1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến rối loạn chuyển hóa ở bệnh nhân trầm cảm

6 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 304,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến rối loạn chuyển hóa ở bệnh nhân trầm cảm tới khám tại phòng khám tâm thần kinh bệnh viện Đại học Y Dược – thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

KHẢO SÁT TỶ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

Trần Mỹ Cung*, Bùi Thị Hương Quỳnh*

TÓM TẮT

Mở đầu: Rối loạn chuyển hoá là một trong những bệnh thường gặp ở những bệnh nhân mắc các bệnh lý

thần kinh

Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến rối loạn chuyển

hóa ở bệnh nhân trầm cảm tới khám tại phòng khám tâm thần kinh bệnh viện Đại học Y Dược – thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện bằng cách phỏng vấn 299 BN trầm cảm

ngoại trú và ghi nhận các yếu tố của rối loạn chuyển hoá qua phiếu thu thập thông tin Tiêu chuẩn chọn mẫu là bệnh nhân đủ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu, đồng ý tham gia vào nghiên cứu Bệnh nhân không đầy đủ thông tin được loại ra khỏi nghiên cứu Dùng phương pháp hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan đến rối loạn chuyển hoá trong các yếu tố khảo sát của dân số nghiên cứu

Kết quả: Tỷ lệ rối loạn chuyển hoá trên bệnh nhân trầm cảm là 48,2% Các yếu tố liên quan đến rối loạn

chuyển hoá bao gồm: tuổi cao, nữ giới, hút thuốc lá, uống bia rượu nhiều hơn 1 đơn vị/tháng, thể dục ít hơn 3 ngày/tuần, thời gian mắc bệnh dài và chỉ số khối cơ thể cao (p < 0,05)

Kết luận: Gần một nửa bệnh nhân trầm cảm mắc rối loạn chuyển hoá Cần đánh giá thường xuyên rối loạn

chuyển hoá và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác trên bệnh nhân trầm cảm, đồng thời có những chiến lược kiểm soát tốt các yếu tố này

Từ khóa: Hội chứng chuyển hóa, rối loạn chuyển hóa, trầm cảm

ABSTRACT

PREVALENCE AND RELATED FACTORS OF METABOLIC SYNDROME AMONG PATIENTS WITH

MAJOR DEPRESSIVE DISORDER

Tran My Cung, Bui Thi Huong Quynh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 ‐ No 5‐ 2018: 51 – 56

Background: Metabolic syndrome (MS) is one of the common disease in patient with neurologic disorders Objectives: This study aimed to investigate the prevalence and related factors of MS among outpatients

with major depressive disorder (MDD) at Psychiatric clinic, University Medical Center Ho Chi Minh City

Methods: A cross sectional study was conducted, in which 299 adult outpatients with MDD were interviewed and recorded for all MS components We included patients aged 18 years or older, diagnosed with MDD and who agreed to participate in our study Patients who had insufficient information of the survey were excluded Related factors of MS were analyzed using binominal logistic regression

Results: The prevalence of MS in MDD patients was 48.2% Related factors of MS in patients with MDD

were greater age, female, smoking, drinking alcohol more than 1 unit per month, doing exercises less than 3 days per week, longer duration of MDD and higher body mass index (p < 0.05)

Conclusions: Approximately a half of depressed patients suffered from MS Consequently, patients with

* Bộ môn Dược Lâm sàng, Khoa Dược ‐ Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: TS Bùi Thị Hương Quỳnh, ĐT: 0912261353, Email: huongquynhtn@gmail.com

Trang 2

MDD should be periodically evaluated for the presence of MS and other cardiovascular risk factors Simultaneously, appropriate management strategies should be instituted for patients

