3Xác định một số yếu tố n quan ảnh hưởng đến việc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tâm thần ở quận Cầu Giấy Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 10 năm 2006 với p
Trang 1
NGUYEN DANG TAN
THUC TRANG VA MOT SO YEU TO LIEN QUAN DEN
VIỆC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TẠI NHÀ CHO NGƯỜI
BỆNH TÂM THAN NANG G QUAN CAU GIAY, NAM 2006
LUAN VAN TOT NGHIEP THAC SY
MA SO : 60.72.76
HUONG DAN KHOA HOC
Trang 2Dé hoan thanh ludn cin nay téi xin chan thanh cém on
Ban giám liệu, phòng dao tao sau dai học, các phòng ban chute ning, che thay ed gido truiing Dai hoe Y Fé Cang Cộng, trường Bai hoe Y Ha Noi, Vién Site Khe Fim Ghin Bach Mai va
Bénh vin Fam Than Frung Uoug, trang tam Y Fé quan Cau
“Qiấu oà cán bộ các trạm Y Fé thuse quan Cau Gidy- Wa Vi
Bin «im ơn (Đảng dụ, bạn giám liệu oà các phòng ban
trường Cao Ding Y Fé Thanh Wa dé ting hG tdi vé tink than
va ot chat trong hai nam hoe tap ot lam ludn van
Fei 06 cing biét on TS Nguyin Thi Minh Thy, TS Li Thi Buvi, ngudi thay kinh yeu da tan tinh huéng dén, gitp dé
nà động oiên tôi trong suốt thời gian làm luận oăm màu
Ain cim on tap thé lip cao hoe Y Fé Cong ậng khóa S,
các bạn đồng mgiiệp, gia dinh oà người thâu đã động vitn oa
giúp đã tôi hoàn thành tốt khuóa lọc nay
Hà Nội, tháng 9 năm 2006 Tác giả Nguyễn Đăng Tấn
Trang 31I Mục tiêu cụ thể
CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU ase
CHƯƠNG 2 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.4 Phương pháp chọn mẫu
2.5 Phương pháp thu thập số liệt
2.6 Phương pháp phân tích số liệ
2.7 Các biến số nghiên cứu - phương pháp đánh giá
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
CHƯƠNG3_ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin về nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh tâm thần 34 3.2 Thông tin về thực trạng phục hồi chức năng tại nhà
3.3 Xác định một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến việc phục
Phụ lục 2 : Danh sách bệnh nhân tâm thần
Phụ lục 3 : Danh sách điều tra viên của quận Cầu Giấy
Phụ lục 4 : Tài liệu tập huấn
Trang 5Bang 2 : Nhu cầu PHCN theo tudi và giới của người bệnh 34
Bảng 4 : Nhu cầu PHCN theo từng nhóm nhu cầu PHCN của
Bang 8 : Thông tin về việc PHCN tại nhà cho người bệnh 40
Bang 10 : Thông tin về việc tự chăm sóc bản thân
Bảng 11 : Thông tin về PHCN tái thích ứng xã hội và lao
Bảng 12: Mối liên quan giữa thể loại bệnh của người bệnh
Bảng 13: Mối liên quan giữa trình độ học vấn của người
chăm sóc chính và việc PHCN tại nhà cho người bệnl
Bảng 14: Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người chăm
Trang 6
Bảng 15: Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế của người
Bảng l6 : Mối liên quan giữa tiếp cận nguồn kiến thức về
tàn tật của người chăm sóc chính và việc PHCN tại nhà cho
người bệnh
Bảng 17 : Mối liên quan giữa tham gia tập huấn của người
Bảng 18 : Mối liên quan giữa thái độ chấp nhận của gia đình
Bang 19: Mối liên quan giữa nhận quan điểm cần PHCN
của gia đình và việc PHCN tại nhà cho người bệnh 51
Bảng 20 : Mối liên quan giữa nhận thức tầm quan trọng của
Trang 7Biểu đồ 1 : Nhu câu PHCN chung của người bệnh
Biểu đồ 3 : Nhu cầu PHCN theo từng nhóm nhu cầu PHCN
Biểu đồ 4 : Thông tin về cách tiếp cận nguồn kiến thức về tàn
Biểu đồ 5 : Tham gia tập huấn của người chăm sóc chính
36
Trang 8quận Cầu Giấy Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 3 mục tiêu: (1) Đánh
giá nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh tâm thần quận Cầu Giấy - Hà Nội năm 2006 (2)Mô tả thực trạng phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tâm thần
quận Cầu Giấy - Hà Nội năm 2006 (3)Xác định một số yếu tố
n quan ảnh hưởng
đến việc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tâm thần ở quận Cầu Giấy
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 10 năm 2006 với phương pháp
n hành nghiên cứu trên 130 bệnh nhân
tâm thần có số theo dõi và danh sách quản lý điều trị tại 8 trạm y tế phường thuộc quận Cầu Giấy Trong đó gồm: 66 bệnh nhân tâm thần phân liệt, 45 bệnh nhân động
kinh và 19 bệnh nhân tâm thần khác.Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi phỏng vấn, phỏng vấn 130 người chăm sóc chính trong gia đình và quan sát bệnh nhân đề
đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân Kết quả nghiên cứu thu được như sau: 58,5% tỷ lệ người bệnh tâm thần có nhu cầu PHCN, trong đó nhu cầu
PHCN trong hoà nhập cộng đồng là cao nhất chiếm 94,7% Thực trạng PHCN tại
nhà, tự tìm hiểu kiến thức về tàn tật người bệnh 13,2% Trong khi đó tỷ lệ chưa tiếp
cận kiến thức chỉ chiểm 39,5% Tỷ lệ người chăm sóc chỉnh không được tập huấn
chăm sóc PHCN cho người bệnh cao gấp 4 lần tỷ lệ người chăm sóc chính được tập huần.Trong nhóm có nhu cầu PHCN thì có PHCN tại nhà chiếm tỷ lệ 31,6%, không
được PHCN 68,4% Tỷ lệ 76.2% NCSC không PHCN cho người bệnh tại gia đình cao hon 3 lin ty 18 NCSC có PHCN cho người bệnh 23,8% Tỷ lệ 25% bệnh nhân không còn muốn quan hệ Tỷ lệ giảm các mối quan hệ xã hội 47,4% Tỷ lệ người bệnh không thể làm được chiếm 23,7%, tỷ lệ giảm ít khả năng lao động/học tập 22,4%, giảm nhiều 44.7%, học lại nghề cũ 7,9%, tỷ lệ học lại nghề mới 27,6%, trong khi đó tỷ lệ không tổ chức lao động cho người bệnh chiếm 64,5%
“Từ kết quả nghiên cứu thu được, chúng tôi đề xuất một số giải
Nội Tuy nhiên, đề tài còn có hạn chế chỉ làm được một quận số lượng đối tượng
nghiên cứu còn hạn hẹp, nên khó suy rộng cho địa bàn cả thành phố
Trang 9DAT VAN DE
Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về mặt thẻ chất, tâm thân và xã hội, không chỉ là
trạng thái không có bệnh hay không tật, Sức khoẻ chung có ba thành phần: Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tâm thần và sức khỏe xã hội quan hệ mật thiết với nhau, luôn tác động qua lại với nhau Người bị một bệnh nặng hay kéo dài thường có rồi
loạn tâm thần kèm theo Ngược lại những bệnh nhân tâm thần lâu ngày đều có biểu hiện rối loạn cơ thể Trong các rồi loạn tâm thần (lo âu, trằm cảm) đều có biểu hiện rối loạn cơ thể, ngược lại các bệnh cơ thê cũng có thẻ gây ra các biểu hiện của tam thần [39]
“Theo điều tra dịch tễ học của Rob Moodie (1998) ở bang Vietoroa (Australia)
20% dân số có rồi loạn tâm thần, 10-15% người trẻ có rối loạn tâm thần trong năm Theo Kessler và cộng sự (ở Mỹ năm 1995); 30% dân số Mỹ có rồi loạn tâm thần, tỷ
lệ trầm cảm mới mắc 5-6% dân số trên một năm Ở Trung Quốc nghiền cứu tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tỷ lệ trầm cam 4,8-8,6% dan s6[44]
Ở Việt Nam, bệnh lý tâm thần khá phổ biến Theo điều tra dịch tế học lâm sảng
10 bệnh tâm thần thường gặp Tỷ lệ mắc của các rối loạn tâm thần là 14,9% (Trần 'Văn Cường và cộng sự năm 2004), trong đó tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt 0,47
