Bằng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính với các đối tượng nghiên cứu là: cơ sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ quá trình phân loại, thu gom, vận
Trang 1HSPK 626% LVA0/(\LBV4 -TN
BO GIAO DUC DAO TAO - BO Y TE
TRUONG DAI HOC Y TE CONG CONG
DINH TAN HUNG
THUC TRANG VA MOT SO YEU TO LIEN QUAN DEN
VIEC QUAN LY CHAT THAI RAN Y TE TAI BENH VIEN
DA KHOA TINH KHANH HOA, NAM 2013
LUAN VAN THAC SY QUAN LY BENH VIEN
MA SO CHUYEN NGÀNH: 60.72.07.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Hữu Thọ
Hà Nội - 2013
Trang 2Sau 2 năm học tập, giờ đây khi cuốn luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản ly
bệnh viện đã và đang được hoàn thành đó là thành quả trong học tập, với tat ca
tình cảm, sự kính trọng và biết ơn, từ tận đáy lòng mình tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Ban giám hiệu, các thây, cô giáo Trường Đại học Yiế Công cộng đã tận tình
giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Nguyên đã tạo điều kiện về cơ sở vật
chất môi trường học tập cho tôi hoàn thành khóa học
Thây PGS.TS Phan Văn Tường và thay hướng dẫn TS Lê Hữu Thọ người
đã giúp đỡ tôi từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và
hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh
Khánh Hòa và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác và tiễn hành nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, góp ý, hướng dẫn và tham gia vào nghiên Cứu này
Xin cam on bé me, người vợ yêu quỷ, con gái, con trai và những người thân trong gia đình tôi đã chịu nhiều hy sinh, vất vả, luôn động viên tôi trong suốt quả
trình học lập, làm việc và hoàn thành luận văn
Xin cám ơn các anh em, bạn bè thân hữu đã khuyến khích tôi trên con đường học tập và bạn đồng môn lớp Cao học QLBV 4- Tây Nguyên đã cùng nhau học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong hơn 2 năm qua
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tat cả các bạn đông nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Dinh Tan Hing
Trang 3MUC LUC
DANH MUC CAC CHU VIET TAT
DANH MUG CAC BANG tied nnentinaaniitanenaennwin eee ii
DANH MỤC CÁC BIÊU ĐỒI . - n2 0Á ng Hán lợn 6180803000660 8pd0s Tổ Lá viii TOM TAT DE TAI NGHIEN CUU o ssscssssesssssseesecseeesnseeesseseesssesssssnessessneessenstepecss ix
ĐH VĂN ĐĐỂccanaoass sa có lronemraoxesasislEraseeiiereareceTTL.TU Cst TUIT TT TT: 1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU -2+2©-+++eettExeeerrrrrrrrrrtrk rrrrrrrrrtrrrree 3
CHƯƠNG 1: TÔỔNG QUAN TÀI LIỆU < E56.001.1 80 0l mm 4
1.1 Một số vấn để cơ bản về GhÄb thải y kỂ ccesoeeaosidssabfcsgoobiE ST TT, 4 1.1.1 Cúc khái nIỆH - con cánh 8185581115 4302151581114136444830012E03805ScsE42E21,<pLE TU S30 4
1.1.2: Phân loại chẩtkHôi ÿ £6 cccareseenioonogaenifdinaaoleesieiiardaeDil 16T 5
1.1.3 Thành phần và khối lượng của chất thải rắn y tế - 5 1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến kinh tế xã hội - 10
1.1.5 Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải tônhV EỄmsoassnds EU 10 1.2 Một số vấn đề cơ bản về quản lý chất thải rắn y tẾ: 2 22+©cccccrssrxee 14 1,5:1 ĐÍHNHưPHÍ: -s.022-s5 2s ng Hgg518004g1981182010k4615es855 22s =rasdhôessssli es 14
1.2.2 Phân loại chất thải rắn y tẾ: 222222222 rrrrrrrrre 14
1.2.3 Thu gom chất thải rắn y tẾ: -ccc+-c5Sctccc+errrkkrrrrrrrrrrrrrrrrrrirree 14 1.2.4 Vận chuyển chất thải rắn y tế trong các cơ sở y đễ-: san ee 15 1.2.5 Lưu giữ chất thải rắn y tế trong các cơ sở y CE ty nnpnobsnibmasnarrers SEO 16
1.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới -+.-+-++ 17 1.4 Thực trạng quan lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam -ccccccccceee 18
1.4.1 NHữm định GHHHE - s42 22+ s~ s-««sesesnieskssdfvE02380164001503/3863212058 851 aioe eee tà T7 18 1.4.2 Thực trạng phát sinh chat thai rn y Ta wel?
1.4.3 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tẾ -++ 19
1.4.4 Thực trạng xử lý chất thải rắn y KỆ Tbtc.s eccc-txeesrrsexesssedsnlEiD An TS TER Ji
1.5 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tẾ -:cccccccccccecee 22 1.5.1 Nghiên cứu về chất thải rắn y tế trên thế giới -. - 22
1.5.2 Nghiên cứu về chất thải rắn y tế tại Việt Nam ccsccce 23
Trang 41.6 Sơ đỗ khung lý thuyế TH TT ni gà 0H81 3600.018862106606ã0004 1 27
1.7 Thực trạng quản lý chất thải rắn y té tai Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa 28
1.7.1 Thông tin chung về Bệnh viện . 2-2©2+22++++zvrrrerrrxrrrricrer 28
1.7.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện -. -:-©2cz+2czeszrteeee 28 1.7.3 Một số thuận lợi, khó khăn trong quản lý chất thải y tế - 29
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -2¿2522222z+2zz+ 30
2.1 Đối tượng nghiên Cứu: 2- 2 ©2+2+++©+++EE+vEEEtEEEEEEEECZExrrrrrrrrrrrrrrrirree 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
9.ÃI Thiết kế nghiÊH GỨN: -o-e- so ccoSeeriEEsrrereirrirrreiereirirrrererxeksrD TU 30
2.4 Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu - 65c 1016228222682 12610001506 30
2.6 Biến số nghiên cứu: -c5 xeczse+ 33
2.7 Phương pháp phân tích số liệu ¿- 22 ©+++2+++2E++++tExrterrrrtrrrxrrrixree 36
2.8 Ðạ0:đứC trong nghiện GiỂN «esceecekeeeeisdeesarekrrrarersesiresik l0 a7 2.9 Hạn chế chia nghién citu va céch khac phuct ccccccssescsssseecssseesesssescesseeesessneces 37
CHƯƠNG 3: KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU 2-©-2©22222E2222z+2ExzzEEzsztzeee 38
3.1 Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tẾ .| 38 3.1.1 Khối lượng chất thải rắn y tế tại BV đa khoa tỉnh Khánh Hòa trong 5
tháng AU TRAVEL DOTS oa casas ccecconsecosveecaddesvsedhstcerserqovaccosesenaesogeechovsenseaeeczeeestt 38
3.1.3 Thực hành phân loại chất thải rắn y tẾ -2¿22z+22+z+czxzcrr 42 3.1.4 Thực trạng thu gom chất thải rắn y tẾ -+©2++cc+cxczrxrrrcrrrerree 43
3.1.5 Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế -2-+cz+2zze+evzcxer 44 3.1.6 Thực trạng lưu giữ chất thải rắn y tẾ -©25-cceccSecrkeEkrrkrrrdrree 45 3.2 Một số yếu tố liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa: - c4 g4 466 re sƯ 47 3.2.1 Tổ chức thực hiện quy chế, các quyết định, văn bản pháp quy về quản lý
3.2.2 Mức độ quan tâm của lãnh đạo bệnh viện đối với công tác quản lý chất
thải TẮNY E LáicbantiiL0EL208-L dt giá g0à g0 sc0gg06108.sa6866xau soi UẾT) 48
Trang 53.2.3 Công tác tổ chức và sự phối hợp chặt chẽ giữa các khoa phòng trong
công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện -2¿-©2zz+c+se+cs2 49
3.2.4 Ý thức của của nhân viên y tế về công tác thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thãi rắn yt c‹ ses E20 08126 0816 1E Hong 010180 018110004ã 11g 520g Lime 51
3.2.5 Trang thiết bị va kinh phí cho công tác quan lý chat thai ran y tế tại bệnh
viện đa khoa tỉnh Khánh Hôòa - 5 522232 E SE *S.E£2ES.x 2 1121 2 c 33
4.1.5 Thực trạng lưu giữ chất thải rắn y tẾ -2-©-ec+ckvEEkvrxesrxssrrierrr 59
4.2 Một số yếu tố liên quan đến công tác quản lý chat thai rin y tế tại Bệnh viện da Rica tinle WAAR 1Ó svssy5525- 5x13 gtsysxtzgsyassslsegAg4S2cÃttÖ1fs82g00x428Ắs0iexesszse to TS TRE 60 4.2.1 Tổ chức thực hiện quy chế, các quyết định, văn bản pháp quy về quản lý
CHAE THAT TARY, 18a cecnc.as accecnciecnscoconstecaesusnsenndSenstaalanvsease evenenssousistessstfene tee ana 60
4.2.2 Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện đối với công tác quản lý chất thải
4.2.3 Công tác tổ chức và sự phối hợp chặt chẽ giữa các khoa phòng trong
công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện c2 22vxcrtrrxveccee 61
4.2.4 Ý thức của của nhân viên y té về công tác thu gom, vận chuyển, lưu giữ
chất thải ,TẤn 'W/ÍỄ csc it 66c6LLc0 201 20 00 na t6 H1 0401056666022-881 6150 61
4.2.5 Trang thiết bị và kinh phí phục vụ cho công tác quản lý chất thải rắn y tế
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa 2 5x13 ES1 1E kc sxscxcz 62
BEI sc cosnnnconssssnonssvnsccusssngusssvsiaasansovniisnacosssaprennnessecenenontnesstinvasliccs cea lle da 63 5.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại BV đa khoa tỉnh Khánh Hòa 63
5.1.1 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh s-222cz22222222222212222225EeEEEsxee 63
