Để củng cố lại những khiến thức đã học cũng như làm quen với công việc ngoài thực tế thì việc thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn rất quan trọng, tạo điều kiện cho sinh viên cọ sát với
Trang 1TRẦN NHẬT LINH
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG
VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH QUẾ RỪNG
TRỒNG (Cinnamomun cassia Blume) TẠI XÃ ĐÀO
THỊNH, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khóa học : 2015-2019
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2TRẦN NHẬT LINH
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG
VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH QUẾ RỪNG
TRỒNG (Cinnamomun cassia Blume) TẠI XÃ ĐÀO
THỊNH, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của giảng viên TS Trần Công Quân
Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn chung thực, khách quan và chưa công bố trên các tài liệu
Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
TS Trần Công Quân Trần Nhật Linh
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã trang bị cho mình kiến thức cơ bản về chuyên môn dưới sự giảng dạy và chỉ bảo tận tình của toàn thể thầy cô giáo Để củng cố lại những khiến thức đã học cũng như làm quen với công việc ngoài thực tế thì việc thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn rất quan trọng, tạo điều kiện cho sinh viên cọ sát với thực tế nhằm củng cố lại kiến thức đã tích lũy được trong nhà trường đồng thời nâng cao tư duy hệ thống lý luận để nghiên cứu ứng dụng một cách có hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS Trần Công Quân và các thầy cô giáo trong khoa cùng với sự phối hợp giúp đỡ của các cán bộ, lãnh đạo các cơ quan ban ngành của UBND
xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên và các hộ gia đình trong thôn đã tạo mọi điều kiện cho tôi thu thập thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là thầy giáo TS Trần Công Quân người thầy
đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo ý kiến đóng góp của bạn bè để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Trần Nhật Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH vii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Cơ sở khoa học về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng trồng 4
2.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu về hiệu quả kinh tế 6
2.2 Tổng quan các nghiên cứu về cây Quế 9
2.2.1 Nghiên cứu chung về cây Quế 10
2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm về hình thái và sinh thái của cây Quế 12
2.2.3 Kỹ thuật gieo ươm 13
2.2.4 Kỹ thuật trồng rừng 16
2.2.5 Chăm sóc rừng trồng 17
2.2.6.Thu hoạch rừng trồng và thị trường giá cả 18
2.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 20
2.3.1 Điều kiện tự nhiên của xã Đào Thịnh 20
2.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội của xã Đào Thịnh 23
Trang 6Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp chung 27
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu cụ thể 27
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Đánh giá thực trạng trồng Quế tại HTX Quế Hồi Việt Nam, tại xã Đào Thịnh - huyện Trấn Yên 31
4.1.1 Hiện trạng về diện tích trồng Quế của HTX Quế hồi Việt Nam 31
4.2 Sinh trưởng của mô hình quế rừng trồng tại HTX Quế Hồi Việt Nam, xã Đào Thịnh - huyện Trấn Yên 32
4.2.2 Sinh trưởng về chiều cao Hvn của mô hình trồng Quế thuần loài 34
4.2.3 Sinh trưởng về kính tán Dt của mô hình trồng Quế thuần loài 35
4.2.4 Đánh giá chất lượng rừng trồng Quế ở HTX Quế Hồi Việt Nam 37
4.2.5 Thành phần cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng Quế 38
4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình Quế rừng trồng tại HTX Quế Hồi Việt Nam 40
4.3.1 Các thông số sử dụng trong tính toán hiệu quả kinh tế 40
4.3.2 Xác định giá trị thu nhập của các mô hình cho 1ha rừng trồng Quế 41
Trang 74.3.3 Hiệu quả kinh tế cho 01 ha rừng trồng Quế ở từng mô hình tại các mô
hình nghiên cứu 42
4.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững mô hình trồng Quế tại HTX Quế Hồi Việt Nam 43
4.4.1 Giải pháp về giống 43
4.4.2 Giải pháp về thị trường 43
4.4.3 Giải pháp về vốn đầu tư 44
4.4.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 44
4.4.5 Giải pháp về khuyến nông lâm 44
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 9trong một chu kỳ kinh doanh 41 Bảng 4.8 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của 1ha
rừng trồng Quế trong một chu kỳ kinh doanh 15 năm 42 Hình 4.1 Hình ảnh tại rừng quế thuần loài 7 tuổi (mô hình 04) 34 Hình 4.2 Hình ảnh trồng quế thuần loài ở xã Đào Thịnh (mô hình 06) 38
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong các loài cây lâm nghiệp thì cây Quế (Cinnamomum cassia