ổi 18-40 tuổi Tỷ lệ bệnh động kinh
ố Bệnh trầm cảm chiếm tỷ lệ 2,8% dân số, lo âu 2,6% [12] Chương trình tâm thần quốc gia đã được thực hiện hẳu hết các tỉnh thành trong cả
nơi họ sinh sống Đây là một giải pháp hết sức quan trọng bởi
tỷ lệ bệnh tâm thần
cao, bệnh viện lại quá tải không đủ đáp ứng nhu cầu điều trị, với chi phi lon ma khả
năng hồi phục còn hạn chế Vì thế chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần và phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng lỗng ghép với chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu được đưa ra nhằm đáp ứng sự đòi hỏi thiết thực của cộng đồng Như vây, điều tra dịch tễ học, phát hiện bệnh nhân tâm thần mới phát sinh, lập hồ sơ quản lý người bệnh tại y tế địa phương, khám bệnh định kỳ một tháng /
Trang 10cách phục hồi chức năng, giúp đỡ họ, có thái độ yêu thương, thông cảm với người bệnh, biết cách theo dõi và phát hiện các triệu chứng là giúp bệnh nhân tái hoà nhập
cộng đồng tốt hơn [1]
Quận Cầu Giấy đã và đang thực hiện chương trình quản lý bệnh nhân tâm thần
tại cộng đồng Người tâm thần được điều tra và đưa vào danh sách quản lý điều trị của các trạm y tế phường quận Cầu Giấy Định kỳ mỗi tháng một lần người bệnh được thăm khám và điều trị miễn phí tại các trạm y tế Theo số liệu của trung tâm y
tế quận Cầu Giấy, tỷ lệ người bệnh tâm thần đến khám và điều trị ở quận Câu Giấy
thấp chỉ chiếm 63% Trong khi đó tỷ lệ này ở quận Hoàng Mai là 87%, ở quận Hoàn Kiếm tỷ lệ 93% Qua khảo sát tại trạm y tế phường Mai Dịch chỉ khoảng 60%, (14/23 người), ở Dịch Vọng khoảng 70% (15/22 người) tổng số bệnh nhân được
việc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh, Qua điều tra 5 gia đình người bệnh, phỏng vấn người chăm sóc trực tiếp người bệnh cho thấy việc chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh chưa được quan tâm và còn hạn chế, người chăm sóc chưa được tập huần về cách chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh
Câu hoi dat ra là thực trạng phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thân tai quận
Cầu Giấy ra sao, yếu tố nào ảnh hưởng đến việc phục hồi chức năng tại nhà cho
người bệnh? Trong khi đó tại địa phương chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực này
cho bệnh nhân tâm thần Để trả lời câu hỏi đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
*“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tâm thần nặng ở quận Cầu GiẤy, năm 2006.
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu chung
Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc phục hỗi chức năng tại nhà cho người bệnh tâm thần ở quận Cầu Giấy, năm 2006 Trên cơ sở đó đưa ra các
khuyến nghị để nâng cao hiệu quả quản lý trong điều trị và phục hổi chức năng tại
nhà cho người bệnh tâm thần ở quận Cầu Giấy và thành phố Hà Nội
II Mục tiêu cụ thể
1 Đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh tâm thân quận Cầu Giấy - Hà Nội năm 2006
2 Mô tả thực trạng phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tâm thần quận
'Cầu Giấy - Hà Nội năm 2006
3 Xác định một số yếu tổ liên quan ảnh hưởng đến việc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tâm thần ở quận Cầu Giấy.
Trang 121.1 Khái niệm về sức khỏe tâm thần
Sức khoẻ tâm thần không chỉ là trang thái không có rối loạn về tâm thần, mà còn
là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, muốn có một trạng thái đó thì phải
có chất lượng cuộc sống tốt, có được sự cân bằng và hoà hợp giữa các cá nhân, môi
trường xung quanh và môi trường xã hội [40] Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa sức khoẻ tâm thần là :
1 Một cuộc sống thực sự thoải mái
2 Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người
khác,
3 Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huồng,
4 Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thỏa đáng các quan hệ
5 Có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mắt thăng
~ _ Nhóm các nước đang phát triển 6-9% dân số
~_ Các nước Châu Phi : 4-5% dân só
Ý, Nhật có tỷ lệ 10-
*Ở Việt Nam cũng có những điều tra như sau :
~ Nguyễn Duy Hòa Và Cộng sự [39] điều tra ở nội, ngoại thành Hải Phòng :
+ Tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt : 0,5% dân số
~ Nguyễn Văn Trí và cộng sự [39] điều tra ở Nghĩa Bình cho thấy :
+ Tỷ lệ bệnh tâm thần chung _ :9,1% dân số
Trang 13~ Trần Bá Mạc và cộng sự [22] điều tra ở Hà Nam cho thấy :
+ Tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt : 0,48% dân số
+ Nguy cơ mắc bệnh chung — : 1,47% dân số
- Bui Đức Trình và cộng sự [33] điều tra ở 1 xã tỉnh Bắc Thái
+ Tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt : 0,43% dan số
~ Nguyễn Đăng Dung [16] báo cáo chung điều tra toàn quốc :
+ Tỷ lệ bệnh tâm thẳn chung _ : 10,0%dân số
+ Tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt : 0,6% dân số
~ Theo Trần Văn Cường [12 ]và công sự điều tra năm 2000 :
+ Tỷ lệ mắc các rồi loạn tâm thần là 14,9%
+ Tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt ; 0,47% dân số
Như vậy tỷ lệ mắc bệnh tâm thần ở các địa phương trong cả nước cũng khá
cao Tỷ lệ bệnh TTPL và động kinh cũng đáng kể ở hầu hết các miễn Điều này cho
thấy cần có một tổ chức, đơn vị quản lý loại bệnh nảy cho phù hợp với điều kiện
hiện nay ở Việt Nam là điều rất cần thiết
1.2.2 Nguyên nhân gây ra rối loạn tâm thần
* Nguyên nhân thực tổn
- Chấn thương sọ não
~ Nhiễm khuẩn thần kinh (Viêm não, giang mai thần kinh ).
Trang 14~ Các tốn thương khác (U não, teo não, xơ rải rác )
~ Các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động của não
* Nguyên nhân tâm lý
Chủ yếu các Stress tâm lý-xã hội tác động vào các nhân cách có đặc điểm riêng, gay ra:
~ Các rồi loạn tâm căn
~ Các rồi loạn liên quan đến Stress
~ Các rồi loạn cơ thể
Các nguyên nhân Stress tâm lý-xã hội có vé cụ thể hơn dé thay hon, Tuy nhiên, cơ chế gây bệnh của các Stress tâm lý không đơn giản như các Stress vật lý
trên cơ thể
* Nguyên nhân cẫu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm thần bệnh lý
~ Chậm phát triển tâm thần
~ Nhân cách bệnh
* Nguyên nhân chưa rõ ràng (hay các nguyên nhân nội sinh)
Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác nhau (Di truyền,
chuyển hóa, miễn dich, cấu tạo thể chất ) nên khó xác định nguyên nhân chủ yếu
Các rối loạn tâm thần thường gọi là nội sinh như :
~ Bệnh tâm thần phân liệt
~ Rồi loạn cảm xúc lưỡng cực
~ Động kinh nguyên phát
Các rối loạn tâm thần nội sinh là những rối loạn tâm thần nặng và thường gặp Do nguyên nhân chưa xác định rõ ràng nên công tác dự phòng và điều trị gặp
nhiều khó khăn, rối loạn thường kéo dài và tái phát Do vậy, chương trình phòng
chống các rồi loạn tâm thân nội sinh phải lâu dài, cần phân biệt các giai đoạn khác nhau của rối loạn, mỗi giai đoạn cần phối hợp nhiều biện pháp thích hợp.
