Tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ là như nhau, người lớn nhiều hơn trẻ em.Nguyên nhân gây ra căn bệnh vảy nến là không rõ ràng, mặc dù có nguyênnhân đã được chấp nhận là do một thành phần di
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ë BÖNH NH¢N V¶Y NÕN §IÒU TRÞ NGO¹I TRó
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
HỆ VLVH
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ë BÖNH NH¢N V¶Y NÕN §IÒU TRÞ NGO¹I TRó
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
HỆ VLVH
Người hướng dẫn: BSNT Trần Thị Huyền
HÀ NỘI - 2019
Trang 3BHYT Bảo hiểm y tế
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về bệnh vảy nến 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Dịch tễ 3
1.1.3 Chẩn đoán 3
Chẩn đoán vảy nến thường dựa vào: 3
Đặc điểm lâm sàng: thương tổn là các mảng đỏ, ranh giới rõ với da lành, bề mặt có vảy trắng, dễ bong, hay gặp ở các vùng tỳ đè như khuỷu tay, đầu gối, da đầu, Cạo Brocq dương tính 4
1.1.4 Triệu chứng lâm sàng 5
1.1.5 Thể lâm sàng 6
1.1.6 Biến chứng 7
1.1.7 Điều trị 7
1.2 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị 9
1.2.1 Khái niệm tuân thủ điều trị 9
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị trên bệnh nhân vảy nến 10
1.2.3 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị 11
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 13
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân 13
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 13
Trang 52.5 Công cụ thu thập số liệu 13
2.6 Kỹ thuật thu thập số liệu 14
2.7 Các biến số nghiên cứu: 14
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ chế độ điều trị của bệnh nhân vảy nến (nội dung chi tiết tại phụ lục 2) 14
2.8.1 Đánh giá kiến thức tuân thủ điều trị của bệnh vảy nến 15
2.8.2 Đánh giá thực hành về tuân thủ điều trị bệnh vảy nến 15
2.9 Xử lý số liệu 15
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 16
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục 16
2.11.1 Sai số 16
2.11.2 Biện pháp khắc phục 16
Chương 3 18
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thông tin chung về các đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 18
3.2 Kiến thức, thực hành về tuân thủ điều trị của ĐTNC 20
3.2.1 Kiến thức về tuân thủ điều trị của ĐTNC 20
3.2.2 Thực hành về tuân thủ điều trị của ĐTNC 21
3.3 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của ĐTNC 24
Chương 4 26
DỰ KIẾN BÀN LUẬN 26
4.1 Thông tin chung của ĐTNC 26
4.2 Kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của ĐTNC 27
4.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của ĐTNC 27
Hạn chế của nghiên cứu 27
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 7Bảng 1.1 Quy định tính điểm diện tích cho mỗi vùng 4
Bảng 1.2 Quy định tính điểm mức độ nặng của mỗi chỉ tiêu (E, I, D) 5
Bảng 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 18
Bảng 3.2 Đặc điểm về tiền sử mắc bệnh của ĐTNC 18
Bảng 3.3 Kiến thức về tuân thủ điều trị của ĐTNC 20
Bảng 3.4 Tuân thủ vệ sinh của ĐTNC 22
Bảng 3.5 Lý do bệnh nhân không tuân thủ điều trị 22
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với một số yếu tố 24
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tuân thủ dinh dưỡng với một số yếu tố 24
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tuân thủ vệ sinh với một số yếu tố 25
Trang 8Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ kiến thức về tuân thủ điều trị của ĐTNC 21
Biểu đồ 3.2 Tuân thủ dùng thuốc của đối tượng nghiên cứu 21
Biểu đồ 3.3 Tuân thủ dinh dưỡng 21
Biểu đồ 3.4 Đánh giá mức độ tuân thủ từng biện pháp của ĐTNC 23