5.1.2 Công tác thực hành phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn
Trang 6
KIÊN NGHỊ .-22-©22222++2CE21271111127211127111121117211112.112.1E 2 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22.- ©2+¿+8EEEEE4EEEEEE1122277213E11227272212ece .66
PHU LUC 1: Bang kiém danh gia thực trạng quản lý chất thải rắn y tế 70
PHỤ LỤC 2: Hướng dẫn phỏng vấn sâu ban giám đốc bệnh viện về quản lý chất
thải rắn y tế
PHỤ LỤC 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo các khoa, phòng liên quan về quản lý chất thải rắn y tế trong bệnh viện -2-©¿+2E++2EEZErerEEEExzrrirrxee a
PHỤ LỤC 4:Hướng dẫn thảo luận nhóm về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến
công tác quản lý chất thải rắn y tẾ -©22+++22EEEE2212221111E112171111 111.1 Le 78
PHỤ LỤC 5: Một số hình ảnh tfong nghiên GỮU ‹‹c.ccicccisissnseesecsreeslkasscssssaLC sỏ 80
Trang 7: Đối tượng nghiên cứu : Nhân viên y tế
: Phỏng vấn sâu : Quản lý chất thải rắn y tế : Thảo luận nhóm
: World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
Trang 8DANH MUC CAC BANG
Bảng I.1 Khối lượng chất thải phat sinh tai các khoa trong bệnh viện 9
Bang 1.2 Khối lượng chat thai y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế 10
Bảng 3.1 Thực trạng dụng cụ thu gom, phân loại, vận chuyển chất thải rắn y té 44
Bảng 3.2 Thực trang phân loại chat thai ran y tế theo quy định -¿ 45 Bảng 3.3 Thực trạng thu gom chất thải rắn y tế 22-2 +++222EEEEtEEEEeerrrrei 46
Bang 3.4 Kết quả về vận chuyền chất thải rắn y tế 2-22222vecerrtEEEEErcrree 47 Bang 3.5 Kết quả về lưu giữ chất thải rắn y tế ccc+++22EE+EE+EE2EE22Eee 48
Trang 9DANH MUC CAC BIEU DO
Biểu đồ 1: Khối lượng các loại chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh
Biểu đồ 2: Khối lượng chất thải rắn y tế thông thường & chất thải rắn y tế nguy hại/GB/ ngày tại Bệnh viện đa khoa Tinh Khanh Hoa 5 thang đầu năm 2013 42
Biểu đồ 3: Tổng khối lượng chat thải rắn y tế /GB/ ngày tại bệnh viện đa khoa Tỉnh
Khánh Hòa 5 tháng đầu năm 2013 2+2+©++222++++EEEEtrtrkrrrrrkrrrrrrrtrrkee 43
Trang 10TOM TAT DE TAI NGHIEN CUU
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Khánh Hòa, thời gian
từ tháng 01/ 2013 đến tháng 05/2013: (i) Mé ta thuc trạng công tác quản lý chất thải
ran y tế (CTRYT), (ii) Xác định một số yếu tố liên quan đến việc quan ly CTRYT
tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Khánh Hòa năm 2013 Bằng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính với các đối tượng nghiên cứu là:
cơ sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ quá trình phân loại, thu gom, vận chuyển và
lưu giữ CTRYT tại 20 khoa lâm sàng và 5 khoa cận lâm sàng của BV; Nhân viên y
tế (NVYT) bao gồm: Lãnh đạo BV; lãnh đạo các khoa phòng; điều dưỡng trưởng, Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật viên và Hộ lý — Y công các khoa
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Khối lượng CTRYT trung bình
50.596kg/tháng (trong đó CTRYT thông thường 35.648kg/tháng và CTRYT nguy hại 14.948kg/tháng); Khối lượng CTRYT/GB/ngày trung bình là 1,67kg (trong đó CTRYT thông thường là 1,I8kg và CTRYT nguy hại là 0,49kg); Tỷ lệ CTRYT
nguy hại/ CTRYT là 29,5% Hầu hết các khoa đều có túi với độ dày và thể tích
đúng theo quy định, thùng thu gom CTRYT theo mã màu riêng biệt và được đặt đúng vị trí quy định của BV; Thùng đựng vật sắt nhọn tại các khoa theo đúng tiêu chuẩn nhưng không đúng màu quy định (màu trắng dán nhãn vàng); Một số khoa phát sinh CTRYT ít dường như không có xe và không sử dụng xe để vận chuyển; Thời gian và đường vận chuyển CTRYT tại các khoa đúng theo quy định của BV,
trong quá trình vận chuyển không để rơi vải chất thải: Thời gian lưu giữ CTRYT tại
khoa không quá 24 giờ và tại BV không qua 48 gid
Dựa vào kết quả nghiên cứu có một số kiến nghị sau: (¡) bỗ sung kinh phí
cho'BV dé mua sắm, bảo dưỡng trang thiết bị, dụng cụ thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT còn thiếu tại các khoa cho đúng quy định; (iï) tăng cường chỉ dao, kiểm tra, giám sát công tác quản lý CTRYT; (ii) tập huấn định kỳ cho NVYT, học sinh — sinh viên đến thực tập, tuyên truyền BN và người nhà BN bỏ rác đúng nơi quy định
Trang 11nước ta đã có những bước phát triển đáng khích lệ trong công tác khám chữa bệnh
và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tuy nhiên, vấn đề chất thải nói chung và chất thải y tế (CTYT) nói riêng đang là vấn đề quan tâm của cộng đồng và toàn xã hội CTYT là một trong những loại chất thải có khả năng gây ô nhiễm và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng, đây cũng là mối quan tâm của toàn thế giới
Chất thải y tế là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cư trú, phát triển và rất dễ gây ô nhiễm Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thành phần CTRYT
tại các nước phát triển thì lượng chất thải răn y tế nguy hại (CTRYTNH) chiếm
22,5% trong đó phần lớn là chất thải rắn lây nhiễm [11] Đặc biệt, chất thải sắc
nhọn là nguyên nhân chính làm lan truyền các tác nhân gây bệnh theo đường máu ở NVYT[43]
Tổ chức y tế thế giới ước tính trong năm 2000, việc tiêm chích với kim tiêm
bân đã gây nên 21 triệu ca nhiễm virus viêm gan B, 2 triệu ca nhiễm virus viêm gan
C và 260.000 ca nhiễm HIV trên toàn thế giới Nhiều trường hợp trong số đó có thể
tránh khỏi nếu bơm kim tiêm được thải bỏ một cách an toàn [44]
Tại Việt Nam chỉ có khoảng 50% các BV thực hiện phân loại, thu gom
CTYT đúng quy chế quản lý chất thải Chỉ có 17% trung tâm y tế dự phòng sử dụng
lò đốt thủ công để xử lý CTRYT, 30% hợp đồng với các BV trên địa bàn để xử lý,
hầu hết các trạm y tế xã chưa xử lý CTYT trước khi xả ra môi trườn g [20]
Nhằm thực hiện tốt công tác quản lý CTRYT, ngày 03 tháng 12 năm 2007,
Bộ y tế đã ban hành Quy chế quản lý CTRYT kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-
BYT của Bộ trưởng Bộ y tế [15] Quy chế này được áp dụng đối với tắt cả các cơ sở
khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế, các BV và các cá nhân tham gia vận
chuyển, xử lý, tiêu huỷ CTRYT Tuy nhiên công tác quản lý CTRYT và CTRYT nguy hại ở nhiều nơi rất khác nhau, không tuân thủ quy định đề ra
BV đa khoa tỉnh Khánh Hòa là BV Hạng I trực thuộc Sở y tế Khánh Hòa và
là BV đa khoa Khu vực Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, vị trí nằm giữa trung tâm thành phố Nha Trang xung quanh là khu dân cư đông đúc BV có quy mô 1.000
Trang 12Trong việc xử lý CTRYT thông thường BV hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị Thành phố Nha Trang thu gom; CTRYT tái chế hợp đồng với cơ sở thu
mua phế liệu Cúc Luận; CTRYT nguy hại từ tháng 07/2012 trở về trước được hợp
đồng với BV Da Liễu Khánh Hòa đốt nhưng lò đốt thường xuyên hư hỏng nên không
nhận đốt rác nữa, làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác xử lý chất BV và gây ô nhiễm
môi trường xung quanh Vì vậy tháng 8/2012 BV phải tạm thời xử lý CTRYT nguy hại bằng phương pháp hấp ướt áp lực cao, thực hiện bằng chương trình tiệt trùng với may hap Autoclave voi nhiệt độ 134°C trong thời gian 15 phút sau đó vận chuyển ra
bải rác thành phố đốt Tuy nhiên, công tác quản lý chất thải rắn y tế (QLCTRYT) của
BV còn chưa tốt như: toàn BV chưa có hộp đựng chất thải sắc nhọn đúng màu theo
quy định, vẫn tận dụng các thùng đựng dịch lọc thận nhân tạo màu trắng để đựng,
thùng đựng chất thải còn thiếu, xe vận chuyển chất thải từ các khoa xuống nhà lưu giữ chưa đồng bộ theo quy định Mặt khác từ trước đến nay BV vẫn chưa có nghiên cứu khoa học chính thức nào về công tác QLCTRYT tại BV Khánh Hòa
Sau 6 năm triển khai và áp dụng quy chế quản lý CTRYT tại BV đa khoa tỉnh
Khánh Hòa, để đánh giá công tác quản lý CTRYT tại BV, đồng thời xác định một số
yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT, nhằm góp phần giúp lãnh đạo BV
nắm rỏ về thực trạng tình hình hiện tại và đưa ra những giải pháp phù hợp để giúp cho công tác QLCTRYT tại BV được tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện ẩa khoa tỉnh Khánh Hòa, năm 2013”.
Trang 13Mục tiêu cụ thé
1 Mô tả thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh
Khánh Hòa