Trang 15hoạt trong gia đình, gây căng thẳng cho các thành viên trong gia đình, tổn thất kinh
tế Người bệnh tâm thần bị xa lánh bởi những hành vi không kiểm soát của bệnh
nhân đối với gia đình và xã hội Nhiều vụ án mạng xây ra do hoang tưởng hoặc hành vi kích động của trạng thái tâm thần phân liệt Theo Semed và cộng sự thì có trên 1⁄3 tội phạm hình sự là do người bệnh tâm thần gây ra [47]
Công trình nghiên cứu của Trần Đức Cường (1986) cho thấy trong số các
trường hợp gây án được xác định pháp y về tâm thần gặp 45% trường hợp do mắc
tâm thần phân liệt, 12.2% trường hợp đo mắc bệnh động kinh, còn lại là các rối loạn
chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh rối loạn tâm thần gây rồi loạn an ninh trật tự xa
là gây án 2 lần trở lên
Cũng theo Trần Đức Cường (1990) thì tỷ lệ người vi phạm hình sự có bệnh TTPL là 68,6%, bệnh động kinh là 7,15%, gặp ở nam giới nhiều hơn [8] Điều đó
cho thấy nếu không làm tốt công tác quản lý bệnh nhân, phát hiện sớm và tổ chức
điều trị tốt thì ảnh hưởng của bệnh tâm thần tới trật tự xã hội là không nhỏ Vi thé
vận động cộng đồng tham gia vào công tác phòng chống bệnh tâm thản là vấn để cần thiết hiện nay
1.2.4 Vai trò môi trường (gia đình, xã hội) đối với bệnh nhân tâm thần
Từ xa xưa những người bị bệnh tâm thần thường được dân chúng quan niệm
là bị ma ám, gán ghép cho hiện tượng thần bí, mê tín dị đoan và có thái độ xa lánh,
khinh thường, hắt hủi đã làm cho bệnh tiền triển trằm trọng hơn Hơn nữa, bản thân
người bệnh tâm thần thường mặc cảm, có thái độ thu mình, xa lánh mọi người,
không hòa nhập cộng đồng Do vậy, bệnh tiến triển ngày cảng nặng lên và có xu
hướng mạn tính
Vì vậy, gia đình cần chú ý nhận thấy những thay đổi ban đầu để quan tâm săn sóc và thông bảo kịp thời đến các nhà chuyên môn, tránh để tái phát nhiều lần
Trang 16diễn biến ngày càng xấu đi Sự chăm sóc của gia đình, người thân, tỉnh cảm yêu thương, nhẹ nhành, ân cần với người bệnh, giúp đỡ họ phục hồi các kỹ năng sống PHCN lao động nghề nghiệp là tạo môi trường tốt cho người bệnh hòa nhập với
cộng đồng Giúp bệnh nhân xây dựng thói quen ăn uống của cá nhân, các thú vui,
các thói quen khác và việc sử dụng các liệu pháp điều trị, các loại thuốc có tác động rất lớn làm hạn chế sự tái phát cơn của bệnh nhân đã ôn định và đặc biệt quan trọng trong các giai đoạn tiền triển, hồi phục của bệnh [9]
Hoang Câm Tú và cộng sự khi nghiên cứu sức khỏe tâm thần ở người có tuổi
với các yếu tố tâm lý, xã hội cho thấy tỷ lệ suy nhược cao (36,2%) TTPL 0,62%, động kinh 0,44% Có liên quan đến môi trường xã hội như nhà ở chật hẹp, sự thu
nhập thấp, sông không thoải mái [22],
1.3 Phục hồi chức năng tâm lý xã hội và lao động nghề nghiệp cho bệnh nhân
tâm thần [40]
1.3.1 Phục hồi chức năng tâm lý xã hội
* Khái niệm PHCN là quá trình, là cơ hội cho bệnh nhân tâm thân bị thiệt thòi đạt
được mức tối ưu về chức năng sinh hoạt, giao tiếp, tâm lý xã hội và lao động nghề nghiệp trong cộng đồng
*Lý do phải PHCN
~ Bệnh nhân tâm thần sau khi được điều trị người bệnh có thể hết các triệu
chứng rối loạn tâm thần nhưng họ vẫn không làm việc được, nội tâm bắt hạnh
- Bệnh tâm thần có khuynh hướng tiến triển mạn tính, người bệnh ngày một
tách rời, xa lánh xã hội khó hòa nhập với cộng đồng
~ Xã hội cũng có khuynh hướng mặc cảm, bỏ rơi bệnh nhân, cho bệnh nhân
là người không có khả năng giúp ích gì cho xã hội
*Người làm công tác PHCN : Cán bộ địa phương, cán bộ y tẾ phường xã, hội viên
chữ thập đỏ hướng dẫn gia đình, huấn luyện bệnh nhân biết làm việc, nghĩ ngơi, biết giao tiếp với người khác và biết giữ gìn sức khỏe
* Cách thức PHCN
Trang 17~ Giải thích tại sao lại phải uống thuốc, uống thuốc như thế nào
~ Hướng dẫn cho họ biết các tác dụng phụ của thuốc
~ Giúp gia đình biết cách ứng xử với những biểu hiện bat thường của bệnh nhân + Người bênh tâm thần bỏ nhà đi lang thang, hậu quả làm cho bệnh ho nang thêm và nhiễu nguy cơ khác vì không được ai chăm sóc Bạn hãy nói với gia đình
giảng giải để người bệnh cảm thấy họ là một thành viên của gia đình Không để cho
người bệnh thấy cách cư xử khác thường đối với họ, mà phải dành cho họ tình cảm,
sự yêu thương, quan tâm chăm sóc Bằng cách đó sẽ đưa lại cho họ cảm giác được
tòa nhập hơn
+ Người bệnh tâm thần không thể làm các công việc mà họ vẫn làm trước khi
bảo đảm an toản hơn ấm áp
bị bệnh Bạn hãy cùng làm việc với họ, quan sát họ làm để biết bây giờ họ có thể
làm được gì, nói với những người trong gia đình về điều đó để họ có thể biết và
giúp đỡ người bệnh làm những việc hữu ích mả họ có thể làm được
+ Người bệnh thường không làm được việc gì hoàn tắt, hay nóng ruột đứng
ngồi không yên Bạn hãy hướng dẫn cho gia đình hiểu rằng, điều quan trọng là phải kiên nhẫn, chia công việc ra từng công đoạn để thực hiện dan, từ đơn gián đến phức
tạp, có làm như vậy mới làm thay đổi tính không ổn định, nôn nóng ở bệnh nhân
+ Người bệnh có những cư xử khác thường gây nên nhiều căng thẳng trong, gia đình Bạn hãy giảng giải cho gia đình không được nói với người bệnh rằng, người bệnh có hành vi sai và những ý nghĩ sai lầm, không được tranh luận với người bệnh Phải tìm cách hướng dẫn người bệnh tránh những cư xử bắt thường mà
người bệnh có
+ Khi nào người bệnh làm được một việc tốt hoặc cư xử theo cách mà bạn và
gia đình muốn, bạn hãy nói cho người bệnh biết họ đã làm đúng và tốt Bạn có thể
mà bạn có, khi
biểu dương, khen thưởng hành vi đó tùy theo mức độ và điều
đó người bệnh sẽ cảm thấy rằng bạn và gia đình yêu mến họ, sự thật họ vẫn là người
có ích và sẽ dễ dàng hơn chấp nhận sự hướng dẫn của gia đình và của bạn.
