luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam có chiều dài bở biển là 3260km, 112 sông, 12 đầm phá lớn nhỏ vàtrên 4000 hải đảo Có thể nói tiềm năng thủy vực của nước ta rất lớn thuận lợi cho việcphát triển ngành thủy sản nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng Thủy sản là mộttrong những thế mạnh của Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thếgiới đạt 18%/năm giai đoạn 1998 - 2008 Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của ViệtNam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng đạt gần 2,5 triệu tấn và khai thác đạt trên 2,1triệu tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ
13 về sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới Cũng trong năm này, Việt Nam xuấtkhẩu được trên 4,5 tỷ USD hàng thủy sản, đứng thứ 6 về giá trị xuất khẩu thủy sản
Ngành nuôi trồng thủy sản là một ngành sản xuất vật chất quan trọng trongngành thủy sản cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Ngày nay, con ngườiđang có xu hướng chuyển sang tiêu dùng sản phẩm thủy sản thay cho sản phẩm độngthực vật thông thường khác Trong khi đó, sản lượng thủy sản khai thác lại đang có xuhướng giảm do tình trạng khai thác quá mức và tình trạng ô nhiễm môi trường Do đó,ngành nuôi trồng thủy sản càng ngày càng trở nên quan trọng trong việc đáp ứng nhucầu về thủy sản của con người và bổ sung, bù vào nguồn lợi thủy sản bị khai thác.Trong đó, tôm, cua, cá là những sản phẩm thủy sản được người tiêu dùng ngày nay ưachuộng Việc phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi tôm xuất khẩu trongnhững năm gần đây đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần xóa đói giảmnghèo, nâng cao đời sống cho rất nhiều hộ dân Tuy nhiên, nghề NTTS nước lợ đã vàđang bộc lộ các tác động tiêu cực tới sinh thái vùng ven biển Hiện tượng nuôi hàngloạt, không có quy hoạch tổng thể và cụ thể, không tuân thủ theo các biện pháp kĩthuật cũng như tính cộng đồng của bà con chưa được đồng bộ đã làm cho môi trườngnước bị ô nhiễm nghiêm trọng, dịch bệnh bùng phát, ảnh hưởng tới sản lượng cũngnhư đời sống của người dân Việc phát triển mô hình nuôi xen ghép nhiều đối tượng
Trang 2trong cùng một ao nuôi đã trở thành một biện pháp nhằm tăng tận dụng diện tích aonuôi, tăng hiệu quả của hoạt động NTTS cho ngư dân.
Huyện Phú Vang được xem là một trong những huyện phát triển NTTS sớmnhất tỉnh Thừa Thiên Huế Sở dĩ như vậy bởi huyện Phú Vang có những điều kiệnthuận lợi nhất định về điều kiện đất đai cũng như thời tiết khí hậu để phát triển NTTS.Việc phát triển NTTS từ lâu đời đã mang lại cho ngư dân nơi đây rất nhiều kinhnghiệm trong lĩnh vực NTTS Do đó, việc phát triển mô hình nuôi xen ghép tại huyệnPhú Vang sẽ có nhiều thuận lợi hơn so với những vùng không có nhiều kinh nghiệmNTTS
Nằm trong địa bàn huyện Phú Vang, xã Phú Mỹ cũng là xã có truyền thốngNTTS từ lâu đời, xã có điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết phù hợp để phát triển NTTS
và đặc biệt là phát triển các hoạt động nuôi xen ghép trong đó có hoạt động nuôi xenghép tôm – cá – cua Được biết, xã Phú Mỹ có diện tích tương đối rộng, đời sống nhândân dựa chủ yếu vào nông nghiệp chiếm khoảng 80%, khoảng 15% là ngư nghiệp vàkhoảng 5% là ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Mặc dù ngư nghiệp chỉ chiếm 15%nhưng xã đã xác định đây là ngành nghề kinh tế mũi nhọn góp phần tăng trưởng kinh
tế xã hội và đem lại thu nhập cao cho nhiều hộ ngư dân Tuy xã Phú Mỹ có nhữngthuận lợi nhất định trong việc NTTS nhưng việc phát triển NTTS ở xã vẫn còn tồn tạinhiều khó khăn như thiếu vốn đầu tư, một số hộ NTTS chưa nắm bắt kỹ thuật, môitrường thủy vực ngày càng ô nhiễm Trong thời gian vừa qua, cùng với xu hướngphát triển nuôi xen ghép trên toàn tỉnh nói chung và toàn huyện nói riêng, xã Phú Mỹ
đã khuyến khích phát triển mô hình nuôi xen ghép tôm – cá – cua nhờ đó đã cải thiệnđáng kể hiệu quả hoạt động NTTS ở xã Việc phát triển mô hình nói trên đã mở rahướng đi mới theo hướng phát triển bền vững cho xã Phú Mỹ, tuy nhiên những khókhăn trong NTTS ở xã mà đã được đề cập ở trên vẫn còn tồn tại, điều đó đã dẫn đếnmột thực tế trong hoạt động NTTS nói chung và hoạt động nuôi xen ghép tôm – cá –cua nói riêng ở xã Phú Mỹ, đó là xã có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi xen ghéptôm – cá – cua nhưng hiệu quả thu được từ hoạt động nuôi xen ghép này lại chưatương xứng với tiềm năng đó
Trang 3Xuất phát từ những lý do trên mà tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả kinh tế
mô hình nuôi xen ghép tôm – cá - cua tại xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh ThừaThiên Huế”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng mô hình nuôi xen ghép tôm – cá – cua của các hộ NTTS ở
xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Đánh giá năng lực nuôi xen ghép tôm – cá - cua của các hộ
Đánh giá kết quả và hiệu quả nuôi xen ghép tôm – cá - cua của các hộ
Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả nuôi xen ghép tôm– cá - cua ở địa bàn nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi xen ghép tôm – cá cua ở xã
Đưa ra kết luận và kiến nghị đối với hoạt động nuôi xen ghép tôm – cá cua ở xã
-1.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nuôi xen ghép tôm – cá - cua ở xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh ThừaThiên Huế
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Tập trung vào năm 2009
Phạm vi không gian: Một số hộ nuôi xen ghép tôm – cá - cua ở một số thôn ở
xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận xuyên suốt là phương pháp duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử
Phương pháp điều tra số liệu:
- Phương pháp chọn điểm: Trên địa bàn xã Phũ Mỹ có 6 thôn và 1 khu định cư.Trong đó, 3 thôn An Lưu, Mỹ Lam, Phước Linh và khu định cư là có nuôi xen ghép
Ta tiến hành chọn ngẫu nhiên 60 hộ nuôi xen ghép tôm – cá - cua tại những khu vựcnói trên, trong đó tập trung ở khu định cư vì nơi đây là nơi nuôi nhiều nhất trên địa bàn
Trang 4xã Phú Mỹ Qua thực tế điều tra, tôi thấy rằng xã Phú Mỹ tiến hành nuôi xen ghép tôm– cá – cua chủ yếu theo 2 hình thức, đó là QCCT và BTC và hình thức nuôi QCCT phổbiến hơn vì nó không đòi hỏi đầu tư nhiều vốn Trong 60 hộ điều tra, có 39 hộ nuôiQCCT và 21 hộ nuôi BTC.
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp tại UBND xã, tổng cục thống kê, thuthập từ khóa luận, internet
+ Số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu thông qua việc điều tra phỏng vấn hộ nuôixen ghép tôm – cá - cua
Phương pháp chuyên gia: Điều tra một số hộ tiêu biểu và cán bộ xã
Phương pháp chuyên khảo: Tham khảo nhiều sách, báo, khóa luận tốt nghiệp cóliên quan và thông tin từ internet
Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu:
- Tổng hợp số liệu trên Excel, Eview
- Phân tích số liệu: Sử dụng số tuyệt đối, số tương đối và phương pháp hốiquy tương quan, phương pháp phân tổ thống kê
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số vấn đề về hiệu quả kinh tế
Từ trước đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Nếunhìn nhận một cách khái quát thì có thể nói rằng: Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả sảnxuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu,
nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thựchiện mục tiêu kinh doanh Nó là chỉ tiêu tương đối được biểu hiện bằng kết quả sảnxuất so với chi phí sản xuất (chỉ tiêu hiệu quả thuận) hoặc ngược lại (chỉ tiêu hiệu quảnghịch) Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất còn được gọi là các chỉ tiêu năng suất
Hiệu quả kinh tế là mục tiêu chính của các hoạt động kinh tế Bản chất của hoạtđộng kinh tế là gia tăng giá trị, trong đó, việc tiết kiệm chi phí là một trong những biệnpháp để nâng cao hiệu quả kinh tế Tuy nhiên tiết kiệm chi phí không có nghĩa là hạnchế chi tiêu mà là sử dụng đồng tiền một cách hiệu quả nhất
Nhìn chung, hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế Và đểtìm hiểu về hiệu quả kinh tế, người ta thường thông qua hiệu quả kỹ thuật và hiệu quảphân bổ, trong đó:
- Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị đầuvào hay nguồn lực sử dụng vào hàm sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuậthay công nghệ
- Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giáđầu vào được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí vềđầu vào hay nguồn lực
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹthuật và hiệu quả phân bổ, điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đềuđược tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực sản xuất, nếu sản xuất chỉ đạt
Trang 6hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả phân bổ thì mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải làđiều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế.
Ta thấy rằng, hoạt động NTTS cũng là một hoạt động sản xuất và thực chất kháiniệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanhnói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinhdoanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sửdụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) đểđạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh – mục tiêu tối đahóa lợi nhuận
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinhdoanh, ta cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt độngsản xuất kinh doanh Kết quả sản xuất kinh doanh là những gì đạt được sau một quátrình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết củangười sản xuất kinh doanh Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là những đạilượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, vàcũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng, hoàn toàn có tính chất địnhtính như uy tín của người sản xuất kinh doanh, là chất lượng sản phẩm, Như thế, kếtquả bao giờ cũng là mục tiêu của người sản xuất kinh doanh Trong khi đó, trong kháiniệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả(đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinhdoanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúcngười ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợpkhác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêucần đạt là kết quả
Phương pháp xác định hiêu quả kinh tế:
- Công thức tính hiệu quả kinh tế đầy đủ có dạng:
H = KQ/CP (dạng thuận): cho biết một đơn vị chi phí bỏ ra thu được baonhiêu đơn vị kết quả
Trang 7H’ = CP/KQ (dạng nghịch): cho biết một đơn vị kết quả thu được cần baonhiêu đơn vị chi phí.
