1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005

85 626 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 7,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đã sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang với cỡ mẫu thu được là 285 phụ nữ 40-60 tuổi, không mắc các bệnh liên quan đến rồi loạn chuyển hoá xương đã được chọn từ 5 xã, thị trắn the

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRUONG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYÊN THỊ KIM DUNG

THUC TRANG VA MOT SO YEU TO LIEN QUAN

BEN TINH TRANG LOANG XUONG Ứ PHỤ NỮ TỪ 40-80 TUỔI

TẠI HUYỆN GIA LAM, HA NOI NAM 2005

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

Sai cam on

LE đườu đà hatin ten nity, lt ele vbaive cite vil nhidve sue gitify Ue oka exe

“hờ ch gián qác aah chi ding sughigh cà dừa, (đau,

Z8 núi đầy Wi long birh bang wie biel cn sive sake dein Titir agp Ngnyte Thi Siam,

“hà đhỳ đi đội đuÁ butting clan ve tray al che Ute nhitng ion Univ nà Áo

"lộn quý brive loony saat qt hivh aw hin tein săn

in chin Utah ern tn Ban Gicim hậu nức đờy cổ gián tức le min rà đất

Fung Nia, Ninh Mig, beng D

Trieng wie Fata Lang trary sued qui tral Ue Up 86 ie file we tein ven sày

Tri sin biny long biel on tie Ban Gicin bob, ee pling ban ebvie- wing, bean

y @ Nim Bing - Trang lim Y le Big Lay not dé tao didn hién Undue bee cho đề

hong suél quis tink hoe bie

Tit vive chin Uheanh cồm aon otto bass be ding nghitfs da ding yipr whit

Adel hiv nite tei vise cliin Uhiewh odin ont

Wie Nee Theing 8 wit 205

Aguyén Thi Kon Vea

Trang 3

„.Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index)

Văn phòng khu vực Thái Bình Dương của

Tổ chức Y tế Thể giới và Viện nghiên cứu bệnh đái tháo đường quốc tế

Trang 4

Bảng 6 Tốc độ sóng siêu âm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 7 Phân phụ nữ theo tuổi bắt đầu có kinh

Bảng 8 Phân bố tuổi mãn kinh

Bang 9 Phân bố số phụ nữ theo thời gian mãn kinh

cao trung bình ở các nhóm cao trung bình ở 2 nhóm mãn kinh và chưa mãn kỉnh

Bang 10 Phân bó số lần sinh

Bảng 11 Tỷ lệ gãy xương ở 2 nhóm tuổi

Bảng 12 Tỷ lệ phụ nữ có bố mẹ/anh chị em trong gia đình bị gãy xương,

g cà phê/rượu theo từng mức độ

Bảng 17 Liên quan giữa nhóm tuổi với tình trạng loãng xương

Bảng 18, Liên quan giữa cân nặng với tình trạng loãng xương

Bảng 19 Liên quan giữa BMI với tình trạng loãng xương

Bảng 20 Liên quan giữa tình trạng mãn kinh với tình trạng loãng xương

Bảng 21 Liên quan giữa thời gian mãn kinh với tinh trạng loãng xương

Bang 22 Liên quan giữa thói quen dùng sữa với tình trạng LX/GMĐX

Bảng 23 Liên quan giữa mức độ luyện tập TDTT với tình trạng LX/GMĐX

Bảng 24 Liên quan giữa tần xuất tiêu thụ rau mồng tơi véi tinh trang LX/GMDX 41 Bang 25 Liên quan giữa tần xuất tiêu thụ đậu phụ với tỉnh trạng LX/GMĐX 41

Bảng 26 Liên quan giữa tần xuất tiêu thụ rau muống với tình trạng LX/GMĐX 42 Bảng 27 Liên quan giữa tần xuất tiêu thụ cam quả với tình trang LX/GMDX 42 Bảng 28 Mô hình hồi quy lô gíc xác định mối liên quan LX/GM ĐX 43

Trang 5

Biểu đồ 1 Phân bố cân nặng của đối tượng nghiên cứu

Biểu đỗ 2 Phân bố chiều cao của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3 Phân bố tình trạng dinh dưỡng theo BMI

Biểu đỗ 4 Phân bố tình trạng loãng xương theo nhóm tuổi

Biểu đồ 5 Phân bố việc sử dụng viên calci của đối tượng nghiên cứu ot Biểu đồ 6 Phân bố tỷ lệ dùng sữa theo từng mức độ 34

Trang 6

MỤC LỤC

DAT VAN DE

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu chung

2 Mục tiêu cụ thể

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU

1.1 Sơ lược về sự tái tạo và phát triển của xương

1.2 Loãăng xương

1.2.1 Khái niệm và phân loại loãng xương

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến loãng xương

1.2.3 Các phương pháp chân đoán loãng xương và đo

1.2.4 Tình hình loãng xương trên Thế giới và Việt Nam

Chương 2 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.4 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.6 Phân tích số liệu

2.7 Hạn chế của đề tài và cách khắc phục

2 8 Vấn để đạo đức trong nghiên cứu

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung

3.2 Tình trạng dinh dưỡng, loãng xương của đ

3.3 Tiền sử kinh nguyệt và tình hình sinh đẻ

3.4 Tình hình gãy xương và sử dụng thuốc nội ti

3.5 Chế độ ăn uống, tập luyệt

3,6 Các yêu tổ liên quan đến tình trạng loãng xương

Chương 4 BÀN LUẬN ie

4.1 Đặc điểm về tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu

4.2 Tình hình kinh nguyệt và sinh đẻ của đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Nghiên cứu được tiền hành từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2005 với mục tiêu

chung *7ìm hiểu thực trạng và yếu tổ liên quan đền tình trạng loãng xương ở phụ

nữ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2005"

Nghiên cứu đã sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang với cỡ mẫu thu được là 285

phụ nữ 40-60 tuổi, không mắc các bệnh liên quan đến rồi loạn chuyển hoá xương đã được chọn từ 5 xã, thị trắn theo phương pháp chọn mẫu xác xuất tỷ lệ với kích thước dân số (PPS) Tỷ trọng xương được đo bằng phương pháp siêu âm định lượng

với chỉ số tốc độ âm qua xương gót chân (ký hiệu: SOS, don vi: m/s) Chan đoán

loãng xương dựa vào T- score < - 2,5 (SOS < 1480 nvs) Két quả nghiên cứu thu

được như sau: chỉ số khối cơ thể (BMI) là 21,86 + 3,03 (thừa cân 35,4%) tương đối

cao hơn các khu vực ngoại thành khác Chiều cao trung bình là 151,23 + 5,19 tương

tự như tổng điều tra toàn quốc năm 2000 Phụ nữ sinh > 5 lần chiếm tỷ lệ 6,7%,

thấp hơn so với các vùng nông thôn khác Tỷ lệ loãng xương phụ nữ 40-60 tuổi là

7,7%, thấp hơn so với một số nghiên cứu khác Tỷ lệ loãng xương tăng dần theo

tuổi và theo thời gian mãn kinh (p<0,05) Một số yếu tố liên quan được tìm thấy

trong nghiên cứu này là cân nặng, thời gian mãn kinh, tần suất sử dụng một số loại

thực phẩm giảu canxi và chế độ luyện tập thể dục, thể thao

Với kết quả thụ được như vậy, chúng tôi xin có một số khuyến nghị như sau:

1 Những phụ nữ có cân nặng thấp dưới 40kg, mãn kinh sớm và kéo dài cần phải theo dõi định kỳ loãng xương và hướng dẫn điều trị nhằm hạn chế hậu quả do loãng

xưng gây ra

2 Cần tuyên truyền giáo dục cho mọi phụ nữ sử dụng hàng ngày các thực phẩm giảu canxi như đậu phụ, rau muống để phòng và chống bệnh loãng xương

3 Khuyến khích lối sống lành mạnh, tăng cường tập luyện thể dục, thé thao với thời

4 Tiến hành nghiên cứu loãng xương trên diện rộng với các phương pháp sâu hơn để đưa ra các biện pháp dự phòng loãng xương trong tương lai.