Biểu đồ 3.5 Mức độ tuân thủ điều trị của ĐTNC 23
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh vảy nến (psoriasis) là một bệnh viêm da mạn tính thường gặp và hay táiphát Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi mọi chủng tộc và các lục địa Bệnh phát thành từngđợt, có khi tăng giảm theo mùa Bệnh chiếm khoảng 2-3% dân số thế giới và theoThirumoorthy thì trên thế giới có khoảng 80-100 triệu người bị vảy nến Ở ViệtNam, ước tính bệnh cũng chiếm khoảng 1,5% dân số Bệnh lành tính, thường khôngảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụycủa nó Tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ là như nhau, người lớn nhiều hơn trẻ em.Nguyên nhân gây ra căn bệnh vảy nến là không rõ ràng, mặc dù có nguyênnhân đã được chấp nhận là do một thành phần di truyền cơ bản nào đó, khi đượckích hoạt sẽ làm cho hệ thống miễn dịch sản xuất một số lượng quá nhiều tế bào da.Như vậy hiện tượng này được gọi là một rối loạn da tự miễn dịch dưới tác động củamột số yếu tố khởi phát như stress, nhiễm khuẩn khu trú, thuốc, sang chấn cơ học,thời tiết
Hiện nay chưa có cách chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh này mà không tái phátbệnh Các phương pháp điều trị chỉ nhằm mục tiêu làm giảm sạch thương tổn vàkéo dài thời gian ổn định Ngoài các phương pháp điều trị triệu chứng gần đây nhờnhững tiến bộ trong nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của vảy nến đặc biệt là những pháthiện về cơ chế miễn dịch với tầm quan trọng của lympho T và các tế bào cáccytokin liên quan người ta nghiên cứu nhiều loại thuốc mới tác động vào các khâukhác nhau của cơ chế bệnh sinh của vảy nến như cyclosporin A, retinoid, vitaminD3 các chất sinh học Các thuốc này đều có hiệu quả điều trị tốt nhưng cũng kèmtheo nhiều tác dụng không mong muốn như gây độc gan, thận, tuỷ xương, ảnhhưởng đến thai nhi… và giá thành còn cao Vì vậy lựa chọn một phương pháp điềutrị thích hợp nhất cho mỗi bệnh nhân vảy nến vẫn là một công việc khó khăn chocác bác sỹ lâm sàng Do đó người bệnh cần tuân thủ và hợp tác với thầy thuốc đểviệc trị liệu đạt hiệu quả Ngoài ra một lối sống lành mạnh với tinh thần lạc quanyêu đời kết hợp chế độ dinh dưỡng hợp lí biết cách chế ngự căng thẳng vệ sinh
Trang 10đúng cách là những việc khả thi giúp bệnh nhân có cuộc sống tốt đẹp dù cho mộtphần cuộc sống của họ luôn phải đồng hành với bệnh vảy nến
Một điều vô cùng quan trọng là trong quá trình điều trị cần phải tư vấn chobệnh nhân Do đặc điểm vảy nến là bệnh mạn tính nên cần khuyên bệnh nhân khôngđược lơ là, tự động bỏ thuốc khi thấy thương tổn đã giảm Đặc biệt không tự ý sửdụng những thuốc không rõ nguồn gốc để tránh bệnh có thể chuyển sang thể nặnghơn Hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị theo từng giai đoạn bệnh, đồngthời phải hạn chế bia, rượu, thuốc lá, tránh stress và điều trị triệt để các bệnh mạntính khác nếu có Có như vậy mới tránh được các biến chứng và kéo dài thời giantái phát
Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệuquả một số phương pháp điều trị bệnh vảy nến Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào
đề cập đến kiến thức, thực hành về tuân thủ điều trị của bệnh vảy nến một cách toàndiện về chế độ dùng thuốc, vệ sinh và chế độ dinh dưỡng Vì vậy chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đếntuân thủ điều trị ở bệnh nhân vảy nến điều trị ngoại trú” với hai mục tiêu:
1 Mô tả kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị ở bệnh nhân vảy nến điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, năm 2019.