- Công thức tính hiệu quả kinh tế tính riêng cho phần đầu tư tăng thêm:
E = KQ/CP (dạng thuận): cho biết mỗi đơn vị chi phí tăng thêm tạo
ra thêm bao nhiêu đơn vị kết quả
E’ = CP/KQ (dạng nghịch): cho biết để tăng thêm một đơn vị kếtquả thì phải đầu tư thêm bao nhiêu đơn vị chi phí
- Trong đó:
KQ: Kết quả sản xuất kinh doanh
CP: Chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh
KQ: Sự tăng thêm kết quả
CP: Sự tăng thêm chi phí sản xuất
1.1.2 Kỹ thuật nuôi xen ghép tôm – cá – cua
Cải tạo vùng nuôi tôm: Trồng cây chịu mặn (mắm, bần, đước) ở những nơi
nào còn có thể trồng được trong vùng triều (vùng nuôi tôm): trước bờ ao, vùng cạncủa mương nước thải, vùng bãi bồi của ao…
Chuẩn bị ao: Tháo cạn nước đáy ao, nạo vét mùn bã hữu cơ ra khỏi ao nuôi, tu
sửa lại những nơi xung yếu, lấp hết những lỗ mội để tránh thất thoát nước, thẩm lậu.Gia cố cống, làm đăng lưới chắn quanh cống phía trong ao Bón vôi: nhằm tiêu diệtmầm bênh, cải tao pH đáy Bón vôi lần 1 kết hợp phơi nắng (lượng vôi700-1.000kg/ha) Cày lật đáy, bón vôi lần 2 kết hợp phơi nắng đáy ao (lượng vôi 700-1.000kg/ha), tùy giá trị pH đáy ta bón với liều lượng khác nhau San bằng nền đáy
Chuẩn bị nước: Theo dõi kết quả quan trắc môi trường, chọn đợt nước tốt lấy
nước vào ao qua lưới lọc được làm bằng vải ka tê hay vải thun, Chiều dài: 10-15 m,miệng túi bằng miệng cống Lấy liên tục cho đủ nước 1,2 m, đóng cống không chonước thẩm lậu Dùng thuốc diệt tạp (saponin) để khử các loại cá ăn thịt và các lòaicạnh tranh thức ăn với tôm theo tỷ lệ 50kg/ha (vào ngày nắng), 100kg/ha (vào ngày
nhiều mây) Tùy thuộc vào độ mặn của ao nuôi mà ta sử dụng với liều lượng khác
nhau : Độ mặn > 20%o, liều dùng 30-60kg/ha, Độ mặn < 20%o, liều dùng 45-75
kg/ha Bón phân bò, phân gà khô (300kg/ha) và phân urê (8kg/ha) Khi màu nước xanh
Trang 8nâu hoặc màu lá chuối non ta lấy túi phân ra khỏi ao Môi trường đạt yêu cầu Độkiềm : > 80ppm, Oxy hòa tan : > 4ppm, NH3 : 10%o tiến hành thả giống.
Chuẩn bị giống: Trong ao nuôi, ngoài đối tượng chính mang lại nguồn lợi kinh
tế, ta thả thêm một số đối tượng khác để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, hoặc chấtthải của đối tượng chính nhằm tạo cân bằng môi trường đem lại hiệu quả cao gọi là
nuôi xen ghép Thông qua những đối tượng nuôi xen có các đặc điểm sống thích hợp
trong vùng nuôi tôm, không ăn tôm, cá ăn mùn bả hữu cơ Mục đích của việc nuôi xenghép nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm thiểu dịch bệnh đem lại hiệu quả kinh tếcao cho vùng nuôi
Tôm giống: Khi nuôi ghép với cá, giống tôm sú cần đạt cỡ giống 3-5cm Tùy
theo điều kiện ao đìa, khả năng đầu tư chúng ta có thể thả giống 5-10con/m2 Nên lấypostlarvae đã được kiểm dịch MBV và WSSV về ương trong giai khoảng 20 ngày đểđạt cỡ giống Kích thước giai : 5m x 20m x 1,5m; mật độ ương : 500-1.000 post15/m2 Giai đặt trong ao nuôi Thả giống lúc nhiệt độ thấp (7-10 giờ sáng) Ưu điểmương trong giai là dễ quản lý, chăm sóc cho ăn, tính được tỉ lệ sống, chất lượng giống,qua đó lọc bỏ tôm yếu giúp tạo đàn giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, khi đưa ramôi trường ao nuôi sẽ phát triển tốt
Cua giống: nên thả cua giống được sản xuất nhân tạo, khỏe mạnh, có kích cỡ
đồng đều, từ 1,5 cm trở lên Thời điểm thả cua tránh mùa nắng nóng, mật độ 0,2con/
m2 Ta có thể tận dụng giai ương tôm để ương cua bột, trong giai đặt các bó chà làmgiá thể cho cua trú ẩn, mật độ cua bột thả trong giai là 50 con/m2
Cá giống: Cỡ cá từ 15-20g/con, mật độ thả ghép 0,05-0,1con/m2 Chú ý:
Chúng ta ương thả tôm trước khi thả cá từ 10-15 ngày Có thể nuôi cá trong 5 - 7%diện tích ao nuôi ở trung tâm được làm thành lồng lưới hình tròn hay vuông, hoặcchắn ở góc ao nuôi, gồm 2 lớp lưới, cố định lưới bằng khung tre (mắt lưới ngoài 1-2
mm, lưới trong 10-15 mm), sau 50-60 ngày nuôi tháo bỏ lớp lưới ngoài (đảm bảotôm không vào trong lồng và cá không ra ngoài lồng) Tùy vào môi trường ao nuôi
mà ta lựa chọn loài cá để nuôi ghép: Với ao có độ mặn > 20%o thả cá rô phi đỏ, rôphi đen, cá chua (cá măng) Vùng có độ mặn < 20%o ta thả cá rô phi đơn tính Nênthuần hóa độ mặn cho cá trước khi thả Một số điểm cần lưu ý: cá chua là loài sống
Trang 9rộng muối, ăn tạp, trong tự nhiên cá ăn phiêu sinh thực vật, mùn bả hữu cơ, thảmthực vật đáy (rong đáy), trong ao nuôi sử dụng tốt thức ăn chế biến Cá rô phi: Ăntạp, sống rộng muối Trong tự nhiên ăn động thực vật phù du và mùn bã hữu cơ làloài có khả năng sinh sản của chúng trong ao rất lớn, vì thế nuôi xen ghép trong aotôm cần chú ý Cá rô phi đỏ (Cá điêu hồng) sống và phát triển được ở độ muối 0-25%o Cá rô phi vằn đơn tính dòng GIFT có khả năng sống, phát triển tốt ở độ muối0-20%o và không có khả năng sinh sản.
Chăm sóc quản lý:
Chế độ cho ăn: Chỉ cho ăn đối tượng chính là tôm sú, cho ăn 2-4lần/ngày tùytheo mật độ thả Khẩu phần cho ăn từ 2-5% trọng lượng thân (thức ăn viên) Nên cho
ăn tập trung chủ yếu vào ban đêm để tránh tình trạng cá tranh ăn thức ăn của tôm
Chế độ thay nước: Sau khi thả tôm khoảng 1 tháng tuổi, bắt đầu thay nước.Tùy thuộc vào con nước, có thể thay 2-4 lần/con nước
Hằng ngày vào sáng sớm, kiểm tra sức khỏe tôm Thường xuyên kiểm tra môitrường nước, tốc độ phát triển của tôm, cua, cá để có những biện pháp tích cực kịp thờinhằm đem lại hiệu quả cao cho vụ nuôi
Thu hoạch: Sau thời gian 3 tháng nuôi có thể thu hoạch Lúc này cá có thể đạt
trọng lượng từ 100-200g/con, cua khoảng 250g/con và tôm sú thương phẩm20-30g/con Sản lượng đạt trung bình 1,3 tấn/ha
1.1.3 Đặc điểm của việc nuôi xen ghép tôm – cá – cua trong cùng một ao nuôi
Việc nắm vững đặc điểm của các loài động vật thủy sản là vấn đề quan trọngtrong NTTS vì chúng là những cơ thể sống có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng.Quá trình sinh trưởng và phát triển đó lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên (vídụ: hồ tôm sau một trận mưa rào thì nước trong ao sẽ giảm màu, nồng độ pH giảm,ảnh hưởng đến sức ăn của tôm, tôm giảm ăn và có thể dẫn đến chết nếu không có biệnpháp hợp lý, kịp thời) Mà mỗi vùng lại có những điều kiện tự nhiên khác nhau Chínhnhững điều này quy định ngành nuôi trồng thủy sản tương đối phức tạp hơn so với cácngành sản xuất vật chất khác Hoạt động nuôi xen ghép cũng là một trong những cáchthức NTTS Do đó, muốn nghiên cứu về hoạt động nuôi xen ghép thì trước tiên ta phảitìm hiểu các đặc điểm của nó, cụ thể:
Trang 10- Giống là khâu then chốt, quyết định thành bại của hình thức nuôi này:
Từ thực tế sản xuất, cơ cấu nuôi xen ghép được xác định là 3 đối tượng chủ lựcbao gồm: tôm sú – cá kình – cua Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương
có thể xen thêm các đối tượng khác như: cá dìa, cá nâu, cá đối, cá rô phi, rong câu,tôm đất
Trong các đối tượng nuôi thả tôm sú, rô phi, tôm đất và cua biển đã chủ độngđược nguồn giống sinh sản nhân tạo Các đối tượng còn lại gần như phụ thuộc vào
tự nhiên
Khi thả nuôi cá kình, cần chú ý: Để tránh gây sốc cho cá kình, cần thuần hóa(bằng cách hạ độ mặn) trước khi thả nuôi ở vùng có độ mặn thấp Đồng thời, ta cầnphải nghiên cứu các đặc điểm sinh học của cá kình, mùa vụ xuất hiện giống làm cơ sởcho công tác chuyển đổi
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi:
Trước đây, chỉ nuôi tôm sú năng suất từ 2 – 3 tấn/ha thì yêu cầu kỹ thuật đặt
ra khá chặt chẽ và chi phí cho việc xử lý ao hồ cũng không dưới 10 triệu đồng/ha.Ngày nay, khi mọi việc đã thay đổi, người dân có xu hướng thả thưa và nuôi hỗn hợpnhiều đối tượng thì việc áp dụng quy trình kỹ thuật cần điều chỉnh để sát với tìnhhình thực tế:
+ Đối với những ao hồ quá sâu, không có khả năng phơi đáy và khi bơm tát cóthể làm vỡ đê, giải pháp tốt nhất là dùng sáo để thẩy (bắt) hoặc lưới kéo bớt cá tạp rồithả thẳng tôm sú 45 ngày tuổi, cá kình, cua với mật độ thưa
+ Đối với những ao hồ có diện tích lớn (từ 2 ha trở lên) không có kinh phí để xử
