

- Phòng ngộ độc: thuốc chữa bệnh phải để ở trong hộp và ở nơi trẻ không với tới được Chất độc, thuốc trừ sâu, chất tẩy, xăng, dầu hoả không bao giờ được cất giữ trong các chai lọ đựng đồ uống Tất cả những chất này phải đựng trong các bình, chai đựng có nhãn đề rõ ràng và để ở nơi riêng

- Phòng súc vật cắn: không thả rông súc vật và không để trẻ chơi đùa với

súc vật nuôi trong nhà Súc vật phải được tiêm phòng, ra đường phải rọ mõm

- Phòng tai nạn giao thông: trẻ em dưới 5 tuổi có nguy cơ rất cao khi ra

đường Chúng cần có người thường xuyên bên chúng và được dạy đi đường

an toàn ngay khi chúng bắt đầu biết đi [40]

1.2.3.2 Thực hiện chính sách quốc gia phòng chống tai nạn thương tích của ngành y tế

Từ thực tế tình hình TNTT, ngày 27/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã

ký Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách Quốc gia phòng

Trang 31

và tai nạn tại cộng đồng và gia đình Các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2010 so với năm 2000 đã được nêu rõ như sau: số vụ tai nạn trong học đường giảm 40%, trong lao động sản xuất giảm 30%, trong gia đình và cộng đồng giảm 30%, số người chết do TNGT giảm xuống còn 9 người 110.000 phương tiện giao thông Các đối tượng cần tập trung tác động là: người tham gia giao thông, người đang làm việc, trẻ em dưới 18 tuổi và các nhóm người dễ bị thương tổn như phụ nữ, người già và người nghèo Các lĩnh vực ưu tiên là TNGT (tập trung vào giao thông đường bộ), tai nạn lao động, tai nạn tại trường học, tai nạn tại cộng đồng

và gia đình [45]

Để thực hiện chính sách quốc gia ngành y tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng chống TNTT theo chức năng, nhiệm vụ của ngành: tăng cường hệ thống cấp cứu, phục hồi chức năng, củng cố hệ thống giám sát TNTT, đào tạo nâng cao năng lực phòng chống TNTT, nghiên cứu nâng cao hiểu biết về yếu tố nguy cơ, tuyên truyền mạnh mẽ tác động của TNTT đến sức khoẻ cộng đồng

và kinh tế

Ban Chỉ đạo phòng chống TNTT ngành y tế được thành lập năm 2003 theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế tiếp tục được củng cố và tăng cường chỉ đạo ngành thực hiện hoạt động phòng chống TNTT Kế hoạch phòng chống TNTT giai đoạn 2003-2005 đã được lãnh đạo Bộ phê duyệt và kế hoạch cụ thể hàng năm đã được xây dựng Công tác phòng chống TNTT cũng

là một chỉ số về tuyên truyền phòng chống TNTT trong các chuẩn quốc gia về

y tế xã giai đoạn 2001-2010 được ban hành trong Quyết định số

Trang 32

370/2002/QĐ-23

BYT ngày 7 tháng 2 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế [4] Phòng chống TNTT là một trong các tiêu chí đối với gia đình văn hoá sức khoẻ, khu phố văn hoá sức khoẻ, làng văn hoá sức khoẻ được ban hành tại Thông tư số 02/2003/TT-BYT ngày 28 tháng 3 năm 2003 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện chương trình phối hợp hoạt động đẩy mạnh Bộ Y tế cũng đã ban hành Hướng dẫn xây dựng cộng đồng an toàn, phòng chống TNTT tại Quyết định

số 170/QĐ-BYT ngày 17 tháng 1 năm 2006

Các hoạt động truyền thông giáo dục về phòng chống TNTT đã được tăng cường thông qua các tuần lễ hoặc tháng tuyên truyền được tổ chức hàng năm như: Tuần lễ An toàn vệ sinh Lao động và phòng chống cháy nổ vào tháng 3, Tháng hành động vì an toàn vệ sinh thực phẩm vào tháng 5 Nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày Sức khoẻ thế giới năm 2004 với chủ đề an toàn giao thông đã được tổ chức tại các tỉnh thành lớn của cả nước như: họp báo, mít-tinh, diễu hành, tuyên truyền trên đường phố Hệ thống truyền thông đại chúng (Truyền hình Việt Nam VTV1, VTV2; Đài tiếng nói Việt Nam; các báo) cũng đã tham gia tích cực tuyên truyền phòng chống TNTT cho cộng đồng Để thông báo và chia sẻ thông tin về các hoạt động phòng chống TNTT giữa các Bộ ngành và địa phương "Tờ tin phòng chống TNTT" đã được xuất bản 6 tháng /lần Thông tin tuyên truyền trên các báo cũng được đẩy mạnh Số báo chuyên đề phòng chống TNTT của Báo Sức khoẻ và đời sống cũng đã được phát hành rộng rãi Các báo lớn đều có chuyên mục về phòng chống TNTT Bản tin làng văn hoá sức khoẻ cũng được cập nhật các thông tin về phòng chống TNTT, xây dựng cộng đồng an toàn (CĐAT)