Blume) được biết đến như một loại cây đặc sản của vùng nhiệt đới Quế không chỉ có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái mà sản phẩm của Quế được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, thực phẩm, y dược, sản xuất công nghiệp và cung cấp gỗ củi Tinh dầu quế là một mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao hiện nay đang được ưa chuộng
Theo tính toán, cứ 120-150 kg lá quế thì chưng cất được 1 kg tinh dầu với giá hiện nay từ 650.000-700.000 đ/kg Do bán được giá và thị trường tiêu thụ ổn định nên các cơ sở chế biến tinh dầu quế ở Yên Bái đang tận thu lá quế
và đua nhau nâng giá thu mua (Nguồn:Ủy ban nhân dân huyện Trấn Yên, năm 2018) Nếu trước đây các hộ chỉ bán lá quế ở những cây khai thác với giá
500-800 đ/kg, đến nay do giá thu mua khá hấp dẫn 1.500-2.500 đ/kg nên các
hộ khai thác lá quế cả ở những cây đang phát triển
Yên Bái là tỉnh có diện tích quế lớn nhất khu vực miền Bắc Việt Nam, tập trung tại các huyện Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn, Yên Bình và Lục Yên
(Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, năm 2016) Hiện nay, cây quế đang
trở thành một trong những cây trồng chủ lực, đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân Yên Bái Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 tỉnh trồng mới 19.500 ha quế, diện tích cây quế toàn tỉnh 76.000 ha với sản lượng vỏ đạt 20.000 tấn và 600 tấn tinh dầu Năm 2017, giá bán quế ổn định ở mức cao, vỏ quế khô bán với giá trung bình từ 30-40 nghìn đồng/kg, lá quế 2-3 nghìn đồng/kg, thân quế từ 15 cm trở lên bán với giá 1,5-1,8 triệu đồng/m3, tinh dầu quế từ 500-600 nghìn đồng/kg
Trang 11Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái, toàn tỉnh
có trên 60.000 ha quế, mỗi năm thu về hơn 800 tỷ đồng, tập trung nhiều nhất tại huyện Văn Yên với diện tích trên 40.000 ha
Ngày 22/7/2018, UBND tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định số 1481/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển cây Quế tỉnh Yên Bái giai đoạn
2020 - 2025, với mục tiêu: Hình thành vùng trồng Quế tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước; Định hướng đến năm 2025, tỉnh Yên Bái có 78.000 ha Quế, sản lượng vỏ Quế khô trên 20.000 tấn/năm, giá trị đạt 500 tỷ đồng/năm, tinh dầu Quế đạt 600 tấn/năm, giá trị đạt trên 400 tỷ đồng/năm
Bình quân mỗi năm toàn huyện trồng mới, trồng thay thế trên 2.500 ha rừng các loại với cơ cấu giống cây trồng chủ yếu là keo lai, keo tai tượng, quế, tre Bát Độ quế hơn 8.000ha [11]
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều mô hình liên kết sản xuất, giữa các doanh nghiệp, HTX với nông dân trồng Quế Trong đó, tiêu biểu là HTX Quế Hồi Việt Nam, địa chỉ tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên; HTX có 22 xã viên, tổng diện tích 500 ha quế Các hộ xã viên được HTX bao tiêu đầu ra với giá cao hơn thị trường Quế được thu mua, phân loại, sơ chế thành 12 loại sản phẩm và xuất khẩu đi Ấn Độ và các nước vùng Trung Đông Trước đây, quế tươi chỉ bán với giá 15.000 đồng/kg, hiện nay giá quế bình quân đã lên 18.000 đồng/kg HTX Quế hồi Việt Nam đang xây dựng mới 01 nhà máy chế biến sản phẩm quế hữu cơ trên địa bàn xã có tổng diện tích là 14.312 m2, công suất từ 80 - 100 tấn quế tươi/tháng, vốn đầu tư 80 tỷ đồng với dây chuyền máy móc hiện đại, dự kiến tháng 10 năm 2018 sẽ hoàn thành
và đi vào hoạt động Đặc biệt, HTX sẽ xây dựng quy trình vùng sản xuất quế hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu sang các thị trường cao cấp với
Trang 12giá trị kinh tế cao; Đồng thời cung cấp cây quế giống đảm bảo chất lượng và các dịch vụ cho thành viên, bao tiêu sản phẩm đầu ra cho người dân
Tuy nhiên, việc đánh giá sinh trưởng rừng trồng Quế và hiệu quả kinh
tế mô hình Quế rừng trồng ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái chưa được nghiên cứu Xuất phát từ thực tế và nhu cầu của HTX Quế Hồi
Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả
kinh tế mô hình quế rừng trồng (Cinamumun cassia Blume) tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”, là rất cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá sinh trưởng rừng trồng Quế tại xã Đào Thịnh
- Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình Quế rừng trồng tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững mô hình Quế rừng trồng tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài góp phần cơ sở khoa học và lý luận về đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình trồng Quế
- Thông qua đánh giá sinh trưởng và hiểu quả kinh tế mô hình trồng Quế nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững các mô hình trồng Quế ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả nghiên cứu là dẫn liệu quan trọng đánh giá đúng sinh trưởng
và hiệu quả kinh tế mô hình trồng Quế cho HTX Quế hồi Việt Nam
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho cán bộ, nhân dân có mô hình trồng Quế tại xã Đào Thịnh