lý ao hồ thì nên áp dụng hình thức nuôi QCCT bằng cách: xử lý 1/3 diện tích ao, ươngtôm P15 đủ nhu cầu của gia đình Sau 45 ngày bung tôm ra phần diện tích còn lại vớimật độ 2 con tôm/m2 + 0,5 con cá kình/m2 + 30 kg cua giống/ha
+ Với những ao hồ có khả năng xử lý, cần tuân thủ nguyên tắc hạn chế tối đađầu vào không cần thiết, chú trọng nhiều đến việc dùng vôi và đúc rút kinh nghiệm củagia đình và địa phương để lựa chọn cách nuôi phù hợp với tài chính và quản lý của giađình
Trang 11- Về nhu cầu tiêu dùng: Người tiêu dùng ngày càng quan tâm nhiều hơn vềviệc chứng minh nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người
sử dụng và bảo vệ môi trường Vì vậy, việc chú ý nâng cao chất lượng thủy sản, đảmbảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là việc mà các hộ ngư dân cần quan tâm
- Tiêu thụ sản phẩm: Cá kình, cua, cá dìa, cá đối, cá nâu là những đối tượng
dễ tiêu thụ nội địa Từ trước đến nay chưa có tình trạnh dư thừa hoặc bán với giá quáthấp, sản phẩm của các loài này mặc nhiên được người tiêu dùng chấp nhận Mặt khác,chúng rất khó nâng cao năng suất vì con giống phụ thuộc tự nhiên và nếu nuôi quá dày
sẽ không lớn Vì vậy, trong kế hoạch chuyển đổi của các địa phương việc tiêu thụ sảnphẩm không phải là quá khó khăn Tuy nhiên, khi phong trào nuôi xen ghép phát triểncũng phải tính đến phương án đầu ra cho sản phẩm
1.1.4 Các hình thức NTTS
Việc lựa chọn hình thức NTTS có những ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả
và hiệu quả NTTS Những hộ khác nhau có điều kiện tài chính khác nhau, sốngtrong những vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau và họ sẽ tự lựachọn cho mình những hình thức NTTS phù hợp Hiện nay, ở nước ta có 5 hìnhthức nuôi sau đây:
- Nuôi theo hình thức quảng canh: Đây là hình thức nuôi bằng nguồn thức ăn
tự nhiên trong các ao, hồ, đầm ở nông thôn và các vùng ven biển với diện tích nuôi từ
2 đến vài chục ha, cải tạo ao và đầu tư cơ sở hạ tầng hầu như không có và năng suấtchỉ đạt từ 0,03 đến 0,3 tấn/ha
- Nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến: Là hình thức nuôi chủ yếu bằnggiống và thức ăn tự nhiên nhưng có bổ sung giống nhân tạo ở một mức độ nhất định (1– 4 con/m2) đồng thời có đầu tư cải tạo thủy vực, diện tích nuôi từ 1 đến 10 ha, năngsuất đạt từ 0,3 đến 0,8 tấn/ha
- Nuôi theo hình thức bán thâm canh: Là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống
và thức ăn nhân tạo nhưng kết hợp với nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực Ngoài
ra, hệ thống ao hồ được đầu tư cơ sở hạ tầng, chủ động nguồn nước cung cấp, diện tíchnuôi từ 0,5 đến 5 ha và năng suất đạt được từ 1 đến 3 tấn/ha
Trang 12- Nuôi theo hình thức thâm canh: Là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống
và thức ăn nhân tạo, mật độ thả giống dày (25 – 60 con/m2), năng suất cao (>=3tấn/ha), được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ và diện tích nuôi ít, chỉ từ 0,5 đến 2 ha
- Nuôi công nghiệp: Là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ănnhân tạo với mật độ rất cao, đồng thời sử dụng các máy móc và thiết bị nhằm tạo chovật nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện sống tối ưu, sinh trưởng tốt nhất,không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, đạt các mục tiêu sản xuất và lợi nhuận trongthời gian ngắn nhất, năng suất đạt được từ 10 tấn/ha trở lên
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi xen ghép tôm, cá, cua
Các nhân tố tự nhiên: Tôm, cá, cua là những cơ thể sống có quy luật sinhtrưởng và phát triển riêng Quá trình sinh trưởng và phát triển đó lại phụ thuộc vàođiều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi trường nước nên các nhân tố tự nhiên
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động nuôi xen ghép tôm, cá, cua
- Nói đến các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm, cá, cuatrước tiên phải nói đến môi trường nước Môi trường nước được xem là tư liệu sảnxuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được trong hoạt động NTTS, nó có ảnhhưởng vô cùng to lớn đối với hoạt động NTTS Trong quá trình NTTS, môi trườngnước có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất lượng thủy sản Phần lớn các bệnhcủa thủy sản đều có nguồn gốc từ môi trường mà chúng sinh sống Sau đây là một sốyếu tố vật lý, hóa học và sinh học trong mội trường nước ảnh hưởng đến hoạt độngnuôi xen ghép:
+ Độ mặn: Các loài giáp xác có khả năng thích nghi của chính bản thân theo sự
thay đổi độ mặn của môi trường nước Độ mặn của nước thích hợp nhất để nuôi xenghép tôm – cá – cua là từ 15 đến 25o/oo Đặc biệt, đối với tôm, vị đậm đà của thịt tôm
mà khách hàng cảm thấy được khi thưởng thức trong các bữa ăn, có thể chịu ảnhhưởng độ mặn của nước trong khi nuôi
+ Độ pH: Độ pH trong môi trường nước có những ảnh hưởng nhất định đối với
sự sinh trưởng, phát triển của tôm, cá, cua Độ pH thích hợp cho hoạt động nuôi xenghép tôm – cá – cua là 6,5 đến 8,5
Trang 13+ Độ đục của nước: Trong ao, độ đục thường do các phiên sinh vật phát triển
quá nhiều Độ đục trong nước sẽ bất lợi nếu gây ra bởi chất sét hoặc các vật vô sinh vìcản trợ sự xuyên qua của ánh sáng, làm giảm khả năng sản xuất của ao hồ
- Nhân tố tự nhiên tiếp theo nhưng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngNTTS là thời tiết, khí hậu Đặc biệt, miền Trung thường chịu ảnh hưởng của lũ lụt nênmùa mưa thường không thể tiến hành hoạt động nuôi xen ghép được
Các nhân tố kinh tế - xã hội:
- Dân cư và nguồn lao động: Dân cư và nguồn lao động vừa là lực lượng sảnxuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Truyền thống sản xuất, tậpquán ăn uống của các dân tộc có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phân bố đối tượng nuôi.Nguồn lao động cũng là một yếu tố quan trọng, đủ lao động thì mới có xu hướng mởrộng quy mô sản xuất, đồng thời trình độ hiểu biết, nắm bắt kỹ thuật, trình độ áp dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật của người lao động có ảnh hưởng lớn đến kết quả vàhiệu quả NTTS
- Thị trường: NTTS ngày càng phát triển và xu thế sản xuất hàng hóa trongNTTS ngày càng rõ rệt, điều đó đòi hỏi hoạt động NTTS phải gắn với thị trường tiêuthụ, giá cả và năng suất Thị trường tiêu thụ có tác động mạnh mẽ đến hoạt độngNTTS và giá cả thủy sản Giá cả tôm, cá, cua thường thay đổi nhiều do đó người sảnxuất thường lo sợ sản phẩm của mình làm ra không bán được trên thị trường thì sẽ hưhỏng và gây thiệt hại, do đó cần thiết phải xác định giống, quy trình nuôi phù hợp.Ngoài ra, sự tăng lên hay giảm xuống của chi phí đầu vào có ảnh hưởng đến thu nhậpcủa người nuôi từ đó ảnh hưởng đến quyết định của người nuôi về quy mô, do đó thịtrường các yếu tố đầu vào cũng ảnh hưởng đến quy mô nuôi xen ghép
- Cơ sở hạ tầng như giao thông, thông tin liên lạc, các dịch vụ về sản xuất vàkhoa học kỹ thuật là một trong những nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả kinh tế.Các nhân tố này tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả, hiệu quả nuôi xen ghép
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng có tác động lớn đến việc cải tiến quy trình kỹ thuậtnuôi và tiêu thụ sản phẩm cũng như áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học – kỹ thuật,con người hạn chế được những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, chủ động hơn tronghoạt động nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ, nâng cao năng suất và sản lượng
Trang 14- Hình thức canh tác: Trong hoạt động nuôi xen ghép tôm – cá - cua thì hìnhthức canh tác chủ yếu là hộ gia đình Việc phát triển kinh tế hộ góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế nông thôn ổn định Tuy nhiên, kinh tế hộ của nước ta nhỏ lẻ, manh mún,không có tính quy mô làm hạn chế việc phát triển bền vững của hoạt động nuôi xenghép tôm – cá - cua.