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân vảy nến điều trị ngoại trú
Trang 11Chương 1TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về bệnh vảy nến
1.1.1 Định nghĩa
Bệnh vảy nến là một trong những bệnh da bong vảy mạn tính hay tái phát,bệnh thường gặp ở Việt Nam và trên thế giới Tỷ lệ bệnh vảy nến chiếm khoảng 2-3% dân số tùy theo từng khu vực, chiếm khoảng 13% bệnh nhân nội trú tại bệnhviện Da liễu Trung ương (2000)
Bệnh nhân vảy nến thường có kèm theo một số tình trạng viêm mạn tính toànthân khác như bệnh Crohn, viêm khớp, viêm tuyến mồ hôi mủ Ngoài ra, gần đây người
ta cũng phát hiện thấy bệnh vảy nến cũng có liên quan đến một số bệnh khác như hộichứng chuyển hóa, béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch, Nhữngbệnh lý phối hợp này làm tăng nguy cơ tim mạch của bệnh nhân vảy nến
1.1.3 Chẩn đoán
Chẩn đoán vảy nến thường dựa vào:
Trang 12Đặc điểm lâm sàng: thương tổn là các mảng đỏ, ranh giới rõ với da lành, bềmặt có vảy trắng, dễ bong, hay gặp ở các vùng tỳ đè như khuỷu tay, đầu gối, dađầu, Cạo Brocq dương tính.
Trường hợp lâm sàng không điển hình có thể dựa vào hình ảnh mô bệnh họccủa da với những biểu hiện đặc trưng sau:
+ Dày sừng và á sừng
+ Lớp hạt mất hoàn toàn ở những thương tổn điển hình và muộn Thương tổnmới, sớm mất lớp hạt từng ổ
+ Có các vi áp xe của Munro-Saboraud ở ngay tại lớp sừng hay những xốp
mủ Kogoj-Laprierre nằm tại lớp tế bào gai
+ Lớp đáy tăng hoạt động phân bào, có đến 3 hàng tế bào sinh sản, bìnhthường chỉ có một hàng
+ Giảm sắc tố da lớp đáy, lớp gai là một dấu hiệu rất sớm và kéo dài Thayđổi phân bố tế bào Langerhans, tăng ở trung bì nhiều hơn thượng bì
+ Các mao mạch ở nhú trung bì giãn rộng, ngoằn ngoèo, nội mạc bị tăng sinh,phù nề, thành mao mạch dày lên Thâm nhiễm lympho T, mô bào và bạch cầu đa nhântrung tính quanh mạch máu
Đánh giá mức độ nặng của bệnh theo PASI:
Công thức tính chỉ số PASI (Psoriasis area and severity index: chỉ số diện
Bảng 1.1 Quy định tính điểm diện tích cho mỗi vùng
Trang 13Chỉ số PASI có giá trị từ 0 đến 72 điểm.