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Cơ sở khoa học về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng trồng
Sinh trưởng của cây rừng và lâm phần là trọng tâm nghiên cứu của sản lượng rừng và là vấn đề có tính chất nền tảng để nghiên cứu các phương pháp
dự đoán sản lượng cũng như xác định hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng xuất của rừng Những nơi trồng rừng khác nhau thì cấp đất của nó lại khác nhau do đó khả năng sinh trưởng và phát triển của cây rừng ở đó cũng khác nhau Vì vậy, chúng ta phải nghiên cứu mối quan hệ giữa loài cây
và cấp đất để rừng trồng không những luôn luôn sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất cao mà còn có chất lượng tốt thì chúng ta phải nghiên cứu điều kiện lập địa trước khi trồng
Đất là nhân tố quyết định sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu trúc sản lượng và tính ổn định của rừng Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên cấu tạo nên đất có ảnh hưởng trực tiếp đặc điểm lý học và hoá học của đất thông qua
đó nó ảnh hưởng tới phân bố, sinh trưởng phát triển của cây rừng và sản lượng rừng
Tất cả các yếu tố khí hậu như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió… đều có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành đất Nó có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp thông qua thảm thực bì Nước và nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất thông qua phá huỷ đá, hoà tan vật chất, xói mòn
Trang 14rửa trôi, tổng hợp và phân giải chất hữu cơ trong đất Khi lượng mưa ở các khu vực khác nhau làm cho hàm lượng sét, dung tích hấp thu và pH trong đất thay đổi Khi lượng mưa tăng làm cho pH trong đất giảm điều nay giải thích tại sao đa số đất ở Việt Nam đa số lại chua vì lượng mưa lớn từ 1500 - 2000 mm/năm Khi lượng mưa tăng làm cho quá trình khoáng hoá dẫn đến hàm lượng sét tăng lên kéo theo dung tích hấp thu lại tăng Ngược lại khi mưa nhiều đã rửa trôi các cation kiềm và kiềm thổ dẫn đến hàm lượng mùn và độ chua tăng [6,7] Chế độ nước, nhiệt độ trong đất và độ sâu tầng đất là nhóm nhân tố ảnh hưởng quyết định đến phân bố hình thái và sự phát triển của hệ rễ thông qua đó ảnh hưởng đến tính ổn định của quần thể rừng
Đá mẹ dưới tác dụng của các yếu tố ngoại cảnh tạo thành mẫu chất Sinh vật đã hút chất dinh dưỡng từ mẫu chất do đá vỡ vụn ra để sinh sống và khi chết đi lại tạo ra một lượng chất hữu cơ Cứ như vậy sinh vật ngày càng nhiều và lượng chất hữu cơ tạo ra ngày càng nhiều hơn nên mẫu chất chuyển thành đất ngày càng tăng Ngoài ra, vi sinh vật làm nhiệm vụ tổng hợp và phân giải chất hữu cơ và cố định đạm từ khí trời Trong quá trình phân giải vi sinh vật một mặt chuyển hoá các chất hữu cơ thành các chất khoáng đơn giản
để nuôi sống cơ thể chúng, mặt khác nó lại tổng hợp nên một dạng chất hữu
cơ đặc biệt trong đất Đó là hợp chất mùn - thành phần cơ bản trong đất Ngoài ra, động vật chúng chuyển hoá vật chất qua hoạt động sống, các vật chất khi qua cơ thể động vật trong đất đã chuyển hoá thành các chất dễ tiêu cho cây và có tác dụng xới xáo làm cho đất tơi xốp [7]
Nhìn chung độ phì của đất có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống của cây rừng, đá mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm lý hoá học của đất thông qua đó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây rừng và của rừng Ngược lại, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất các đặc tính lý hoá học của đất và vi sinh vật đất Thực vật màu xanh có tác dụng
Trang 15đến quá trình phong hoá đá tăng cường tích luỹ chất hữu cơ trong đất Với chức năng tự quang hợp, thực vật màu xanh đã tạo nên một lượng sinh khối lớn và khi chết đi đã trả lại cho đất toàn bộ lượng vật chất khô đó Thông thường 1ha cây xanh có thể trả lại cho đất bằng cành khô lá rụng cả nó khoảng20 - 25 tấn/năm Chất hữu cơ từ xác thực vật đã làm tăng hàm lượng mùn trong đất, làm cho đất có kết cấu tốt hơn, chế độ nhiệt, nước thuận lợi hơn Điều kiện khí hậu thuận lợi và thành phần vi sinh vật trong đất phong phú lại đóng góp tích cực vào quá trình phân giải thảm mục để biến thành mùn Cây bụi thảm tươi là thành phần quan trọng trong quần xã rừng Mối quan hệ giữa cây bụi thảm tươi và cây rừng vừa có lợi vừa có hại Lợi ích của cây bụi thảm tươi tham gia vào quá trình hình thành đất, thông qua vật rơi rụng và sự hoạt động của hệ rễ Nó đóng vai trò vào quá trình tuần hoàn nước, ngăn dòng chảy và tăng lượng nước thấm vào trong đất Cây bụi thảm tươi tham gia vào quá trình hình thành nên tiểu khí hậu của rừng, làm phong phú thành phần động vật, vi sinh vật rừng Về mặt kinh tế nhất là ở vùng nhiệt đới