Keywords: Metabolic syndrome, metabolic abnormalities, depressive disorder

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trầm cảm và rối loạn chuyển hoá (RLCH) là

các căn bệnh ngày càng phổ biến và có mối liên

hệ tương đối chặt chẽ với nhau(10), góp phần

đáng kể vào gánh nặng bệnh tật cho xã hội Các

tài liệu y văn cho thấy bệnh nhân (BN) trầm cảm

có nguy cơ RLCH cao hơn 1,5 ‐ 2,5 lần so với

nhóm không bệnh, từ đó, làm tăng nguy cơ tử

vong do bệnh tim mạch vành ở BN trầm cảm lên

4 lần(8,9,14); ngược lại RLCH làm tăng khả năng

mắc trầm cảm 2 lần Các nghiên cứu cho thấy tỷ

lệ RLCH trên BN trầm cảm chiếm đến 20 ‐

48,1%(2,5,8,10,12,14) và cũng chỉ ra rằng BN trầm

cảm mắc RLCH có nguy cơ tử vong tim mạch 10

năm cao hơn 2 lần so với người khỏe mạnh(3)

Đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định các

yếu tố liên quan đến RLCH trên BN trầm cảm

Có nghiên cứu cho thấy tuổi, nữ giới và tình

trạng hút thuốc là yếu tố liên quan, lại có những

nghiên cứu cho kết quả ngược lại(8,13) Một số

yếu tố khác được xem là yếu tố liên quan bao

gồm, thời gian mắc bệnh dài, chỉ số khối cơ thể

cao, uống nhiều rượu, kết hôn, trình độ văn hóa

thấp, đông con và không có tiền sử nhập

viện(2,5,8,13,14) Tuy nhiên, các kết quả này vẫn

chưa nhất quán và phụ thuộc nhiều vào đặc

điểm của dân số nghiên cứu

Đến nay, vẫn còn thiếu các công trình nghiên

cứu về RLCH trên BN trầm cảm Việt Nam giúp

xây dựng chiến lược điều trị rối loạn trầm cảm

hiệu quả hơn Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu nhằm xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan

đến RLCH ở BN trầm cảm

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

BN rối loạn trầm cảm chủ yếu có mã phân

loại theo ICD‐10(15) là F32, F33 được điều trị

09/12/2017 đến 31/05/2018, đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

BN không đủ thông tin khảo sát

Phương pháp nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu

Với hệ số tin cậy Z = 1,96, độ tin cậy 95%, sai

số tuyệt đối d = 0,05, tỷ lệ RLCH trên BN trầm cảm theo một nghiên cứu của Silarova là 20,02%(12), thay vào công thức tính cỡ mẫu n =

Z21‐α/2.p.(1‐p)/d2, chúng tôi tính được cỡ mẫu tối thiểu là 246 BN

Trên thực tế, chúng tôi chọn được 299 BN tham gia nghiên cứu

Chẩn đoán RLCH

Bệnh nhân trong nghiên cứu được xem là

có RLCH khi thoả mãn các tiêu chuẩn của khuyến cáo NCEP ATPIII – là những BN có từ

3 trong 5 đặc điểm sau đây: Đường huyết đói ≥

100 mg/dL (hoặc đang sử dụng thuốc hạ đường huyết), huyết áp ≥ 130/85 mmHg (hoặc đang sử dụng thuốc hạ huyết áp), nồng độ triglycerid ≥ 150 mg/dL (1,69 mmol/L), HDL‐C

≤ 40 mg/dL (1,03 mmol/L) ở nam hay ≤ 50 mg/dL (1,29 mmol/L) ở nữ, vòng bụng ≥ 90 cm

ở nam hay ≥ 80 cm ở nữ(1)

Phân tích số liệu

Dùng phần mềm SPSS 24 và Excel 2010 Biểu diễn biến phân loại qua tần suất và tỷ

lệ, biến liên tục qua trung bình và độ lệch chuẩn

So sánh 2 tỷ lệ bằng phép kiểm chi bình phương,

so sánh 2 trung bình bằng phép kiểm t‐test hoặc Mann‐Whitney U Các yếu tố liên quan đến RLCH được xác định bằng phân tích hồi quy logistic Biến phụ thuộc là RLCH (có/không) Biến độc lập bao gồm: loại trầm cảm, tuổi, giới

Trang 3

lá, uống rượu, tập thể dục, thời gian mắc bệnh,

BMI Khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê

khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Tỷ lệ RLCH và đặc điểm của BN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ BN bị