Trang 8

DAT VAN DE Loang xương là tình trạng giảm khối xương và cấu trúc vỉ thể của tổ chức xương, làm tăng tính dễ vỡ và cuối cùng là làm tăng nguy cơ gay xương tự phát [85] [69] Gãy xương tự phát do loãng xương có thể xảy ra ở bất cứ vị trí nảo trên

ip nhat la: xương háng, cột sông va

khung xương của cơ thẻ, nhưng vị trí hay

xương cỏ tay [30] Hậu quả gãy xương do loãng xương có the gay tan tật và tử

vong

Loãng xương có thê gặp ở bất cứ lứa tuổi nào của người trưởng thành, nhưng

thường gặp loãng xương sau 39 tuổi và đặc biệt là thời kỳ mãn kinh [49] Loãng

xương có thể xảy ra ở cả nam giới và nữ giới, nhưng phụ nữ có nguy cơ bị mắc

nhiều hơn [56] Theo thống kê của Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản hàng năm

có khoảng 1.3 triệu người bị gãy xương do loãng xương [46] Nguy cơ bị gây

xương ở phụ nữ da trắng từ 50 tuổi trở lên là 40% trong khi đó chỉ có 9 % phụ nữ

có nguy cơ bị ung thư vú [64] Ước tính trên toàn Thế giới, số trường hợp gãy

xương háng do loãng xương vẫn gia tăng hàng năm, từ 1.7 triệu năm 1990 lên 6.3 triệu vào năm 2050 [56] Theo những báo cáo mới đây nhất, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ Bi trên 65 tuổi là 15% Tỷ lệ này lên tới >30% ở phụ nữ Anh trên 50 tuổi

ấy

[45] Loăng xương có hậu quả nghiêm trọng tới phát triển kinh tế và xã hội vi

xương do loãng xương gây ra rất khó điều trị, giá thành điều trị rất cao, và có thể gây tử vong Hàng năm, Chính Phủ Anh phải tiêu tốn 2,7 triệu đồng Euro cho điều

tri gay xương do loãng xương còn ở Mỹ chỉ phí này lên tới 3,8 tỷ USD [3] Ở Netherlands, giá thành ước tính cho điều trị loãng xương hảng năm lả khoảng 300

triệu Euro [45] Vì vậy, phát hiện sớm và dự phòng sớm bệnh loãng xương là rất

cần thiết để hạn chế và giảm tới mức tối thiểu các hậu quả của loãng xương gây ra

Ở Việt nam, với sự phát triển của nên kinh tế trong những năm gần đây, mức sống và cách sống của người dân cũng thạy đổi, tuổi thọ của con người tăng lên Điều đó đưa đến một giả thuyết là tỷ lệ loãng xương cũng tăng theo Từ trước đến

nay, có rất ít nghiên cứu về loãng xương và các yếu tố liên quan được tiến hành ở

Trang 9

của Vũ Thị Thu Hiền, Phạm Thu Hương cũng xác định tỷ lệ loăng xương ở phụ nữ trưởng thành từ 20 tuổi trở lên nhưng chưa có nghiên cứu nào về thực trạng và các

yếu tổ liên quan tới tình trạng loãng xương của phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia

Lâm

Gia Lâm là huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội có diện tích 140 km?

với dân số 208655 người, tỷ lệ các hộ gia đình làm nghề thuần nông chiếm 70%, trong đó lao động nữ chiếm đa số Phụ nữ từ 40-60 chiếm khoảng 27.6% dân số

đây là lực lượng đóng vai trò rất quan trọng trong gia đình và xã hội Theo thống kê

của các phòng khám khu vực, số bệnh nhân đến khám với các triệu chứng gợi ý

loãng xương chiếm tỷ lệ 13% trong tổng số 62421 lượt người đến khám, chủ yếu là

phụ nữ từ 40- 60 tuổi Tại bệnh viện Gia Lâm cũ, trong 3 năm 2001-2003 có 712

trường hợp gãy xương gặp ở phụ nữ 40- 60 tuôi trong tổng số 5742 ca gãy xương

Tuy nhiên đây cũng chỉ là con số thống kê sơ bộ, trong thực tế số các trường hợp

gãy xương có thể cao hơn rất nhiều do họ có thể đến các cơ sở y tế khác trong thành

lệ loãng xương ở đây ra sao? Các yếu tố liên quan

Trang 10

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu chung,

Tìm hiểu thực trạng và một số yếu tổ liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2005 Trên cơ sở đó

đưa ra một số giải pháp thực thỉ phù hợp nhằm kiểm soát và phòng ngừa loãng

xương ở phụ nữ của huyện Gia Lâm

Trang 11

TONG QUAN TAI LIEU

1.1 Sơ lược về sự tái tạo và phát triển của xương

~ Tế bảo xương: bao gồm tạo cốt bảo, huỷ cốt bảo, tế bào dây

~ Các chất khoáng: canxi chiếm 37-40%, phosphat 50-58%, cacbonat 2-8% Ngoài

ra còn có Kali, Mg, Na, Citrat và một số ion khác

Sự tái tạo xương được bắt đầu bằng sự huỷ xương do vai trò của huỷ cốt bảo

tiếp theo là giai đoạn chuyển đỗi với sự kết thúc quá trình huỷ xương và bất đầu quá

trình tạo xương Trong giai đoạn chuyển đổi các hốc xương tạo ra trong quá trình huỷ xương được lót bởi các tế bào đơn nhân Trong quá trình tạo xương các tế bảo đơn nhân được thay thế bởi các tế bảo nguồn gốc xương, các tế bảo này sau đó được

biệt hoá thành tạo cốt bào để tổng hợp nên chất căn bản chứa canxi lắng đọng, các

hốc được làm đẩy dân với xương mới Quá trình tái tạo xương cần vải tháng để hoàn thiện [31], [71] Nhờ quá trình tái tạo xương mả mô xương liên tục được thay

thể để duy trì khối lượng, hình dạng và sự toản vẹn của xương Tuy nhiên để quá

trình tái tạo xương được hoàn thiện đòi hỏi phải có sự cân bằng giữa quá trình huỷ

Xương và tạo Xương

Sự thay đổi khối lượng xương trong quá trình phát triển của cơ thể trải qua 3

giai đoạn:

~ Giai đoạn đầu: trong quá trình phát triển, sự tái tạo xương mạnh hơn huỷ xương Khối lượng xương tăng dần để đạt tới giá trị tối đa được gọi là "khối lượng xương

Trang 12

dinh” (Peak Bone Mass- PBM) PBM được định nghĩa là khối lượng của mô xương lúc kết thúc giai đoạn trưởng thành Tốc độ hình thành xương cao ở xung quanh

tuổi dậy thì và đạt PBM ở độ tuổi 20-30 Tuy nhiên thời điểm đạt được PBM thì

khác nhau giữa nam và nữ, giữa các chủng tộc Nữ đạt PBM sớm hơn so với nam từ

3-5 năm Nữ da trắng có bộ xương nhẹ nhất, nam da đen có bộ xương nặng nhất Dinh khối xương chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó hai yếu tố quyết định sự khác nhau của đỉnh khối xương là yếu tô di truyền và yếu tố dinh dưỡng với hảm lượng canxi, protein, Mg, Zn rong khẩu phần ăn [71] Như vậy PBM ở tuổi trưởng thành là một trong những yếu tố quyết định khối lượng xương của cơ thể,