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Khánh Hòa, năm 2013.
Trang 141.1 Một số vẫn đề cơ bán về chất thải y tế
1.1.1 Các khái niệm
Các khái niệm dùng trong nghiên cứu chủ yếu được tham khảo và trích dẫn
từ Quy chế quản lý chất thải y tế (CTYT) được ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ y tế và các loại văn bản pháp luật và các quy định của Nhà nước
Chất thải y tế: là vật chất ở thê rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm CTYT nguy hại và CTYT thông thường| I5]
Chất thải y tế nguy hại: là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn hoặc có các đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn{ 15]
Danh mục CTYT nguy hại được áp dụng theo danh mục chất thải nguy hại
ban hành kèm theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ
Tài nguyên & Môi trường CTYT nằm trong danh mục A của danh mục chất thải
nguy hại, có mã số là A4020-Y 1[7]
Quản lý chất thải y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyền, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ chất thải
y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện[15]
Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải
chất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử đụng các sản phẩm
có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác
Tái sử dụng: là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới
Tái chế: là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới Thu gom chất thải tại nơi phát sinh: là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói
và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sĩnh chất thải trong cơ sở y tế.
Trang 15Xử lý ban đâu: là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy
cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy
Xử lý và tiêu hủy chất thải: là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mắt khả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
1.1.2.1 Phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Chất thải y tế được phân thành 8 loại:
-_ Chất thải nhiễm trùng: là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi
rút, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại:
+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm
+ Chất thải từ phòng mổ, nhát là phòng mỏ tử thi và BN bị nhiễm trùng + Chất thải từ phòng cách ly BN bị nhiễm trùng
+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm
+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với BN bị truyền nhiễm
- Chất thải sắc nhọn: là chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương đa bao như bơm kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền
-_ Chất thải được phẩm: là thuốc quá hạn, thuốc không dùng như các loại
vacxin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng
- Chất thải có tỉnh độc với tế bào: là chất thải có thể làm biến đỗi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư
-_ Chất thải hóa học: có thể đưới dạng rắn, lỏng hoặc khí được sinh ra trong
quá trình chẳn đoán, điều trị, tây rửa, khử trùng bao gồm:
Trang 16gây mê
-_ Chất phóng xạ: không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gây ảnh hưởng lâu đài (gây ion hóa tế bào) như tỉa X, tỉa ơ, tỉa ÿ
1.1.2.2 Phân loại theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ V tế
Theo Quy chế quản lý CTYT được Bộ Y tế quy định tại quyết định
43/2007/QD-BYT ban hành ngày 30/11/2007, chất thải trong các cơ sở y tế được chia thành 5 loại bao gồm: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải
phóng xạ, bình chứa áp suất va chat thải thông thường Tuy không phân thành 8 loại như WHO nhưng CTYT cũng đã bao gồm tắt cả 8 loại trên Cụ thể như sau:
- _ Chất thải lây nhiễm
+ Chất thải sắc nhọn (loại 4): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tỉnh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải có thắm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly,
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
+ Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
-_ Chất thải hóa học nguy hại
+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết của người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
+ Chất thải kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ,
chất thải từ hoạt động nha khoa), Cadimi (từ pin ắc quy), Chì (từ tắm gỗ bọc chì hoặc
vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
Trang 17đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
- Bình chứa áp suất
Gồm bình đựng Oxy, CO;, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây
cháy, nỗ khi thiêu đốt
-_ Chất thải thông thường
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ,
dễ cháy nỗ bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai, lọ thủy tinh, chai huyét thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.1.3 Thành phần và khối lượng của chất thải rắn y tế
1.1.3 1 Thành phần của chất thải rắn y tế
Thành phần các CTYT phát sinh từ các hoạt động chuyên môn của các cơ sở
y tế rất đa dạng và phong phú, song chưa được điều tra và thống kê đầy đủ, tỷ lệ các
thành phần phụ thuộc vào nhiều điều kiện cụ thể như: Điều kiện dân cư, quy mô
hoạt động của BV, loại hình hoạt động, chức năng chuyên môn
Các khảo sát cho thấy thành phần của CTRYT tại BV bao gồm một số loại chính sau: Giấy các loại (3%); Kim loại, vỏ hộp (0,7%); Thủy tinh, ống tiêm, chai
lọ thuốc, bơm kim tiêm (3,2%); Bộ bó gãy xương, bông băng (8,8%); Chai, túi nhựa
các loại (10,1%); Bệnh phẩm (0,6%); Rác hữu cơ (52,57%); đất đá và các vật răn
khac (21,03%)[25]
Theo kết quả đánh giá tại 15 BV trong cả nước, thành phần CTRYT tại các
BV bao gồm: Bơm tiêm nhựa, dây truyền dịch, găng tay chiềm tý lệ dưới 20%; Các loại rác khác khoảng 30% Đặc trưng của CTRYT có chứa một lượng nhất định các
Trang 18cho các vi sinh vật phát triển [38]
Tại 172 BV của 5 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Thành phó
Hồ Chí Minh: trung bình lượng chất thải phóng xạ chiếm lượng nhỏ 0,38%, chất
thải lây nhiễm 18,39%, chất thải nguy hại 4,76%, rác sinh hoạt chiếm 72,54% [21]
Tỷ lệ các loại CTRYT theo ước lượng trung bình của WHO cho các nước
đang phát triển như sau [13]:
- 80% là chất thải thông thường
15% là chất thải lây nhiễm và chất thải giải phẫu
1% là chất thải sắc nhọn
3% là chất thải hóa học nguy hại và được phẩm
<1% là chất thải đặc biệt như: chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất, kim
loại nặng như nhiệt kế vỡ, pin hỏng
1.1.3 2 Khỗi lượng chất thải rắn y té phát sinh tại các co sở y tế
Báo cáo năm 2009 của Cục y tế đự phòng về thực trạng quản lý CTYT tại các cơ sở y tế trên cả nước cho biết: tổng lượng CTRYT phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 350 tắn/ngày, trong đó có 40,5 tấn là CTRYT nguy hại Ước tính năm 2010,
số lượng CTRYT tại các cơ sở y tế trên cả nước là hơn 380 tần/ngày, trong đó có
khoảng 45 tắn/ngày là CTRYT nguy hại, đến năm 2015 CTRYT là 600 tắn/ngày và
đến năm 2020 là khoảng trên 800 tan/ngay[30]
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ y tế và
Viện kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009 - 2010,
tổng lượng CTRYT khoảng 100 - 140 tắn/ngày trong đó 16 - 30 tan/ngay la CTRYT
nguy hại Lượng CTRYT trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày|[[ I]
Theo kết quả nghiên cứu năm 2012 tại BV đa khoa Tỉnh Đắk Lắk tổng
lượng CTRYT trung bình 46.737,3 kg/tháng, trong đó CTRYT nguy hại 14.448,3 kg/tháng Lượng CTRYT trung bình 2,07 kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại trung bình là 0,64 kg/giường/ngày[37]
Trang 19Sản cao hơn một số khoa như Nội, Nhi và cao hơn mức bình quân của BV Theo tài
liệu Quy hoạch Quản lý CTYT Bộ Y tế năm 2009, thống kê số lượng chất thải phát
sinh tại các khoa như sau:
Bang 1.1 Khối lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Tổng lượng chất thải phát Tông lượng CTYT nguy hại
Khối lượng CTRYT thay đổi rất khác nhau tùy theo từng khu vực, từng điều
kiện kinh tế, theo từng cách phân loại BV hoặc theo quy mô BV, số giường bệnh,
BV chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại BV, số
lượng vật tư tiêu hao Các nghiên cứu cho thấy các BV tuyến trung ương và tại các