Bộ Y tế bắt đầu triển khai việc lồng ghép hệ thống giám sát, báo cáo, thống kê TNTT vào trong hệ thống báo cáo thống kê chung của ngành y tế từ năm 2003 Tất cả các trường hợp TNTT được thu thập từ trạm y tế xã hàng tháng và báo cáo lên tuyến huyện, tỉnh hàng quý Bộ Y tế đã nhận được báo

Trang 33

24

cáo TNTT 12 tháng năm 2004 của 49/64 tỉnh, thành và báo cáo 6 tháng đầu năm 2005 của 41/64 tỉnh thành Phần mềm vào số liệu, phân tích và báo cáo cũng đã được hoàn thiện để hỗ trợ cho công tác thống kê tại các tuyến Xây dựng bộ công cụ điều tra hộ gia đình quy mô tỉnh về tình hình TNTT và kiến thức của người dân để hỗ trợ các địa phương trong việc lập kế hoạch phòng chống TNTT có hiệu quả Việc điều tra đã được thực hiện tại Hải Dương, Hưng Yên năm 2003-2004 và đang được triển khai tại Huế và Long An Bắt đầu triển khai giám sát TNTT tại bệnh viện Hiện đang trong giai đoạn thí điểm triển khai tại 7 bệnh viện của 3 tỉnh là Hà Nội, Hồ Chí Minh và Ninh Bình Giám sát TNTT trẻ em tại 2 bệnh viện Nhi của Hải Phòng và Cần Thơ

Hệ thống giám sát TNTT tại bệnh viện cho phép cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố liên quan đến TNTT của tất cả các trường hợp thương tích đến bệnh viện Hệ thống giám sát TNTT ở ngành y tế Yên Bái thực hiện khá tốt thể hiện trong nghiên cứu của Lương Mai Anh, Nguyễn Thúy Lan và Trịnh Xuân Đàn [3]

Xây dựng các mô hình cộng đồng an toàn như sau: Xây dựng CĐAT lồng ghép trong phong trào làng Văn hoá -Sức khoẻ Thực hiện Chỉ thị của

Bộ trưởng Bộ Y tế về thực hiện phong trào làng Văn hoá -Sức khoẻ (VHSK),

Bộ đã có Thông tư hướng dân ngành y tế toàn quốc triển khai xây dựng thực hiện tiêu chí gia đình, ấp, làng, xã, phường VHSK trong đó có tiêu chí về CĐAT Đã tổ chức biên soạn, in ấn và phân phối trong toàn quốc Hướng dẫn xây dựng CĐAT theo hướng tiếp cận mới huy động người dân tham gia có thể kiểm soát được tốc độ TNTT gia tăng và giải quyết các vấn đề về an toàn cộng đồng không thể giải quyết theo phương pháp thông thường từ trên xuống Với sự hỗ trợ của Chương trình Hợp tác Y tế Việt Nam-Thuỵ Điển,

Bộ Y tế đang chỉ đạo xây dựng mô hình điểm CĐAT tại Hà Nội và Hưng Yên

Trang 34

12 huyện ở 7 tỉnh năm 2003 để có số liệu cơ bản xây dựng mô hình cấp cứu TNTT phù hợp với đòi hỏi thực tế

Nâng cao năng lực hoạt động phòng chống TNTT của cán bộ y tế các tuyến bằng cách tổ chức nhiều lớp đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ y tế

về phòng chống TNTT thông qua các trường đại học y và các viện như: dịch

tễ học thương tích, giám sát thương tích, kỹ năng truyền thông, xây dựng các

mô hình can thiệp phòng chống thương tích tại cộng đồng đặc biệt cho trẻ em

Tổ chức 33 lớp tập huấn kỹ năng sơ cấp cứu TNTT cho 1.352 cán bộ y tế tuyến xã/huyện Xây dựng các tài liệu phổ biến các kỹ năng phòng chống TNTT phân phát cho các cán bộ làm công tác phòng chống TNTT ở các tuyến

từ trung ương đến địa phương (hướng dần xây dựng CĐAT, hướng dẫn giám sát, thực hiện công tác truyền thông giáo dục) Các tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới về phòng chống TNTT cũng đã kịp thời dịch ra tiếng Việt để phổ biến