Trang 18+ Nếu người bệnh không thể quyết định được việc gì đó hoặc hình như họ có những quyết định khác thường, bạn hãy hướng dẫn và giúp người bệnh quyết định điều tốt nhất cho họ Bạn hãy nói với gia đình để người bệnh được tham gia vào hoạt động của gia đình
- Bạn và gia đình phải tiếp tục nói chuyện với người bệnh và để cho người bệnh tham gia vào những cuộc nói chuyện trong gia đình Những người trong gia đình
phải nghe người bệnh nói và phải thể hiện mọi người đều hiểu họ
- Gia đình cũng cần giúp đỡ bệnh nhân, làm những công việc thông thường trong sinh hoạt hàng ngày Nếu người bệnh không biết cách tự chăm sóc họ trong một thời gian dài bạn hãy hướng dẫn họ dần dẫn làm những việc đó (như tắm giặt, vệ
sinh cá nhân, gấp chăn màn, quét đọn nhà, dọn dẹp nơi ăn chốn ở )
- Bạn không được để cho người bệnh ở trang thái thụ động Hãy làm việc gì đó cho
họ đưa họ đi chơi đó đây, giúp người bệnh giao tiếp với mọi người Để cho người
bệnh làm việc nhiễu, ít tùy theo khả năng của họ
+ Hướng dẫn gia đình tránh những tình huống bắt lợi Có những vấn để làm
cho bệnh tật của họ nặng thêm như: những cảm xúc căng thẳng, lo lắng sợ hải, buồn
chán, phiền muộn các cảm xúc căng thẳng có thể gây ra do lời nói, cử chỉ hành vi,
thái độ thiếu thân thiện hay thiếu thận trọng của người xung quanh Cũng có thể
tình huống đau buồn xuất hiện đột ngột, các xung đột trong mối quan hệ gia đình, ở cộng đồng Gia đình cần phải biết những gì làm cho bệnh nặng thêm và tìm cách
Trang 191.3.2 PHCN lao động nghề nghiệp
* Lý dø phải PHCN lao động ngh nghiệp
Bệnh nhân tâm thân sau thời gian điều trị bằng thuốc có thẻ giảm hoặc mắt
triệu chứng rồi loạn tâm thân, chức năng tâm lý được hồi phục, nhưng bệnh nhân
không lao động được, cuộc sống sẽ trở nên vô vị và buồn tẻ, bệnh nhân sẽ trở thành
gánh nặng cho gia đình PHCN lao động nghề nghiệp làm cho người bệnh trở lại cuộc sống lạc quan hữu ích hơn trong xã hội
Lao động giúp người bệnh phát huy khả năng hoạt động tâm thân, hướng suy nghĩ của người bệnh vào công việc, hạn chế bớt thời gian rỗi vào những suy nghĩ miên man, giúp người bệnh quên đi những cảm giác khó chịu do ảo giác và hoang tưởng gây ra
Lao động đưa hoạt động của người bệnh từ chỗ ăn không ngồi rồi, phá phách, đi lang thang vào các hoạt động có ích, giúp người bệnh tự tin vào bản thân,
xóa dần mặc cảm của mọi người đối với bệnh nhân tâm thần
* Cách thức PHCN lao động nghề nghiệp
Tùy theo từng bệnh nhân và hoàn cảnh sống mà chọn loại hình lao động nghề nghiệp cho thích hợp,
- Phục hồi lại công việc cñ mà trước đây bệnh nhân vẫn làm, chẳng hạn như làm
việc nhà, trồng hoa, trồng cây ăn quả
- Dạy bệnh nhân làm một công việc mới đơn giản
+ Công việc bệnh nhân bắt đầu trở lại làm là những công việc nhẹ nhàng đi tir dé đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, hoặc có thể chia công việc ra làm nhiều công đoạn và tiền hành dẫn từng công đoạn:
+ Lao động phải có sự hướng dẫn, kèm cặp nhằm hỗ trợ, giúp đỡ bệnh nhân
và đảm bảo an toàn cho người bệnh,
+ Có sự đánh giá động viên, khen thưởng kịp thời để khuyến khích bệnh
nhân làm việc
+ Thời gian lao động, tủy theo khả năng người bệnh, nhưng luôn động viên người bệnh cổ gắng, kiên nhẫn làm việc, tạo điều kiện để bệnh nhân có thu nhập
Trang 201.3 Tong quan về một số dạng bệnh tâm thần nặng thường gap
1.3.1 Bệnh tâm thần phân liệt
* Khái niệm bệnh tâm thân phân liệt là một bệnh loạn thần nặng tiền triển từ từ, có
khuynh hướng mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ rằng, làm cho người bệnh
dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vảo thế giới bên trong, làm cho cảm
xúc trở nên khô lạnh dần, khả năng làm việc, học tập ngày cảng sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị, khó
*Chuẩn đoán và diéu trị bệnh tâm thần phân liệt
- Tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo TCYTTG năm 1992, chính thức công bổ bảng
e, Các ảo thanh bình phẩm thường xuyên về hành vi của bệnh nhân, hay thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc áo thanh giả
d Các hoang tưởng dai đẳng khác không thích hợp
e Ảo giác kéo dài bất cứ loại nào, dai dăng nhiều tuần
£- Ngôn ngữ gián đoạn, thêm từ khi nói, tư duy không liên quan, không thích hợp
ø Tình trạng căng trương lực như: Kích động căng trương lực, giữ nguyên đáng, uốn sáp hay phủ định không nói, sững sờ
h Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc củn mòn hay không thích hợp, cách ly xã hội, giảm sút hiệu suất lao động Các triệu chứng trên phải rõ ràng không do trạng thái trầm cảm hay
thuốc an thần kinh gây ra
i Biến đổi thường xuyên và rõ rệt một cách toàn diện tập tính cá nhân, biểu
hiện như: Mắt hứng thú, lười biếng, mải mê suy nghĩ về bản thân
Trang 21
~ Chuẩn đoán xác định bệnh TTPL: Phải có ] triệu chứng rõ trong 4 nhóm triệu
chứng từ a đến d hoặc 2 /riệu chứng rõ trong nhóm triệu chứng từ e đến ¡ Tiêu
chuẩn về thời gian: Các triệu chứng trên phải tồn tại ít nhất một tháng,
~ Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Rồi loạn cảm xúc, trằm cảm hay hưng cảm mở rộng
+ Tổn thương thực thể não, động kinh
+ Nghign ma tuý
* Điều trị
Do căn nguyên của bệnh TTPL chưa rõ rằng nên cho đến nay vấn đề điều trị
chủ yếu là điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng tâm lý xã hội và lao động cho
người bệnh Nói cách khác là phải kết hợp nhiều liệu pháp khác nhau như: Liệu
pháp hoá được, liệu pháp lao động, liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý tải thích
ứng xã hội và tâm lý liệu pháp Tuỳ từng thể bệnh, mức độ đáp ứng của người bệnh
mà ta sử dụng các liệu pháp cho phù hợp, hoặc phối hợp hiệu qủa hơn [16]
~ Liệu pháp hoá được;
Sự ra đời của Chlorpromazine năm 1952 đã làm thay đổi hẳn bộ mặt tâm
thần học, kiến trúc bệnh viện thay đổi về cơ bản, tiên lượng bệnh nhân đã khả quan
hơn nhiều Người bệnh có thể điều trị vả phục hồi chức năng tại cộng đồng [27]
Ngày nay người ta có gắng rút ngắn thời gian điều trị bệnh nhân TTPL tại các bệnh
trở ngại cho sự an toàn của bản thân bệnh nhân và cho những người xung quanh
'Khi bệnh ổn định, họ cần tiếp tục được quản lý và điều trị tại cộng đồng,
~ Liệu pháp về tâm lý:
Có thái độ tâm lý tốt, tôn trọng người bệnh Tổ chức hệ thống mở cửa làm
cho bệnh nhân được tự do, thoải mái Giải quyết các nhu cầu và mâu thuẫn của bệnh
nhân tại gia đình và cộng đồng [40]
Mục đích của liệu pháp tâm lý là làm cho bệnh nhân an tâm, tin tưởng vào
kết quả điều trị, chống tư tưởng bỉ quan lo lắng, chán đời, giúp bệnh nhân hãng hái
tham gia lao động, học nghề và tham gia các hoạt động xã hội khác
Trang 22- Liệu pháp lao động và tái thích ứng xã hội
Là biện pháp chủ yếu trong điều trị bệnh nhân TTPL mạn tính tại cộng đồng,
nhằm khắc phục những triệu chứng âm tính, uốn nắn và sửa chữa hành vi của người
bệnh, phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho họ, giúp họ thích ứng được với cuộc sống xã hội, giúp phòng ngừa tái phát bệnh [40]
* Vấn đề điều trị bệnh tâm thần phân liệt
Ở nước ta, một số nghiên cứu về vấn để này cũng cho thấy dưới tác dụng của
Hoá dược trị liệu các thể TTPL có khuynh hướng dịch chuyển từ phía nặng nẻ về các thể trung gian dạng cơn kéo dai [23] Đặc biệt dấu hiệu trầm cảm trong lâm sảng bệnh TTPL hay gặp gắp nhiều lần (3-5 lần) so với trước