- Chính sách của Nhà nước: Chính sách của Nhà Nước cũng không kém phầnquan trọng đối với việc phát triển hoạt động nuôi xen ghép Một chính sách đúng đắn
sẽ có tác dụng kích thích người nuôi tăng quy mô, chất lượng sản phẩm, áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng và ngược lại Trong những năm qua, với việc xácđịnh ngành thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, Đảng và Nhà Nước ta đã ban hànhnhiều chính sách để thúc đẩy sự phát triển NTTS, kích thích người nuôi cải tiến quytrình kỹ thuật nuôi, áp dụng các mô hình nuôi cho hiệu quả kinh tế cao
1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả nuôi xen ghép
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất:
- Tổng giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm hàng hóa mà hộ ngưdân thu được trong một chu kỳ sản xuất
GO =
n i
Pi Qi
1
*Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất:
- Tổng chi phí sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC): Cho biết một đơn vịchi phí trung gian bỏ ra tạo ra bao nhiêu đơn vị giá trị sản xuất Tỉ lệ GO/IC càng lớnchứng tỏ hiệu quả hoạt động nuôi xen ghép càng cao
Trang 15- Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): Cho biết một đơn vị chi phítrung gian bỏ ra thu được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng.
- Giá trị gia tăng trên tổng giá trị sản xuất: Cho biết trong một đồng giá trị sảnxuất được tạo ra thì có bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tầm quan trọng của NTTS
Đến năm 2030, thế giới sẽ cần thêm 37 triệu tấn thủy sản mỗi năm để duy trìđược mức tiêu thụ như hiện nay do dân số tăng Vì các ngư trường truyền thống đã gầnchạm mức khai thác tối đa nên nuôi thủy sản là cách duy nhất để bù đắp thiếu hụt.Nhưng việc đó chỉ có thể thực hiện được nếu được xúc tiến và quản lý một cách cótrách nhiệm Đây là thông điệp mà Tổ chức Nông Lương LHQ (FAO) gửi tới các nhàquản lý thủy sản hàng đầu trong cuộc họp cấp cao ở Rôm, Italia bàn về vai trò củanuôi trồng thủy sản đối với sự phát triển bền vững Tương lai của ngành thủy sảnchính là lĩnh vực nuôi trồng
Trong 1/4 thế kỷ qua, nuôi thủy sản là lĩnh vực sản xuất thực phẩm phát triểnnhanh nhất thế giới, duy trì tốc độ tăng trưởng hàng năm 8,8% từ năm 1970 Trong khi
đó, sản xuất gia cầm, gia súc, một ngành cũng được coi là phát triển chỉ tăng2,8%/năm
Ngày nay, thủy sản nuôi chiếm khoảng 45% lượng tiêu thụ thủy sản của conngười, với 48 triệu tấn/năm Đến năm 2030, dân số thế giới sẽ thêm 2 tỷ người, nghĩa
là ngành nuôi trồng thủy sản sẽ phải sản xuất gần gấp đôi sản lượng hiện nay vớikhoảng 85 triệu tấn/năm mới đủ duy trì mức tiêu thụ bình quân hiện nay
Ông Jacques Diouf, Tổng Giám đốc FAO cho rằng, với xu hướng này, cần ưutiên tăng cường phát triển ngành nuôi trồng thủy sản thế giới Tuy nhiên, ông cho rằng,cũng cần có quyết định đúng đắn về các chính sách sử dụng nguồn tài nguyên thiênnhiên như nước, đất, giống và thức ăn nuôi cũng như việc quản lý môi trường để duytrì và khuyến khích tăng trưởng của ngành nuôi trồng Nguồn thu nhập và việc làm từngành nuôi trồng thủy sản cũng ngày càng quan trọng
Một báo cáo của FAO trình bày trong cuộc họp khẳng định chỉ có nuôi trồngthủy sản mới có thể xóa đói giảm nghèo và giảm tình trạng suy dinh dưỡng, nhờ nguồn
Trang 16cung cấp thực phẩm giàu chất đạm, axít béo, vitamin và khoáng chất, đồng thời cáithiện khá nhiều cho nguồn an toàn thực phẩm bằng tạo việc làm và tăng thu nhập ỞChâu Á, nuôi trồng thủy sản trực tiếp tạo ra việc làm cho khoảng 12 triệu người.
Tuy nhiên, trái với sự bùng phát của ngành nuôi trồng thủy sản, Châu Phi lại làmột trường hợp ngoại lệ, vì là khu vực duy nhất trên thế giới có lượng tiêu thụ thủysản theo đầu người giảm và tỷ trọng của thủy sản nuôi trồng chỉ chiếm dưới 1% sảnlượng của cả thế giới Châu Phi có tiềm năng dồi dào về tài nguyên để phát triển nuôitrồng thủy sản nên cần được ưu tiên viện trợ để khuyến khích phát triển ngành này
1.2.2 Tình hình NTTS tại Việt Nam
NTTS là ngành kinh tế có tiềm năng phát triển của Việt Nam Những năm gầnđây NTTS của nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt đựơc nhiều thànhtựu to lớn, góp phần thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Ngành có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần xoá đói giảm nghèo, cung cấpdinh dưỡng và nâng cao thu nhập cho nhân dân, và từng bước nâng cao kim ngạchxuất khẩu của đất nước Đến năm 2003, NTTS và các hoạt động thuỷ sản chiếm tới5,1% tổng số lao động trên toàn quốc; đến cuối năm 2006, sản lượng nuôi trồng đạt1.526.000 tấn, tăng khoảng 14% so với năm 2005 Năm 2007, 2008, NTTS tiếp tụcphát triển thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản
của Việt Nam qua 2 năm 2007, 2008
2008
So sánh +/- %
tấn
2123,30
2465,60
342,30
16,12
0
Trang 17(Nguồn: Tổng cục thống kê)Nhìn vào bảng, ta có thể thấy rằng diện tích NTTS của năm 2008 tăng 33,80nghìn ha so với năm 2007 (tương ứng 3,32%), cho thấy người dân đang có xu hướngtăng cường các hoạt động NTTS Cùng với xu hướng tăng lên trong tổng diện tíchNTTS thì diện tích nuôi hỗn hợp và các thủy sản ngoài tôm, cá cũng tăng lên, năm
2008 tăng 8,8 nghìn ha (tương ứng 15,69%) so với năm 2007
Ngoài việc gia tăng diện tích NTTS thì do sự phát triển của khoa học kỹ thuật
đã kéo theo sự gia tăng về năng suất NTTS, năm 2008 so với năm 2007, năng suấtNTTS đã tăng 0,26 tấn/ha (tương ứng 12,50%) Sự gia tăng diện tích, năng suất NTTS
đã làm cho sản lượng NTTS năm 2008 tăng 342,30 nghìn tấn (tương ứng 16,12%) sovới năm 2007, điều này đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của NTTS tại Việt Nam.Phát triển NTTS đã trở thành xu hướng phát triển chung của cả nước trong một thờigian dài chứ không chỉ từ năm 2007 đến năm 2008
Đến năm 2009, đây là một năm đầy biến động ngành thuỷ sản Nhu cầu tiêudùng sụt giảm, khiến giá thủy sản trên thị trường thế giới có xu hướng giảm Các nhàmáy chế biến trong nước thường xuyên phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguyênliệu do người nuôi bỏ đầm, do dịch bệnh và thời tiết bất thuận khiến sản lượng thuhoạch đạt thấp Giải pháp đặt ra trong giai đoạn khó khăn này chính là nuôi xen ghéphỗn hợp nhiều đối tượng trong cùng một ao nuôi Khép lại năm 2009, với sự nỗ lựckhông ngừng, ngành thủy sản vẫn trụ vững và đạt được những bước tiến đáng ghinhận Kết thúc năm 2009, sản lượng thủy sản đạt 4847,6 nghìn tấn, tăng 5,3% so vớinăm 2008, trong đó cá đạt 3654,1 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm 537,7 nghìn tấn, tăng7,2% Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2009 ước tính đạt 2569,9 nghìn tấn, tăng4,2% so với năm trước, chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi và mở rộngdiện tích nuôi trồng theo hướng kết hợp đa canh, đa con
Đến năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, sản lượngnuôi trồng thủy sản quý I/2010 ước đạt 477 nghìn tấn, bằng 18% so kế hoạch và tăng14,9% so với với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng tháng 3/2010 ước đạt 130nghìn tấn
Trang 18Việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên cả nước tháng 3/2010 đã có dấu hiệuphục hồi so với những tháng cuối năm 2009, đặc biệt là cá tra Nuôi thủy sản nướcngọt, nước mặn phát triển ổn định do giá tôm cuối năm 2009 và đầu năm 2010 ở mứckhá cao, giá tôm nguyên liệu loại 30 con: 130.000-140.000 đ/kg, tôm loại 40 con:110.000-120.000 đ/kg; giá nghêu thương phẩm, cá điêu hồng thương phẩm tăng 1.000đồng/ kg so với năm 2009 (Riêng diện tích tôm càng xanh giảm do giá vật tư và thịtrường tiêu thụ không ổn định đã ảnh hưởng đến phong trào nuôi).