- Giai đoạn mắt xương chậm: quá trình huỷ xương nhiều hơn quá trình tạo xương

dẫn tới giảm khối lượng xương theo thời gian Tuổi bắt đầu có sự mắt chất xương

chưa được biết chắc chắn Trước đây cho rằng quá trình mất xương thường bắt đầu sau 40 tuôi Gần đây nhiều tác giả đã nhận thấy tuổi bất đầu mắt chất xương sớm

hơn ở độ tuôi 30 đối với nam và nữ [70]

- Giai đoạn mắt xương nhanh: giai đoạn này chỉ xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh Do

vậy phụ nữ sau 50 tuổi khối lượng xương chỉ bằng 2/3 nam giới [24] Do đó những người có đỉnh khối xương thấp và sự mat xương nhanh sau mãn kinh dẫn đến loãng,

xương

1.2 Loãng xương

1.2.1 Khái niệm và phân loại loãng xương

Khái niệm về loãng xương đã được nhắc đến ở.nửa đầu thế kỷ 18 do Jean

Georges Chretien Federic Marin Lostein (1777-1835) nêu lên Từ đó các hiểu biết

về loãng xương đã có nhiều thay đối

'Vào những năm 1939-1940, Albright cho rằng loãng xương là sự canxi hoá

không đây đủ của xương nhưng đến năm 1960-1971, các công trình nghiên cứu của

Bordier và Meunier về hình thái, tổ chức học của xương lại chỉ ra rằng loãng xương

là giảm khối lượng xương toàn bộ [24]

Trang 13

mức làm cho xương trở lên giịn và dẫn tới gãy xương [24]

Giảm mật độ xương: khái niệm giảm mật độ xương được dùng để chỉ một

i và giới [9], [24] [31]

khối lượng xương thấp đơn thuẫn so với t

Lộng xương thơng thường được chia làm hai loại chính: lỗng xương tiên phát và lỗng xương thứ phát [2], [24]

~ Lỗng xương tiên phát: là lỗng xương xuất hiện tự nhiên mà khơng tìm thấy bắt

kỳ một nguyên nhân nào khác ngồi tuổi tác hoặc tình trạng mãn kinh

Cách đây 50 năm, Albright đã đề cập đến hai thể lỗng xương tiên phát, một

thể ơng thấy cĩ liên quan tới sự suy giảm sinh dục ở phụ nữ sau mãn kinh và một

thể ơng cho rằng cĩ liên quan tới suy giảm tạo androgen thượng thận ở người già

Sau này Rigg, Melton đã gọi 2 dạng lỗng xương trên là type I hay lỗng xương sau

mãn kinh và lỗng xương type II là lỗng xương tuổi già [24]

Lỗng xương type I xuất hiện trong vịng 5-15 năm sau mãn kinh, tỉnh trạng lỗng xương gây nên ở các xương xốp nhất là cột sống gây nên tỉnh trạng cong gù

veo va dau lưng

Lỗng xương type II xuất hiện ở cả nam và nữ với tỷ lệ nữ so với nam là 2/1

Lỗng xương thường xuất hiện sau tuổi 75, đĩ là hậu quả của sự mất xương chậm

trong vịng vải chục năm, biểu hiện chính là gãy cỗ xương đùi, gãy lún các đốt sống

đo tốn thương xuất hiện đồng đều trên cả xương đặc và xương xốp

- Loăng xương thứ phát được phát hiện ở cả hai giới và thường là hậu quả của một

số tình trạng hoặc bệnh lý, mà người ta biết rất rõ chúng cĩ thẻ ảnh hưởng đến rồi

loạn chuyển hố chất khống của xương, chẳng hạn như tình trạng bắt động kéo dài,

những rồi loạn về nội tiết ( hội chứng Cushing ) hoặc do tác dụng phụ của thuốc,

rối loạn chức năng gan thận .[23]

Trang 14

“Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến loãng,

xương tiên phát với đối tượng tiền mãn kinh và sau mãn kinh

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến loãng xương,

Mặc dù sự giảm sút khối lượng chất xương là một hiện tượng sinh lý bình

thường trong cơ thể, song rất nhiều yếu tố nội và ngoại sinh tác động làm cho tình

trang mat xương ở một số đối tượng trở lên nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và họ có nguy cơ bị loãng xương và gãy xương cao hơn Những yếu té được nhiều tác giả thừa nhận gồm:

~ Giới: phụ nữ có nguy cơ xuất hiện loãng.xương tiên phát cao hơn nam giới gấp 4 lần do khối lượng xương của họ thấp hơn và có một quá trình mất xương nhanh hơn

sau mãn kinh [59] Sự mất xương ở phụ nữ xuất hiện sớm hơn ở nam giới từ 15-20

năm do hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh chóng

[61] Ở tuỗi 70 có tới 50% phụ nữ sau mãn kinh có biểu hiện mắt xương trong khi ở

nam giới chỉ có 25% có biểu hiện mắt xương ở độ tuổi 80 [31]

- Tuổi: cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng có một sự

giảm rõ rệt mật độ xương theo tuổi Ở người giả có sự mắt cân bằng giữa tạo xương

và huỷ xương, đồng thời có sự suy giảm hấp thu canxi ở ruột và sự tái hấp thu canxi

ở ống thận và do vậy dễ có khả năng bị loãng xương Nghiên cứu của Thomsen K [77], M Boyanov-Popivanov [33], Er-Yuan Liao và cộng sự [42] cho thấy có mỗi

liên quan của tuổi tới tỷ lệ loãng xương Trần Thị Tô Châu, Vũ Thị Thu Hiền, Phạm

Thu Hương, Vũ Thị Thanh Thuỷ và cộng sự cũng cho thấy tỷ lệ loăng xương tăng

dần theo tuổi đặc biệt là tăng nhanh sau tuổi 50 [8], [12], [14], [26]

- Tuổi mãn kinh: những phụ nữ mãn kinh sớm, tự nhiên hay do phẫu thuật cắt bỏ

buồng trứng có nguy cơ loãng xương lớn hơn do thiếu hụt oestrogen Năm 1940 Albright là người đầu tiên đã thấy được mối liên hệ giữa chứng loãng xương và giảm chức năng buồng trứng của phụ nữ Sau đó các kết quả nghiên cứu đã khẳng,

định kết luận của Albright Nghiên cứu của Pouilles JM [67] và Rodrigeuz cùng

cộng sự [72] cho thấy có sự khác nhau về tỷ lệ loãng xương giữa nhóm tiền mãn

Trang 15

xương tăng dần theo thời gian mãn kinh như các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoải Châu [7], Trần Thị Tô Châu [8], Vũ Đình Chính [9], Vũ Thị Thu Hiền [43], Phạm

“Thu Hương và cộng sự [14], Vũ Thị Thanh Thuỷ [25], [26]

~ Estrogen: có vai trỏ quan trọng trong việc duy trì khối lượng xương Người ta nhận thấy khối lượng xương thấp và tốc độ mắt xương nhanh ở những phụ nữ bị cắt

bỏ buồng trứng [61] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp hormon thay thê sẽ làm giảm sự mất xương Liệu pháp hormon thay thế được áp dụng trong vòng 5-10 năm sau mãn kinh sẽ làm giảm tới 50% nguy cơ gãy xương do loãng xương Sau

khi ngừng liệu pháp hormon thay thể thì sự mất xương lại tiếp tục với tóc độ giống

như sau mãn kinh [10] [54]

~ Thuốc tránh thai: tiền hành gần đây trên thé giới cho thấy

bệnh loãng xương có liên quan tỷ lệ thuận với việc sử dụng thuốc tránh thai

hững nghiên cứu đư

Sultana S và cộng sự tiến hành một nghiên cứu hồi cứu trên 100 phụ nữ tuôi từ 35-

55 thấy rằng, những phụ nữ không dùng thuốc tránh thai sẽ giảm được nguy cơ

loãng xương và gãy xương do loãng xương hơn so với nhóm có sử dụng thuốc tránh

thai [74]