là các lâm sản có giá trị ví dụ là các loài cây dược liệu Bên cạnh đó thực vật thảm tươi cũng ảnh hưởng không tốt đến cây rừng Nó ảnh hưởng trực tiếp đến tái sinh rừng, lửa rừng vì vậy ta phải xử lý thực bì trước khi trồng, cạnh tranh nước, ánh sáng, chất dinh dưỡng đối với cây rừng nhất là đối với cây mới trồng
Vì vậy, biện pháp chăm sóc ở rừng trồng chưa khép tán nên tập trung vào điều chỉnh mối quan hệ giữa rừng mới trồng với cây bụi thảm tươi Cây bụi thảm tươi rất mẫn cảm với độ chua của đất và có tác dụng chỉ thị tốt cho điều kiện môi trường đánh giá khả năng chỉ thị phải căn cứ vào loài cây, tình hình sinh trưởng phát triển (số lượng và chất lượng), tính phổ biến của chúng
và phải giữ được bộ mặt nguyên sinh chưa có tác động của con người.[6,7]
2.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu về hiệu quả kinh tế
Trang 162.1.2.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
* Quan điểm 1:
Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong các hoạt động kinh tế Ví dụ: Năng suất cây trồng, trọng lượng xuất chuồng và gia súc… Đây là quan điểm
đã ra đời từ lâu, quan điểm này đánh giá đồng nhất giữa kết quả và hiệu quả
mà không tính toán đến chi phí sản xuất
* Quan điểm 2:
Quan điểm hiệu quả kinh tế xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm
xã hội (GNP, GDP) Tuy nhiên trong thực tế cũng có trường hợp GDP, GNP
tăng nhưng nhịp độ tăng chi phí cũng cao
* Quan điểm 3:
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng một loại sản phẩm hàng hoá mà không cắt giảm một lượng sản phẩm hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả phải nằm trong giới hạn khả năng của nó
Quan điểm này được coi hiệu quả kinh tế là mức độ thoả mãn quy luật kinh tế cơ bản đảm bảo nhu cầu con người Đối với nước ta hiệu quả không phải mục tiêu mà là phương tiện nâng cao mức sống của nhân dân, phải xác định bằng các lượng hoá, bằng các phương pháp đo lường trong kinh tế chứ không phải chỉ quan tâm đến vai trò và tác dụng của nó
* Quan điểm 4:
Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất mà hữu ích của sản phẩm được tạo ra chỉ phản ánh được một mặt nào đó của sản phẩm tạo ra Quan điểm này chưa toàn diện
* Quan điểm 5:
Một nền kinh tế được gọi là có hiệu quả là nền kinh tế nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó mà giới hạn khả năng sản xuất được đặc
Trang 17trưng bởi chỉ tiêu sản phẩm quốc dân tiềm năng, có nghĩa là tổng sản phẩm cao nhất có thể đạt được ở mức nào đó tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
* Quan điểm 6:
Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ nhất định, nó góp phần làm tăng lợi nhuận xã hội của nền kinh tế quốc dân Quan điểm này gắn liền chi phí với hiệu quả thu được, coi kết quả là nội dung phản ánh trình độ sản xuất Bản chất của hiệu quả là sự vận hành của quy luật tiết kiệm thời gian [8]
2.1.2.2 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Được sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật, công nghệ được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong sản xuất nói chung Hiệu quả phân phối: Là giá trị sản phẩm tăng thêm trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt được
cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối, điều đó có nghĩa là hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất… Như vậy hiệu quả kinh tế là mục tiêu xuyên suốt các hoạt động kinh tế Nó không phải là mục tiêu duy nhất mà trong nền kinh tế xã hội người ta còn quan tâm đến cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [6,8]
* Hiệu quả kinh tế
Là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đến tất cả các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế
Trang 18Trong việc sử dụng đất trước hết phải sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm càng nhiều hàng hoá với giá thành hạ, chất lượng của sản phẩm và năng suất lao động cao, tích luỹ tái sản xuất mở rộng không ngừng [8]
* Hiệu quả xã hội
Có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Nó phản ánh trên các khía cạnh như các vấn đề việc làm, thất nghiệp, tỷ lệ nghèo đói, trình độ dân trí… Đời sống của nông thôn không ngừng được nâng cao, thực hiện dân chủ công bằng văn minh xã hội, xoá dần các tệ nạn xã hội, phát huy được những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng
* Hiệu quả môi trường sinh thái
Đây là chỉ tiêu hiệu quả được tất cả các nước cũng như nhiều người quan tâm Làm thế nào để trong hoạt động sản xuất kinh doanh không làm tổn hại đến môi trường mà bảo vệ và cải thiện được môi trường sinh thái nông thôn Sử dụng đất đai không chỉ tăng tổng giá trị sản phẩm, tăng tổng sản phẩm hàng hoá, đem lại nhiều lợi nhuận, nhưng nguồn tài nguyên không bị tàn phá, đất đai không bị xói mòn, rửa trôi, rừng không bị chặt phá, nguồn nước không bị ô nhiễm, thuỷ lợi, thuỷ văn không bị xấu đi
Phải đảm bảo cả ba mặt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái thì việc sử dụng đất đai mới được bền vững lâu dài, nó phải bao trùm lên toàn