Đặc biệt đối với hoạt động nuôi xen ghép, Nuôi ghép tôm đang được tiến hành
ở nhiều nước như Thái Lan, Việt Nam, Mêhicô, Mỹ, Ecuađo, Pêru và nhiều khu vựckhác của Philippin và phương pháp này hiện đang được nhân rộng trên thế giới do kếtquả khả quan
1.2.3 Tình hình NTTS ở Thừa Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh có tiềm năng lớn về NTTS, tỉnh có bờ biển dài
126 km và hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có diện tích hơn 22 nghìn ha chiếmkhoảng 1/5 diện tích đầm phá của cả nước Cùng với xu hướng phát triển chung củaNTTS trên cả nước, NTTS ở tỉnh Thừa Thiên Huế cũng phát triển qua các năm Điềunày được thể hiện cụ thể ở bảng sau:
Bảng 2: Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Thừa Thiên Huế
từ năm 2004 - 2008
Năm Diện tích NTTS
(ha)
Sản lượng NTTS (tấn)
Năng suất NTTS (tấn/ha)
do tỉnh Thừa Thiên Huế có những điều kiện thuận lợi cho phát triển NTTS nên từ năm
2004 đến năm 2008, diện tích, năng suất, sản lượng NTTS liên tục tăng lên, cụ thể là
Trang 19từ năm 2004 đến năm 2008, diện tích NTTS đã tăng 400 ha, sản lượng NTTS tăng
3604 tấn và năng suất NTTS tăng 0,57 tấn/ha Qua bảng số liệu, ta thấy sản lượngNTTS qua các năm tăng một phần là do tăng diện tích NTTS và một phần là do đầu tưthâm canh tăng năng suất Đặc biệt, giai đoạn 2005 - 2006, năng suất NTTS tăng caonhất (0,25 tấn/ha, tương ứng 20,57%)
Đến năm 2009, Diện tích nuôi trồng toàn tỉnh đạt 5.356 ha, gấp 2,66 lần so vớinăm 1998, năng suất bình quân tôm nuôi đạt gần một tấn/ha, sản lượng tôm nuôi đạthơn 3.500 tấn Sản lượng cá nước lợ đạt 475 tấn, sản lượng cua 200 tấn Mô hìnhchuyển đổi theo hướng nuôi xen ghép (tôm - cá), kết hợp thực hiện đồng bộ các biệnpháp kỹ thuật, bảo đảm hiệu quả kinh tế, hạn chế được dịch bệnh và tình trạng ô nhiễmmôi trường Hầu hết các hộ có lãi bình quân 20 - 40 triệu đồng/ha
Vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có hệ sinh thái nước lợ đặc thù, thuận lợi
để phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm Hiện toàn tỉnh đã thả nuôi trên3.500 ha tôm Tuy nhiên, do phát triển ồ ạt, nghề nuôi tôm sú trên đầm phá phải đốidiện với vấn đề ô nhiễm môi trường và dịch bệnh làm nhiều gia đình lao đao vì contôm Hiện dự nợ cho vay nuôi tôm trên địa bàn các huyện Phú Lộc, Phú Vang, PhongĐiền, Quảng Điền đã lên tới hơn 136 tỉ đồng, trong đó dự nợ quá hạn chiếm một phầnkhông nhỏ Có không ít người vay tiền nuôi tôm mất khả năng thanh toán, do nhiều vụliên tiếp, tôm bị dịch bệnh Hộ ông Mai Thanh Nguyện ở xã Phú Đa, huyện Phú Vang
là một điển hình Ban đầu ông Nguyện vay vốn, đào hồ nuôi tôm với diện tích khoảngvài ha Năm 2000, Ông chuyển đổi 5 ha đất lúa ven đầm phá Tam Giang sang nuôitôm cao triều Mỗi năm trừ chi phí gia đình ông thu lợi từ con tôm xấp xỉ 100 triệuđồng Tuy nhiên trong mấy năm trở lại đây, với mật độ nuôi tôm dày đặc ven phá TamGiang, nước ao hồ bị ô nhiễm, dịch bệnh tôm xảy ra liên miên, giá tôm lên xuống thấtthường khiến gia đình ông thua lỗ nặng Để giảm ô nhiễm môi trường, tăng hiêu quảNTTS, tỉnh đã chủ trương phát triển mạnh mẽ các hình thức nuôi xen ghép
Nói về tình hình nuôi xen ghép tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, vào năm 2008,Thừa Thiên Huế đã đưa gần 3.500 ha mặt nước vùng ven đầm phá Tam Giang vàonuôi trồng thuỷ sản; trong đó có 1/2 diện tích nuôi theo hình thức xen ghép: nuôi tômkết hợp với nuôi cá rô phi, cá dìa, cá kình; hoặc mô hình nuôi cá đối, cá kình và nuôi
Trang 20tôm sú cho hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt, việc nuôi tôm kết hợp các hình thức nuôixen ghép góp phần làm sạch môi trường ao nuôi, hạn chế dịch bệnh Toàn tỉnh đã thuhoạch đạt hơn 90% diện tích, sản lượng thu hoạch đạt 2.300 tấn tôm, 540 tấn cá, gần
100 tấn cua, ghẹ Huyện Phú Vang đạt sản lượng thu hoạch 1.370 tấn tôm, 180 tấn cá,gần 50 tấn cua, ghe Dù là thời kỳ thu hoạch rộ, nhưng giá tôm tại địa bàn vẫn ổn định
từ 82.000 - 87.000 đồng/kg (loại 40 con/kg) Theo kết quả điều tra tại 2.039 hộ với2.460 ha nuôi tôm của các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền, hơn 82,8% hộ nuôitrồng thuỷ sản (trong đó chủ yếu là nuôi tôm) có lãi do kết hợp các mô hình nuôi tômxen ghép, áp dụng các biện pháp làm sạch nền đáy ao
Mỗi khi mùa vụ NTTS bắt đầu, người dân lại phải đứng trước những lựa chọn:Chỉ nuôi đơn tôm sú hay nuôi ghép nhiều đối tượng? Câu hỏi trên đang đặt ra đối vớinhững người làm công tác kỹ thuật và ngư dân đầm phá Để góp phần giảm thiểu rủi
ro, nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề nuôi thủy sản thì việc nuôi xen ghép là một lựachọn hoàn toàn đúng đắn
Hiện nay, toàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã có khoảng 2250 ha diện tích mặt nướcđược dùng để nuôi xen ghép, gấp khoảng gần 2 lần diện tích nuôi tôm đơn, hình thứcnuôi xen ghép đang ngày càng phát triển trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế tạo ra kếtquả, hiệu quả kinh tế cao cho các hộ ngư dân
Trang 21CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NUÔI XEN GHÉP TÔM – CÁ – CUA
Ở XÃ PHÚ MỸ
2.1 MỘT VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA XÃ PHÚ MỸ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Xã Phú Mỹ là một xã ven đầm phá của huyện Phú Vang với
tổng diện tích tự nhiên 1161,47ha, xã nằm về phía Tây của huyện Phú Vang và cáchtrung tâm huyện khoảng 12km
Bắc giáp với xã Phú Xuân
Nam giáp Phú An
Tây giáp xã Phú Thượng
Đông giáp thị trấn Thuận An
Xã Phú Mỹ nằm cách trung tâm thành phố không xa (khoảng 8km) nên cónhiều điều kiện để tiêu thụ hàng hóa, phát triển kinh tế
- Địa hình và đất đai: Xã Phú Mỹ nằm ven đầm phá có địa hình thấp trũng,
thường xuyên bị lũ lụt ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân nói chung vàhoạt động NTTS trên địa bàn xã nói riêng Diện tích đất đai canh tác trong vùng thuộcloại đất thịt, đất thịt pha cát có độ màu cao, trong đó loại đất thịt pha cát là loại đấtthuận lợi cho NTTS nói chung và nuôi xen ghép tôm – cá – cua nói riêng Ngoài ra,Phú Mỹ có một số diện tích ven đầm phá được bà con đưa vào sản xuất và NTTS
- Điều kiện khí hậu, thời tiết: Phú Mỹ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới
gió mùa, khí hậu chia ra 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3, mùa khô từtháng 4 đến tháng 8 Lượng mưa trung bình khoảng 2800ml/năm Lượng mưa nhiềunhất vào khoảng 4000ml/năm Còn về nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân khoảng 25,20C,nhiệt độ cao nhất khoảng 39,90C và nhiệt độ thấp nhất vào khoảng 8,80C
- Điều kiện về nguồn nước và thủy văn: Vùng thủy vực đầm san nằm trong hệ
thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thuộc địa phận xã Phũ Mỹ có diện tích 198ha
Trang 22chiếm 2,3% diện tích đầm phá huyện Phú Vang Đây là vùng NTTS chủ yếu với hìnhthức quảng canh chắn sáo, một số diện tích ven bờ lên đê đập thành ao, hồ mật độtương đối dày đặc đan xen chồng chéo lên nhau Trước đây, đây là vùng nổi tiếng giàunguồn lợi thủy sản, phong phú và đa dạng sinh học, tuy nhiên do khai thác và pháttriển việc vay chắn lưới quá mức đã làm cho nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt,môi trường nước ô nhiểm đến mức báo động Ngoài ra, xã Phú Mỹ còn có sông Như
Ý, đây là nguồn nước mặt chủ yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong
xã Sông này có chiều dài 12km, đoạn chảy qua xã Phú Mỹ dài 4km
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Xã Phú Mỹ là một xã nghèo, thuần nông, trước đây, có một số hộ ở đây sốnglênh đênh trên mặt nước, đời sống của họ bấp bênh, không ổn định, nhờ sự quan tâmcủa UBND huyện và các cơ quan ban ngành cấp huyện, các hộ này đã được định canh,định cư trên bờ Tuy nhiên, nhìn chung, đời sống của nhân dân vẫn còn gặp nhiều khókhăn, bà con nông dân ở đây sống bằng nghề nông, đánh bắt và NTTS là chủ yếu,trong đó nông nghiệp chiếm tỉ trọng khoảng 80%, 15% là nghư nghiệp và 5% là tiểuthủ công nghiệp, dịch vụ và các ngành nghề nông thôn
Trong những năm gần đây, thực hiện nghị quyết của Đảng bộ, hội đồng nhândân xã, phát huy những thành quả đã đạt được, mặc dù có những khi thời tiết diễn biếnkhông thuận lợi ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, NTTS hay những dịch bênhgia súc, gia cầm đe dọa đến đời sống nhân dân, đến phát triển kinh tế địa phươngnhưng cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân toàn xã đã nỗ lực phấn đấu thực hiệncác nhiệm vụ phát triển kinh tế đề ra, nhờ đó đã tạo được những chuyển biến tích cựctrên một số lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, các chương trình trọng điểm được chỉđạo thực hiện có hiệu quả, các dịch vụ khác tiếp tục phát triển, đời sống vật chất củanhân dân ngày càng đi lên, kinh tế toàn xã ngày càng phát triển ổn định và bền vững.Thu nhập bình quân đầu người khoảng 800USD/người/năm
Trang 23Bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh tế mà xã có được thì xã vẫn còntồn tại nhiều hạn chế trong việc phát triển kinh tế:
- Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giống vật nuôi chưa được quan tâm đúngmức, tại các vùng ruộng khó khai thác năng suất, chưa mạnh dạn thay thế cây côngnghiệp hoặc giống cây khác phù hợp với chất đất cũng như địa hình của vùng đất
để phá thế độc canh cây lúa nhằm tăng giá trị nông nghiệp, nâng cao đời sống củanhân dân
- Giống vật nuôi như giống lợn chưa được thay thế bằng các loại giống có năngsuất cao Bên cạnh đó, ý thức của người dân trong công tác tiêm phòng chưa cao, vìvậy các loại dịch bệnh gia súc, gia cầm vẫn đe dọa ảnh hưởng đến việc phát triển chănnuôi trong vùng
- Công tác đầu tư và phát triển dịch vụ, thương mại trên địa bàn còn nhiều hạnchế Phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống địa phương còn lúngtúng, hiệu quả thấp, chưa có kế hoạch và định hướng rõ ràng
- Việc triển khai công tác sắp xếp mặt nước NTTS vẫn còn chậm do thời tiết,môi trường đầm phá ô nhiễm Trình độ và phương tiện khai thác, đánh bắt, NTTS củangư dân còn hạn chế Giá trị ngành thủy sản đạt chưa cao và không ổn định Một số hộnuôi thủy, hải sản bị thất thu của các năm trước, nợ quá hạn của ngân hàng còn tồnđọng nên đã gặp khó khăn trong việc vay vốn để tái sản xuất
2.1.2.2 Điều kiện xã hội
2.1.2.2.1 Tình hình đất đai của xã Phú Mỹ
Diện tích đất đai mặt nước là tư liệu sản xuất chủ yếu và đăc biệt, không thểthay thế được trong NTTS nói chung và trong hoạt động nuôi tôm nói riêng Vì vây,việc tìm hiểu tình hình đất đai là điều cần thiết để xem xét khả năng, tiềm năng NTTSnói chung và nuôi tôm nói riêng của xã Để biết tình hình biến động đất đai của xã qua
3 năm 2007, 2008, 2009, ta tiến hành quan sát bảng số liệu sau:
Trang 24Năm 2009
So sánh 2008/2007
So sánh 2009/2008
dụng 18,83 12,95 12,95 -5,88 -31,23 0,00 0,00
(Nguồn: UBND xã Phú Mỹ)Năm 2008, 2009, cơ cấu đất đai không có biến động nhưng từ năm 2007 đếnnăm 2008, cơ cấu đất đai có những biến động nhất định:
- Trước tiên, sự thay đổi tổng diện tích đất đai từ 1347,61ha lên 1362,08ha, tăng14,47ha (tương ứng 1,07%) là do sai sót trong quá trình đo đạc
- Đất nông nghiệp cũng tăng thêm 62,01ha (tương ứng 8,50%) toàn bộ là do sựgia tăng đất sản xuất nông nghiệp 62,01 ha gia tăng đất sản xuất nông nghiệp là do cácnguyên nhân (không thể hiện ở bảng số liệu):
+ Đất trồng lúa giảm 17,55ha do chuyển 1,61ha qua đất ở, 13,77ha qua đấtsản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, 2,17ha qua đất giao thông và tăng 77,51ha
do đo đạc
Trang 25+ Đất trồng cây hàng năm khác giảm 0,75ha do chuyển qua đất sản xuất kinhdoanh phi nông nghiệp và tăng 2,8ha do đo đạc.