~ Chủng tộc: tỷ lệ loãng xương thay đổi đáng kể từ nước này đến nước khác Ở My, phụ nữ da trắng và phụ nữ nguồn gốc Châu Á có tỷ lệ loãng xương cao hơn những phụ nữ da đen và trên thực tế những phụ nữ da đen này có khối lượng xương cao

hơn [23]

~ Sự cung cấp canxi và vitamin D: chế độ ăn không đẩy đủ canxi, đặc biệt trong thời

kỳ tạo xương sẽ ảnh hưởng đến sự đạt được đỉnh cao của khối xương và mắt xương sau này Canxi có thể ngăn ngừa sự mắt xương nhanh sau khi khối xương của cơ thể

đã đạt tới đỉnh cao Vitamin D cần thiết cho sự hấp thu canxi Ở những phụ nữ sau

Trang 16

tiến hảnh trên 200 phụ nữ trung quốc tuôi từ 55-65 được bổ sung 2 ly sữa giàu canxi

mỗi ngảy kết quả cho thấy ở nhóm nghiên cứu có tốc độ mắt xương chậm hơn rõ rệt

so với nhóm chứng [34] Ở Việt Nam nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phượng [20] Vũ Thị Thu Hiền [43], Phạm Thu Hương và cộng sự [13] cũng thấy có mối liên quan giữa việc sử dụng các thực phẩm giảu canxi hoặc các thực phẩm tăng cường canxi với tỉnh trạng loãng xương của phụ nữ

- Yếu tô cân nặng: năm 1986, Viện Quốc gia về sức khoẻ của Đan Mạch đã thông

n của

báo rằng trọng lượng cơ thể thấp là một yếu tố nguy cơ đối với sự phát t

loãng xương [62] Năm 2003 theo báo cáo của nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp

'WHO/FAO cũng cho thấy rằng cân nặng cơ thể thấp làm tăng nguy cơ

ly Xương giả

trong và ngoài nước cũng cho thấy rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cân nặng và

do loãng xương cho nam và nữ tuổi trên 50 [27] Nghiên cứu của một số tá

tinh trạng loãng xương như các nghiên cứu của P A Ballard và cộng sự [32], Vũ Đình Chính [9], Vũ Thị Thanh Thuỷ [25], Nguyễn Thị Thanh Phượng [20] Trần Thị Tô Châu [8] Như vậy cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng

mat xương thông qua việc tăng tạo xương vả tăng chuyển androgen của tuyến

thượng thận thành estron ở mô mỡ

~_ Chỉ số khối cơ thể (BMI): nhiều nghiên cứu cho rằng cùng với cân nặng thì chỉ số khối cơ thể cũng có ảnh hưởng đến mật độ xương M Boyanov va P Popivanov

[33] trong nghiên cứu của mình tác giả nhận thấy là BMI > 25 dường như là yếu tố

bảo vệ đối với mật độ xương trong khi ở những người gày hơn với BMI < 22 thì lại

tăng nguy cơ loãng xương Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Châu [7] cũng cho

thấy có mối liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng loãng xương

~ Yếu tố chiều cao: nhiều nghiên cứu cho rằng chiều cao có ảnh hưởng đến mật độ xương Những người có tầm vóc nhỏ có khối xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ

loãng xương Lunt M và cộng sự trong một nghiên cứu để điều tra sự khác nhau về

mật độ xương giữa 16 cộng đồng dân cư của châu Âu, bao gồm những người từ 50-

80, đã đưa ra kết luận là cân nặng có môi liên quan mạnh với mật độ xương nhưng

Trang 17

mối liên hệ giữa chiều cao và mật độ xương thì ít chắc chắn [55J Ở Việt Nam

nghiên cứu của Vũ Đình Chính [9] cho thấy số người có triệu chứng gợi ý loãng

xương chiếm 40% ở nhóm có chiều cao <140cm Nghién cứu của Vũ Thị Thanh Thuỷ [25], [26], Trần Thị Tô Châu [8] cũng thấy rằng ngưỡng chiều cao từ 145cm trở xuống là yếu tố nguy cơ gây giảm mật độ xương

- Chế độ luyện tập: hoạt động thể lực và tập luyện rất quan trọng đối với việc xây

có luyện tập aerobic có chịu tải 45 phúlần, 3 lần/tuần và một nhóm không luyện

tập Kết quả là tỷ lệ mất xương giảm ở nhóm luyện tập so với nhóm không luyện

tập [75] Nghiên cứu của Silvano Adami và cộng sự cũng cho thấy những người đi

bộ hoặc đạp xe mỗi ngày trên 30 phút sẽ làm tăng mật độ xương so với nhóm không

tập [73] Ở Việt Nam nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền cho thấy rằng những phụ nữ tập thể dục đều đặn ít nhất 3 lần/tuần sẽ giảm được nguy cơ loãng xương so với

nhóm không tập thể dục [43] Như vậy sự vận động của các cơ kích thích sự tạo

xương và tăng khối lượng xương, giảm tỷ lệ mất xương Ngược lại sự giảm vận

động dẫn tới mất xương nhanh

- Yếu tổ di truyền và gia đình: Người ta thấy có những cá thể dễ dàng gãy xương

hơn những người khác; trong gia đình có bà, mẹ hoặc một người nào khác bị loãng

xương thì con cháu họ cũng có nguy cơ bị loãng xương Nghiên cứu của Diaz và

cộng sự cho thấy những người có mẹ bị gãy xương có nguy cơ bị lún đốt sống do

loãng xương cao hơn những người không có mẹ bị loãng xương [39]

~ Uống rượu, cả phê: Uống nhiều rượu, bia là một yếu tố nguy cơ của loãng xương

Điều này đã được chứng minh qua các nghiên cứu của các tác giả như R

Korpelainen va cộng sự [52], Silvano Adami va cng sự [73].

Trang 18

mà một số nghiên cứu đã đưa ra

1.2.3 Các phương pháp chin đoán loãng xương và đo mật độ xương

Hiện nay có rất nhiều phương pháp được áp dụng trong việc thăm dò khối

lượng chất khoáng của xương va chan đoán loãng xương như: phương pháp sinh

hoá, chụp X quang quy ước, đo hấp thụ photon đơn và kép, đo hấp thụ tỉa X năng lượng đơn và kép, chụp cắt lớp vi tinh, siêu âm Tuy nhiên mỗi phương pháp đều

có ưu và nhược điểm của nó

s Phương pháp sinh hoá: bằng cách định lượng một số chỉ số sinh hoá trong máu và nước tiểu người ta có thể đánh giá được sự thay đổi quá trình chuyển hoá chất khoáng của xương

~ Ưu điểm: đây là phương pháp không xâm nhập có thể lặp lại nhiều lần, có thể kết hợp với đo khối xương và đánh giá sự chuyển hoá xương bằng những chỉ số sinh

hoá đặc biệt

~ Nhược điểm: độ nhậy và độ đặc hiệu còn thấp

« Phương pháp chụp X quang quy ước [1], [9] [24] [31] [66]

~ Người ta sử dụng một số kỹ thuật X quang đẻ chẩn đoán loãng xương như:

+ Chụp X quang xương bàn tay tính chỉ số Bamett và Nordin Khi chỉ số này giảm xướng dưới 0,45 thì được coi là loãng xương

+ Chụp X quang cột sống theo tư thế nghiêng rồi nhận xét hình dạng và cho điểm

Trang 19

+ Chỉ số Singh: do Singh và cộng sự đưa ra năm 1970 trên cơ sở xác định những,

nhóm bè xương chủ yếu ở đầu trên xương đùi Dựa vào số lượng những bẻ xương này, tác giá phân chia loãng xương thảnh 6 giai đoạn và cũng là 6 mức độ loãng xương

~ Ưu điểm: đơn giản, không đắt, có thể thực hiện được ở mọi cơ sở y tế do đó có giá

trị trong các nghiên cứu dịch tễ học về loãng xương

~ Nhược điểm: chẩn đoán loãng xương muộn khi lượng chất khoáng đã giảm từ 30-

50%

« Đo hấp thụ photon đơn (SPA - Single Photon Absorptiometry) [24], [31], [48],

[63], [66]

- Nguyên lý của phương pháp: dựa trên sự thay đôi của chùm tia gamma phát ra từ

nguồn phóng xạ iode 125 phóng qua vùng cần nghiên cứu của xương

- Ưu điểm: máy gọn nhẹ, liều tía xạ thấp do đó dễ áp dụng tại cộng đồng

~ Nhược điểm: chỉ áp dụng ở những vị trí xương ngoại vi, không đo được xương

- Ưu điểm: cho phép nghiên cứu bất kỳ vị trí nào của xương,

~ Nhược điểm: không thể dùng để nghiên cứu tách biệt giữa phần xương đặc hay

xương xốp Thời gian thăm dò dài

© Do hip thụ tỉa X năng lượng đơn (SXA - Single Xray Absorptiometry) [24], [38],

147], [49], [50].