RLCH là 144/299 BN (48,2%) Đa số BN ở nhóm trầm cảm tái diễn có RLCH Tỷ lệ RLCH tăng dần theo đội tuổi của BN Phân bố BN theo các nhóm có và không có RLCH được trình bày

trong bảng 1

Bảng 1 Đặc điểm của dân số nghiên cứu

(n=299)

Hội chứng chuyển hóa

Giá trị p Không (n=155) Có (n=144)

Chẩn đoán Trầm cảm 264 (88,3%) 149 (56,4%) 115 (43,6%) < 0,001 Trầm cảm tái diễn 35 (11,7%) 6 (17,1%) 29 (82,9%)

< 40 tuổi 128 (42,8%) 93 (72,7%) 35 (27,3%) < 0,001

40 - 59 tuổi 128 (42,8%) 49 (38,3%) 79 (61,7%)

≥ 60 tuổi 43 (14,4%) 13 (30,2%) 30 (69,8%)

Giới tính

Nơi cư trú Nông thôn 117 (39,1%) 60 (51,3%) 57 (48,7%) 0,877 Thành thị 182 (60,1%) 95 (52,2%) 87 (47,8%)

Trình độ học vấn

≤ Cấp I 60 (20,1%) 23 (38,3%) 37 (61,7%) < 0,001 Cấp II 82 (27,4%) 30 (36,6%) 52 (63,4%)

Cấp III 56 (18,7%) 36 (64,3%) 20 (35,7%)

Sau cấp III 101 (33,8%) 66 (65,3%) 35 (34,7%)

Tình trạng hôn nhân Độc thân 64 (21,4%) 51 (79,7%) 13 (20,3%) < 0,001

Đã kết hôn 211 (70,6%) 94 (44,5%) 117 (55,5%)

Tiền sử gia đình

Hút thuốc lá Không 261 (87,3%) 145 (55,6%) 116 (44,4%) 0,001

Uống rượu

< 1 đơn vị/tháng 262 (87,6%) 143 (54,6%) 119 (45,4%) 0,012

≥ 1 đơn vị/tháng 37 (12,4%) 12 (32,4%) 25 (67,6%)

Thể dục

< 3 ngày/tuần 203 (67,9%) 70 (34,5%) 133 (65,5%) < 0,001

≥ 3 ngày/tuần 96 (32,1%) 85 (88,5%) 11 (11,5%)

Thời gian mắc bệnh, năm 1,95±3,28 0,95±1,44 3,02±4,24 < 0,001 Chỉ số khối cơ thể (BMI), kg/m2 22,3±3,1 22,3±3,1 23,7±2,8 < 0,001

Trang 4

Các yếu tố liên quan đến RLCH

Kết quả phân tích hồi quy logistics cho thấy

các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến

RLCH bao gồm tuổi của BN, giới tính nữ, BN có

hút thuốc lá, uống rượu nhiều hơn 1 đơn

vị/tháng, ít tập thể dục, thời gian mắc bệnh và

chỉ số khối cơ thể Kết quả cụ thể được trình bày

trong bảng 2

Bảng 2 Các yếu tố liên quan đến RLCH

Tuổi 1,128 1,086-1,171 <0,001

Giới, nữ 16,312 3,98-66,861 <0,001

Có hút thuốc lá 24,852 4,953-124,693 <0,001

Có uống rượu (≥1 đơn

vị/tháng) 5,137 1,352-19,519 0,016

Tập thể dục (<3 ngày/tuần) 73,715 21,557-252,067<0,001

Thời gian mắc bệnh 1,574 1,235-2,005 <0,001

Chỉ số khối cơ thể 1,511 1,287-1,775 <0,001

BÀN LUẬN

Tỷ lệ RLCH trong nghiên cứu chiếm đến

48,2% Kết quả này cao hơn so với tỷ lệ RLCH

trên BN trầm cảm tổng hợp từ hai phân tích gộp

của Vancampfort vào năm 2015 và 2013 (lần lượt

là 31,3% và 26,7‐38,8%)(13,14) Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi tương tự so với nghiên cứu của