bộ phương hướng và sử dụng đất đai theo kế hoạch và quy hoạch chung của
sử dụng đất đai phù hợp với từng thời kỳ, từng vùng, từng nơi cụ thể
Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái có liên quan chặt chẽ với nhau hỗ trợ cho nhau và không thể thay thế cho nhau Không thể coi nhẹ một vấn đề nào, tuy nhiên từng vùng cụ thể, từng thời gian
cụ thể mà xem xét giải quyết từng mặt hiệu quả có khác nhau [6,8]
2.2 Tổng quan các nghiên cứu về cây Quế
Trang 192.2.1 Nghiên cứu chung về cây Quế
Theo các nhà thực vật học, ở Việt Nam có nhiều loài quế, nhưng trong
sản xuất có 3 loài quế phổ biến: Quế rừng (Cinnamomum obtusifolium Roxb) (Cinnamomum loureirii C Nees), có trong rừng tự nhiên Trường sơn, Quế quan (Cinnamomum zeylanicum Blume) (Cinnamomum verum J S Presl.) ở
Tây Ninh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Bái Thượng (Thanh Hóa), Quì Châu (Nghệ An)
và Quế đơn quế bì (Cinnamomum cassia Bl) được trồng ở Yên Bái, Quảng
Ninh, Thái Nguyên, Quảng Nam
Diện tích trồng quế và sản lượng quế tăng lên nhanh chóng từ khi Lâm nghiệp xã hội phát triển Quế có thể được trồng tập trung và phân tán trong vườn hộ gia đình Vì có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ nên cây quế được các dự án Lâm nghiệp xã hội chọn làm cây trồng chủ yếu, đặc biệt
là các chương trình xoá đói giảm nghèo Tình hình trồng Quế có thể thấy qua bảng thống kê dưới đây
Sự phát triển của việc trồng quế trong đất Lâm nghiệp cho các hộ gia đình và có sự kích thích của thị trường xuất khẩu.Trong thời gian trước 1990 diện tích trồng Quế trong một số vùng giảm vì mất thị trường Đông Âu, nhiều diện tích Quế bị phá Sau đó, việc xuất khẩu lại được tiếp tục với chính sách,
cơ chế xuất khẩu mang lại lợi ích cao hơn nên trồng Quế được nông dân phát triển mạnh
Vỏ Quế Thanh chiếm tới 80% tổng lượng vỏ quế sản xuất có thương hiệu quốc tế “Saigon cassia” “Royal cassia” được ưa chuộng trên thị trường
từ lâu Quế được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu nhưng lượng quế dùng trong nước không nhiều, chủ yếu để làm gia vị và dược liệu
Ngày nay Quế được xuất khẩu đi Hồng kông, Singapore, Nhật, Pháp, Canada và Mỹ Thị trường thế giới tiêu thụ khoảng 20.000-30.000 tấn vỏ quế/năm Mỹ tiêu thụ Quế nhiều nhất, khoảng 7000 tấn/năm; Nhật, Mehico,
Trang 20Đức, mỗi nước tiêu thụ khoảng 1000 tấn/năm; Anh, Hà lan, Pháp, mỗi nước
500 tấn/năm Trên thị trường Quế của Indonesia chiếm thị phần 60%, còn lại
là từ Trung quốc, Việt nam, Sri-lanca, Xây-xen, Madagascar cũng xuất khẩu Quế (nhưng là loài khác) với khối lượng khoảng 6000 tấn/năm.Giá quế ở châu
Âu 1800 EU/tấn (1997) trên thị trường trong nước giá từ 10.000 VND đến 15.000 VND/kg
Xuất khẩu Quế không ổn định biến đổi hàng năm phụ thuộc tình hình cung cầu trên thị trường.Việt nam chỉ xuất khẩu được trung bình 3.000 tấn/năm vỏ Quế bì với giá trung bình trên 4000 USD/tấn Đặc điểm của Quế
bì Cây Quế bì cao 10-20m; cành non có phủ lông ngắn; lá mọc so le, hình bầu dục, dầy, gân chẽ ba, mặt trên của lá bóng, hơi nhám ở mặt dưới Quả hình khối bầu dục, màu tím-nâu khi chín Quế bì nguyên sản ở phía Bắc Việt Nam
và Nam Trung Hoa, ngày nay được trồng ở nhiều vùng ở Việt Nam
Chất lượng của vỏ Quế biểu hiện ở chiều dầy, hàm lượng tinh dầu và thành phần của tinh dầu Nhưng những chỉ số này còn phụ thuộc vào độ cao của lập địa trồng Quế Kết quả nghiên cứu ở Trà My (Quảng Nam) cho thấy ở đai cao trên 700m, cây có đường kính 22-25 cm cho vỏ dầy 0,7-1,0 cm, hàm lượng tinh dầu 4-4,5% vào tháng 9, hàm lượng aldehyt cinnamic lên tới 88%, trong khi ở đai thấp 200-300 m, chỉ số đó còn 84% (Ngô Quế - Viện Khoa học Lâm nghiệp)
Về tuổi khai thác vỏ, mỗi vùng có kinh nghiệm riêng, ở Miền Bắc (Thái Nguyên, Quảng Ninh…) người ta khai thác vỏ quế khi cây 10 tuổi; ở Trà Bồng (Quảng Nam) ở tuổi 6-7, nhưng ở Sơn Hà (Quảng Ngãi) cây 15-20 tuổi mới được bóc vỏ
- Khối lượng riêng: d15 = 1,045-1,052 - Độ quay cực: 1,602-1,608 -
Độ hòa tan trong các dung môi: Ít tan trong nước, tan hoàn toàn trong ethylic, cloroform
Trang 21- Thành phần hoá học: Aldehyt cinnamic (65-80%); Các hợp chất Phenol (4-12%), nhiều nhất là Eugenol, phellandren, Safrol, Furfurol, Aldehyt orthometylcoumaric, Acetat cinnamyl Kết quả phân tích của Phòng Hóa Lâm sản, thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp tiến hành với mẫu Quế lấy ở Hoành Bồ (Quảng Ninh) cho thấy thành phần hoá học của tinh dầu từ lá và cành khác từ
vỏ chủ yếu về lượng của các cấu tử
Hàm lượng tinh dầu của vỏ cao hơn nhiều so với cành và lá.Vỏ của cành có hàm lượng tinh dầu chỉ bằng 50% so với vỏ của thân cây.Tuy vậy, vỏ của cành hàm lượng aldehyt cinnamic cũng tương đương với vỏ thân vì vậy