thành phó lớn có tỷ lệ phát sinh CTRYT nguy hại cao nhất [11]
Trang 20Bảng 1.2 Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y té
(Nguôn: Bộ y tê, 2010) — Trích từ Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2011] 11]
1.1.4 Ánh hướng của chất thải rắn y tế đến kinh tế xã hội
Theo nghiên cứu Quản lý môi trường đô thị tại Việt Nam (tháng 5 năm
2011), chỉ phí xử lý CTRYT thông thường tại Hà Nội từ 160.000 đồng/tấn đến 421.000 đồng/tấn, tại Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh là 420.000 đồng/tấn và 100.000 đồng/tấn, chỉ phí xử lý CTRYTNH ở Hải Phòng tương đối thấp là 7.900.000 đồng/tắn Chi phí trung bình xử lý CTRYTNH ở thành phố Hồ Chí Minh
và Thừa Thiên Huế là 12.000.000 đồng/tấn, trong khi đó tại Hà Nội và Da Nẵng là
9.400.000 đồng/tấn và 8.100.000 đồng/tấn [11]
Chi phí vận hành lò đốt CTRYT đối với các BV có lò đốt, mỗi tháng BV
tuyến trung ương chỉ phí trung Bình khoảng 26 triệu đồng, BV tuyến tỉnh 20 triệu
đồng, BV huyện 5 triệu đồng Đối với các BV thuê Trung tâm thiêu đốt CTRYT
vận chuyển và đốt rác, chi phí khoảng 7.500 đồng/kg Chỉ phí vận hành lò đốt cho
xử lý CT cho cụm BV là khoảng 10.000 -15.000 đồng/kg CTRYTNH Đối với một
số BV đa khoa lớn, chi phi cho xử lý CTR y tế lên tới 100 triệu déng/thang [11]
1.1.5 Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế
1.1.5.1 Tác hại và nguy cơ của chất thải rắn y tẾ đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới
CTRYT là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây bệnh,
các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc té bao, chất phóng xạ Các nghiên cứu
dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, các chất thải BV có ảnh hưởng lớn đến sức
khỏe cán bộ, NVYT, cộng đồng dân cư nếu CTRYT không được quản lý đúng cách
Trang 21Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các vết da bị xây xước hoặc bị thương, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa, tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian như rudi,
muỗi, chuột Tất cả những người tiếp xúc với CTRYT nguy hại đều là đối tượng có
nguy cơ bị tác động bởi CTYT, bao gồm: NVYT và nhân viên vệ sinh BV, những
người thu gom phế liệu, người bệnh, người nhà BN và người dân sống gần BV [14]
Các nguy cơ gây bệnh của CTRYT là các bệnh về đường tiêu hoá do các vi khuẩn tả, ly, thương hàn, trứng giun; nhiễm khuẩn đường hô hấp do lao, do phế cầu khuẩn; tổn thương nghề nghiệp; nhiễm khuẩn da; bệnh than; AIDS; nhiễm khuẩn
huyết; viêm gan A, B; thần kinh; gây độc, ăn mòn, cháy, nỗ [14, 40] CTRYT nếu không thu don kịp thời sẽ trở thành nơi phat sinh rudi, muỗi, chuột, gián, ô nhiễm
môi trường không khí do phát sinh mùi hôi thối, nước thải BV không được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh cũng sẽ là nguồn phát tán các mắm bệnh vào các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) [14]
Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162 - 321 trường
hợp nhiễm virus viêm gan B có phơi nhiễm với CTRYT so với tổng số 300.000 trường
hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúc với chất thải
BV, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong một năm, cao hơn hai lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại [ 14]
1.1.5.2 Tác hại và nguy cơ của chất thải y tẾ đối với môi trường và sức khỏe
cộng đồng tại Việt Nam
- Ảnh hưởng của CTYT đối với môi trường:
Kết quả nghiên cứu tại 8 BV huyện của 4 tỉnh (2006) cho thấy, 100% mẫu
nước sinh hoạt tại các khoa không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật, các chỉ số Coliform,
Fecal coliform, BOD va COD déu cao so véi tiéu chuẩn cho phép Các vi khuẩn có khả năng gây bệnh phân lập được từ nước sinh hoạt, nước thải, không khí và dụng
cụ chuyên khoa tại các BV chủ yếu là vĩ khuẩn đường ruột
Trang 22- Ảnh hưởng của CTRYT đối với sức khoẻ cộng đồng:
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của NVYT trong BV do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn trực tiếp Một số nghiên
cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của CTRYT đối với cộng đồng xung quanh BV
nhưng chưa có nghiên cứu nảo đi sâu đánh giá thực trạng tác động của CTRYT đối
với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với CTRYT
Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của CTYT đến sức khoẻ tại 8 BV huyện đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của CT từ BV cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng [29]
1.1.5.3 Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tẾ
Trong quản lý CTRYT, yếu tố con người là rất quan trọng Cho dù có hệ thống xử lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các NVYT, những người liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận thức rõ tác hại
và tầm quan trọng của CTRYT đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ thì
hệ thống đó hoạt động cũng không hiệu quả
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thái tại 14 BV Hà Nội (1998):
NVYT, nhân viên thu gom rác chưa được tập huấn những kiến thức cơ bản về phân
- loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của CTYT đối với sức khoẻ, chưa có kỹ
năng nghiệp vụ cần thiết [34]
1.1.5.4 Nguén lực cho công tác quản lý chất thải y tẾ
Cơ sở pháp lý: Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản
pháp luật do quốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản lý, hướng
dẫn thực hiện của Ngành Y tế Gồm một số văn bản sau:
-_ Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật
Điều 39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường
trong BV và các cơ sở y tế
-_ Thông tư số 12/2006/QĐ-TTg ngày 26/12/2006, hướng dẫn điều kiện hành
nghề và thủ tục lập hỗ sơ, đăng ký, cấp phép, hành nghề mã số quản lý CT nguy hại
- _ Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 vẻ việc ban hành
Trang 23danh mục CT nguy hại, quy định CTRYT nằm trong danh mục CT nguy hại có mã
số 1301, phải đăng ký và quản lý theo quy định đối với CT nguy hại
-_ Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tại quyết định này có 84 BV trên cả nước phải thực hiện biện pháp xử lý triệt
để ô nhiễm môi trường
-_ Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTRYT và thường xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển Từ năm 1996
đã ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định xử lý chất thải rắn trong BV, từ năm
1999, đã ban hành riêng quy chế quản lý CTYT, đến 2007, quy chế này đã được
điều chỉnh để phù hợp với tình hình cấp bách hiện nay về quản lý CTYT (Quyết
định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế)
Ngoài ra còn nhiều các văn bản quy định, hướng dẫn khác đối với công tác quản
lý CTRYT như: tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTRYT, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Về nhân lực: tại các BV tuyến trung ương như Bạch Mai, Việt Đức, BV Lao & Bệnh phổi trung ương và một số BV tuyến tỉnh đều có khoa Kiễm soát nhiễm khuẩn, có
đội ngũ cán bộ được đảo tạo chính quy về quản lý chất thải Còn hầu hết các BV, nhất là
BV tuyến huyện việc thực hiện Quy chế quản lý chất thải đều chưa đầy đủ và không
thường xuyên Kết quả nghiên cứu tại 6 BV đa khoa tỉnh năm 2003: chỉ có 3/6 BV có
khoa chống nhiễm khuẩn, phân loại CTRYT chủ yếu do điều dưỡng, hộ lý thực hiện,
chưa có văn bản quy định rõ ràng về trách nhiệm của mỗi thành viên trong công tác quản
lý chất thải
Hoạt động giám sát nhà nước về công tác quản lý CTRYT còn chưa đầy đủ,
năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ thanh tra còn hạn chế, chế tài xử
lý vi phạm chưa đủ sức răn đe [14]
Về kinh phí và trang thiết bị xử hs CTYT: Việc đầu tư kinh phí cho xử lý CTYT nói chung và CTRYT nói riêng tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sở
y tế phân lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các
Trang 24công trình xử lý chất thải Kinh phí cho xử lý CTYT chưa được kết cấu vào chỉ phí đầu
giường bệnh (GB) nên khó khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý CTYT
Việc khoán chỉ ở BV, đã làm cho các BV phần lớn chỉ quan tâm đến việc