Trang 35

26

cho cán bộ y tế các tuyến như: Báo cáo toàn cầu về TNTT giao thông đường

bộ, Chiến lược 5 năm của Tổ chức Y tế thế giới về phòng chống TNTT giao thông đường bộ, Hướng dẫn giám sát thương tích, Thương tích Gánh nặng bệnh tật toàn cầu, Hướng dẫn điều tra cộng đồng về thương tích và bạo lực, Hướng dẫn chăm sóc chấn thương thiết yếu Hướng dẫn chăm sóc chấn thương chuyên sâu

1.3 Tỉnh Hòa Bình

Dân số tỉnh Hòa Bình hiện nay khoảng 80 vạn người, có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường (63,3%), người Kinh: 27,73%, người Thái: 3,9% Hòa Bình được coi là thủ phủ của người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác

Về địa lý: Hòa Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng, Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía tây bắc có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740

ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp,

ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn như sông Đà, sông Bưởi, sông Lạng, sông Bùi

Hòa Bình có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa đông phi nhiệt đới khô lạnh,

ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23°C Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 - 29°C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5°C

Trang 36

27

Về giao thông: Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh như: -Quốc lộ 6 đi qua các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, thành phố Hòa Bình, huyện Tân Lạc, Mai Châu nối liền Hòa Bình với thủ đô Hà Nội và các tỉnh tây bắc khác, điểm gần trung tâm Hà Nội nhất trên quốc lộ 6 của Hòa Bình thuộc huyện Lương Sơn là gần 40 km

- Quốc lộ 15A đi từ huyện Mai Châu nối quốc lộ 6 với các huyện vùng cao tỉnh Thanh Hóa

-Quốc lộ 12B nối thẳng quốc lộ 6 (ở Mãn Đức- Tân Lạc) đi qua các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ và tỉnh Ninh Bình là con đường ngắn nhất từ tây bắc xuyên ra Biển Đông

-Quốc lộ 21 có điểm đầu là ngã ba giao cắt với quốc lộ 32, trước cửa ngõ vào thị xã Sơn Tây, điểm cuối là thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định qua thị trấnXuân Mai Hà Nội qua các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy xuống Phủ Lý

-Đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 21, gặp quốc lộ 12B tại thị trấn Thanh Hà, Lạc Thủy và quốc lộ 12A tại địa bàn giáp ranh giữa

xã Yên Nghiệp của huyện Lạc Sơn và xã Lạc Thịnh của huyện Yên Thuỷ Các tuyến đường chính này nối với hệ thống đường nối liền các huyện,

xã trong tỉnh với thị xã và với các huyện, tỉnh bạn rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế - xã hội

- Hòa Bình có mạng lưới sông suối phân bổ tương đối dày và đều khắp ở các huyện Sông Ðà là sông lớn nhất chảy qua tỉnh với tổng chiều dài là

151 km Hồ sông Ðà có dung tích 9,5 tỷ m3 nước nối liền với Sơn La, phần

hạ lưu chảy qua Phú Thọ, Hà Tây thông với sông Hồng; sông Bưởi bắt nguồn từ xã Phú Cường, huyện Tân Lạc, dài 55 km; sông Bôi bắt nguồn từ

xã Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, dài 125 km; sông Bùi bắt nguồn từ xã Lâm Sơn huyện Lương Sơn, dài 32 km; sông Lạng bắt nguồn từ xã Bảo Hiệu

Trang 37

28

huyện Yên Thuỷ, dài 30 km

Với hệ thống giao thông phong phú như Hòa Bình hiện nay cũng tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông rất lớn

Về kinh tế: Phong cảnh du lịch Hòa Bình, về địa hình đồi núi trùng điệp với các động thác Bờ, Hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm leo núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phép phát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà

ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn Thấp thoáng các bản Mường, bản Dao rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình

Hòa Bình là một tỉnh có khá nhiều những suối nước khoáng nóng, tiêu biểu nổi bật như Suối nước khoáng Kim Bôi với nguồn nước phun lên ở nhiệt

độ 36 °C; Thung lũng Mai Châu thuộc huyện lỵ Mai Châu là một thung lũng với đồng lúa và những nếp nhà sàn được quy hoạch bảo tồn phục vụ du lịch