vỏ cành cũng được coi là thương phẩm với tên là “Quế chi” (cành quế), giá thấp hơn so với vỏ Quế thân cây Lá chứa rất ít tinh dầu với hàm lượng aldehyt cinnamic cũng thấp và đặc biệt hàm lượng Eugenol cao làm cho tinh dầu từ lá có mùi thơm khác với tinh dầu từ vỏ tinh dầu từ lá cũng là thương phẩm nhưng với giá thấp hơn nhiều so với tinh dầu vỏ
2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm về hình thái và sinh thái của cây Quế
a) Đặc điểm hình thái
Quế có tên khoa học Cinnamomum cassia Blume, thuộc họ Long não
(Lauraceae) Là loài cây gỗ nhỡ, sống lâu năm, cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm Lá đơn hình trứng ngược, mọc cách có 3-5 gân cùng gốc, mặt trên xanh bóng, mặt dưới xanh đậm Thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc
Rễ phát triển mạnh, cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau Vì thế quế có khả năng sống tốt trên các vùng đồi núi dốc Cây 7- 8 năm tuổi bắt đầu có hoa, hoa nở vào tháng 4-5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau Quả non
có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng có một hạt Một
kg hạt có từ 2.500 - 3.000 hạt
b) Đặc điểm sinh thái
Trang 22Quế là loài cây thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều, lượng mưa từ 2000 mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 210 -
230C, độ ẩm bình quân trên 80% Quế sinh trưởng tốt trên vùng đất có độ dốc thoải, tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, nhưng phải thoát nước, độ pH khoảng 5 -
6, phát triển tốt trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granít Quế không thích hợp với các loại đất đã thoái hoá, tầng đất mỏng, khô, nghèo dinh dưỡng, đất đá ong hoá, đất chua phèn, đất ngập nước và đất đá vôi khô.Độ cao thích hợp từ 300 - 700m so với mặt nước biển.Theo kinh nghiệm của nhân dân vùng có quế cho biết ở vùng cao cây quế có xu hướng thấp lùn, chậm lớn nhưng vỏ dày và có nhiều dầu Quế lúc còn nhỏ cần che bóng từ 20-30%, khi 2-3 tuổi quế hoàn toàn ưa sáng
c) Công dụng của cây Quế
Các bộ phận của cây quế như: Vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4-5% Tinh dầu quế có màu vàng, vị thơm, cay, ngọt thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70-90% dùng trong y dược, hoá mỹ phẩm và thực phẩm
2.2.3 Kỹ thuật gieo ươm
a) Chuẩn bị vườn ươm
Phải là nơi đất tốt, thoát nước, không bị úng ngập, gần nguồn nước sạch, gần hiện trường trồng rừng và đường giao thông Vườn ươm phải có giàn che, độ che phủ bên trên 70-80% và che tủ cả 4 bên, đặc biệt hướng Tây
và Bắc cần che kín
* Vườn ươm tạo cây con trồng rễ trần
Chọn đất tơi xốp, cuốc xới lượm sạch cỏ dại, gốc cây Làm luống gieo ươm cao 20 cm, bề mặt luống rộng 1m Gieo hạt theo rạch, rạch cách rạch 10cm, hạt cách hạt 2-3 cm, gieo xong lấp đất mịn phủ kín hạt ở độ sâu 1-1,5cm
Trang 23* Vườn ươm tạo cây con có bầu
- Túi bầu: Là túi PE có kích thước 9x14 hoặc 10x16 (cm), được chặt bỏ
2 góc hay đục 4-8 lỗ ở phần dưới của bầu
- Ruột bầu: Gồm 80-90% đất mùn tơi xốp + 20-10% phân chuồng hoai
có ủ 1-2% supper lân Đất dùng để làm hỗn hợp bầu cần qua sàng để lọc đá,
b) Xử lý hạt giống
Hạt quế cần gieo ngay sau khi thu hoạch, nếu bảo quản tốt chỉ để được 7-10 ngày, nếu để lâu hạt sẽ giảm tỷ lệ nảy mầm Trái thu hái về ủ 1-2 ngày cho chín đều, sau đó ngâm vào trong nước chà xát đãi bỏ vỏ và hạt lép Hạt sau khi chế biến ngâm trong nước ấm 400C trong 12 giờ, vớt ra rửa sạch rồi ủ trong cát ẩm Hàng ngày kiểm tra và tiếp ẩm đảm bảo đủ độ ẩm để hạt nẩy mầm
c) Cấy mầm hạt
Sau ủ 5-7 ngày hạt nứt nanh, lựa hạt có mầm cấy vào bầu Khi hạt đã nứt nanh cấy vào bầu, cấy 1 mầm/ bầu, ở độ sâu 1-1,5cm và phủ kín hạt bằng đất tơi mịn Có thể cấy cây con lúc vừa nhú hình kim hay 4-5 cặp lá vào bầu
d) Chăm sóc cây ươm
- Che tủ: Chú ý giàn che bên trên và xung quanh Sau 6-7 tháng cây ổn định, cần dỡ bỏ bớt giàn che chỉ còn từ 30-50% và dỡ dần trước lúc trồng 1 tháng chỉ còn lại 20-30% Giàn che có thể làm bằng lá, nứa đập giập hay lưới nilông sẫm màu
Trang 24- Tưới nước: 15 ngày đầu sau khi cấy mầm (gieo hạt), tưới nước bằng hoa sen lỗ nhỏ (2 lần/ ngày vào lúc sáng sớm và chiều mát) luôn giữ ẩm cho luống cây Về sau có thể tưới nước ngày 1 lần, đảm bảo đất trong bầu (luống)
đủ ẩm để cây sinh trưởng
- Làm cỏ: Hàng ngày tưới nước kết hợp nhổ cỏ cho cây Định kỳ 20-30 ngày làm cỏ, xới váng cho cây 1 lần Nhất là sau những trận mưa dài ngày nên xới váng ngay để cây được thông thoáng
có bệnh thì phun trừ theo từng loại:
+ Rầy nhớt: Theo dõi thấy xuất hiện rầy nhớt cần phun Actara, confidor
+ Bệnh lỡ cổ rễ: Thường xuất hiện vào giai đoạn cây con từ 2-3 tháng tuổi Nếu độ ẩm cao, mưa nhiều có thể làm cho cây con chết hàng loạt Loại thuốc thường dùng là: Boóc đô nồng độ 1%, Benlát C,
Anvil các loại thuốc trừ bệnh có gốc đồng (Cu)
+ Bệnh nám lá, thán thư: Thường xuất hiện lúc cây con từ 5-6 tháng tuổi khi mà nhiệt độ cao, độ ẩm không đảm bảo, thì phun thuốc: Champion, Score các loại thuốc có gốc lưu huỳnh (S)