Trang 20

13

Từ năm 1994 phương pháp này đã được Kelly và cộng sự đưa vào sử dụng

cho những vị trí ngoại vi Đây là một kỹ thuật mới có thể đo được ở những vị trí tránh dùng phóng xạ

« Đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA - Dual Energy Xray Absorptiometry)

[21], [24], [31], [48], [63], [66]

- Nguyên lý: tương tự như DPA nhưng nguồn tỉa gamma phát ra từ Gadonilium 153

được thay thế bằng nguồn phát tỉa X

- Ưu điểm: độ chính xác cao, thời gian thăm dò ngắn, liều tia thấp, đánh giá tách

biệt giữa xương bè và xương vó, chỉ phí thấp

- Nhược điểm: bị hạn chế khi đánh giá nếu gặp các gai xương và canxi hoá động,

mạch

s Chụp cắt lớp vi tính (QCT~ Quantitative Computed Tomography) [24], [31], [48], [63], [66]

- Nguyên lý: Với những lớp cất 8-10mm đi qua trung tâm các thân đốt sống, QCT

cho phép đo được giá trị tỷ trọng khoáng thực sự bằng g/cm' độc lập với chiều cao

của xương

~ Ưu điểm: QCT cho biết tỷ trọng khoáng thực sự 3 chiều của xương, có khả năng

nghiên cứu tách biệt các phần xương bè, vỏ xương vả cột sống

- Nhược điểm: nguồn tỉa xạ cao, thời gian thăm dò kéo dài (15 phút), giá thành đắt

s Siêu âm định lượng (QUS ~ Quantitative Ultrasound )

~ Nguyên lý: phát chùm tỉa siêu âm qua vị trí xương gót, bánh chè hoặc xương cảng

tay để đánh giá chất lượng xương Khi xương bị xốp do loãng xương khả năng dẫn truyền siêu âm qua xương sẽ kém đi và khả năng hấp thu siêu âm cũng giảm đi

QUS sử dụng 2 đầu dò, một đầu dò truyền xung siêu âm và một dầu dò nhận xung siêu âm ở bên đối điện của xương Trong quá trình truyền xung siêu âm, đầu dò sẽ

di chuyển đọc theo xương của bệnh nhân và truyền xung siêu âm có tần số từ

Trang 21

160-600KHz xuyên qua mô Bằng cách tính toán tốc độ truyền của những xung siêu âm

và những biến đổi của xung sau khi đã qua mô người ta đánh giá được thực trạng của xương QUS có thể được đánh giá qua nhiều vị trí khác nhau của xương nhưng

do tính dễ khả thi và do cấu tạo, xương gót vẫn thường được dùng đẻ đánh giá tình

trạng của những xương ở ngoại biên Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng QUS có thể

được nghiên cứu sảng lọc loãng xương trên cộng đồng và có thể tiên lượng trước gãy cô xương đùi [58], [68]

~ QUS có 2 kỹ thuật chính là đo tốc độ truyền âm và hắp thụ siêu âm di ig

+ Đo tốc độ truyền âm ( Speed of sound - SOS): tốc độ âm được tính bằng tỷ lệ giữa

thời gian dẫn truyền xung siêu âm qua xương và đường kính của xương SOS được

áp dụng để đánh giá chất lượng xương đùi, gót, quay và xương bánh chè Kết qủa

duoc tinh bang m/s

+ Hap thu siéu 4m dai réng (Broadband Ultrasound Attenuation - BUA): cc xung

siêu âm với các tần số khác nhau bị hấp thụ bởi mật độ và cấu trúc xương Căn cứ vào kết quả tính toán những xung siêu âm đã bị hấp thụ người ta có thể đưa ra chỉ

số BUA BUA được áp dụng đẻ đánh giá mật độ xương gót Kết quả được tính bằng

db/MHz

~ Ưu điểm: không liên quan tới tia xạ, chỉ phí thấp, thể tích máy gọn nhẹ do đó có gid tri trong các nghiên cứu điều tra cộng đồng

~ Nhược điểm: độ chính xác bị ảnh hưởng bởi phần mềm bao quanh

1.2.4 Tình hình loãng xương trên Thế giới và Việt Nam

1.2.4.1 Trên thế giới

Loãng xương đang tăng nhanh trên toàn cầu và trở thảnh một trong những,

vấn đề sức khoẻ lớn của thế kỷ 21 [81] Ngày nay tuổi thọ trung bình của con người đang tăng lên một cách nhanh chóng trên toàn thế giới Theo báo cáo của WHO tuôi

thọ trung bình của con người đã tăng từ 65 tuổi vào năm 1996 lên 68 tuổi vào năm

1998 và ước tính sẽ tăng lên 73 tuôổi vào năm 2025 [82] Điều này dự báo rằng số

Trang 22

những người từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng từ 380 triệu người vào năm 1996 lên 800 triệu vào năm 2025 [82] Tuổi thọ của con người tăng dự báo tỷ lệ loãng xương và gñy xương tự phát sẽ tăng theo [81]

Theo báo cáo tại hội nghị lần thứ nhất về loãng xương của các quốc gia châu

Âu tổ chức tại Hà Lan năm 2002, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ Bi trên 65 tuổi là

15% Tại Pháp, hàng năm có khoảng 48.000 người từ 20 tuổi trở lên bị gãy xương háng và 31% phụ nữ tuổi mãn kinh bị gãy xương cột sống Tại Hy Lạp, tỷ lệ gãy xương háng tăng từ 70 người/100.000 người vào năm 1982 lên 118 người/100.000

người vào năm 1997 Còn ở Anh tỷ lệ loãng xương là hơn 30% ở những phụ nữ trên

50 tuổi [45]

Kết quả một nghiên cứu ở Mỹ vào năm 2001 cho thấy tỷ lệ loãng xương ở

phụ nữ cao tuổi là 20% [41] Một nghiên cứu khác ở Canada vào năm 2000 cũng cho thấy tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ từ 50 tuôi trở lên là 15,8% [76] Như vậy ngày

nay loãng xương đặc biệt là loãng xương ở phụ nữ đang là vấn đề báo động đỏi hỏi ngày càng nhiều sự quan tâm chú ý của cộng đồng

Những thập kỷ trước đây, loãng xương được coi là bệnh của các nước châu

Âu cũng như các nước phát triển Nhưng cho đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế một cách nhanh chóng của các quốc gia châu Á thì loãng xương lại đang trở thành một thách thức lớn đối với các quốc gia này [53] Người ta dự báo rằng trong thế kỷ

21, 30% gãy xương tự phát trên thế giới sẽ xảy ra ở Châu Á và những nước kém phát triển [29] Mặc dù vậy cho đến nay những nghiên cứu về loãng xương vẫn còn

rất tải rác tại các nước này Một nghiên cứu ở Mỹ vào năm 1997 trên 396 người dan Đông Nam Á nhập cư (172 người Việt Nam, 171 người Campuchia và 53 người