Cách phân mức độ nặng của bệnh VNTT theo chỉ số PASI :
Mức độ nhẹ: PASI< 10Mức độ vừa: 10≤ PASI <20
Tổn thương cơ bản
Tổn thương cơ bản của vảy nến là mảng, sẩn đỏ bong vảy Đám, mảng đỏkích thước to nhỏ khác nhau, từ vài milimet đến vài centimet, có khi hàng chụccentimet (các mảng lớn giới hạn ở một vài vị trí), giới hạn rõ, hơi gồ cao, nền cứngcộm, thâm nhiễm (inflammation, indurated) nhiều hoặc ít, có khi vảy trắng choángần hết nền đỏ chỉ còn lại viền đỏ xung quanh rộng hơn lớp vảy Số lượng thươngtổn đa dạng, từ ít tới nhiều, chiếm hầu hết diện tích cơ thể
- Vảy trắng phủ trên nền đám đỏ, vảy màu trắng đục hơi bóng như màu xà
cừ, như màu nến trắng Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bộttrắng, như phấn, như vết nến, rơi lả tả Vảy tái tạo rất nhanh, bong lớp này thì lớp
Trang 14khác lại đùn lên Số lượng vảy nhiều
Hiện tượng Kobner là một dấu hiệu thường gặp trong thời kỳ vảy nến đanghoạt động mạnh, thương tổn vảy nến mọc ngay trên vết sẹo, vết xước da, vết mổ,vết tiêm chủng
Thương tổn móng gặp ở khoảng 30-40% Các thương tổn móng thường gặp
Bệnh nhân vảy nến ngứa ít hoặc nhiều, thường ngứa nhiều ở giai đoạn đang
tiến triển, chiếm 20-40% số ca, một số không ngứa mà có cảm giác vướng víu, ảnhhưởng thẩm mỹ
Bệnh mạn tính, hầu như suốt đời, các đợt vượng bệnh xen kẽ các đợt bệnhthuyên giảm Bệnh lành tính, bệnh nhân sống khoẻ mạnh suốt đời, trừ một số thểnặng như vảy nến thể khớp, vảy nến đỏ da toàn thân
1.1.5 Thể lâm sàng
Có nhiều cách phân thể lâm sàng bệnh tuỳ theo vị trí thương tổn, kích thướcthương tổn và theo đặc điểm thương tổn Tuy nhiên, hiện nay bệnh được chia làm 2thể chính là vảy nến thể thông thường và vảy nến thể đặc biệt, cụ thể như sau:
+ Vảy nến thể giọt: biểu hiện với các nốt, sẩn đỏ đường kính 0,5- 1,5 cm) ở thântrên và gốc chi, đối xứng hai bên, thường gặp ở bệnh nhân trẻ
Trang 15+ Vảy nến thể đảo ngược: thương tổn ở toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ các nếp gấpcủa cơ thể (nếp gấp ở nách, bụng, vùng dưới vú, và kẽ bẹn/ mông) Thương tổn làmảng đỏ, giới hạn rõ, bề mặt bóng, bong vảy ít hoặc không có, thường nằm ở vùng datiếp xúc nhau.
- Thể đặc biệt
+ Thể mủ: có 2 thể là vảy nến thể mủ toàn thân và vảy nến thể mủ khu trú,gồm mụn mủ ở lòng bàn tay và viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau Ngoài racòn có một số thể đặc biệt: vảy nến thể mủ toàn thân ở phụ nữ có thai, mụn mủ hìnhnhẫn ở trẻ em
+ Thể khớp: có thể chỉ có biểu hiện viêm khớp đơn thuần (khoảng 10%) hoặcphối hợp với biểu hiện da của bệnh (khoảng 10-20%)