Grover thực hiện tại Ấn Độ năm 2017(5) và

Alosaimi tại Ả Rập Xê Út năm 2017(2) ghi nhận tỷ

lệ RLCH trên BN trầm cảm lần lượt là 44,3% và

47,5% Sự phổ biến của RLCH trên BN trầm cảm

có thể được giải thích bởi một số giả thiết Trước

tiên, trạng thái trầm cảm có thể làm tăng hoạt

động của trục hạ đồi‐tuyến yên‐tuyến thượng

thận, từ đó làm tăng cortisol máu, gây bất

thường cân bằng nội môi, gia tăng đường huyết

và các thành phần mỡ máu Một hậu quả điển

hình của tăng cortisol máu là sự tái phân bố mô

mỡ, gây tích trữ mỡ bụng và béo phì bụng Một

vài cơ chế khác liên quan đến hệ thần kinh tự

động, tình trạng viêm mạn tính cấp thấp sinh ra

các cytokin kháng glucocorticoid, stress oxy và

nitơ cũng đã được chứng minh Một nguyên

nhân quan trọng khác dẫn đến RLCH là BN

trầm cảm thường có lối sống kém lành mạnh, ít

hữu ích(9,10) Nói chung, trầm cảm tái diễn chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số nghiên cứu (11,7%), tuy nhiên, tỷ lệ RLCH trong nhóm BN này (82,9%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm trầm cảm mới mắc (43,6%), p < 0,001 Điều này phù hợp với nghiên cứu của Grover thực hiện tại Ấn Độ năm 2017 với tỷ lệ trầm cảm tái diễn chỉ chiếm 36,7% dân

số nhưng tỷ lệ RLCH trong nhóm BN này lại cao hơn một có ý nghĩa thống kê so với nhóm trầm cảm mới mắc (tỷ lệ lần lượt là 61% và 34%, p = 0,001)(5) Bên cạnh đó, nghiên cứu của nhóm Goldbacher tại Mỹ năm 2009 cũng cho thấy BN trầm cảm tái diễn có nguy cơ RLCH cao hơn 1,66 lần BN trầm cảm mới mắc(4) Tuy nhiên, trong một bài tổng quan của Kozumplik năm 2011 lại cho thấy trầm cảm tái diễn chỉ làm tăng tỷ lệ RLCH ở nữ giới, còn nam thì không(8) Thời gian mắc bệnh lâu và ảnh hưởng của các thuốc tâm thần kinh có thể là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ RLCH cao hơn ở BN trầm cảm tái diễn

Dân số khảo sát có độ tuổi dao động trong khoảng rộng, từ 18 đến 82, tuổi trung bình là 43 tuổi Tỷ lệ RLCH tăng dần một cách có ý nghĩa theo độ tăng của các nhóm tuổi (p < 0,001), phù hợp với kết quả nghiên cứu của nhóm Alosaimi tại Ả Rập Xê Út năm 2017(2) Độ tuổi trung bình khoảng 42 tuổi và lứa tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là

từ dưới 60 tuổi BN là nữ nhiều hơn khoảng 2,5 lần so với số BN nam BN sống chủ yếu ở thành thị và có trình độ chủ yếu là từ cấp 3 trở lên (52,5%) Trong dân số nghiên cứu, BN chủ yếu là

đã kết hôn (70,6%) và không có tiền sử gia đình mắc bệnh RLCH (82,3%) Đa số BN không hút thuốc lá và ít uống rượu BN chủ yếu mới được chẩn đoán bệnh với thời gian mắc bệnh khoảng gần 2 năm

Các yếu tố liên quan đến RLCH khảo sát được trong nghiên cứu bao gồm: tuổi cao, nữ giới, hút thuốc lá, thể dục ít hơn 3 ngày/tuần, thời gian mắc bệnh dài, chỉ số khối cơ thể cao (p