+ Bọ xít nâu: Thuốc trị Admire 50EC
+ Sâu đục cành: Dipterec
Trang 25* Lưu ý: Liều lượng sử dụng theo chỉ dẫn ghi ở bao bì Thời gian phun vào lúc sáng sớm sau khi ráo sương Khoảng cách giữa 2 lần phun là 3-7 ngày
và phun 2-3 lần liên tục cho đến khi hết bệnh
- Đảo bầu, phân loại cây:
+ Lần 1: Khi cây cao 8-10 cm
+ Lần 2: Khi cây cao 15 -20 cm
+ Lần 3: Trước khi xuất trồng 1 tháng để cây cứng, khỏe
2.2.4 Kỹ thuật trồng rừng
a) Chọn đất trồng rừng
- Đất đồi tương đối tốt, ẩm
- Trồng quế dưới tán rừng nghèo kiệt hoặc rừng mới phục hồi sau nương rẫy
- Trồng trong vườn, trồng xen theo hình thức nông lâm kết với với các loài cây ăn quả
- Nếu trồng thuần loài thì bố trí mật độ 3.300-5.000 cây/ ha
- Nếu trồng xen với các loài cây khác thì bố trí theo mật độ 1.670cây/ ha
800-c) Chuẩn bị đất trồng rừng
* Phát dọn thực bì
Trang 26- Phát theo băng: Nếu trồng dưới tán rừng thì luống phát theo băng, băng phát 3,0 m, băng chừa 1,0 m Phát thực bì cỏ dại có trong băng phát, chiều cao gốc chặt không quá 10 cm, thỉnh thoảng để lại những cây lớn để che phủ
- Bón phân lót, lấp hố: Bón 0,2-0,5 kg phân lân vi sinh/ hố hoặc
0,02-0,03 kg NPK/ hố, trộn đều phân vào đất và lấp đầy hố trước khi trồng ít nhất 5-7 ngày
e) Kỹ thuật trồng cây
* Tiêu chuẩn cây giống:
- Cây có bầu: Cao 20-30 cm có từ 4-5 cặp lá, có ngọn, cây khoẻ
- Cây rễ trần: Cao từ 25-35 cm có từ 4-5 cặp lá, cây khoẻ, không sâu bệnh, cụt ngọn
- Trồng cây có bầu:
Dùng cuốc khoét 1 lỗ nhỏ, rạch bỏ túi bầu, đặt cây ngay ngắn giữa lỗ, tém đất vào gốc và ém chặt bầu từ ngoài vào trong và từ trên xuống dưới
- Trồng cây rễ trần: Cây sau khi nhổ xong phải hở rễ Dùng cuốc cuốc 1
lỗ sâu hơn chiều dài rễ, đặt cây ngay ngắn giữa lỗ, kẹp thân cây giữa 2 ngón chân tém đất vào gốc và dện chặt lum dạng mu rùa
* Chú ý: Lựa cây theo cỡ chiều cao bố trí trồng trên khoảnh đất để có
điều kiện chăm sóc giúp rừng cây sinh trưởng đều
2.2.5 Chăm sóc rừng trồng
Trang 27Chăm sóc liền 3-5 năm sau khi trồng, mỗi năm chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 2-3, lần 2 vào tháng 8-9 Nội dung chăm sóc gồm: Trồng dặm, dẫy cỏ tém gốc, bón phân, rong tỉa cành, phòng trừ sâu bệnh và quản lý bảo vệ rừng trồng Cần lưu ý điều chỉnh ánh sáng hợp lý để cây nhanh lớn và vỏ dày hơn
- Chú ý cây che bóng: Khi cây mới trồng đến tròn 1 năm tuổi cần có độ che bóng từ từ 30-40%, tránh ánh sáng Khi quế được 2 năm tuổi phát bỏ cây che bóng
- Phát dọn thực bì, cỏ dại, gỡ dây leo quấn quanh thân cây
- Dẫy cỏ, xới xáo quanh gốc: Dẫy sạch cỏ dại quanh gốc cây và xới xáo xung quanh gốc sâu 10-15cm, rộng 0,6-0,8 m
- Bón phân: Bón phân NPK 16-16-8.13S, với liều lượng 0,1kg/gốc/năm
0,05 Phòng trừ sâu bệnh:
+ Sâu: Sâu ăn lá, sâu đo, sâu đục thân thì dùng Trebon, Lanat
+ Bệnh: Bệnh đốm lá, bệnh tua mực: cần vệ sinh rừng sạch sẽ thông thoáng đề phòng bệnh Nếu có bệnh thì dùng Anvil, Bavistin
* Chú ý: Liều lượng và cách dùng theo chỉ dẫn ghi ở bao bì
2.2.6.Thu hoạch rừng trồng và thị trường giá cả
a) Thu hoạch rừng trồng
Tại Quảng Ngãi có 2 mùa thu hoạch đó là tháng 2-3 và 7-8 Có 2 phương thức thu hoạch
* Thu hoạch 1 lần (khai thác trắng):
Khi rừng trồng đạt tiêu chuẩn sản phẩm (có đường kính từ 15 cm trở lên) có thể khai thác trắng 1 lần Sau đó làm đất và trồng lại
* Thu hoạch chọn (khai thác chọn):
Trang 28- Sau 4-5 năm chọn những cây cong queo, sâu bệnh, những cây sinh trưởng kém Khai thác và chừa lại những cây sinh trưởng tốt tiếp tục nuôi dưỡng
- Cũng có thể sau 4-5 năm, chọn những cây sinh trưởng tốt lớn hơn ở trong rừng để khai thác trước và khai thác dần cho đến hết (cách này chỉ sử dụng cho những ai thiếu vốn) Trên một cây quế có thể chặt ngã cây và khai thác tất cả vỏ một lần hoặc cũng có thể khai thác vỏ nhiều lần trong nhiều năm trên một cây
bị nứt rạn, cũng có thể lau sạch thanh quế, lau khô nước lòng thanh quế trước khi đem ủ để tránh mốc
c) Thông tin thị trường và giá cả
* Thông tin
Vào ngày 30 tháng 8 năm 2010 Quảng Ngãi đón nhận thương hiệu Quế Trà Bồng Hàng năm Quảng Ngãi khai thác khoảng 500 tấn quế vỏ
Trang 29* Giá cả
- Quế xô: - Quế thanh:
+ Quế tươi: 8.000 đ/ kg + Quế miền Bắc: 20.000 đ/ kg + Quế khô: 15.000đ/kg + Quế địa phương: 24.000đ/ kg + Quế miền Bắc: 14.000 đ/ kg
+ Quế địa phương: 18.000 đ/ kg
* Chú ý: Cây càng lớn, vỏ càng dày, giá trị càng cao
2.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
2.3.1 Điều kiện tự nhiên của xã Đào Thịnh
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Đào Thịnh là xã vùng cao miền núi của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, cách trung tâm huyện 8km Toàn xã có 7 thôn, dân số 2783 nhân khẩu với tổng diện tích đất tự nhiên là 1.342,84 ha, xã Đào Thịnh có ranh giới hành
chính như sau:
- Phía Bắc giáp xã Tân Đồng