Lào) cho thấy tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 25% [57] Tỷ lệ nảy ở phụ nữ Nhật Bản

từ 60-69 tuổi là 23,2% [79] Ở Hàn Quốc, 34,2% phụ nữ trên 50 tuổi bị giảm mật độ

xương và 11,8% bị loãng xương [51] Tại Hồng Kông tỷ lệ loãng xương cũng được nhận thấy là 10% và 45% ở nhóm tuổi 50-59 và 60-69 [44] Loãng xương không

những xảy ra ở người già mà người trẻ tuổi cũng có thể bị loãng xương, điều tra ở

Trang 23

đối tượng phụ nữ Thái Lan từ 20 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ loãng xương là 18.5%

[65]

1.2.4.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh loãng xương chưa được quan tâm nhiều vì sau bao năm chiến tranh chúng ta đã phải đương đầu với nhiều căn bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến

tính mạng con người và nòi giống như: các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng,

bệnh liên quan đến sức khoẻ sinh sản và các bệnh lý về tim mạch Do điều kiện

kinh tế và phương tiện chẩn đoán còn gặp nhiều khó khăn nên từ trước đến nay

chưa có nghiên cứu nào về dich tễ học bệnh loãng xương trên diện rộng do đó

chúng ta chưa có một bức tranh khái quát về tình hình loãng xương tại Việt Nam

Tuy nhiên những nghiên cứu trên mẫu nhỏ cũng sơ bộ cho chúng ta thấy được tỉnh hình loãng xương theo từng lứa tuổi, theo các khu vực địa lý khác nhau và cũng chỉ

ra rằng loãng xương đang là một vấn đề cần được quan tâm tại Việt Nam

Nghiên cứu của Vũ Đình Chính, năm 1994-1995 tiến hành đánh giá loãng

xương bằng phương pháp chụp X quang quy ước cho 200 phụ nữ sau mãn kinh

thuộc huyện Cảm Bình- Hải Hưng cho thấy tỷ lệ loãng xương là 19% Tỷ lệ loãng xương tăng dần theo thời gian mãn kinh và đạt 22,2 % ở những người mãn kinh sau

10 năm [9]

Cũng bằng phương pháp chụp X quang cột sống nghiên cứu của Vũ Thị

Thanh Thuỷ năm 1996 cho thấy rằng tỷ lệ lún đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh thuộc khu vực nội thành Hà Nội là 24,8% Tỷ lệ lún đốt sống do loãng

xương cũng tăng dẫn theo thời gian mãn kinh, từ 9% ở nhóm mãn kinh từ 1-10 năm lên 53,7% ở nhóm mãn kinh trên 20 năm [25]

Năm 2000, Vũ Thị Thanh Thuỷ và cộng sự đã tiến hành đánh giá mật độ

xương bằng phương pháp hắp thụ tia X năng lượng kép trên 245 phụ nữ tuổi từ 22

đến 85 đến khám và điều trị tại khoa xương khớp Bệnh viện Bạch Mai Kết quả cho

thấy tỷ lệ loãng xương chung là 5,7% và các yếu tố tuổi, chiều cao, cân nặng, tuổi

Trang 24

17

mãn kinh, thời gian mãn kinh, số lần sinh con có liên quan rõ rệt với mật độ xương gót [26]

Cũng bằng phương pháp đo hắp thụ tia X năng lượng kép năm 2001 Nguyễn

Thị Thanh Phượng qua nghiên cứu mật độ xương gót và xương cằng tay ở 100 phụ

nữ tuổi từ 20 đến 39 đang sống, làm việc và học tập tại Hà Nội đã th: mật độ xương tương quan với cân nặng nhưng không có tương quan với tuổi bắt đầu có kinh và chiều cao [20]

Năm 2002 Nguyễn Thị Hoài Châu đã tiến hành khảo sát mật độ xương và

tìm hiểu những yếu tổ liên quan đến bệnh loãng xương của phụ nữ thành phố Hỗ

Chí Minh và một số tỉnh Miền Tây Nam Bộ bằng phương pháp siêu âm xương gót

cho thấy tỷ lệ loãng xương của phụ nữ mãn kinh là 39,8% vả phụ nữ chưa mãn kinh

lä 6,9% Tuổi, BMI, mức độ lao động thể chất, tỉnh trạng dinh đưỡng có liên quan đến bệnh loãng xương [7]

Điều tra của Trần Thị Tô Châu năm 2002 ở phụ nữ mãn kinh Hà Nội cho

thấy tỷ lệ loãng xương là 36,2% [8]

Năm 2003 Vũ Thị Thu Hiền tiền hành khảo sát tình hình loãng xương và các yếu tố nguy cơ ở 2232 phụ nữ trưởng thành từ 20 tuôi trở lên trên địa bàn thành phố

Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương thô ước tính là 15,4% Sau

khi hiệu chỉnh tuổi theo kết quả điều tra dân số năm 1999, tỷ lệ này là 9% Tý lệ

loãng xương tăng din theo nhóm tuổi và tăng cao rất nhanh từ nhóm tuổi 50-59 trở

lên, đó là giai đoạn sau mạn kinh 5-10 năm [43]

Ty lệ loãng xương ở phụ nữ nội thành Hà Nội cũng được khảo sát trong một

nghiên cứu cắt ngang của Phạm Thu Hương Nghiên cứu được tiến hành trên 2194 phụ nữ tại 4 quận nội thành Hà Nội Kết quả cho thấy tỷ lệ loãng xương là 16,4%,

| Sc: =

Trang 25

chưa có một công trình nào nghiên cứu vẻ tình trạng loãng xương của riêng lứa tuỏi

phụ nữ 40-60 Hơn nữa việc xác định môi liên quan giữa tình trạng loãng xương với các yếu tố đặc biệt là mối liên quan với chế độ ăn đặc thù theo từng cộng đồng vẫn chưa được lâm rỡ Vì vậy việc nghiên cứu tình trạng loãng xương và một số yêu tô liên quan luôn là vấn để rất cần thiết của mỗi ịa phương nhằm giúp địa phương xây

dựng kế hoạch can thiệp phòng bệnh loãng xương tại cộng đồng mình trong tương

lai.

Trang 26

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

'Từ tháng 2/2005 đến tháng 8/2005 tại huyện Gia Lâm , Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang có phân tích

Trong đó: n: Số phụ nữ cần điều tra

p: là tỷ lệ loãng xương ước tính của nghiên cứu trước 15%,

œ: là mức ý nghĩa thống kê, lấy a= 5%

Zi„¿=1,96 (ứng với độ tin cậy 95%) d: sai số cho phép = 0,06, đesign effect = 2

37 Để tăng tính chính xác, cỡ mẫu cần

“Thay vào công thức ta tính được n

tăng gấp 2, dự tính 10% từ chối phỏng ván, số đối tượng cần điều tra là 300 người

2.3.2.3 Cách chọn mẫu: chọn mẫu xác suất tỷ lệ với kích thước dân số (PPS)

« Giai đoạn 1: Chọn xã

Trang 27

Bước 1: Thiết lập danh sách 22 xã, thị tran của huyện Gia Lâm, trong đó có

dân số của từng xã, thị trấn Từ danh sách đó chọn ra 5 xã thị trấn theo các bước

tiếp theo sau:

Bước 2: Tính khoảng cách mẫu (k1): kl = Dân số cộng dồn của các xã trong

huyện (208655) chia cho số xã, thị trắn được chọn vào nghiên cứu (tác giả chọn 5

xã nghiên cứu)