Đà Bắc- một huyện vùng cao thích hợp cho du khách tham quan du lịch sinh thái và văn hóa Đà Bắc với cảnh quan nguyên sơ yên ả, thơ mộng của thị trấn miền núi tây bắc Những hang động thiên tạo đa dạng hình thù có đỉnh Phù Bua bốn mùa mây phủ Có bản Nanh, bản Nưa của người Mường, người Dao

và xen kẽ một số gia đình người Thái, với những mái nhà sàn cổ Hòa Bình cũng là nơi đặt Nhà máy Thủy điện Hòa Bình công suất thiết kế đạt 1.920 megawatt Ngoài tác dụng phát điện, nhà máy này còn có chức năng ngăn lũ cho sông Hồng, cung cấp nước tưới tiêu và cải thiện giao thông đường thuỷ Về nông nghiệp, nhiều vùng chuyên canh nguyên liệu tập trung được phát triển và nhân rộng như vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím huyện Tân Lạc, Cao phong; vùng gỗ, luồng nguyên liệu ở huyện Đà Bắc, Mai Châu; vùng lạc, đậu ở huyện Lạc Sơn, Yên Thủy; vùng cây dưa hấu ở huyện Lạc Thủy, Kim Bôi; vùng cây dược liệu ở Tân Lạc, Lạc Sơn; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Mai Châu, Đà Bắc

Trang 38

29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Bệnh nhân bị TNTT được đưa đến khám và điều trị tại BVĐK tỉnh Hòa Bình từ tháng 09 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015

- Ban chỉ đạo TNTT tỉnh Hòa Bình

- Ban chỉ đạo TNTT huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, UBND huyện

Lương Sơn tỉnh Hòa Bình

2.3.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong 10 tháng từ 9/2014 - 8/2015

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp và thiết kế

Phương pháp nghiên cứu kết hợp Định lượng theo phương pháp mô tả, thiết kế cắt ngang

Định tính theo hai phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu

2.4.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu định lượng

* Cỡ mẫu: áp dụng công thức

n: Cỡ mẫu cần thiết

Z 1-α/2: Độ tin cậy với khoảng tin cậy 95% ta có Z 1-α/2 = 1,96

p= 0,11 (tỷ lệ TNTT trong tổng số bệnh nhân của bệnh viện theo niên giám thống kê của Bộ y tế 2010 [6]

Trang 39

30

d = 0,015, tính ra n = 1.209 người, nhưng thực tế số bệnh nhân TNTT vào viện tính từ 1/9/2014 đến 31/8/2015, chúng tôi thu được vào mẫu nghiên cứu là 1.334 người

*Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn toàn bộ tất cả các bệnh nhân TNTT ra viện

hoặc tử vong ờ BV đa khoa Hòa Bình trong thời gian từ 1.9.2014 đến 31.8.2015

2.4.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu định tính

*Phỏng vấn sâu: 03 người đó là Phó chủ tịch UBND tỉnh, Giám đốc

Sở Giao thông và Giám đốc Sở Y tế tỉnh Hòa Bình

*Thảo luận nhóm: hai cuộc thảo luận nhóm

- 01 nhóm 10 người đại diện Ban chỉ đạo thực hiện chương trình phòng chống tai nạn thương tích tỉnh Hòa Bình

-01 nhóm 10 người đại diện Ban chỉ đạo thực hiện chương trình phòng chống tai nạn thương tích huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình

Chọn vào nghiên cứu thảo luận nhóm những người có trách nhiệm, hiểu biết, nhanh nhẹn và phát ngôn có trách nhiệm với cộng đồng

+ Nghề nghiệp (Tự do, Cán bộ, Hưu, Khác)

+ Trình độ học vấn (≤ Tiểu học, Trung học cơ sở, THPT trở lên)

-Chỉ số tình trạng của bệnh nhân khi vào viện:

Trang 40

31

+Tử vong (Trước khi vào viện, Sau khi vào viện)

+Điều trị (Kê đơn ngoại trú cho những trường hợp nhẹ, Phẫu thuật, Dùng thuốc, Chuyển tuyến, Nặng xin về, Tử vong)

+Thời gian điều trị (< 1 ngày, 1 – 3 ngày, > 3 ngày – 10 ngày, 11 – 20 ngày, > 20 ngày)

- Phân bố bệnh nhân TNTT vào bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ

2014 – 2015 theo nguyên nhân:

+Tai nạn giao thông

+ Khác (điện giật, sét đánh, thiên tai, không xác định)

- Phân bố bệnh nhân TNTT theo tình trạng vào viện:

+ Sử dụng rượu bia (có, không)

Ngày đăng: 15/08/2020, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w