- Diện tích đất phi nông nghiệp và diện tích đất chưa sử dụng giảm 47,54ha(trong đó, đất phi nông nghiệp giảm 41,66ha và đất chưa sử dụng giảm 5,88ha) donhiều yếu tố trong đó diện tích đất chưa sử dụng giảm là do đo đạc Trong thời giantới, xã cần tìm các biện pháp thích hợp để tận dụng nguồn đất đai chưa sử dụng nàynhằm phát triển kinh tế cho địa phương, tăng thu nhập cho dân cư
2.1.2.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã:
Về giao thông, thủy lợi: Hệ thống giao thông tương đối thuận lợi cho phát triểnkinh tế, tiêu thụ hàng hóa Những năm gần đây, hệ thống giao thông trên địa bàn xãkhông ngừng được cải tạo, nâng cấp Tính đến năm 2009, xã đã có 14km đường liênthôn, liên xóm, tỉ lệ bê tông hóa giao thông nông thôn đạt 85% Tuy nhiên, bên cạnhnhững thuận lợi thì vẫn tồn tại những bất lợi, ví dụ như đường giao thông đường bộ ởđây có những đoạn đường bị xuống cấp, có rất nhiều ổ gà Hệ thống thủy lợi ở xã cũngtương đối hoàn chỉnh, 100% kênh cấp 1 được bê tông hóa Trong thời gian tới, xã vẫn
sẽ tiếp tục bê tông hóa giao thông, nâng cấp đường giao thông đồng ruộng, giao thôngnội đồng, nâng cấp hệ thống thủy lợi, kiên cố hóa hệ thống kênh mương để hoàn thiệnhơn nữa hệ thống giao thông, thủy lợi của xã
Về điện, nước sinh hoạt: Điện và nước đã trở thành những yếu tố quan trọngđáp ứng nhu cầu của con người hiện nay Trên địa bàn xã, tỉ lệ hộ dùng điện và nướcsạch sinh hoạt đạt 100% Điều này phần nào thể hiện sự phát triển của xã
Về y tế và giáo dục:
- Về y tế: Xã có một trạm y tế với hệ thống y, bác sỹ đầy đủ Công tác khámchữa bệnh được chú trọng và nâng cao, xã cũng đã tăng cường thêm cán bộ phụ trách
về Đông y nên công tác phối kết hợp giữa Đông – Tây y ngày càng thuận lợi, nhờ đó
đã khám chữa bênh cho nhiều người, hạ thấp tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng Bên cạnh
đó, xã cũng thực hiện tốt các dự án và chương trình mục tiêu quốc gia phòng chốngcác bệnh xã hội và một số dịch bệnh nguy hiểm, tích cực triển khai các dự án y tế cộngđồng đạt kết quả cao Các bênh truyền nhiễm như ho gà, sởi, bại liệt, sốt xuất huyết,
Trang 26dịch tả đã được tăng cường giám sát dịch tể, không để dịch bệnh xảy ra đồng thời tăngcường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Về giáo dục: Toàn xã hiện có 1 trường trung học cơ sở, 2 trường tiểu học và 2
cơ sở mầm non với đội ngũ giáo viên, nhân viên trường học đã được chuẩn hóa Chấtlượng dạy và học đã có những chuyển biến tích cực, trường trung học cơ sở đã đạtdanh hiệu Tập thể Tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh còn trường tiểu học thì đạt danh hiệuTiên tiến cấp tỉnh đối với trường tiểu học 1 và Tiên tiến cấp ngành đối với trường tiểuhọc 2 Trong thời gian tới, xã sẽ tiếp tục quan tâm chỉ đạo công tác giáo dục, duy trì,nâng cao chất lượng dạy và học cũng như chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở Tăng cường công tác xây dựng kỷ cương trongtrường học và thực hiện môi trường giáo dục lành mạnh, chỉ đạo thực hiện tốt cuộcvận động hai không của bộ GD&ĐT: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnhthành tích trong giáo dục; và hai nội dung: “Không ngồi nhầm lớp, không vi phạm đạođức nhà giáo”
2.1.3 Đánh giá chung về tình hình cơ bản của xã Phú Mỹ
2.1.3.1 Khó khăn
Thứ nhất, xã Phú Mỹ là một xã ven đầm phá thấp trũng, thường xuyên chịu ảnhhưởng của bão lụt gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân cũng như hoạt độngNTTS ở đây
Thứ hai, chất lượng con giống các loài thủy sản chưa đảm bảo, chưa có các cơ
sở dịch vụ cho hoạt động NTTS Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng cũngnhư chất lượng thủy sản nuôi trồng trên địa bàn
Thứ ba, một số hộ nuôi thủy, hải sản bị thất thu của các năm trước, nợ quá hạncủa ngân hàng còn tồn đọng nên đã gặp khó khăn trong việc vay vốn để tái sản xuất
Thứ tư, mặt bằng dân trí không đồng đều cũng gây khó khăn cho công tác tuyêntruyền các chủ trương, chính sách của Đảng hay phổ biến, áp dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật, các mô hình sản xuất tiến bộ đến từng người dân
Bên cạnh đó, môi trường đầm phá ô nhiễm, trình độ NTTS của người dân cònnhiều hạn chế, người dân còn thiếu chú ý đến hoạt động phòng bệnh cho thủy sản,đường sá đang có tình trạng xuống cấp cũng là những khó khăn lớn cho hoạt động
Trang 27NTTS trên địa bàn xã Đặc biệt, chất thải từ các hoạt động nông nghiệp và công nghiệpđược thải ra cống Sáu Cửa từ đó chảy ra đầm phá gây ô nhiễm nguồn nước, đồng thờinước ngọt từ sông Long chảy vào đầm phá đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt độngNTTS trên địa bàn.