Bước 3: Dùng bảng số ngẫu nhiên chọn một số ngẫu nhiên (¡1) có giá trị

nằm trong khoảng cách mẫu đầu tiên (k1) Xã đầu tiên được chọn là xã có dân số cộng dồn bằng hoặc lớn hơn số ngẫu nhiên ¡1 Chọn xã thứ 2 bằng cách lấy số ngẫu

nhiên đầu tiên đó (¡1) cộng với khoảng cách mẫu k1 sau đó so với dân số cộng dồn

Xã thứ 2 được chọn là xã mà dân số cộng dồn của nó bằng hoặc lớn hơn tổng ¡1+k1

và tiếp tục làm như vậy cho đến khi lấy đủ 5 xã

« Giai đoạn 2: Chọn đối tượng nghiên cứu tại 5 xã theo phương pháp ngẫu nhiên

hệ thống

Bước 1: Lap danh sách phụ nữ từ 40- 60 tuổi ở từng xã, thị trấn sẽ tiến hành

nghiên cứu Sau đó, từ mỗi danh sách chọn ra 60 phụ nữ để điều tra theo các bước tiếp

kỳ có số thứ tự nằm trong khoảng cách mẫu (k2) Chọn phụ nữ tiếp theo bằng cách

lấy số thứ tự của phụ nữ đầu tiên cộng với khoảng cách mẫu (k2), và cứ tiếp tục như vậy cho đến khi lấy đủ 60 phụ nữ cho mỗi khung mẫu của từng xã

2.4 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu

ính theo năm dương lịch tại thời điểm nghiên cứu

Trang 28

21

~ Trình độ học vấn: là cấp học mà người phụ nữ đã học và chia theo cấp học cao

nhất,

+ Mù chữ: Những người khai là không biết đọc và viết hay chỉ biết dọc

không biết viết

+ Cấp I: gồm những người học từ lớp 1 đến lớp 4 (theo hệ 10 năm)

+ Cấp 2: gồm những người học từ lớp 5 đến lớp 7 (theo hệ 10 năm)

+ Cấp 3: gồm những người học từ lớp 8 đến lớp 10 (theo hệ 10 năm)

~ Mắc bệnh thận: gồm những người được chẩn đoán bị suy thận tại các cơ sở y tế

chuyên khoa, không tính các bệnh sỏi thận

~ Mắc bệnh đái đường: gồm những người được chân đoán bị đái đường tại các cơ sở

y tế chuyên khoa

~ Bệnh tuyến giáp: bao gồm các bệnh cường giáp (basedow), cường cận giáp, suy

giáp

~ Số lần sinh: là số lần mà người phụ nữ đã sinh con khi thai tròn 28 tuần trở lên

~ Tắt kinh: tắt kinh tự nhiên được thừa nhận nếu sau 12 tháng liên tiếp vô kinh mà

không có bệnh lý rõ rằng,

~ Tuổi tắt kinh: được tính từ khi xuất hiện kỳ kinh nguyệt cuối cùng đã xảy ra với

người phụ nữ trước đó 1 năm hoặc hơn nữa

- Uống sữa như thể nào:

Hàng ngày: mỗi ngày ít nhất uống 1Iẳn, mỗi lần ít nhất là 200 ml sữa

Hang tuần: mỗi tuần uống 2- 6 lần với hàm lượng 200ml sữa

Rat

; từ 1 tháng trở lên mới uống một lằ

Không bao giờ: Không bao giờ sử dụng sữa ít nhất trong một năm gần dây

- Tập thể dục:

“Thường xuyên: là tập từ 3 ngày trở lên trong một tuần

Trang 29

TThỉnh thoảng: tập thể dục dưới 4 lần trong một tháng

Rất hiểm: tập thể dục dưới lIần/ tháng

- Chỉ số BMI: là chỉ tiêu sử dụng để đánh giá tình trạng thiếu năng lượng trường

diễn và thừa cân hoặc béo phì ở người lớn BMI được tính bằng cân nặng (kg) chia

cho bình phương chiều cao (mét)

Theo khuyến nghị về chỉ tiêu phân loại thừa cân béo phì cho cộng đồng các

nước châu Á ( IDI & WPRO, 2000), nếu:

BMI < 18,5: Nhẹ cân (CED)

BMI từ 18,5- < 23: Bình thường

BMI >23: thừa cân và béo phi

- Chẩn đoán loãng xương: Theo tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương của WHO (1994), nếu:

“-score >1: bình thường «> SOS > 1500 m/s đo được trên máy SA

T-score tir -1 dén -2,5: giam mat d6 xuong <> SOS = 1481-1500 m/s

T-score <-2,5: loãng xương <> SOS < 1480 m/s

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1.1 Nhân trắc: Cân nặng và chiều cao ghi vào phiếu khảo sát tình trạng loãng

xương

Trang 30

điều chỉnh chính xác trước khi cân Kết quả duge ghi theo kilogram với một số lẻ

= Do chiều cao: dùng thước đo nhân trắc Microtoi, có vạch chia tới milimét Đối

tượng do đứng ở tư thế thẳng đứng, hai gót chân chạm vào nhau, hai tay buông thẳng, bàn tay úp vào mặt ngoài đùi Kết quả ghi theo centimét

Kết quả thu được tính ra BMI rồi đối chiếu với bảng phân loại theo tiêu

chuẩn của châu Á

2.5.1.2 Đo tỷ trọng xương: Tỷ trọng xương được đo bằng phương pháp siêu âm

định lượng với chỉ số tốc độ âm qua xương gót chân (ký hiệu: SOS, don vi: m/s), sit dụng máy siêu âm định lượng CM-100, Furuno, Nhật Bản Sai số chính xác của máy là 0,3%

2.5.1.3 Thông tin liên quan đến tình trạng loãng xương của đối tượng được phỏng

vấn bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

- _ Cân, thước đo chiều cao

- May do mat độ xương

- BO cau héi phỏng van

~ Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu được đánh giá theo 3 chỉ tiêu:

nhẹ cân, bình thường, thừa cân và béo phì.

Trang 31

- Tỷ trọng xương: được đánh giá theo 3 chỉ tiêu: bình thường, giảm mật dộ xương

~ Do thời gian và nguồn lực có hạn, nên nghiên cứu mới chỉ tiền hành được ở phụ

nữ từ 40-60 tuổi mà chưa thể tiến hành trên toàn bộ người trưởng thành tại địa

phương

~ Nghiên cứu chỉ mới đề cập đến tần xuất xuất hiện các thực phẩm giảu canxi mà

không nghiên cứu được lượng sử dụng của các loại thực phẩm đó

~ Nghiên cứu chỉ có giá trị thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu, không thể đại diện cho

khu vực hay toàn quốc

~ Sai số nhớ lại, sai số hệ thống

2.7.2 Phương pháp khắc phục

én hành phỏng vấn thử để kiểm tra tính phù hợp của bộ câu hỏi và chất lượng

thông tin

~ Chọn điều tra viên là những người không liên quan đến thiết kế nghiên cứu và

được tập huấn cần thận và chỉ tiết trước khi điều tra Chọn người đo tỷ trọng xương

gót là bác sỹ chuyên khoa

~ Các công cụ cân, đo phải được kiểm tra chính xác trước khi xuống thực địa Máy

đo tỷ trọng xương phải được hoạt động đúng nguyên tắc (đo không quá 50 người cho một đợt).