Bùi Đức Trình (1984) cho thấy 41% sự xuất hiện trầm cảm trong bénh TTPL [33] Nguyễn Việt (1985) cho thầy dấu hiệu trầm cảm tăng theo nhóm tuổi và xuất hiện ngay từ cơn đầu bệnh lý Hội chứng này có thể dẫn đến nhiều hậu quả xấu như
tự sát Như vậy chỉ dùng hóa dược trị liệu không thì hiệu quả phục hồi không cao
ip thoi và có
sự chăm sóc đúng đắn là điều cần thiết Như vậy điều trị tại cộng đồng có sự phối
mà còn có nguy cơ khác xảy ra, Do dó việc điều trị tích cực, phù hợp,
hợp chặt chẽ giữa cán bộ chuyên môn và các tổ chức xã hội, gia đình làng xóm
Tác giả Trần Bá Mạc (1986) đã áp dụng phương pháp điều trị bệnh nhân tại nhà có sự theo đõi của nhân viên y tế cho thấy kết quả tốt ở bệnh nhân TTPL khá cao so với nhóm không được tổ chức [22] Kết quả cho thấy việc điều trị tại nhà có
sự theo đối của nhân viên y tế là phủ hợp, có hiệu quả về sức khỏe tâm thần, về kinh
tế và người bệnh dễ tái hòa nhập cộng đồng
* Hoạt động chăm sóc bệnh nhân TTPL tại cộng đồng
Trang 23phục những triệu chứng âm tính, giúp cho bệnh nhân phục hồi được các chức năng
sinh hoạt và tái thích ứng với xã hội được tốt Vì vậy phải có một chiến lược cho
điều trị bệnh TTPL, chương trình CSSK tâm thần cộng đồng ra đời đáp ứng được
nhu cầu cần thiết đó [3]
Do tính chất bệnh TTPL là mạn tính và hay tái phát, nên dé giải quyết tốt van
đề bệnh nhân TTPL, không chỉ dựa vào những BV với qui mô lớn Xu hướng tổ
chức những bệnh viện tâm thần lớn tập trung hàng ngàn giường bệnh đã được thay
bệnh ở khắp các địa phương giúp cho việc chữa bệnh tâm thần gần gũi với cộng
đồng hơn Mặt khác, thật không phù hợp khi phần lớn những phương tiện điều trị
bệnh nhân đặt trong các bệnh viện, trong khi đó khá đông bệnh nhân TTPL chưa
bao giờ được khám và điều trị vấn sống ngoài bệnh viện, ngay tại cộng đồng [3]
Chính vì vậy đã có một số chính sách thích hợp, một trong những sách lược được
nhiều nước hưởng ứng đó là chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại cộng đồng,
Mỹ có khoảng 500.000 giường bệnh tâm thân,
phân bố trong các bệnh viện qui mô từ 1.000 đến 3.000 giường Nhiều bệnh nhân
sách mới và đặc biệt là sự ra đời của kỷ nguyên các thuốc hướng thần, mà bắt đầu là
Trong những năm 1950,
u
Chlorpromazine và sau đỗ là hàng loạt các thuốc an thần kinh mới ra đời, nhiều
bệnh nhân TTPL đã được điều trị tốt tại cộng đồng [29]
Tại Australia, từ cuối thế kỷ XX, chiến lược về chăm sóc sức khoẻ tâm thần
đã thay đổi [29] Tháng 4/1992 bộ trưởng Bộ Y Tế Australia cùng đại diện các bang
đã ký một chính sách quốc gia về sức khoẻ tâm thần, trong đó nhắn mạnh cần tăng,
cường chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại cộng đồng Nhiều bệnh viện lớn chứa vài
trăm bệnh nhân đặt xa nơi dân cư đã đóng cửa, xuất hiện ngày càng nhiều những
khoa tâm thần có từ 20 — 50 giường bệnh nằm trong các bệnh viện đa khoa Mỗi
đơn vị như vậy được phục vụ cho khoảng 200.000 - 500.000 dân Bệnh nhân cấp
tính được điều trị tại đây một thời gian trung bình khoảng 15 20 ngày, khi én định
họ được đưa về nhà tiếp tục điều trị tại cộng đồng, ở đó họ có những đội chăm sóc
Trang 24sức khoẻ tâm thần phối hợp củng gia đình bệnh nhân để tiếp tục theo dõi và điều trị người bệnh
Bệnh TTPL có tỷ lệ mắc cao và liên quan đến yếu tố môi trường sống, xã hội
bệnh tật, các loại sang trần tâm lý sự tái phát bệnh liên quan đến việc chăm sóc của
y tẾ và quan điểm đối xử của cả cộng đồng Thái độ của cộng đồng như sợ hãi, xa
lánh, mặc cảm, miệt thị và coi thường bệnh nhân, sợ nguy hiểm đối với bệnh nhân
TTPL, điều đó cũng nói lên rằng cộng đồng thiếu thông tin về bệnh TTPL và cảng
làm cho mức độ bệnh tật nặng hơn và hay tái phát trở lại, Do đó giáo dục, nâng cao
sự hiểu biết TTPL và cách chăm sóc người bệnh tại gia đình ở cộng đồng là cần
thiết [8]
Do tính chất của bệnh TTPL, bệnh nhân thường mặc cảm, tự tỉ, xa lánh mọi
với cộng đồng, càng làm tăng các rối loạn phân liệt, do vậy việc sử dụng các phương pháp điều trị khó hiệu quả [8]
Vai trò của gia đình đối với BNTTPL rắt quan trọng, các thành viên trong gia đình phải thật sự thông cảm với bệnh tật của bệnh nhân luôn quan tâm chăm sóc, giúp đỡ họ, có tình cảm thương yêu nhẹ nhàng, thái độ ân cần với bệnh nhân, giúp bệnh nhân tự phục vụ sinh hoạt cá nhân, tạo các công việc lâm phù hợp và đưa bệnh
nhân dần dần hoà nhập với cuộc sống cộng đông [8]
Chính các thành viên trong gia đình phải là những người có kiến thức cơ bản nhất về bệnh TTPL, cần phải đưa bệnh nhân TTPL đi khám bệnh, nhắc nhở bệnh
nhân uống thuốc đều theo hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa, ho can phải biết những dấu hiệu thay đôi sớm để thông báo cho cán bộ y tế, nhờ đó mà ngăn ngừa
kịp thời tái phát hoặc diễn biển những cơn bùng phát cấp tính Công trình nghiên cứu của Peuter E (1985) đã chứng minh rằng: Khi các triệu chứng báo hiệu của bệnh TTPL được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, khẩn trương (ngoại trú tại nhà) thì chỉ có 6% bệnh nhân phải nhập viện lại [29]
Nhờ các hoạt động chăm sóc của những người thân trong gia đình mà bệnh
của họ được ồn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân phục hồi các
chức năng sinh hoạt va tai hoa nhập với cộng đồng
Trang 25
Tại cộng đồng có những người được đào tạo đủ khả năng đóng góp, đáp ứng
những nhu cầu về y tế của cộng đồng Ví dụ các nhà giáo, công an họ thường,
chiếm một số lượng đáng kể và luôn luôn có sự tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân nơi
họ thường làm việc
Các nhà giáo có thể ảnh hưởng sâu sắc đối với gia đình BN và đối với cả bệnh nhân Kinh nghiệm chỉ ra rằng: Các nhân viên được hướng dẫn về sức khoẻ
tâm thần và vận dụng kiến thức đó vào trong công việc tiếp xúc với công đồng, thì
họ đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện và quản lý bệnh tâm thần [11]
về y tá (y tá, y sỹ, có thể cả bác sỹ nữa) họ làm việc tại các trạm y tế xã và hoạt
động phối hợp với các cộng tác viên y tế còn gọi là các nhân viên y tế thôn, bản
+ Nhiệm vụ của họ là:
- Phát hiện sớm các rồi loạn tâm thần Phát hiện những bệnh nhân nặng cần
phải xử lý và điều trị kịp thời đăng ký, quản lý lâu dài tại công đồng
- Theo đõi các bệnh nhân được trả lại cộng đồng từ các bệnh viện, duy trì
th nhân điều trị dài hạn
- Tiến hành tuyên truyền giáo dục sức khoẻ tâm thần, khuyến khích cộng đồng tham gia vào các hoạt động nhằm giúp đỡ bệnh nhân TTPL tái hoả nhập với
việc cấp thuốc đều đặn cho các bệ
cộng đồng
* Chương trình lông ghép chăm sóc sức khỏe tâm thần với chăm sóc sức khỏe ban
đâu
TCYTTG đã đưa ra khuyến cáo, nhắn mạnh việc này và đã triển khai ở nhiều
nước thành viên, nhiều nước đã thực hiện chương trình này cho thấy :
~_ Khả năng tái hòa nhập cộng đồng nhiều hơn
- Chi phi y té tiết kiệm hơn
- _ Không làm tăng gánh nặng công việc cho nhân viên y tế, cộng đng
Ở Châu Á, một số nước đã thực hiện chương trình này như : Trung Quốc, Đài Loan Ở Đài Loan chương trình được tiến hành từ năm 1986, cho thấy chính sách phát triển trong dự phòng và điều trị bệnh những bệnh nhân tâm thần là đẩy mạnh
Trang 26điều trị và phục hồi chức năng tích cực và giảm bớt sự giam hãm, sự phân biệt tiêu
cực đối với bệnh nhân Tháng 12/1991 đã có 7181 người được trợ cấp điều trị, từ
năm 1992 sẽ có một lượng lớn hơn được trợ cấp điều trị [29]
~ Việt Nam