2.1.3.2 Thuận lợi
Xã có diện tích thủy vực lớn, điều kiện đất đai thuận lợi cho NTTS
Xã có vị trí gần trung tâm thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu,trao đổi hàng hóa, kinh nghiệm sản xuất hay áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Đời sống của người dân trong xã ngày càng được cải thiện cả về vật chất lầntinh thần, đồng thời chất lượng y tế, giáo dục trên địa bàn xã ngày càng được nâng cao,nhờ đó mà người dân có nhiều điều kiện hơn trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật, nâng cao trình độ NTTS
Xã đã tiến hành hướng dẫn kỹ thuật NTTS cho người dân Công tác giải tỏađường thủy đạo tạo môi trường trong sạch, thông thoáng, hạn chế ô nhiễm môi trường
và dịch bệnh đã được cơ quan lãnh đạo xã quan tâm chỉ đạo
2.2 TÌNH HÌNH NUÔI XEN GHÉP TÔM – CÁ -CUA TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.2.1 Tình hình nuôi xen ghép của xã Phú Mỹ
Trong thời gian vừa qua, thời tiết thất thường đã gây nhiều khó khăn cho hoạtđộng NTTS ở đây Nhiều năm mất mùa liên tục đã làm cho kinh tế của ngư dân khôngkhỏi bị ảnh hưởng về vốn đầu tư tái sản xuất từ đó ảnh hưởng đến sinh hoạt gia đình
Từ nhiều vốn đầu tư để nuôi chuyên tôm, một số hộ chuyển sang nuôi xen ghép trên
hồ Hạ Triều nhưng do chưa nắm bắt kỹ thuật nên năng suất chưa cao Ban chỉ đạoNTTS xã đã nhiều lần họp để thành lập các tổ kêu gọi đóng góp quỹ tương trợ nhưngchưa thực hiện đựoc Từ năm 2007 - 2009, môi trường vùng nuôi của xã Phú Mỹ liêntục biến đổi độ mặn, độ pH Bên cạnh đó, một số hộ NTTS có ý thức trách nhiệm hạnchế đã không chấp hành lịch thời vụ, đồng thời tiến độ nuôi chậm, nguồn gốc cá tựnhiên khan hiếm, giá tôm rẻ, các trại tôm giống đầu tư kém dẫn đến tôm giống khôngbảo đảm, việc xử lý ao hồ chưa đồng bộ đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả NTTS
Trang 28nói chung và kết quả nuôi xen ghép tôm – cá – cua nói riêng ở xã, điều này được thểhiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng nuôi xen ghép tôm, cá, cua
của xã Phú Mỹ qua 3 năm 2007, 2008, 2009
Trang 29Qua bảng số liệu, ta thấy, năm 2008 so với năm 2007, diện tích NTTS khôngđổi và diện tích nuôi xen ghép cũng không đổi Dù diện tích nuôi xen ghép không đổinhưng năng suất của tôm, cá, cua trong hoạt động nuôi xen ghép đã có nhiều thay đổi.Trong đó, tôm và cua là động vật thủy sản chịu ảnh hưởng lớn từ việc ô nhiễm môitrường nuôi, thay đổi độ pH, do đó năng suất nuôi tôm có xu hướng giảm xuống, từ0,90 tấn/ha năm 2007 giảm xuống còn 0,50 tấn/ha năm 2008 (giảm 0,40 tấn/ha, tươngứng 44,44%) làm cho sản lượng tôm thu được từ mô hình nuôi xen ghép giảm 36,40tấn (tương ứng 44,44%) và năng suất nuôi cua giảm 0,04 tấn/ha (tương ứng 18,18%)làm sản lượng cua giảm 4 tấn (tương ứng 20%), trong khi đó, mặc dù cá cũng chịu ảnhhưởng lớn của việc thay đổi môi trường nuôi tuy nhiên năng suất nuôi cá trong môhình nuôi xen ghép tôm – cá – cua có xu hướng tăng lên, từ 0,40 tấn/ha năm 2007 lên0,49 tấn/ha năm 2008 làm sản lượng cá tăng lên 9 tấn (tương ứng 25%), sở dĩ như vậymột phần là nhờ sự nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền ngườidân nuôi đúng thời vụ, đúng kỹ thuật cũng như những nỗ lực trong công tác kiểm tragiống cá.
Đến năm 2009, diện tích NTTS đã tăng 106 ha so với năm 2008 (tương ứng76,37%) là do người dân đã tận dụng diện tích đất NTTS để tiến hành các hoạt độngNTTS, giảm thiểu các trường hợp các ao hồ bỏ trống Trong diện tích NTTS đó thìngư dân chủ yếu tiến hành nuôi xen ghép nhiều đối tượng để tăng thu nhập, nâng caohiệu quả hoạt động NTTS Diện tích nuôi xen ghép trên địa bàn xã năm 2009 đã chiếmđến 89,99% tổng diện tích NTTS Trong năm này, dù cho có những khó khăn tronghoạt động NTTS đã được đề cập ở trên như môi trường nước ngày càng ô nhiễm, giátôm rẻ, các trại tôm giống đầu tư kém dẫn đến tôm giống không bảo đảm nhưngnăng suất nuôi tôm vẫn được duy trì ở mức 0,50 tấn/ha, không thay đổi so với năm
2008 nhưng do diện tích nuôi xen ghép tăng lên nên làm cho sản lượng tôm thu đượctăng lên 64,65 tấn (tương ứng 142,09%) Mặc dù xã đã duy trì được năng suất nuôitôm nhưng xã lại không duy trì được năng suất nuôi cá, cua Năng suất nuôi cá trongnăm 2009 đã giảm 0,34 tấn/ha và năng suất nuôi cua giảm 0,15 tấn/ha so với năm
2008 Mặc dù diện tích nuôi xen ghép năm 2009 tăng nhiều so với năm 2008 nhưng do
Trang 30năng suất nuôi cá, cua năm 2009 giảm mạnh so với năm 2008 nên sản lượng cá, cuathu được cũng giảm theo.
Như vậy, ta thấy rằng, hoạt động NTTS nói chung và nuôi xen ghép nói riêng ở
xã vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc cần giải quyết, điều này đã gây ảnh hưởng khôngtốt đến năng suất, sản lượng tôm, cá, cua nuôi xen ghép Trong thời gian tới, để có thểcải thiện hiệu quả nuôi xen ghép thì trước tiên các hộ cần nâng cao ý thức chấp hànhlịch thời vụ đồng thời chú ý đến việc đầu tư bảo vê, cải tạo thủy vực Bên cạnh đó, xãcũng cần phải cải thiện nguồn tôm, cá, cua giống và chú ý đến công tác tiêu thụ thủysản trên địa bàn xã Có như vậy thì hiệu quả của hoạt động nuôi xen ghép của xã mớiđược cải thiện, hoạt động NTTS mới có thể phát triển bền vững được
2.2.2 Tình hình nuôi xen ghép của các hộ điều tra
2.2.2.1 Năng lực sản xuất của hộ
2.2.2.1.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra
Trong bất kì hoạt động nào, ta cũng không thể phủ nhận vai trò của con người.Trong hoạt động sản xuất, con người là lực lượng trực tiếp tiến hành các hoạt động vàsản phẩm sản xuất ra cũng là để phục vụ nhu cầu của con người Lực lượng tham giacác hoạt động sản xuất hay còn gọi là người lao động có ý nghĩa quyết định đến kếtquả và hiệu quả của hoạt động Trong hoạt động NTTS cũng vậy, khả năng cung ứngnguồn lao động cũng như trình độ, năng lực của mỗi người lao động trong mỗi hộ giađình NTTS phần nào phản ánh năng lực sản xuất của hộ Vì vậy, để đánh giá năng lựcsản xuất của các hộ ngư dân, trước tiên ta tiến hành nghiên cứu về tình hình nhân khẩu
và lao động của các hộ, trong đó, nhân khẩu là số người sống trong gia đình, có thể cónhững người không tham gia lao động, tuy nhiên những người này vẫn có thể đáp ứngđược nhu cầu về nguồn lao động của gia đình khi cần thiết
Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra được phản ánh qua bảng
số liệu sau:
Trang 31Bảng 5: Tình hình nhân khẩu, lao động của các
hộ điều tra năm 2009
QCC
BQC/ Tổng
- Số năm kinh nghiệm Năm 7,00 5,67 6,53
- Số lần tham gia tập huấn NTTS Lần 1,72 3,38 2,30
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)Qua bảng số liệu, ta thấy rằng, nhân khẩu bình quân mỗi hộ là 5,40 người, đây
là con số không phải nhỏ, trong khi lao động bình quân mỗi hộ lại chỉ có 2,70 người,những người trong gia đình mà không tham gia lao động tuy có thể đáp ứng được sựthiếu hụt lao động vào những thời điểm cần nhiều lao động nhưng đây cũng sẽ là mộtgánh nặng gây khó khăn cho việc đáp ứng nguồn vốn để mở rộng quy mô sản xuất
Về vấn đề lao động, có một vấn đề nhức nhối đáng quan tâm hiện nay là nhữngngười lao động trong gia đình đặc biệt là những người trẻ tuổi ngày nay thường khôngthích tham gia vào các hoạt động NTTS, cần biết nguồn lao động trẻ là những ngườidám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo, có sức khỏe, có khả năng tiếp thu khoa họccông nghệ một cách nhanh chóng, lực lượng lao động này có thể làm cho hoạt độngNTTS ngày càng phát triển hơn Vấn đề này cần được Nhà Nước cũng như chínhquyền địa phương quan tâm giải quyết, trong thời gian tới Nhà Nước cần phải có cácchính sách khuyến khích lực lượng lao động trẻ tham gia vào hoạt động NTTS để hoạtđộng NTTS ngày càng phát triển tốt hơn
Ta thấy, NTTS theo hình thức thâm canh đòi hỏi nhiều lao động hơn nhưnglực lượng lao động bình quân mỗi hộ nuôi BTC lại ít hơn hộ nuôi QCCT, do đó,
Trang 32những hộ nuôi BTC thường phải thuê lao động, điều này sẽ làm tăng chi phí chocác hộ nuôi BTC.