đầu tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư cho quản lý, xử lý CTYT Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến công tác
quản lý, xử lý CTYT tại các BV còn nhiều hạn chế và bắt cập Ở Tây Ninh có 7 lò
đốt rác y tế nhưng cả 7 lò đều đang bị hỏng do không có chi phí bảo dưỡng và vận hành Theo tính toán, bình quân chi phí cho việc xử lý CTRYT va chất thải lỏng cho một giường bệnh dao động từ 5.000 tới 8.000đ/GB/ngày Nếu BV thuê trung tâm
đốt CTRYT sẽ mất vào 9.000đ/kg/ngày [16]
Bên cạnh đó cũng còn có những vấn đề liên quan khác như: theo quyết định
43/2007/QĐ-BYT quy định về màu sắc thùng rác, bao bì, chất liệu nhưng chưa có
nhà sản xuất nào đáp ứng đúng như quy định đề ra [16]
1.2 Một số vấn đề cơ bản về quản lý chất thải rắn y tế:
1.2.1 Định nghĩa:
Quản lý CTRYT là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom,
vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy CTRYT và
kiểm tra, giám sát việc thực hiện [15]
1.2.2 Phân loại chất thải rắn y tế:
Người làm phát sinh chất thải phải thực hiện phân loại ngay tại nơi phát sinh Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã màu kèm biểu tượng
theo đúng quy định Các thùng, túi đựng chất thải phải có biểu tượng phù hợp, kích thước túi phù hợp với lượng chất thải phát sinh và có thành dày tối thiểu 0,01 mm
và có thể tích tối đa là 0,1 mỶ, bên ngoài túi có đường kẻ ngang ở mức 3⁄4, khi thùng
đầy 3⁄4 phải buộc chặt miệng túi và cho vào thùng đựng lớn hơn để vận chuyển [15]
1.2.3 Thu gom chất thải rắn y tế:
Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói
và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế
- Noi dat thùng đựng chất thải
Trang 25+ Mỗi khoa, phòng phải định rõ vị trí đặt thùng đựng CTYT cho từng loại chất thải, nơi phát sinh chất thải phải có thùng thu gom tương ứng
+ Noi dat thing chất thai phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom, + Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải được
vệ sinh hàng ngày
+ Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để
thay thế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyền về nơi lưu giữ tạm thời chất thải của cơ sở y tế
- Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã màu
quy định và phải có nhãn hoặc ghi tên bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải
- Các CTYT nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường Nếu
vô tình để lẫn CTYT nguy hại vào CTYT thông thường thì hỗn hợp chất thải đó
phải được xử lý như CTYT nguy hại
- Lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy tới 3⁄4 túi, sau đó buộc cô túi lại
- Tần suất thu gom : Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịu trách nhiệm thu gom các CTYT nguy hại và CTYT thông thường từ nơi chất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần/trong ngày và khi cần CTY có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chất thải của cơ
sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh [15]
1.2.4 Vận chuyển chất thải rắn y tế trong các cơ sở y tế:
Vận chuyển CTRYT là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi
xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy Xe vận chuyển chất thải trong BV phải đảm bảo
các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải
ra, đễ làm sạch, dé tay ué, dé 1am khô
Các cơ sở y tế ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trường hợp địa phương chưa có cơ sở đủ tư cách pháp nhân vận chuyển và tiêu hủy CTYT thì cơ sở y tế phải báo cáo với chính quyền địa phương để giải quyết
Vận chuyển CTYT nguy hại ra ngoài cơ sở y tế bằng phương tiện chuyên dụng bảo đảm vệ sinh, đáp ứng yêu cầu tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày
Trang 2626 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại CTYT nguy hại trước khi vận chuyển tới nơi tiêu hủy phải được đóng gói trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyền Chất thải giải phẫu phải đựng trong hai lượt túi màu vàng, đóng riêng trong thùng hoặc hộp, dán kín
nắp và ghi nhãn “CHẤT THÁI GIẢI PHẪU” trước khi vận chuyên đi tiêu hủy
- CTRYT nguy hại và CTRYT thông thường phát sinh tại các khoa/phòng phải được vận chuyền riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất Ilần/ ngày
và khi cần
- Cơ sở y tế phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và các khu vực sạch khác
- Túi chất chất thải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyên dụng: không được làm rơi vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá
trình vận chuyên [15]
1.2.5 Lưu giữ chất thải rắn y tế trong các cơ sở y tế:
- CTYTNH và CTYT thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt
- CT để tái sử dụng và tái chế phải được lưu giữ riêng
-_ Nơi lưu giữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau :
+ Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông
người tối thiểu là 10m
+ Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến
+ Nhà lưu giữ chất thải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa,
không để súc vật, các loại gặm nhắm và người không có nhiệm vụ tự do xâm nhập
+ Diện tích phù hợp với chất lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế
+ Có phương tiện rữa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ
hóa chất làm vệ sinh
+ Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt + Khuyến khích các cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh -_ Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ
Trang 27- Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh thì thời gian lưu
giữ có thể đến 72 giờ
- Chất thải giải phẫu phải chuyển đi chôn hoặc tiêu hủy hàng ngày
- Đối với các cơ sở y tế có lượng CTRYT nguy hại phát sinh dưới 5kg/ngày,
thời gian thu gom tối thiểu 2 lần/tuần [15]
1.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Nghiên cứu về CTRYT đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, đặc
biệt là các nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada Các công trình
nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý CTRYT (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả
của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của CTRYT đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của CTRYT, phòng chống tác hại của CTRYT đối với sức
khỏe cộng đồng [16] Gần đây, nghiên cứu về CTRYT được quan tâm ở nhiều
khía cạnh:
- Su de doa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng
- _ Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong va ngoai BV
- Nhiing van đề liên quan của y tế công cộng với CTRYT
- CTRYT nhiễm xạ với sức khỏe
- _ Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom chất
thải, nhiễm khuẩn BV, nhiễm khuẩn ngoài BV đối với người thu gom chất thải, vệ
sinh viên và cộng đồng
- _ Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở NVYT
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (Tổ chức đăng ký toàn cầu về Hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (Chương trình toản cầu về An toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã xây dựng và quản lý các dữ liệu
thông tin về an toàn hoá chất [17] Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát
triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có
những cách xử lý của riêng mình
Trang 28Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý CTRYT của một số nước trên thế
giới cho thấy, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi với hiệu quả cao nhất
(38%), Thụy Sỹ (33%), Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%) Các nước sử dụng phương pháp chôn
lắp hợp vệ sinh nhiều nhất trong xử lý CTRYT là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%),
Anh (83%), Liên Bang Nga (80%) và Tây Ban Nha (80%) [17]
Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm
Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc dụng cụ, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định )
-_ Nhân viên phải được tập huấn kiến thức về quản lý chất thải và có các
phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc
-_ Các cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải
- _ Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp
1.4 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
1.4.1 Nhận định chung
Phần lớn các BV ở Việt Nam, hệ thống xử lý triệt để các loại CTRYT tại các
BV còn thiếu nhiều Việc thu gom và vận chuyển CTRYT tại các BV chủ yếu bằng
phương pháp thủ công và lưu giữ tại các khu vực chưa đạt đủ tiêu chuẩn, với thời
gian lưu giữ từ I đến 7 ngày Thời gian này đủ để quá trình phân hủy chat thai dién
ra, nhất là trong điều kiện khí hậu nóng dm của Việt Nam Thêm nữa, với sự tham
gia của chuột, bọ, côn trùng và người bới chất thải đã làm tăng khả năng lây nhiễm, gây mất vệ sinh ngay tại BV và môi trường sống xung quanh [27]
Nhận thức của cộng đồng nói chung và NVYT nói riêng về những nguy cơ tiềm ẩn trong CTRYT còn rất hạn chế do công tác giáo dục, tuyên truyền chưa được trú trọng Hiện tượng dân vào bới các loại chất thải tại các khu vực lưu giữ chất thải
Trang 29của BV để thu nhặt ống nhựa, kim tiêm, găng tay phẫu thuật đề tái chế sử dụng lại
diễn ra ở một số nơi là do thiếu quản lý chặt chẽ và chưa có quy trình xử lý chất thải
triệt để [23]
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý CTYT tại các cơ sở khám chữa bệnh của nghành, Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế quản lý chất
thải ” kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 áp dụng cho tất
cả các cơ sở y tế và các tổ chức cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy
CTRYT Tuy nhiên việc tuân thủ thực hiện Quyết định này là một việc không hề
đơn giản ngay ca đối với các BV tuyến trung ương
1.4.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế
Đến 2010, Việt Nam có khoảng 1.186 BV, với công suất 187.843 giường
Chúng là các nguồn thải CTRYT nguy hại lớn nhất, phát sinh khoảng 350 tấn
CTRYT/ngày trong đó có 40 tấn CTRYT nguy hại/ngày; Lượng CTRYT trung bình
là 0,S6kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2kg/giường/ngày [32]
CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế [34]
1.4.3 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế
Từ năm 2007 trở về trước công tác QLCTRYT (phân loại, thu gom, lưu giữ, vận
chuyển TÔ, hầu hết được thực hiện I cách tự phát, tự quản lý (một phần do chưa có các quy định cụ thể của ngành đọc) tại mỗi cơ sở y tế riêng biệt
Từ năm 2007 trở lại đây, đặt biệt từ khi có Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về
việc ban hành Quy chế QLCTYT thì các cơ sở y tế trên cả nước mới có một công cụ hữu
ích đề thực hiện việc QLCTYT Tuy nhiên, việc tuân thủ đầy đủ các yêu cầu trong quyết
định 43 về QLCTYT là một việc không hề đơn giản, ngay cả đối với BV tuyến trung
ương
Công tác quản lý CTRYT ở Việt Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp
Trang 30giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế dé giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lắp Hoạt động giảm
thiểu phát sinh CTRYT là một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quy trình QLCTYTT còn chưa được chú trọng
1.4.3.1 Thực trạng phân loại chất thải rắn y té
Đa số (81,25%) BV đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến điện và kém hiệu quả Hoạt động phân loại chất thải còn tổn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi CTRYT, còn đề lẫn
nhiều CTRYT thông thường với CTRYT nguy hại và ngược lại Hệ thống ký hiệu,
màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đầy đủ và thống nhất Tinh trạng nhiều
BV (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi CTRYT đang làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số BV đã tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số BV (11,4%) thu gom vật sắc nhọn vào các hộp chưa an toàn (vẫn có khả năng đâm, xuyên), còn lại da số các BV (88,6%) thường đựng chất thải sắc nhọn vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng [27]
1.4.3.2 Thực trạng thu gom chất thải rắn y té
Hầu hết các CTRYT đều được các BV thu gom, vận chuyển ngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thải đúng theo quy định chỉ đạt 50% trong tổng số các BV [19] Phương tiện thu gom CTRYT như túi, thùng, xe vận chuyển
chất thải của các BV hầu hết còn thiếu và chưa đạt chuẩn Trong khi đó hiểu biết
của NVYT trong BV đặc biệt là của các nhân viên thu gom về hoạt động này chưa
cao Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ NVYT hiểu biết đầy đủ về tác hại của
CTRYT đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bị ảnh
hưởng của CTRYT không cao (24,6%), chính vì vậy hoạt động thu gom, vận
chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và chưa đúng quy trình của BYT vẫn còn ở
mức phô biến [32] Ngoài công tác đào tạo trang bị kiến thức hiển biết cho NVYT
còn ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộ cho các NVYT trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyền chat thải chưa được quan tâm
Trang 31BV, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi,
nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường BV Một số điểm tập trung chất thải không có mái che, không có hàng rào bảo vệ, không có khóa vị trí ở khuất xa tầm kiểm soát của NVYT nên các loại côn trùng, chuột, súc vật, người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít BV có nơi lưu giữ chất thải đạt tiêu
chuẩn quy định [27]
1.4.3.4 Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế
Theo các báo cáo gửi về Cục Quản lý Khám chữa bệnh, hiện có 34/36 BV trực thuộc BYT thực hiện ký hợp đồng thuê công ty Môi trường đô thị vận chuyển
CTRYT thông thường ra ngoài các cơ sở y tế đề xử lý Đối với CTRYTNH hiện có
8 BV có lò đốt còn lại 28/36 BV hợp đồng thuê Công ty Môi trường đô thị xử lý bằng lò đốt tập trung của cơ sở thiêu hủy trên địa bàn Các BV ký hợp đồng với các công ty thu gom, vận chuyển CTRYT là tương đối phổ biến (do số lượng các BV không có lò xử lý CTRYTNH còn nhiều, kinh phí vận hành cho các lò hoạt động cao), tuy nhiên sự phối hợp liên ngành giữa hai bên chưa thực sự tốt Hầu hết các NVYT trong BV đều không biết các yêu cầu cần thiết của quy trình vận chuyển CTRYT ra ngoài BV đồng thời cũng không quan tâm đến việc xử lý CTRYT bên ngoài ra sao [12]
1.4.4 Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế
CTRYT thông thường ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi
trường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử ly CTRYT tap
trung của từng địa phương, CTRYT tái chế đa số các BV hợp đồng với các cở sở
thu mua phế liệu thu gom
CTRYT nguy hại tùy từng điều kiện và quy mô của từng BV mà có cách xử
ly khác nhau
Theo báo cáo của Bộ y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTRYT
(chiếm 73,3%) Trong số các BV có lò đốt, ở tuyến trung ương có 5/5 hoạt động thường xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tỉnh là 79/106 lò
Trang 32Nhưng chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các loại lò đốt đang hoạt
động tại các BV ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò đốt thiết kế và chế tạo
trong nước và cũng chưa có số liệu về lò đốt đạt tiêu chuẩn khí thải Thiết kế cơ bản
của các là đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường,
công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý [18]
Theo báo cáo tóm tắt kết quả quan trắc môi trường y tế khu vực Miền Trung
— Tây Nguyên giai đoạn 2006 — 2010 của Viện Pasteur Nha Trang: kết quả quan trắc năm 2006 tại 9 cơ sở y tế ở miền Trung và 3 cơ sở y tế tại Tây Nguyên chỉ thấy
có 8,3% BV co lò đốt rác thải y té; Nam 2008, két qua quan trác tại 12 BV khu vực
miền Trung — Tây Nguyên cho thấy: thực trạng có tới 41,7% là không có lò đốt rác
thải hoặc lò đốt lạc hậu gây ô nhiễm, 16,7% có nhà chứa rác thải y tế đạt chuẩn; Kết
quả quan trắc dot I nim 2009 cho thấy vẫn còn tồn tại một số bất cập về vấn đề xử
lý CTRYT Có 7/14 BV không có hệ thống xử lý rác thải y tế riêng (chiếm 50%) và
lò đốt rác của một số đơn vị đã xuống cấp nhiều; Năm 2010, trong tổng số 16 BV
được quan trắc thì chỉ có 9 BV là có lò đốt đang hoạt động [2]
Hiện nay phần lớn các BV trong cả nước, nhất là BV tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải
hoặc đốt ngoài trời Nghiên cứu 6 BV tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy chỉ có 2/6 BV