Sau giải phóng thủ đô Hà Nội năm 1954 và giải phóng Sài Gòn năm 1975 Đảng, Chỉnh phủ và Bộ Y Tế đã quan tâm đến ngành tâm thần học Các bệnh viện tâm thần với qui mô từ 50 = 150 giường bệnh được thành lập, Các trạm tâm thân có nhiệm vụ quản lý và điều trị ngoại trú cho bệnh nhân TTPL cũng nhanh chóng được xây dựng [9]
Hai bệnh TTPL và động kinh đã được Chính Phủ xếp vào loại bệnh xã hội Hội đồng Chính Phủ đã ra nghị quyết 15/CP ngày 14/01/1975 qui định các tỉnh và
tỉnh Khánh Hoà, Tiền Giang, Cần Thơ đã được thành lập [42]
Đặc biệt ở thành phố Hỗ Chí Minh mạng lưới phòng và chữa bệnh tâm thần phát triển khá nhanh chóng 17/18 quận, huyện (trừ huyện Duyên Hải) đã có phòng, khám bệnh, Các quận 3, 4, 8, 10, Phú Nhuận còn tổ chức được bệnh viện ban ngày
Sở lao động thương binh xã hội cũng xây dựng một khu nuôi dưỡng người bệnh tâm
thân sa sút với 500 giường bệnh tại Thủ Đức [2]
Ước tính nước ta hiện nay có khoảng 320.000 bệnh nhân TTPL đang sống tại
cộng đồng và lang thang trên đường phố, cần được tổ chức quản lý và điều trị [3] [9] Việc tổ chức chăm sóc bệnh nhân TTPL, dựa vào cộng đồng là có từ
Trang 271.3.2 Bệnh động kinh
* Động kinh là những rối loạn kịch phát các chức năng của não về vận động và/hoặc cảm giác, giác quan, tâm thản, có hoặc không mắt ý thức từng cơn ngắn vài giây đến vài phút, có tính chất định hình, khuynh hướng chu ky lan rộng cùng với hiện tượng phóng điện quá mức của các neuron vỏ não [29]
* Nguyên nhân gây động kinh
'Nguyên nhân gây động kinh rất khác nhau và bao gồm nhiều yêu tố Nguyên
nhân của động kinh tủy thuộc vào lứa tuổi và khu vực địa lý Ba phần tư bệnh nhân động kinh không phát hiện được nguyên nhân
Theo nguyên nhân, động kinh được chia thành 3 loại: Động kinh tự phát (idiopathic epilepsy), động kinh triệu chứng hay mắc phải (acquired) và động kinh chưa rõ nguyên nhân (cryptogenic) [29]
vài hội chứng động kinh tự phát đã xác định được rồi loạn trên đoạn gen của nhiễm
sắc thể
~ Động kinh triệu chứng do tổn thương lan toả hay khu trú, tiến triển hoặc cố
định của não, tổn thưng này có thể được phát hiện bởi lâm sảng, thăm đò X quang, thân kinh hoặc xét nghiệm sinh hoá chứng tỏ tổn thương não Nguyên nhân thường, gặp là do chấn thưng sọ não, bệnh lý mạch máu, u não và viêm não
- Động kinh chưa rõ nguyên nhân: bằng các phương tiện chân đoán hiện có
(hỏi bệnh, lâm sàng, cận lâm sàng) không tìm thấy nguyên nhân gây động kinh, Nhưng cũng không tương ứng với các tiêu chuẩn của động kinh tự phát
Động kinh khởi phát ở tuổi người lớn có thể do một số nguyên nhân: Chan thương sọ não, tai biến mạch máu não, nhiễm khuẩn thần kinh trung ương, bệnh
thoái hỏa não, nhiễm độc rượu, thuốc tâm thần
Động kinh và di truyền: Có một số thể động kinh có yếu tố di truyền Trong,
loại động kinh toàn bộ nguyên phát ở anh em sinh đôi một trứng, khi một người mắc động kinh thì người kia cũng có thể bị động kinh (với tỷ lệ 62%) [13]
Trang 28
Dann (1982), nguy co mie déng kinh d4i với anh chị em ruột của bệnh nhân
có bệnh động kinh cơn lớn vào lúc 40 tuổi là 3-4%, cho con cái của chính những
bệnh nhân đó là 4-6% va cho ho hang 1a 2-3% Vấn để chính là các yếu tố di truyền
tạo điều kiện thuân lợi cho sự phát triển của động kinh [46]
*Nguyén tic điều trị động kinh
Các biện pháp điều trị trước tiên là dùng các thuốc, hiếm hơn là phẫu thuật
Việc phẫu thuật giới hạn ở vài chỉ định với các động kinh có tôn thương thực thể,
Mục đích của điều trị động kinh là sử dụng thuốc kháng động kinh phù hợp
để bệnh nhân hết hoàn toàn cơn co giật
Nếu không, hết hoàn toàn co giật thì sẽ làm giảm tần số cơn và tình trạng
nặng ma không có tác dụng phụ nào xây ra
Dùng thuốc kháng động kinh mang lại
có khả năng khỏi cơn lâu đài [29]
Ngoài các nguyên tắc trên cần phải lưu ý
iệu quả cho hơn 70% các trường hợp vấn đề sau:
~ Tùy theo từng trường hợp, ngoài thuốc bệnh nhân phải có chế độ ấn uống, sinh
hoạt, lao động, nghỉ ngơi, giải trí hợp lý
~ Bệnh nhân động kinh điều trị ngoại trú ngoài hồ sơ bệnh án của thây thuốc điều trị, bản thân mỗi bệnh nhân phải có một số theo dõi điều trị để ghi các thuốc đã điều trị, mô tả từng cơn và tần xuất xuất hiện cơn động kinh cũng như các hiện tượng bắt thường khác trong quá trình dùng thuốc
*Vấn để kinh tế: Tô chức Y tế thế giới đã thông kê
Trang 29
~ Sự chỉ phí cho điều trị bệnh tâm thần
+ Ở 60 nước tư bản : Chỉ phí trung bình 2,5 tỷ USD/năm
(Những tốn kém này mới tính trên giường bệnh của bệnh viện tập trung) [29 ]
1.4 Trầm cảm
1.4.1 Khải niệm
Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của rối loạn cảm xúc, giảm khí sắc đặc
trưng bởi các triệu chứng buồn, giảm thích thú, thay đổi trọng lượng cơ thể, rối loạn
giấc ngũ, mệt mỏi, cảm nghĩ không xửng đáng, giảm khả năng tập trung chú ý, do
dự, giảm vận động nhưng cũng có khi kích động vật va
1.4.2 Dịch tễ học bệnh trầm cảm
Bệnh này khá phô biến ở các nước phát triển và kể cả những nước kém phát
triển Ở Australia, bệnh trầm cảm chiểm tới 20-30% dân số, trong đó 3-4% là trầm
cảm vừa và nặng
Ở Trung Quốc, tỷ lệ trằm cảm là 4,8-8,6% Ở Mỹ tỷ lệ trằm cảm là 5-6%
Nhìn chung, khoảng 15-40% người lớn trong cuộc đời mình đã có một thời kỳ trim cảm rõ rệt [40]
Ở Việt Nam nghiên cứu của Trần Viết Nghị, Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn
Viết Thêm, Nguyễn Văn Siêm và cộng sự 1997 cho thấy tỷ lệ trầm cảm trong nhân
dân xấp xỉ 2-5% dân số [24]
Theo công bố của Chương trình Chăm sóc sức khoẻ cộng đông quốc gia, tỷ
lệ mắc bệnh trầm cảm ở Việt Nam là 2,8% dân số, tức là cứ 100 người thì có khoảng 3 người mắc bệnh trầm cảm
* Một số điểm phân bố dịch tễ lâm sàng của trầm cảm [40 J
- Tuổi : Tuôi khởi phát nhìn chung từ 20-50 tuổi, tuổi thường gặp trầm cảm cao nhất ở độ tuổi 25 - 44 tuổi Khoảng 25% những người ở lứa tuổi 18 trong cuộc đời đã ít nhất mắc một gia đoạn trằm cảm, những người từ 65 tuổi trở lên tỷ lệ trằm
cảm khoảng 10-15%, có xu hướng tăng ở giai đoạn đầu của tuổi giả và giảm sau
tuổi 75,
Trang 30nông thôn là 2:1 Ở nước ta một số báo cáo gần đây tỷ lệ trâm cảm ở một xã vùng
nông thôn là 8,35% và ở một phường của thành thị là 4,2%,
- Tình trạng hôn nhân : Những người ly dị hoặc ly thân có nguy cơ trằm
cao hơn những người chưa lập gia đình và những người có gia đình ở cùng độ tuổ
~ Nghề nghiệp : Những người có nghề nghiệp dn định có tỷ lệ trầm cảm thấp hơn những người không có việc làm hoặc việc làm không ổn định
- Yếu tổ đi truyền : Một số nghiên cứu cho thấy trầm cảm gặp ở 50% những
cặp sinh đôi cùng trứng và 10-25% những cặp sinh đôi khác trứng Nếu cả hai bổ
mẹ mắc rồi loạn cảm xúc thì 50-70% các trưởng hợp con cái họ bị bệnh
- Sự tiến triển : tái diễn là khuynh hướng rất thường gặp của trầm cảm,
khoảng 50% các trường hợp
~ Tự sát và trầm cãm : Ö Mỹ 40-70% số người tự sát là do bị trằm cảm, ở Australia là 70% Ở nước ta theo một số thông kê ban đầu khoảng 20%
~ Mức độ trầm cảm : Nhiều tác giả nhận xét mức độ trầm cảm nhẹ và trung bình thường gặp nhất ở cộng đồng Mức độ trằm cảm nặng chỉ chiếm khoảng 20%
các trường hợp
* Diéu trj trằm cảm tại cộng đẳng
- Đa số trầm cảm được điều trị tại cộng đồng (trừ bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát, bệnh nhân có biểu hiện đe dọa cuộc sống) Song việc thăm khám và theo dõi trong thời gian đầu đều đặn hết sức cần thiết cho tới khi các triệu chứng, được cải thiện mới giảm bớt số lần thăm khám.