< 0,001), uống bia rượu nhiều hơn 1 đơn vị/tháng

Trang 5

hưởng nhiều nhất

Sự gia tăng tuổi làm tăng nguy cơ RLCH

trên BN trầm cảm, điều này đã được khẳng

định trong nhiều nghiên cứu trước đây như

nghiên cứu của nhóm Grover thực hiện tại Ấn

Độ năm 2017 (OR = 1,03, p = 0,002)(5) và nghiên

cứu của Hung tại Đài Loan năm 2014(6) (OR =

1,05, p = 0,04), nghiên cứu của Marazziti năm

2014(9) vàVancampfort năm 2015 (OR = 1,06, p

= 0,04)(13) Tuy nhiên, nghiên cứu của

Kozumplik năm 2011 lại chỉ ra rằng tuổi

không phải yếu tố nguy cơ của RLCH(8) Sự gia

tăng tỷ lệ RLCH theo độ tuổi có thể được giải

thích do hoạt động thể chất giảm theo độ tuổi,

có thể do giảm hoạt động thể thao, thiếu hứng

thú hoặc động lực, hay thay đổi thói quen sinh

hoạt gia đình(9)

Về giới tính, kết quả nghiên cứu cho thấy

nữ giới có nguy cơ mắc RLCH cao hơn nam

giới 16 lần Marazziti cũng chỉ ra nữ giới có

nguy cơ mắc RLCH cao hơn nam giới(9) Ngược

lại, nghiên cứu của Kozumplik năm 2011 lại

không cho kết quả tương tự(8) Đã có một số lời

giải thích được đưa ra cho vấn đề phụ nữ trầm

cảm có nguy cơ mắc RLCH cao hơn nam Một

là, trong các giai đoạn mãn kinh, testosteron

dần chiếm ưu thế trong các hormon sinh dục,

hormon này có liên quan đến đề kháng insulin,

giảm HDL cholesterol, tăng nồng độ glucose,

triglycerid trong máu và tăng nguy cơ đái tháo

đường, đồng thời androgen còn liên quan đến

các dấu hiệu đông máu và viêm(7) Hai là, sự mất

điều độ trong ăn uống, tăng cảm giác thèm ăn

và ăn vặt gây tăng cân là hậu quả phổ biến ở

phụ nữ hơn nam giới Ba là sự giảm hoạt động

thể chất theo độ tuổi ảnh hưởng trên nữ nhiều

hơn nam(9)

Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy hút thuốc lá, uống bia rượu từ 1 đơn

vị/tháng trở lên và tập thể dục ít hơn 3

ngày/tuần là các yếu tố liên quan làm tăng nguy

cơ RLCH, kết quả này phù hợp với nghiên cứu

của Kozumplik năm 2011(8) Tuy nhiên, trong bài

phân tích gộp của Vancampfort vào năm 2015 lại

cho thấy hút thuốc lá không phải là yếu tố liên quan đến RLCH (p = 0,49)(13) Nguy cơ RLCH từ hút thuốc lá có thể được giải thích dựa trên thành phần có hại chính của thuốc lá là nicotin, làm gia tăng sự phóng thích của một số hormon

và chất dẫn truyền thần kinh quan trọng như: dopamin, serotonin, glutamat và acid γ‐ aminobutyric trong hệ thần kinh trung ương, acetylcholin trong hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, epinephrin và norepinephrin bởi tủy thượng thận, cortisol bởi vỏ thượng thận, dẫn đến kích hoạt trục hạ đồi‐tuyến yên‐tuyến thượng thận và hệ renin‐angiotensin‐aldosteron gây RLCH(11)

Trên dân số nghiên cứu, nếu thời gian mắc bệnh của BN tăng lên 1 năm, khả năng mắc RLCH của BN tăng thêm 1,57 lần Kết quả nghiên cứu tưng tự nhiều nghiên cứu trước đó chứng minh BN trầm cảm dễ mắc RLCH hơn khi thời gian mắc trầm cảm tăng lên, như nghiên cứu của giả Alosaimi F.D tại Ả Rập Xê Út năm

2017 (OR = 1,06, p < 0,001)(2) và phân tích của Vancampfort năm 2015 (OR=1,03, p = 0,003)(13,14) Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu, có thể thấy, khi chỉ số khối cơ thể tăng lên 1kg/m2 thì nguy

cơ mắc RLCH sẽ tăng lên 1,5 lần Chỉ số khối cơ thể cao được khẳng định là yếu tố liên quan gây RLCH trong nhiều nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Grover tại Ấn Độ năm 2017 (OR