+ Đỏ da toàn thân: là hình thái vảy nến lan rộng, tác động lên khắp cơ thểgồm mặt, bàn tay, bàn chân, móng, thân mình và chi Đặc điểm nổi bật nhất là datoàn thân hoặc gần như toàn thân (>90%) đỏ tươi, trên có vảy mỏng trắng Nhữngbệnh nhân này dễ bị mất nhiệt, mất nước qua da nhiều do giãn mạch toàn thân, cóthể dẫn đến hạ thân nhiệt, rối loạn nước điện giải Thể này thường là biến chứng củabệnh vảy nến thông thường, do hậu quả của việc sử dụng thuốc không hợp lý, đặcbiệt là corticoid đường toàn thân, nhưng đôi khi lại là tiến triển tự nhiên từ một vảynến thông thường, hoặc cũng có thể là biểu hiện đầu tiên của bệnh
Trang 16Các thuốc tại chỗ
- Thuốc tiêu sừng, bong vảy: Mỡ salicylic 2-10% có tác dụng tiêu sừng, bong
vảy Thuốc có nguy cơ nhiễm độc nếu bôi trên 20% diện tích cơ thể
- Thuốc khử oxy: nhóm này gồm có các thuốc như Goudron (hắc ín),
Anthraline (dioxyanthranol), Crysarobin, Tar, hiện nay ít được sử dụng
- Thuốc ức chế miễn dịch: Corticoid có tác dụng chống viêm mạnh Nhược
điểm gây teo da, rạn da, trứng cá, nhiễm khuẩn tại chỗ đặc biệt có thể gây hiệntượng “phản hồi” (khi ngừng thuốc, bệnh có thể tái phát nặng hơn trước) nên việcdùng thuốc cần thận trọng
- Vitamin D và dẫn xuất: chế phẩm Vitamin D3-Calcipotriol Tác dụng ức
chế tăng sinh biểu bì, điều hòa miễn dịch tại chỗ, chống viêm Thuốc có tác dụnglàm bệnh đỡ nhanh, tránh được hiện tượng nhờn thuốc và hiện tượng “phản hồi”
- Tazarotene: là một retinoid có tác dụng tốt trong điều trị vảy nến nhưng hay
gây kích ứng Tuy nhiên, nếu kết hợp với corticoid bôi tại chỗ thì hiệu quả điều trịtăng lên và tính kích ứng tại chỗ giảm đi
Các thuốc toàn thân
Chỉ nên áp dụng điều trị thuốc toàn thân khi bệnh nhân không còn đáp ứng vớithuốc bôi tại chỗ hoặc thương tổn quá nhiều, các thể vảy nến nặng
- Thuốc ức chế phân bào: Methotrexate (MTX)
Methotraxate là một thuốc ức chế phân bào do ức chế quá trình hấp thu acidfolic dẫn đến giảm tổng hợp AND, ARN Thuốc có hiệu quả tốt trong điều trị toànthân bệnh vảy nến lan rộng và vảy nến thể khớp Tuy nhiên, sử dụng Methotrexate
có nhiều tác dụng phụ, đặc biệt với gan và tủy xương
- Vitamin A acid
Vitamin A acid thế hệ thứ hai như Etretinate, Acitretin đã được chứng minh
có hiệu quả trong điều trị vảy nến thể nặng Cơ chế tác dụng của Vitamin A acid là
Trang 17bình thường hóa tăng trưởng và biệt hóa tế bào, ức chế sự nhiễm sừng ở các tế bàocòn nhân.
- Thuốc ức chế miễn dịch: Cyclosporin A
Cyclosporin A là thuốc ức chế miễn dịch chọn lọc, tác dụng lên tế bàoLangerhans, Lympho T, yếu tố tăng trưởng tế bào làm ức chế quá trình bài tiết IL2dẫn đến ức chế tăng sản tế bào thượng bì Thuốc tác dụng kém hơn Methotraxatenhưng ít tác dụng phụ hơn
- Chế phẩm sinh học
Các chế phẩm sinh học đã bước đầu được đưa vào sử dụng và đang tiếp tụcđược nghiên cứu, phát triển giúp điều trị các thể vảy nến nặng không đáp ứng vớiđiều trị thông thường Các chế phẩm được dùng cho vảy nến là Efalizumab,Alefacept cho kết quả tốt nhưng giá thành còn cao
- Điều trị bằng ánh sáng:
Các phương pháp điều trị bằng ánh sáng như UVB, PUVA, Excimer laser.Những phương pháp này được dùng trong điều trị vảy nến thể mảng mức độ vừa, cóthể phối hợp với thuốc bôi hoặc một số thuốc dùng đường toàn thân khác