Trang 31- Van dé diéu tri bằng thuốc chống trầm cảm thường phải lâu dài, do dé can phải tuân theo các nguyên tắc chặt chẽ để tăng hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ tái phát
và tái nhiễm Tuy nhiên nguy cơ tái diễn trằm cảm cao, nếu được điều trị có thể hồi phục hoàn toàn và ôn định, nếu không được điều trị có thể trở thành mạn tính
Hiện nay ở nước ta trằm cảm chưa được nghiên cứu đầy đủ, cần có chương,
trình khảo sát trằm cảm trên nhiều lĩnh vực và trong phạm vi rộng để có chính sách đúng đắn cho việc điều trị, quản lý và PHCN cho trầm cảm tại nhà có hiệu quả
1.5 Một số nghiên cứu về lĩnh vực tâm thần cộng đồng
Năm 1978, Trần Văn Cường tổ chức quản lý BNTTPL tại xã Phượng Dực (huyện Phú Xuyên, tinh Hà Tây)[9]
Trần Bá Mạc, nghiên cứu 27/37 xã thuộc huyện Nam Ninh, điều trị tại nhà cho 353 bệnh nhân TTPL gồm những BN mới phát hiện và những BN mới được điều trị giai đoạn cấp tính ở BV đưa về địa phương [22]
Nguyễn Đăng Dung (1992), đánh giá kết quả nghiên cứu phục hồi chức năng,
tâm lý xã hội dựa vào cộng đồng bệnh TTPL và động kinh [14] Năm 1994, điều tra
cơ bản các rồi loạn tâm thần tại xã Tự Nhiên và xã Tiên Kiên-Phú Thọ [25]
Đỗ Thuý Lan (1994), nghiên cứu “Hiệu quả chăm sóc sức khoẻ tâm thần và
phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho BN tâm thần tại cộng đồng ở hai phường nội
thành Hà Nội” [20]
Bùi Thế Khanh (1997) tiến hành: Góp phần nghiên cứu lồng ghép điều trị,
phục hồi chức năng bệnh nhân TTPL vào mạng lưới y tế cơ sở [19]
La Đức Cương (1999), nghiên cứu tiến triển của bệnh TTPL, sau can thiệp đặc biệt (điều trị hoá dược phối hợp với huấn luyện gia đình) [7]
Các nghiên cửu trên cho thấy:
« _ Số bệnh nhân TTPL không tái phát bệnh, phục hồi các chức năng sinh hoạt
và tái thích ứng với xã hội tăng cao
«_ Đôi ngũ cán bộ y tế cơ sở có đủ khả năng, trình độ dé giải quyết vấn đề bệnh
nhân TTPL tại cộng đồng
« Thái độ của cộng đồng đối với BN đã được cải thiện hơn, sự hiểu biết của cộng đồng về bệnh được nâng cao rõ rệt,
Trang 32Tóm lại : Bệnh tâm thần nói chung, nhất là bệnh TTPL và ĐK là bệnh hay gặp, có
tỷ lệ trong dân chúng cao, với đặc điểm đa dạng, nguyên nhân phức tạp, bệnh hay
tái phát dễ dẫn đến mạn tính, sa sút tâm thần Việc điều trị gặp khó khăn, chỉ phí tốn
kém và đặc biệt nó tạo ra một gánh nặng tâm lý cho cả bệnh nhân lẫn gia đình và xã hội
Các kết quả nghiên cửu trên thế giới cũng như ở nước ta đã chỉ ra rằng: cần
có những giải pháp tổng hợp, có thái độ đúng đắn trong cánh nhìn nhận về loại bệnh
này mới có thể làm chậm các cơn tái phát, kích thích những yếu tổ tích cực trong họ
để những người có dấu hiệu báo trước khỏi những nguy cơ bùng phát cấp tính và
những người bình ổn không tái phát và không lâm vào tình trạng tàn tật về tâm thần
Muốn vậy, cần có sự chăm sóc sức khỏe tâm thân, PHCN tâm lý xã hội và lao động nghề nghiệp từ đầu, liên tục và cần nhiều thành phần cộng đồng tham gia
Vi thé trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cần sự có mặt của chăm sóc sức khỏe tâm thần Nếu trạng thái tâm thần ôn định thì chỉ làm tăng thêm giá trị của trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tăng giá trị sức khỏe nói chung,
Trang 33CHUONG 2
PHUONG PHAP NGHIEN CUU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
~ Tất cả người bệnh tâm thắn từ 18 tuổi trở lên, hiện đang có số theo dõi và quản lý
điều trị tại 8 trạm y tế phường thuộc quận Cầu Giấy Hà Nội
- Người chăm sóc chính trong gia đình của bệnh nhân tâm thần 8 phường quận Câu
Giấy Hà Nội có mặt tại gia đình trong thời điểm điều tra
- Hồ sơ bệnh án của người bệnh tâm thần được quản lý tại 8 trạm y tế phường 2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
~ Người bệnh tâm thần : Là những người được chẩn đoán, điều trị và có danh sách bệnh án quản lý, điều trị tại trạm y tế của 08 phường thuộc quận Cầu Giấy Tuôi của
người bệnh từ 18 tuổi trở lên (năm sinh từ năm 1988)
~ Người chăm sóc chính : là người thân đang chung sống với bệnh nhân có quan hệ
gần gũi và chăm sóc bệnh nhân nhiều nhất trong sinh hoạt và điều trị bệnh Ví dụ
như: Bố, mẹ, vợ, chồng, con dâu, con ré, anh, chị em
2.2.1 Địa điểm
- Tại 08 phường thuộc quận Cầu Giấy Hà Nội
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
~ _ Từ tháng 3/2006 - tháng 10/2006
2.3 Phương pháp nghiên cứu
~ Phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích
~ Loại nghiên cứu : Định lượng
2.4 Phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cách chọn mẫu : Chọn mẫu toàn thể
~ Chọn toàn bộ bệnh nhân tâm thần có danh sách quản lý và có bệnh án theo dõi,
điều trị tại 08 trạm y tế phường quận Cầu Giấy
~ Mỗi gia đình bệnh nhân tâm thần chỉ chọn một người chăm sóc chính theo tiêu
chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu.