= 1,23, p < 0,001)(5), phân tích gộp của Vancampfort năm 2015 (OR = 1,15, p = 0,004)(13), nghiên cứu của nhóm Hung tại Đài Loan năm

2014 (OR = 1,55, p < 0,001)(6) và của Kozumplik năm 2011(8)

Từ các kết quả trên, có thể thấy việc duy trì lối sống lành mạnh như: tập thể dục đều đặn, không hút thuốc lá, hạn chế bia rượu, chế độ ăn khoa học, duy trì cân nặng lí tưởng có thể giúp

BN trầm cảm kiểm soát bệnh tốt và đẩy lùi nguy

cơ RLCH đáng kể

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ RLCH cao trên BN trầm cảm, trong đó, một số yếu tố liên quan đến

Trang 6

RLCH có thể kiểm soát được Đánh giá thường

xuyên tình trạng RLCH trên BN trầm cảm là

điều cần thiết, đồng thời cần giáo dục BN từ sớm

và có chiến lược điều trị hợp lí Ngoài ra, cần tiến

hành thêm các nghiên cứu để theo dõi và làm rõ

các mối liên quan này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alberti KGMM et al (2009), “Harmonizing the Metabolic

Syndrome”, Circulation, 120 (16), 1640

2 Alosaimi FD et al (2017), “Prevalence of metabolic syndrome

and its components among patients with various psychiatric

diagnoses and treatments: A cross‐sectional study”, General

Hospital Psychiatry, 45, 62‐69

3 Butnoriene J et al (2015), “Metabolic syndrome, major

depression, generalized anxiety disorder, and ten‐year all‐cause

and cardiovascular mortality in middle aged and elderly

patients”, International Journal of Cardiology, 190, 360‐366

4 Goldbacher EM, Bromberger J, Matthews KA (2009), “Lifetime

history of major depression predicts the development of the

metabolic syndrome in middle‐aged women”, Psychosom Med,

71, 266‐272

5 Grover S et al (2017), “Prevalence of metabolic syndrome

among patients with depressive disorder admitted to a

psychiatric inpatient unit: A comparison with healthy controls”,

Asian Journal of Psychiatry, 27, 139‐144

6 Hung CI et al (2014), “Metabolic syndrome among psychiatric

outpatients with mood and anxiety disorders”, BMC Psychiatry,

14 (1), 185

7 Janssen I et al (2008), “Menopause and the Metabolic Syndrome‐

The Study of Women’s Health Across the Nation”, Arch Intern

Med, 168 (14), 1568–1575

8 Kozumplik O, Uzun S (2011), “Metabolic syndrome in patients

with depressive disorder‐features of comorbidity”, Psychiatr

Danub, 23, 84‐88

9 Marazziti D et al (2013), “Metabolic syndrome and major

depression”, CNS Spectrums, 19 (4), 293‐304

10 Pan A et al (2012), “Bidirectional Association Between

Depression and Metabolic Syndrome”, Diabetes Care, 35 (5),

1171

11 Ping WJ (2013), “The Impact of Cigarette Smoking on Metabolic

Syndrome”, Biomed Environ Sci, 26 (12), 947‐952

12 Silarova B et al (2015), “Metabolic syndrome in patients with bipolar disorder: Comparison with major depressive disorder

and non‐psychiatric controls”, Journal of Psychosomatic Research,

78 (4), 391‐398

13 Vancampfort D et al (2015), “Risk of metabolic syndrome and its components in people with schizophrenia and related psychotic disorders, bipolar disorder and major depressive disorder: a

systematic review and meta‐analysis”, World Psychiatry, 14 (3),

339‐347

14 Vancampfort D et al (2013), “Metabolic syndrome and metabolic abnormalities in patients with major depressive disorder: a meta‐analysis of prevalences and moderating

variables”, Psychological Medicine, 44 (10), 2017‐2028

15 World Health Organization (1992), “ The ICD‐10 classification of mental and behavioural disorders: clinical descriptions and

diagnostic guidelines”, Geneva, WHO

Ngày nhận bài báo: 31/07/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 04:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w