1.2 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị
1.2.1 Khái niệm tuân thủ điều trị
Theo Tổ chức y tế thế giới, tuân thủ là mức độ hành vi của một ngườitương ứng với các khuyến nghị đã được thống nhất từ nhà cung cấp dịch vụchăm sóc sức khỏe
Tuân thủ là sự tuân thủ của bệnh nhân đối với thẩm quyền của bác sĩ, trongkhi việc tuân thủ có nghĩa là bệnh nhân và bác sĩ hợp tác để cải thiện sức khỏe củabệnh nhân bằng cách tích hợp ý kiến y tế của bác sĩ và lối sống, giá trị và sở thíchcủa bệnh nhân
Trang 181.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị trên bệnh nhân vảy nến
Do thuốc điều trị: Bệnh nhân phải uống quá nhiều thuốc trong một ngày, đặc
biệt với những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc uống kết hợp với thuốc bôi vàphải dùng ít nhất 2 loại thuốc trở lên thì với số lượng thuốc và thời gian dùng thuốckéo dài suốt đời kèm theo với tâm lý chán nản khi điều trị là những rào cản lớn tácđộng đến sự tuân thủ
Những hạn chế về chế độ ăn liên quan đến sử dụng thuốc: Thời điểm sử
dụng nhiều loại thuốc điều trị có liên quan mật thiết tới bữa ăn, ví dụ, có thuốc phảiuống sau bữa ăn, có thuốc phải uống xa bữa ăn, có thuốc phải bôi vào đúng giờ quiđịnh Hơn nữa, một số thuốc điều trị còn yêu cầu người bệnh phải ngừng uống rượu,bia tuyệt đối Điều này sẽ gây ra khó khăn nhất định cho bệnh nhân
Do thiếu hỗ trợ (gia đình, bạn bè): Sự hỗ trợ của cán bộ y tế, người thân
trong gia đình và bạn bè của người bệnh là yếu tố quan trọng đảm bảo việc tuân thủcủa họ Những người thân và bạn bè sẽ chia sẻ, an ủi, động viên, nhắc nhở, giúp đỡngười bệnh uống đủ số lượng thuốc, đủ liều, đúng giờ và bôi thuốc thường xuyêncũng như giúp bệnh nhân thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, đảm bảo chế độ vệsinh đúng cách Trên thực tế, nhiều bệnh nhân không thể tự mình bôi thuốc hoặckhông tự giác nhớ được cách sử dụng thuốc theo đúng chỉ định của thầy thuốc, đặcbiệt khi bệnh nhân là người cao tuổi
Do gánh nặng về tài chính: Quá trình mắc bệnh kéo dài, phải chi trả cho cuộc
sống cũng như theo dõi điều trị, trong khi bệnh nhân không có khả năng tạo ra thunhập (ở những người cao tuổi) sẽ là gánh nặng tài chính không chỉ cho bệnh nhân màcòn cho cả những người khác trong gia đình Những khó khăn và thiếu thốn trongcuộc sống hàng ngày sẽ không đảm bảo cho sức khỏe thể chất và dễ làm cho bệnhnhân có những sang chấn về tinh thần dẫn đến chán nản và tuyệt vọng
Do mối quan hệ giữa bác sỹ và bệnh nhân: Khi bác sĩ giao tiếp tốt với bệnh
nhân, chỉ rõ ích lợi của các biện pháp điều trị, nhắc lại nhiều lần, thật rõ ràng cho
Trang 19bệnh nhân và báo trước các tác dụng phụ có thể có hoặc khích lệ bệnh nhân thì việctuân thủ điều trị của bệnh nhân tốt hơn nhiều.