- Phía Nam và Nam Tây Nam giáp xã Quy Mông
- Phía Đông và Đông Bắc giáp xã Việt Thành
- Phía Tây và Tây Bắc giáp xã Báo Đáp
Xã Đào Thịnh có đường quốc lộ tỉnh chạy qua trung tâm xã, vị trí của
xã liền kề với tỉnh lộ 163 rất thuận tiện cho việc phát triển kinh tế xã hội của
xã là vùng đồi núi cao, độ cao trung bình là 200m so với mực nước biển Các đỉnh cao nằm ở ranh giới phía Tây, phía Đông, phía Bắc của xã Vì vậy địa thế của xã Đào Thịnh hình thành vùng núi cao, gồm nhiều khe suối đáng kể tập trung thành một nhánh chảy ra sông Hồng
2.3.1.2 Địa hình địa thế
Trang 30Đào Thịnh có địa hình bán sơn địa, cao ở phía Bắc và phía Tây, thấp dần về phía Nam, là vùng đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 1500 - 2000m Các đỉnh cao gần 2500m nằm ranh giới phía Bắc, phía Tây của xã Vì vậy địa thế của xã Đào Thịnh hình thành một máng trũng thấp dần về phía Bắc, gồm nhiều khe suối đáng kể tập trung thành một nhánh chảy ra sông Hồng
+ Phía Bắc và phía Tây không được bằng phẳng, hệ thống ruộng đa số
là ruộng bậc thang nhưng có chênh lệch về độ cao giữa các ruộng không lớn,
hệ thống kênh mương tại đây hàng năm được nạo vét tu bổ
+ Phía Nam và phía Đông Nam địa hình tương đối bằng phẳng tạo nên vùng trồng lúa và các cây công nghiệp ngắn ngày, hệ thống ao hồ, kênh mương tại đây tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
2.3.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Các chỉ tiêu khí hậu như nhiệt độ không khí, lượng mưa và độ ẩm không khí bình quân của các tháng (từ năm 2007 đến năm 2017) tại khu vực nghiên cứu được thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu khí hậu bình quân của tháng trong năm
Tháng Nhiệt độ không
khí TB ( 0 C)
Lượng mưa TB (mm)
Trang 31(Nguồn số liệu tại trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Yên Bái)
Đào Thịnh mang đặc điểm khí hậu miền núi và trung du phía Bắc, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,230C Tổng lượng mưa trung bình/năm 1.876 mm Độ ẩm không khí trung bình 8,04% Mùa hè nóng bức mưa nhiều, tháng nóng nhất là tháng 6 nhiệt độ
có ngày lên tới 39,6oC Mùa mưa kéo dài từ tháng 5đến tháng 9 Số ngày mưa trung bình 11 ngày Mùa đông nhiệt độ xuống thấp có ngày rét đậm nhiệt độ khoảng 12-10oC, thời tiết khô hanh xuất hiện sương muối từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Đào Thịnh cũng chịu ảnh hưởng của bão và chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc
Hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, gió Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 9 Nhìn chung khí hậu và thời tiết của xã Đào Thịnh tương đối thuận lợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi
Về thủy văn: Xã có hệ thống sông, suối chảy qua các thôn dài 8 km Ngoài ra còn có một số ao hồ nhỏ Nước suối là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sản xuất của nhân dân Do hệ thống thủy lợi của xã hạn chế, hệ thống ao hồ
ít chỉ có suối chảy qua nên nhân dân trong vùng thường thiếu nước để canh tác đặc biệt là mùa khô
2.3.1.4 Địa chất và đất đai
Địa bàn xã Đào Thịnh khá rộng 1.342,84 ha trong đó chủ yếu là đất đỏ Feralit đỏ vàng phát triển phiến thạch sét
Trang 32- Đất Feralit trên nền đá thạch sét
- Đất dốc tụ và đất Feralit biến đổi do trồng lúa
- Đất Feralit mùn trên núi thấp, phong hoá chậm
Nhìn chung đất có thành phần cơ giới trung bình, tầng đất dầy khoảng 50cm Một số diện tích đất bằng ở thung lũng, khe núi đã trải qua một thời gian dài canh tác nên đất đai của xã Đào Thịnh bị xói mòn, thoái hóa mạnh ở một số khu vực Đất đồi trên địa bàn nghèo dinh dưỡng, cằn khô chỉ trồng thông, hồi và bạch đàn là phù hợp
Xã Đào Thịnh có tổng diện tích tự nhiên là: 1342,84 ha, trong đó: Đất nông nghiệp là: 1.224,94 ha, chiếm 91,21% tổng diện tích tự nhiên (gồm: Đất sản xuất nông nghiệp: 147,60 ha; Đất lâm nghiệp: 826,97 ha); Đất phi nông nghiệp: 118,44 ha, chiếm 8,55% diện tích tự nhiên; Đất chưa sử dụng: 0 ha, chiếm 0% tổng diện tích tự nhiên; Như vậy, Đào Thịnh có diện tích đất lâm nghiệp là tương đối lớn, nhiều hộ dân có cuộc sống dựa vào rừng, tuy nhiên việc lập kế hoạch sử dụng đất như thế nào để phát triển được điều kiện kinh tế của các hộ dân nói riêng, kinh tế xã hội xã Đào Thịnh nói chung là điều cần thiết
2.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội của xã Đào Thịnh
2.3.2.1 Dân cư và phân bố dân cư
Xã Đào Thịnh có 7 dân tộc anh em cùng chung sống, với phong tục tập quán của từng dân tộc khác nhau Do đặc điểm tự nhiên và phong tục tập quán của từng dân tộc nên các khu dân cư của xã được phân bố ở khắp địa bàn tập trung thành 7 thôn
Theo số liệu điều tra năm 2018 toàn xã có 2783 nhân khẩu với 780 hộ gồm 1600 nam, 1183 nữ Trong đó: Dân tộc Nùng có 8 hộ với 34 khẩu, dân tộc Tày có 64 hộ với 225 khẩu, dân tộc Kinh có 708 hộ với 2524 khẩu Số