Trang 34
2.4.2 Cỡ mẫu
~ 130 bệnh nhân tâm thần có số theo đõi và danh sách quản lý điều trị tại 08 trạm y
tế phường Trong đó : 66 bệnh nhân tâm thần phân liệt
45 bệnh nhân động kinh
19 bệnh nhân trằm cảm
~ 130 người chăm sóc chính trong gia đình bệnh nhân tâm thần
- _130 hồ sơ bệnh án bệnh nhân tâm thần
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệ
* Bộ câu hỏi phỏng vấn người chăm sóc chính trong gia đình và đánh giá nhu cầu
PHCN của người bệnh tâm thần, bao gồm:
~ Phân I: Thông tỉn về nhu cầu PHCN của người bệnh tâm thần: Từ câu Q.1- Q.23
- Phẩn II: Thực trạng PHCN tại nhà cho người bệnh:
1 Thông tin về người chăm sóc chính : Từ 24-Q31
2 Thông tin về nhận thức và thái độ của gia đình Từ Q.32-Q.36
3 Thông tin về thực trạng phục hồi chức năng tại nhà
3.1 Thông tin về việc uống thuốc của bệnh nhân: Từ Q.37- Q.41
3.2 Thông tin về phục hồi chức năng trong gia đình ;, Từ Q.42-Q.46
3.3 Phục hồi chức năng tái thích ứng xã hội của người bệnh : Từ Q.43-Q.45
2.5.2 Cách thức thu thập số liệu
* Cách chọn điều tra viên và giám sát viên để tập huấn
- Đối tượng được chọn làm điều tra viên cùng với nghiên cứu viên là 2 thành viên
lớp cao học 8 cùng nhóm thực địa Cầu Giấy và 08 cán bộ Y tế phụ trách chương,
trình tâm thần của 08 trạm y tế phường nghiên cứu
- Giám sát viên là nghiên cứu viên và Bác sỹ Sinh: cán bộ phụ trách chương trình
tâm thần của trung tâm y tế quận Cầu Giấy
- Các điều tra viên tại mỗi phường sẽ được tập huấn riêng
+ Thời gian tập huấn : 01 buổi
+ Địa điểm : tại phòng làm việc các trạm y tế phường,
Trang 35
+ Tài liệu tập huấn : Bộ câu hỏi phỏng vấn (Phụ lục 1), giấy chấp nhận tình nguyện
tham gia nghiên cứu (để người được phỏng van ký vào), Bản hướng dẫn điền phiều
phỏng vấn
+ Nội dung tập huấn cho điều tra viên là kỹ năng phỏng vấn đối tượng nghiên cứu
cách thức điền phiếu theo phiếu phỏng vấn đã được chuẩn bị sẵn [phụ lục 4]
~ Giám sát viên sẽ được tập huần các nội dung như nội dung tập huấn diều tra viên,
ngoài ra còn được tập huần thêm kỹ năng giám sát thu thập số liệu
* Tiến hành thu thập số liệu
- Buse | : Tap huấn điều tra viên: Phát tài liệu tập huấn (Phụ lục 1, giấy chấp nhận
tình nguyện tham gia nghiên cứu và kèm theo bản hướng dẫn điền phiếu),
~ Bước 2 : Thử nghiệm bộ câu hỏi 2 lẫn và chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình địa
phương
~ Bước 3 : Tiền hảnh phỏng vấn thu thập số liệu
Nghiên cứu viên cùng với điều tra viên tại các phường nghiên cứu trực tiếp di
điều tra từng gia đình theo danh sách có sẵn Theo cách sau :
- Đối với người tâm thần : Quan sát và phỏng vấn người chăm sóc chính để đánh
giá nhu cầu PHCN của người bệnh theo phiều phỏng vấn chuẩn bị sẵn (phụ lục 1)
- Với người chăm sóc chính : Phỏng vấn theo phiếu phỏng vấn chuẩn bị sẵn ( phụ
lục 1) và ký vào giấy chấp nhận tình nguyện tham gia nghiên cứu sau khi phỏng vấn
xong,
- Nghiên cứu viên trực tiếp thu thập 30% số phiếu và giám sát 10% số phiểu do điều
tra viên thu thập bằng cách: cùng điều tra viên đi kiểm tra lại những thông tin đó
điều tra xem điều tra viên có thực sự phỏng vấn đối tượng nghiên cứu không, có bỏ
sót thông tin, thu thập thiếu thông tin cần thiết trong bộ câu hỏi
2.6 Phương pháp phân tích số liệu
Nhập số liệu vào phần mềm EPIDATA và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS
Tinh tỷ lệ phần trăm và dùng kiểm định khi bình phương đẻ tính +? , P, OR để tìm
mỗi liền quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
Trang 36
2.7 Các biến số nghiên cứu và các khái niệm
2.7.1 Các biến số nghiên cứu
1 Thông tin về nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh tâm thần
được 23 nhu cầu coi lệ sau:
nhu cầu đạt điểm 1 đã
được coi là có nhụ cầu PHCN
~ Từ 60 tuổi trở lên
Trang 37bang, |” Buôn bán, lao động tự | Phiêu
- Hưu trí, nội trợ -Mù chữ
- Cấp 1/Cấp 2 ih
Trình độ học | Cấp học cao nhất của| Thứ |- Cấp 3/Trung học
- Đại họe/eao đẳng trở |” lên
Phân theo các mức Thu nhập trung bình ~ Nghèo : Mức thu nhập của cá nhân trong gia bình quân đầu người + Tĩnh rạng kin | nh th theo số tiễn |, |—Z2400004Hảng - [Phiếu
8 lủ thu dupe hing Theo} „ |- Trang bình (đứ nộ từ | phòng
qui định của Bộ Lao | "" | 240,00p _ 1.000.0004/| vấn động- Thương bỉnh tháng
>1.000.000đ/tháng Thơm ga dại Tem gá các Kôa| | Tỷlệteonhớm:
9 huấn : học về cách điều trị, | ` ` |- Được tập huấn phan : `
chăm sóc và PHCN - Không được tập huần
~ Được hướng dẫn kiến
2 Thông tìn về nhận thức và thái độ của gia đình
nhận của gia | nhận tình trạng bệnh | phân | - Chấp nhận một phẩn | phỏng
Trang 38
THỊ ÊẺ8 | gần thiết PHCN cho | hang | - Ít quan trọng
3 Thông tin về thực trạng phục hỗi chức năng tại nhà
3.1 Thông tin về việc việc uống thuốc của bệnh nhân
sử dụng thuốc
- Uống theo thời gian
Từng thời điểm tr bác sỹ hướng dẫn Phiế
- Uống theo ý người
chăm sóc chính
TY lệ theo nhóm :
- Uống đẩy đủ, đều dặn
Trang 39
Hướng dẫn cho Dạng |- Thường xuyên an Phiếu
~ Không bao giờ
—— „_ | Huẫn luyện cho bệnh Phân theo các nhóm: _ [Phiếu
Ti es - Đi đại tiểu tiện đúng |_ nhân đĩ đại tiểu tiện sa? : Phiếu
21 |Đạitiểutiện - | đúng nơi qui định, tự Hài dải tệ phỏng
$ rn) mye |- Đi đại tiểu tiện có sự |P,
trợ giúp vệ sinh
~ Phụ thuộc hoàn toàn
= Ty mie quan áo :
_., | Huấn luyện cho bệnh | Danh | - Mặc được quần áo khi
22 | Mae quan 4o nhân tự mặc quần áo | mục _ | có sự trợ giúp Peace ; ee phông Ạ
3.3 Phục hồi chức năng về tái thích ứng xã hội của người bệnh
Cách quan hệ, đỗi xử] „ |- Bình thường ứ Phiếu
23 [Quanhệxãhội [của người bệnh với| |-Giảm phỏng
Lao động học ee 8 PE | phar | - Giam it :
4 || tập học tập của người hạng |- Giảm nhiều ng phỏng, 3
Trang 40bệnh hội giản vấn
- Không tổ chức
hoạt giải trí cho | bệnh hòa nhập với lúc (| cá nhật phỏng
chính (Trình độ học vấn, tình trạng kinh tế, kiến thức, thực hành PHCN, tham gia tập huần ) và gia đình (thái độ chấp nhận, quan
tâm chăm sóc, nhận thức, nhu cẩu ) với việc PHCN tại nhà cho người bệnh
2.7.2 Phương pháp đánh giá sử dụng trong nghiên cứu :
- Đánh giá nhu cu PHCN của người bệnh tâm thần dựa trên 23 nhu cầu thiết yếu
được tác giá Trần Trọng Hải cải tiến
Chia thành 4 nhóm như cầu :
+ Nhụ cầu PHCN trong sinh hoạt hàng ngày
+ Nhu cầu PHCN trong giao tiếp + Nhu cầu PHCN trong vận động, + Nhu cầu PHCN trong hoà nhập xã hội và việc làm
~ Phân loại kinh tế gia đình :
Căn cứ thang đánh giá mức kinh tế gia đình của Bộ LĐTBXH qui định mức kinh
tế gia đình dựa trên thu nhập bình quân đầu người trong gia đình/tháng Phân loại
như sau:
+ Mức kinh tế khá trở lên : > 1.000000đồng/tháng 2.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ theo đúng qui trình của Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y
tế công cộng Hà Nội