Do hệ thống chăm sóc y tế: Hệ thống chăm sóc y tế có thuận tiện cho bệnh
nhân không? Giờ giấc cung cấp thuốc và các dịch vụ y tế có thuận tiện cho bệnh nhânkhông? Ví dụ, bệnh nhân vảy nến thường phải mất buổi sáng thậm chí cả ngày để chờkhám, làm xét nghiệm, chờ lấy kết quả cũng như nhận thuốc, trong khi đó bệnh nhânrất bận Hay bệnh nhân có tin tưởng vào hệ thống chăm sóc y tế đó không? Tất cả các
lý do trên đều ảnh hưởng tới sự tuân thủ của bệnh nhân
Khi bệnh nhân không được giúp đỡ để vượt qua những rào cản trên thì họthường không tuân thủ điều trị dẫn tới một loạt những hậu quả nặng nề làm tăng tỷ lệngười bệnh phải nhập viện và tử vong
1.2.3 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị
Trên thế giới, nghiên cứu về tuân thủ điều trị bệnh nhân vảy nến không phải
là vấn đề mới Các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến tuân thủ dùng thuốc của bệnhnhân vảy nến
Nghiên cứu của Vande Kerkhof PC và cộng sự năm 2000, tại khoa Da liễubệnh viện đại học Nijemegen về tuân thủ điều trị của bệnh nhân vảy nến và quản lýbệnh trong điều trị vảy nến ở Hà Lan Mục tiêu nghiên cứu là xác định tỷ lệ và cácyếu tố liên quan đến tuân thủ và quản lý bệnh vảy nến Đây là một nghiên cứu mô tảcắt ngang Bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn Kết quảcho thấy có 70% bệnh nhân tuân thủ với thuốc uống Nghiên cứu này cũng chỉ rabệnh nhân đề cao việc cung cấp những thông tin quan trọng về mức độ bệnh vảynến và mong muốn phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn dù thời gian kéo dài
Một nghiên cứu khác cũng đề cập đến sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân vảynến là nghiên cứu của Richards HL và cộng sự (2009), khoa hành vi dùng thuốc,trường Y đại học Manchester, bệnh viện Hope, Salford, Anh Kết quả cho thấy một
tỷ lệ khá cao 40% bệnh nhân không tuân thủ điều trị và nhóm bệnh nhân không tuânthủ điều trị tự đánh giá mức độ bệnh của họ nặng hơn nhóm bệnh nhân tuân thủ
Trang 20điều trị (p=0,03) Đồng thời nghiên cứu này cũng cho thấy việc điều trị có ảnhhưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ.
Tuy nhiên các nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến tuân thủ điều trị thuốchoàn toàn bằng nghiên cứu định lượng, còn hạn chế chưa đi tìm hiểu lý do tại saobệnh nhân lại không tuân thủ điều trị
Một số nghiên cứu khác đã tiến hành khảo sát việc tuân thủ điều trị kết hợpgiữa tuân thủ dùng thuốc và chế độ dinh dưỡng Nghiên cứu của Zaghloul SS,Goodfield MJ năm 2004 thực hiện trên 201 bệnh nhân Mục tiêu của nghiên cứunày nhằm đánh giá sự tuân thủ dùng thuốc và chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân.Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám da liễu bệnh nhân ngoại trú bằng phỏngvấn trực tiếp Kết quả cho thấy 60,6% bệnh nhân nhận thức được tầm quan trọngcủa việc điều trị thuốc và chế độ dinh dưỡng Nghiên cứu này cũng chỉ ra một sốyếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị như nữ giới, những người có việc làm ổn định
và không phải trả tiền thuốc thì tuân thủ tốt hơn Nguyên nhân chính làm bệnh nhânkhông tuân thủ là uống rượu, chán nản, đãng chí và quá bận rộn
Trong nước ta hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào nghiên cứu vềkiến thức, thực hành và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân vảy nến
Trang 21Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán là bệnh vảy nến đang điều trị ngoại trú tại Bệnhviện Da liễu Trung ương
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân được chẩn đoán vảy nến đang được điều trị ngoại trú và khám lầnthứ 2 trở lên tại bệnh viện Da liễu Trung ương
- Có sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp và đối thoại trực tiếp
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Da liễu Trung ương
- Thời gian nghiên cứu: tháng 07 - 09/2019
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu, chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ, tất cả
những bệnh nhân được chẩn đoán là bệnh vảy nến, đủ tiêu chuẩn lựa chọn, đang điềutrị ngoại trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2019
2.5 Công cụ thu thập số liệu
- Phiếu phỏng vấn
+ Những câu hỏi về các thông tin chung: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghềnghiệp, tình trạng hôn nhân, người chung sống, thu nhập gia đình của đối tượngphỏng vấn, từ câu A1→ A12
+ Kiến thức về tuân thủ điều trị của bệnh nhân vảy nến, từ câu B1→ B7
Trang 22+ Thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân vảy nến, từ câu C1→ C14.
+ Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, từ câu B8 →B11
2.6 Kỹ thuật thu thập số liệu.
Việc tổ chức thu thập số liệu được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu
Xây dựng bộ câu hỏi: Các câu hỏi do nghiên cứu viên tự xây dựng dựa vào sựhiểu biết và thực hành về sự tuân thủ điều trị (tuân thủ dinh dưỡng, dùng thuốc và
vệ sinh)
Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu: sau khi bộ câu hỏi được xâydựng xong, điều tra thử với bộ câu hỏi này, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn chỉnh nội dungcủa bộ câu hỏi một cách phù hợp sau đó in ấn phục vụ cho điều tra
Bước 2: Tiến hành điều tra
Khi bệnh nhân đến khám tại phòng khám Bệnh viện Da liễu trung ương, điều traviên sẽ đến tại phòng bệnh và phỏng vấn bệnh nhân
2.7 Các biến số nghiên cứu:
- Nhóm biến số/chỉ số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới,trình độ học vấn học, thời gian phát hiện bệnh, bảo hiểm y tế, người đang sống cùng
- Nhóm biến số về kiến thức tuân thủ điều trị: Kiến thức về tuân thủ dùng thuốc,kiến thức về tuân thủ chế độ ăn, kiến thức về tuân thủ chế độ vệ sinh, kiến thức về cácbiện pháp tuân thủ, kiến thức về hậu quả không tuân thủ điều trị
- Nhóm biến số về thực hành tuân thủ điều trị
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ chế độ điều trị của bệnh nhân vảy nến (nội dung chi tiết tại phụ lục 2)
Trang 232.8.1 Đánh giá kiến thức tuân thủ điều trị của bệnh vảy nến
Đối tượng nghiên của chúng tôi là những bệnh nhân đã được chẩn đoán làvảy nến và khám lần thứ 2 trở lên nên bệnh nhân đã được tư vấn, cung cấp kiếnthức về tuân thủ điều trị Vì vậy, để đánh giá mức độ đạt về kiến thức của bệnh nhân
về tuân thủ điều trị khi bệnh nhân trả lời đạt từ 60% trở lên trên tổng số điểm
Cách đánh giá:
- Đạt khi được ≥ 11 điểm
- Không đạt khi được < 11 điểm
2.8.2 Đánh giá thực hành về tuân thủ điều trị bệnh vảy nến
Trang 24Bước 3 Xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và
xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
- Thống kê mô tả: Lập bảng phân bố tần số của các biến số
- Thống kê phân tích: xác định mối liên quan giữa việc tuân thủ điều trị với một
số yếu tố chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích đơn biến (sử dụng phép kiểm địnhχ2 với khoảng tin cậy 95%, α = 0,05)
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.
- Nghiên cứu đã xin phép và thông qua ban lãnh đạo Bệnh viện Da liễu Trung ương
- Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng về mụcđích của nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
- Bộ câu hỏi không bao gồm các câu hỏi mang tính riêng tư, các vấn đề nhạycảm nên không ảnh hưởng gì đến tâm lý hay sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu
- Các số liệu này chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu, kết quả nghiêncứu được đề xuất sử dụng vào mục đích nâng cao sức khỏe cho cộng đồng, không
sử dụng cho các mục đích khác
Đối với nghiên cứu viên
- Bộ câu hỏi được điều tra thử trên người bệnh đang điều trị nội trú vảy nến tạiBệnh viện Da liễu Trung ương trước khi tiến hành điều tra trên quần thể nghiên cứu,sau đó được chỉnh sửa cho phù hợp
- Nghiên cứu viên thu thập, kiểm tra, xem xét lại các phiếu phỏng vấn sau mỗingày điều tra Với những phiếu thông tin thu thập chưa đầy đủ hoặc không hợp lýthì bỏ đi và yêu cầu điều tra viên bổ sung