xử lý rác bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 BV chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công và tuyến huyện là 97/201 lò đốt; tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng còn lại là
16 dét thủ công [22]
Theo báo cáo của Bộ y tế (2009), đến năm 2006 cả nước vẫn còn 26,7% BV
đang thực hiện chôn lấp CTRYT hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ yếu tập trung ở các BV tuyến huyện và một số BV tuyến tỉnh [18]
1.5 Một số nghiên cứu về quản lý chất thái rắn y tế
1.5.1 Nghiên cứu về chất thải rắn y tế trên thế giới
Năm 2004, qua đánh gid cia WHO: 18 — 64% cdc co sé y tế chưa có biện
pháp xử lý CT đúng cách Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn
thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTRYT Tổn thương này cũng là
nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với các chất thải dính máu là phổ biến nhất, chủ yếu
Trang 33thùng có nắp đậy [42]
Năm 2009, Birpinar và cộng sự đã phân tích hiện trạng QLCTRYT theo Quy
chế QLCTRYT ở Istanbul, Turkey cho thấy ước tính số lượng CTRYT từ BV là
khoảng 22 tắn/ngày và khối lượng chất thải trung bình là 0,63kg/giường/ngày đêm Vật liệu tái chế được phân loại riêng biệt đạt 83% Phân loại CTRYT khác nhau luôn được thực hiện, nhưng 25% các BV trang bị các phương tiện không phù hợp
63% các BV có kho lưu trữ tạm thời QLCTRYT tại Istanbul được thực hiện bằng
cách áp dụng Quy chế QLCTRYT [39]
Nghiên cứu của Yong va Guanxing, Tao va Dawei 6 Nam Kinh, Trung Quốc
(năm 2009), cho thấy tỷ lệ CTRYT từ 0,5kg — 0,8kg/giường/ngày đêm, khối lượng
CTRYT trung bình là 0,68kg/giường/ngày đêm; 73% BV thực hiện phân loại
CTRYT, nhưng chỉ có 20% BV có đội ngũ nhân viên không đủ tiêu chuẩn để thu
gom CTRYT; 93,3% BV có khu vực lưu trữ CTRYT tạm thời; Chỉ có 20% BV phổ
biến quy chế QLCTRYT, CTRYT được xử lý bằng hệ thống xử lý tập trung đã và
được xây dựng dựa trên công nghệ đốt, chi phí xử lý CTRYT là khoảng 580
USD/tấn; Chỉ có 77% số NVYT cho rằng QLCTRYT là một yếu tố quan trọng
trong công việc lựa chọn các dich vy BV [41]
1.5.2 Nghiên cứu về chat thai rắn y tế tại Việt Nam
Năm 2003, nghiên cứu của Đinh Hữu Dung và Cộng sự về “ Thực trạng, tình
hình quản lý CTYT ở 6 BV đa khoa tuyến tỉnh, đề xuất các giải pháp can thiệp” kết quả
cho thấy phần lớn những người được phỏng vấn biết được sự nguy hại của chất thải
lâm sàng, còn những chất thải khác số người biết chỉ <50%; đặc biệt còn tới 8,8 - 8,9% không biết loại chất thải nguy hại; Có tới 79,8 - 92,1% cho rằng đối tượng dễ
bị ảnh hưởng của CTRYT là NVYT, còn BN là đối tượng rất cần quan tâm để tránh
các nguy cơ của chất thải thì chỉ có 26,6% [22]
Năm 2007, Trần Thị Minh Tâm nghiên cứu về “ 7hực trạng quản lý, ảnh hưởng của CTRYT đối với môi trường trong các BV huyện của Tỉnh Hải Dương”
với kết quả cho biết: 4/11 BV xử lý chất thải lâm sàng không đảm bảo vệ sinh; 8/11
Trang 34định và chỉ có 4/11 BV xử lý rác bằng lò đốt rác thủ công hoặc lò đốt chuyên dụng
Về hiểu biết của NVYT: 50,5% trả lời đúng về màu sắc của dụng cụ đựng CTRYT; 46,9% hiểu biết đầy đủ về phân loại CTRYT và có 18,6% số NVYT chưa được
hướng dẫn về quy chế QLCTRYT Trong nghiên cứu này tác giả tập trung đánh giá
hiểu biết của NVYT về quy định màu sắc dụng cụ đựng CTRYT, phân loại chất
thải, các loại chất thải nào gây nguy hại cho sức khỏe và gây nguy hại những gì,
những đối tượng nào dé bị ảnh hưởng, kiến thức về xử lý CTRYT .[32]
Năm 2008 - 2009, Nguyễn Duy Bảo & cộng sự nghiên cứu về “7c trạng môi trường và hoạt động quản lý CTYT của 22 BV tuyển trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc”, công tác quản lý, xử lý CTRYT đã được các BV quan tâm và thực hiện nghiêm túc theo quy chế QLCTRYT tại Quyết định 43/2077/QĐ-
BYT, tuy nhiên còn phổ biến tình trạng thực hiện không đúng về mặt kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế, nguyên nhân chủ yếu được cho là thiếu kinh phí thực hiện[2]
Năm 2009, nghiên cứu của Hoàng Thị Liên về “7hực trạng và một số yếu tổ liên quan đến quan ly CTYT tai BV da khoa Trung ương Thái Nguyên”, két qua nghiên cứu: Khối lượng CTRYT là 1,3kg/GB/ ngày, trong đó CTRYT nguy hai là
0,11kg/GB/ngày Tác giả đã phân loại CTRYT sắc nhọn trong nhóm chất thải lây nhiễm; 77,1% NVYT và vệ sinh viên được tập huấn về phân loại chất thải; 99,6%
vệ sinh viên thực hành phân loại CTRYT tại nguồn phát sinh Tuy nhiên, trong
nghiên cứu tác giả mới chỉ đánh giá đánh giá được kiến thức về phân loại CTRYT
của NVYT chứ chưa đánh giá được kiến thức, thực hành về thu gom, vận chuyển,
lưu giữ và xử lý CTRY TT của NVYT [26]
Năm 2010, Nguyễn Việt Hùng & Nguyễn Quốc Anh nghiên cứu về “7c
trạng phát sinh chất thải, kiến thức và thực hành của NVYT về quan ly CTRYT tai
BV Bạch Mai” kết quả nghiên cứu cho biết: Khối lượng CTRYT phát sinh trung bình là 3,15 kg/GB/ngày, trong đó chất thải lây nhiễm chiếm 10,9%; Điểm đạt trung bình về kiến thức quản lý CTRYT của NVYT cao hơn nhóm nhân viên vệ sinh công
nghiệp chuyên thu gom, vận chuyển chất thải Những NVYT được đảo tạo về công
Trang 35tác quản lý CTYT có kiến thức cao hơn nhóm NVYT chưa được tập huấn Tỷ lệ các
túi đựng chất thải và phân loại sai quy định là 18,5% và thu gom sai quy định là
11,5%; Tỷ lệ chất thải lây nhiễm bị phân loại sai là 41,6%; Tỷ lệ chất thải sắc nhọn
thu gom sai là 20,2% [24]
Năm 2011, nghiên cứu của Hoàng Giang về “Thực trạng công tác quản lý
CTRYT tại BV Hữu nghị Việt Đức ” kết quả cho biết phương tiện, dụng cụ thu gom
chất thải khá tốt, 8/15 khoa không có đường vận chuyền chất thải riêng biệt; 7/15
khoa có xe vận chuyên không đúng quy định; 10/15 kho lưu giữ chất thải tạm thời tại các khoa không đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên, trong nghiên cứu tác giả chỉ đánh giá thực trạng quản lý CTRYT tại 15 khoa lâm sàng, đối tượng nghiên cứu là điều dưỡng và người chăm sóc BN nên tính đại diện không hoàn toàn được đảm bảo Trong nghiên cứu tác giả cũng chưa đánh giá được kiến thức xử lý CTRYT của
NVYT và CTRYT trong nghiên cứu là chất thải lây nhiễm [23]
Năm 2011, Đinh Quang Tuấn nghiên cứu về “7hực rạng quản lý CTRYT và
kiến thức, thực hành của cán bộ các trạm y tế trên địa bàn Thành Phố Việt Trì ” kết
quả cho biết chỉ có 30,4% trạm y tế đạt yêu cầu quản lý CTRYT; Tỷ lệ các quy trình quản lý gồm: Phân loại 39,1%, thu gom 43,5%, vận chuyển 82,6%, lưu giữ
65,2%; Chỉ có 43,5% số trạm y tế có đủ dụng cụ chứa đựng CTRYT đúng quy định;
10,5% NVYT thực hành đúng quy trình QLCTRYT; 38,6% thực hành phân loại
đúng; 97,4% thực hành thu gom đúng; 22,8% thực hành vận chuyển đúng; 80,7%
thực hành lưu giữ và xử lý CTRYT đúng quy định [33]
Năm 2011, Hoàng Thị Thúy nghiên cứu về “7bực rạng quản lý CTRYT và kiến
thức, thực hành của NƯYT BW đa khoa Đông Anh", kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ
NVYT đạt thực hành về phân loại chất thải là 82,4%; thu gom và vận chuyển đều là 52,6%; lưu giữ chất thải là 100% Thiếu kinh phí được coi là yếu tố chính ảnh
hưởng đến các hoạt động phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải Đặc biệt trong
nghiên cứu tác giả chỉ đề cập đến đối tượng nghiên cứu ở 8 khoa lâm sàng, liên
quan đến chất thải lây nhiễm là chủ yếu chứ chưa đánh giá được các đối tượng ở các
khoa cận lâm sàng cũng vừa thường xuyên phải quản lý chất thải lây nhiễm vừa quản lý chất thải hóa học nguy hại [36]
Trang 36Năm 2012, Nguyén Thi Bich Trang nghién ctru vé “Thyc trang quan ly
CTRYT tai BV da khoa tinh Dak Lak”, két quả nghiên cứu: Khối lượng CTRYT là 2,07 kg/GB/ngày, trong đó khối lượng CTRYT nguy hại 0,64 kg/GB/ngày; khối
lượng CTRYT thông thường 1,43 kg/GB/ngày; tỷ lệ các quy trình: Phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý CTRYT đều đạt 100%; quy trình vận chuyển CTRYT chưa đạt (0%) Thiếu kinh phí và cơ sở hạ tầng xuống cấp cũng là yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển CTRYT tại BV này [37]
Trang 37- Nôi qui, quy định của BV
-_ Điều kiện cơ sở vật chất,
- _ kinh phí của đơn vi
-_ Số lương CTRYT phát sinh
loại thu gom đây đủ
Có đầy đủ thùng thu gom
Không thu gom lẫn
Thu gom khi đầy 3⁄4 túi
CTRYTNH hấp và đốt
Lư n_————————.