Trang 32

~ Giám sát chặt chẽ quá trình điều tra

2 8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng Đạo đức, thông qua quy trình xét duyệt

đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng theo quyết định số 491/QÐ-YTCC

ngày 24/9/2004

~ Nghiên cứu này không gây ảnh hưởng gì không tốt cho các đối tượng nghiên cứu

~ Đối tượng điều tra có quyền từ chối trả lời phỏng vấn, chỉ điều tra những người tự

nguyện tham gia nghiên cứu

- §ẵn sàng tư vấn cho các đối tượng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc

phòng và điều trị loãng xương

Trang 33

Chương 3

KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi tiến hành phỏng vấn 300 phụ nữ 40-60 tuổi, chúng tôi đã loại đi 15

trường hợp do mắc các bệnh liên quan đến rồi loạn chuyển hoá xương Chúng tôi

tiến hành cân, đo chiều cao, đo tỷ trọng xương của 285 đối tượng nghiên cứu thu

được các kết quả như sau:

3.1 Thông tin chung

Bảng 1 Phân bố nhóm tuôi của đối tượng nghiên cứu

Cán bộ, công chức 22 37 Công nhân 8 2.8

sa | Durdi 300.0004 95 333

“ni” 300.000-500.000đ 118 414

Trên 500.000đ 72 253

Trang 34

55,1%,

Nghề nghiệp chủ yếu của đối tượng nghiên cứu là làm ruộng chiết

ộ học vấn chỉ có 1,1% đối tượng nghiên cứu là mù

công nhân có 2,8% Về trình

chữ, trình độ học vấn chủ yếu của phụ nữ 40-60 tuổi là trung học cơ sở chiếm tý lệ

57,5%, thứ hai là trung học phố thông chiếm 22,1% Về thu nhập bình quân đầu

người, đa số các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 500.000 đồng/tháng chiếm 74,7%, các hộ gia đình có thu nhập bình quân trên 500.00 đồng

chiếm 25.3%

3.2 Tình trạng dinh dưỡng, loãng xương của đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu

Cân nặng trung bình của đối tượng nghiên cứu là 51,1 + 7.8kg, dao động từ

33,3 đến 79,5kg

Bang 3 Phân bố cân năng của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 1 Phân bố cân năng của đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ có cân nặng < 40kg chiếm tỷ lệ thấp nhất (5,6%), cân nặng ở các

nhóm 40-44, 45-49, 50-54, > 55kg là tương tự nhau.

Trang 35

° Chiều cao trung bình của đối tượng nghiên cứu là 151.23 + 5,19em, thấp

nhất là 138,8em, cao nhất là 163,8em

Bảng 4 Chiều cao trung bình ở các nhóm tuôi

Trang 36

29

Bảng 5 Chiều cao trung bình ở 2 nhóm miãn kinh và chua mãn kinh

35,4%

12,3%

Biéu đô 3 Phân bồ tình trạng dinh dưỡng theo BMI

Hon 50% số phụ nữ trong đối tượng nghiên cứu có chỉ số khối cơ thẻ ở mức

độ trung bình, phụ nữ gày chiếm tỷ lệ thấp nhất (12,3%), trong khi đó số phụ nữ thừa cân chiếm (35,4%)

Trang 37

3.2.2.Tình trạng loãng xương của đối tượng nghiên cứu

Bảng 6 Tốc độ sóng siêu âm của đối tượng nghiên cứu

Qua bang trên cho thấy mật độ xương gót giảm dẫn theo nhóm tuổi, sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Biểu đồ 4 Phân bố tình trạng loãng xương theo nhóm tuổi

Tỷ lệ loãng xương ở nhóm 40-49 tuổi là 4,9%, trong khi đó ở nhóm 50-60 là

11,5 % Tỷ lệ loãng xương chung của đối tượng nghiên cứu là 7.7%, sự khác biệt về

tỷ lệ loãng xương giữa 2 nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê p< 0,0001

Trang 38

3.3 Tình trạng kinh nguyệt và tình hình sinh đẻ

3.3.1 Tình trạng kinh nguyệt

Bảng 7 Phân bố số phụ nữ theo tuổi bắt đầu có kinh

31

Phụ nữ bắt đầu có kinh trước 13 tuổi chiếm tỷ lệ rất thấp (2.5%) chủ yếu phụ

nữ có kinh trong độ tuổi từ 13-16 chiếm tỷ lệ 61,8%

Tuổi mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu là 48,63 + 3,72 tudi, thay

đổi từ 40 đến 56 tuổi

Bảng 8 Phân bố tuổi mãn kinh

Trang 39

Thời gian mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu lä 5,6 + 3,7, thay

đổi từ 1-18 năm

Bảng 9 Phân bó số phụ nữ theo thời gian mãn kinh

Chỉ có 1,7% số phụ nữ có số năm mãn kinh > 15 năm số phụ nữ có thời gian

mãn kinh < 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (52,9%), tiếp theo là thời gian mãn kinh từ 6-9 năm chiếm 31,4%

Trang 40

Tổng số 164 100 121 100 285 100

Chỉ c6 1,8% phụ nữ 40-49 tuổi đã từng bị gãy xương, tỷ lệ phụ nữ 50-60 tuổi Pl

đã từng bị gãy xương là 11,6%, sự khác biệt tỷ lệ gãy xương giữa hai nhóm tuổi có

ý nghĩa thống kê (p < 0,01)

Bảng 12 Tỷ lệ phụ nữ có bố mẹ/anh chị em trong gia đình bị gãy xương

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.  Phân  bố  nhóm  tuôi  của  đối  tượng  nghiên  cứu - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 1. Phân bố nhóm tuôi của đối tượng nghiên cứu (Trang 33)
Bảng  4.  Chiều  cao  trung  bình  ở  các  nhóm  tuôi - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 4. Chiều cao trung bình ở các nhóm tuôi (Trang 35)
Bảng  5.  Chiều  cao  trung  bình  ở  2  nhóm  miãn  kinh  và  chua  mãn  kinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 5. Chiều cao trung bình ở 2 nhóm miãn kinh và chua mãn kinh (Trang 36)
Bảng  6.  Tốc  độ  sóng  siêu  âm  của  đối  tượng  nghiên  cứu - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 6. Tốc độ sóng siêu âm của đối tượng nghiên cứu (Trang 37)
Bảng  7.  Phân  bố  số  phụ  nữ  theo  tuổi  bắt  đầu  có  kinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 7. Phân bố số phụ nữ theo tuổi bắt đầu có kinh (Trang 38)
Bảng  9.  Phân  bó  số  phụ  nữ  theo  thời  gian  mãn  kinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 9. Phân bó số phụ nữ theo thời gian mãn kinh (Trang 39)
Bảng  11.  Tỳ  lệ  gấy  xương  ở  2  nhóm  tuổi - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 11. Tỳ lệ gấy xương ở 2 nhóm tuổi (Trang 40)
Bảng  14.  Tỷ  lệ  uống  cà  phê/rượu  theo  từng  mức  độ - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 14. Tỷ lệ uống cà phê/rượu theo từng mức độ (Trang 42)
Bảng  17.  Liên  quan  giữa  nhóm  tuổi  với  tình  trạng  loãng  xương - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 17. Liên quan giữa nhóm tuổi với tình trạng loãng xương (Trang 44)
Bảng  18.  Liên  quan  giữa  cân  nặng  với  tình  trạng  LX/GMĐX - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 18. Liên quan giữa cân nặng với tình trạng LX/GMĐX (Trang 45)
Bảng  20.  Liên  quan  giữa  tình  trạng  mãn  kinh  với  tình  trang  LX/GMDX - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 20. Liên quan giữa tình trạng mãn kinh với tình trang LX/GMDX (Trang 46)
Bảng  22,  Liên  quan  giữa  thói  quen  dùng  siia  với  tình  trạng  LX/GMĐX - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 22, Liên quan giữa thói quen dùng siia với tình trạng LX/GMĐX (Trang 47)
Bảng  24.  Liên  quan  giữa  tẩn  xuất  tiêu  thụ  rau  mông  tơi  với  tình  trạng - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 24. Liên quan giữa tẩn xuất tiêu thụ rau mông tơi với tình trạng (Trang 48)
Bảng  26.  Liên  quan  giữa  tan  xuất  tiêu  thụ  rau  muống  với  tình  trạng - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 40-60 tuổi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005
ng 26. Liên quan giữa tan xuất tiêu thụ rau muống với tình trạng (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w