Trang 381.7 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa
1.7.1 Thông tin chung về Bệnh viện
Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa có vị trí ngay giữa trung tâm thành phố Nha Trang, địa chỉ số 19 đường Yersin là bệnh viện hạng [trực thuộc Sở y tế Tỉnh
Khánh Hòa, có tổng diện tích 32.000 m với diện tích xây dựng 12.000 mẺ Chỉ tiêu
giường bệnh được giao năm 2013 là 1.000 giường, BV có có 35 khoa, phòng với tổng
số NVYT là 1.117 người
Theo báo cáo tổng kết năm 2012, Bệnh viện đã khám bệnh cho 387.442 lượt
người, tiếp nhận 62.471 BN điều trị nội trú, 9.048 BN điều trị ngoại trú, phẫu thuật
cho 12.177 trường hợp Bên cạnh các kỹ thuật phân tuyến theo kỹ thuật BV, BV còn thực hiện nhiều kỹ thuật thuộc tuyến trung ương như: chụp và can thiệp động mạch vành, phẫu thuật cột sống, thay khớp .[3]
1.7.2 Quản lý chất thai ran y tế tại bệnh viện
43/2007/QĐ-BYT về quy chế quản lý CTYT Quy trình quản lý CTRYT của BV
được thực hiện qua 5 giai đoạn chính: phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và
xử lý chất thải
v_ Phân loại CTRYT: Tất cả các NVYT trong BV đều thực hiện phân loại
các CTRYT ngay sau khi phát sinh, các CTRYT này được đựng trong các dụng cụ, bao bì thu gom thích hợp Vật sắc nhọn được cô lập đựng trong các hộp giấy, thùng theo qui định
v Thu gom CTRYT: Các CTRYT của các khoa lâm sàng trong BV được
thu gom bởi các Hộ lý — Y công của khoa Để đảm bảo thu gom hết lượng chất thải, các khoa lâm sàng trong BV đều trang bị hệ thống các thùng thu gom có dung tích
đủ lớn đảm bảo thu gom hết các loại chất thải trong ngày
v_ Vận chuyển CTRYT: Sau khi thu gom, Hộ lý - Y công các khoa thực hiện vận chuyển chất thải về khu vực lưu giữ tập trung Thời gian vận chuyền ngày
1 đến 2 lần tùy theo số lượng tại mỗi khoa và vận chuyển theo đúng giờ quy định của bệnh viện
Trang 39Y Luu giit CTRYT: Tai kho luu giữ, các chất thải được thu gom, phân loại vào các phòng lưu giữ khác nhau Nhân viên quản lý kho và Hộ lý - Y công các
khoa thực hiện ghi chép, bàn giao, theo dõi khối lượng từng loại chất thải hàng ngày
dưới sự giám sát của nhân viên xử lý rác thải của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
v_ Xử lý CTRYT: CTRYT nguy hại được xử lý tiệt trùng với công nghệ hấp
ướt bằng máy Autoclave và được đốt tại bãi rác thành phố dầu Diezel; CTRYT
thông thường hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị Thành phố Nha Trang thu
gom; CTRYT tái chế hợp đồng với cơ sở thu mua phế liệu Cúc Luận [4]
1.7.3 Một số thuận lợi, khó khăn trong quản lý chất thải y tế
Theo báo cáo của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, tổng khối lượng CTRYT của BV là 1.500 — 1.700kg/ngày; CTRYTNH là 480 — 500kg/ngày [3] Thành phần
và khối lượng các loại CT có sự khác nhau giữa các khoa phòng
BV đã làm tốt công tác bảo vệ môi trường theo bản đăng ký tác động môi trường đã được thẩm định của Chi cục Bảo vệ Môi trường phê duyệt Da được qua quan trắc thấm định hàng nam BV đã thực hiện tốt công tác quản lý CTRYT, cụ thể BV đã xây dựng hệ thống các quy trình, quy định quản lý, thường xuyên thực
hiện công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện các hoạt động quản lý chát
thải tại các khoa phòng trong toàn BV
Công tác quản lý CTRYT của BV vẫn còn khá nhiều tồn tại và gặp khó khăn
do thiếu kinh phí Kinh phí chỉ xử lý CTRYT của BV ước tính khoảng 918.723.000 đồng/năm chưa kể các kinh phí đầu tư mua sắm các dụng cụ thu gom, vận chuyển chất thải Nguồn kinh phí này đã ng6n vào ngân sách vận hành cho BV một tỷ trọng khá lớn Ngoài ra, cũng phải kể đến nhận thức và thực hành của CBCNV trong BV
về công tác quản lý CTYT chưa thực sự tốt và sự phối hợp trong các giai đoạn của quy trình của các khoa phòng trong toàn viện chưa được đồng bộ đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyên, lưu giữ chất
thải y tế [4].
Trang 40CHUONG 2 PHUONG PHAP NGHIEN CUU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý CTRYT gồm: số lượng rác thải phát
sinh, dụng cụ phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyền, khu vực lưu giữ CTRYT
ở 25 khoa lâm sàng và cận lâm sàng
Các số sách theo đõi và báo cáo liên quan về quản lý chat thai ran y tế
Giám đốc Bệnh viện, trưởng phòng Hành chính quản trị, trưởng phòng Điều dưỡng, trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, trưởng khoa khối Nội và trưởng khoa
khối Ngoại, Điều dưỡng trưởng khối Nội, Điều dưỡng trưởng khối Ngoại và một số
NVYT trực tiếp tham gia chủ yếu vào hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyên, lưu giữ CTRYT bao gồm: Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật viên, Hộ lý — Y cong
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 01/2013 đến tháng 05/2013
Địa điểm: Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa (19 Yersin — Nha Trang) 2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng:(04 lượt quan sát x 25 khoa = 100 lần quan sát)
Đối với quy trình QLCTRYT, sẽ bao gồm 4 lượt quan sát được tương ứng
với 4 quy trình: phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT tại mỗi khoa,
điền vào bảng kiểm (Phụ lục 1)
Nội dung bảng kiểm được xây dựng dựa trên các tiêu chí quan sát nhằm đánh
giá các các phương tiện, dụng cụ, các quy trình thu gom, phân loại, vận chuyển và
lưu giữ CTRYT tại BV Khánh Hòa dựa vào quy chế quản lý CTYT ban hành kèm
theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Bảng kiểm được nhóm nghiên cứu tham khảo, thiết kế và được đưa vào quan sát thử nghiệm 5% tổng số phiếu, sau đó thảo luận với giáo viên hướng dẫn và
hiệu chỉnh nội dung cho phù hợp thực tế trước khi đưa vào tiến hành thu thập số
liệu chính thức.