Nói về nguồn lao động tham gia NTTS, ta thấy những người lao động trong các
hộ nuôi QCCT có độ tuổi bình quân nhỏ hơn, trình độ văn hóa thấp hơn và cũng íttham gia tập huấn NTTS hơn những người lao động trong các hộ nuôi BTC, tuy nhiên
họ lại có số năm kinh nghiệm NTTS lớn hơn các hộ nuôi BTC Sở dĩ như vậy là bởi vìnhững người lao động NTTS theo hình thức QCCT chủ yếu là những người sống ởkhu định cư, đây là khu vực có truyền thống NTTS từ lâu đời trên địa bàn xã, nhữngngười ở đây sống chủ yếu dựa vào nguồn thu nhập từ NTTS, họ có nhiều kinh nghiệmNTTS và họ NTTS chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, đồng thời họ không quan tâm nhiềuđến các lớp tập huấn NTTS Ngược lại, các hộ nuôi BTC lại là những hộ mới NTTSkhông lâu, đồng thời do nuôi theo hình thức BTC nên họ phải chú ý nhiều hơn đếncông tác kỹ thuật, do đó họ thường xuyên tham gia các lớp tập huấn NTTS Trong khicác hộ nuôi QCCT chiếm số đông trong các hộ NTTS thì họ lại là những người NTTSdựa chủ yếu vào kinh nghiệm, ít tham gia tập huấn NTTS, đây phải chăng là vấn đề
mà xã cần quan tâm để có các biện pháp thích hợp nhằm tuyên truyền vận động nhữngngười này tham gia tập huấn NTTS để có thể phát triển NTTS trên địa bàn theo hướngtích cực
Ngoài ra, qua điều tra tôi được biết, theo như chỉ đạo của chính quyền địaphương thì 60 hộ điều tra đều tiến hành nuôi 1 vụ duy nhất trong năm Trong đó, các
hộ nuôi BTC thì tiến hành thả giống một lần và thu hoạch một lần, toàn bộ quá trìnhnuôi diễn ra trong vòng khoảng 4 tháng, như vậy, thời gian nhàn rỗi của lao độngNTTS ở các hộ BTC là rất lớn Còn đối với hộ nuôi QCCT, thời gian nuôi xen ghépkéo dài hơn do họ thu tỉa, toàn bộ quá trình nuôi diễn ra khoảng 8 tháng, những thángmưa lụt thì họ không thể tiến hành NTTS được Như vậy, việc phát triển các ngànhnghề phụ tại địa phương là việc rất cần thiết để giải quyết tình trạng lao động nhàn rỗitrong những tháng mà hộ không tiến hành NTTS
2.2.2.1.2 Tình hình sử dụng đất đai
Trên địa bàn xã Phú Mỹ, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuấtnông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao
Trang 33gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xãthì gồm chủ yếu là trồng lúa và NTTS Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn xã chủyếu là để tiến hành 2 hoạt động nói trên Trong đó, các hộ nuôi QCCT tập trung chủyếu trên địa bàn khu định cư hầu như chỉ NTTS và phần lớn nuôi xen ghép để tậndụng diện tích, tăng thu nhập Điều này được thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 6: Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra năm 2009
Diện tích nuôi xen ghép tôm – cá - cua 1,76 0,99 1,49
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy diện tích NTTS chiếm đến 99,45% tổng diện tíchđất nông nghiệp của các hộ nuôi QCCT và chiếm 82,96% tổng diện tích đất nôngnghiệp của các hộ nuôi BTC Trong diện tích NTTS thì diện tích nuôi xen ghép tôm –
cá – cua chiếm 95,52% (diện tích nuôi xen ghép chiếm 97,72% đối với các hộ nuôiQCCT và chiếm 88,93% đối với các hộ nuôi BTC trong diện tích NTTS) Các đốitượng nuôi xen ghép ở đây chủ yếu là tôm sú, cá kình và cua, ngoài ra một số hộ cònnuôi thêm cá dìa
Nhìn chung, diện tích nuôi xen ghép tôm – cá – cua bình quân mỗi hộ ở đây làkhá lớn (1,49 ha/hộ), điều này sẽ gây những khó khăn nhất định trong việc đầu tư, đặcbiệt là đối với những hộ nuôi theo hình thức BTC
Những hộ có diện tích mặt nước NTTS lớn thì mới NTTS theo hình thứcQCCT, đây là thực tế bởi vì các hộ có diện tích mặt nước lớn nếu nuôi theo hình thứcBTC sẽ đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn, trong khi đó các hộ có diện tích mặt nước ít thìlại lựa chọn cho mình hình thức nuôi BTC vì như vậy sẽ tạo ra thu nhập lớn hơn.Chình vì vậy mà diện tích NTTS cũng như diện tích nuôi xen ghép tôm – cá – cua bìnhquân mỗi hộ nuôi QCCT lớn hơn so với hộ nuôi BTC
Được biết, diện tích đất nông nghiệp ngoài NTTS thì các hộ thường chủ yếutrồng lúa (không thể hiện ở bảng số liệu), hiện tượng độc canh cây lúa vẫn là hiện
Trang 34tượng khá phổ biến trên địa bàn xã, điều này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến độ phì nhiêucủa đất đai Các hộ cần có nhận thức mới về chuyển đổi cơ cấu đất đai cho hợp lý,không nên chỉ trồng lúa mà có thể trồng xen nhiều cây trồng trên một mảnh đất hoặctrồng luân canh, trồng gối vụ
2.2.2.1.3 Tình hình đầu tư tài sản cho hoạt động nuôi xen ghép
Ta thấy rằng không có hoạt động sản xuất nào lại không cần đầu tư mà vẫn thuđược kết quả, hoạt động NTTS cũng vậy Tuy nhiên, cũng không phải nguồn đầu tưnào cũng mang lại kết quả cũng như không phải lúc nào đầu tư nhiều cũng mang lại lợinhuận cao, vì vậy, việc đầu tư như thế nào phải được cân nhắc kỹ càng, đầu tư hợp lýthì kết quả, hiệu quả mang lại cũng sẽ cao Đặc biệt hoạt động NTTS có mức độ rủi rocao do nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên cũng như môi trường dịch bệnh, do đó,việc cân nhắc trong vấn đề đầu tư càng trở nên quan trọng
Hoạt động NTTS trước tiên đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu, ngoại trừ hình thứcnuôi lồng bè và nuôi trong các ao hồ có sẵn thì hầu hết đều yêu cầu chi phí đầu tư banđầu lớn để đào ao, cải tạo đầm đồng thời mua các tư liệu sản xuất cần thiết cho hoạtđộng NTTS Dưới đây là mức độ đầu tư tài sản cho hoạt động nuôi xen ghép tôm – cá– cua của các hộ điều tra, tài sản ở đây bao gồm cả tài sản cố định và tài sản lưu động:
Bảng 7: Mức độ đầu tư tài sản của các hộ điều tra
ĐVT: Triệu đồng
2 Tổng vốn đầu tư tài sản bình quân 1 ha 11,16 67,66 30,94
- Xây dựng cơ bản bình quân 1 ha 8,09 56,47 25,02
- Mua sắm máy móc thiết bị bình quân 1 ha 3,07 11,19 5,91
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)Qua điều tra thực tế, 39 hộ nuôi QCCT được điều tra đều tận dụng diện tích mặtnước ở vùng thủy vực đầm Sam để nuôi xen ghép tôm – cá - cua theo hình thức nuôichắn sáo, do đó chi phí xây dựng cơ bản của họ tương đối thấp, mỗi hộ chỉ tốn bìnhquân 8,09 triệu đồng/ha cho chi phí xây dựng cơ bản để khoanh vùng ao nuôi Còn các
hộ nuôi BTC thì phải tốn chi phí xây dựng ao nuôi nên chi phí xây dựng cơ bản của
Trang 35các hộ này cao hơn, bình quân mỗi ha, các hộ nuôi BTC tốn khoảng 56,47 triệu đồngcho chi phí xây dựng cơ bản, cao hơn các hộ nuôi QCCT 48,38 triệu đồng/ha.
Để có thể tiến hành các hoạt động NTTS thì ngoài việc đầu tư chi phí xây dựng
cơ bản thì các hộ còn cần phải đầu tư mua sắm các máy móc thiết bị cần thiết cho hoạtđộng NTTS Đối với những hộ nuôi QCCT, họ chỉ đầu tư những máy móc thiết bị cơbản, cần thiết nhất như thuyền ghe, chài lưới, lừ Mỗi hộ QCCT bỏ ra bình quân 3,07triệu đồng/ha để mua sắm máy móc thiết bị Còn các hộ nuôi BTC do nuôi với mật độcao hơn nên họ phải chú ý nhiều hơn đến công tác kỹ thuật và mức độ đầu tư máy mócthiết bị của họ cũng cao hơn, ngoài việc đầu tư mua những máy móc thiết bị nói trênthì còn phải mua những máy móc thiết bị khác như máy bơm nước, máy sục khí Bình quân mỗi hộ nuôi BTC tốn 11,19 triệu đồng/ha để mua sắm máy móc thiết bị
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy, bình quân mỗi ha, hộ nuôi QCCT phải bỏ ra11,16 triệu đồng đầu tư cho xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị Khoản chiphí này không quá lớn, vì vậy không nhiều hộ nuôi QCCT phải vay tiền để tiến hànhhoạt động nuôi xen ghép tôm – cá - cua Trong khi đó, mỗi hộ nuôi BTC lại phải bỏ rađến 67,66 triệu đồng/ha cho các khoản chi phí nói trên, số tiền này không phải nhỏ đốivới các hộ ngư dân ở đây, do đó nhiều hộ phải vay mượn để tiến hành nuôi xen ghép.Điều này đã phần nào làm giảm kết quả và hiệu quả do hoạt động nuôi xen ghép tôm –
cá – cua mang lại đối với các hộ nuôi BTC
2.2.2.2 Kết quả và hiệu quả nuôi xen ghép tôm – cá - cua
2.2.2.2.1 Chi phí trung gian và cơ cấu chi phí trung gian của các hộ điều tra trong hoạt động nuôi xen ghép tôm – cá - cua
Như trên đã nói, chi phí trung gian là những chi phí vật chất và dịch vụ thuêngoài mà hộ ngư dân phải bỏ ra trong một chu kỳ sản xuất Chi phí này có mối quan
hệ chặt chẽ với giá trị gia tăng VA và thường thì chi phí này chiếm một tỉ lệ khá lớntrong tổng chi phí nuôi xen ghép tôm – cá – cua Như ta đã biết, việc giảm chi phí làmột trong những biện pháp nhằm tăng kết quả, hiệu quả của hoạt động và qua đó cũnglàm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, vì vậy, giảm chi phí trung gian trong hoạt độngnuôi xen ghép cũng sẽ làm tăng kết quả, hiệu quả của hoạt động nuôi xen ghép và tăngtính cạnh tranh của sản phẩm thủy sản tôm, cá, cua của các hộ ngư dân trên thị trường
Trang 36Việc sử dụng chi phí trung gian như thế nào có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả vàhiệu quả nuôi xen ghép, vì thế ta cần phải tiến hành phân tích chi phí trung gian củacác hộ ngư dân Để làm được điều đó, tôi đã tiến hành điều tra và tổng hợp thành bảng
số liệu sau:
Bảng 8: Chi phí và cơ cấu chi phí trung gian của các hộ điều tra
năm 2009 (Tính bình quân cho một ha)
mà hộ nuôi QCCT bỏ ra chỉ có 12331,47 ngàn đồng/ha, số tiền này hộ có thể lo được
mà không cần nghĩ đến việc vay mượn, nếu có vay cũng rất ít, trong khi đó hộ nuôiBTC phải bỏ ra đến 67949,81 ngàn đồng/ha cho chi phí trung gian, số tiền này các hộkhó mà tự lo được nên có rất nhiều hộ nuôi BTC phải vay mượn, điều này sẽ làm tăngchi phí dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động nuôi xen ghép Do có sự chênh lệch lớn nhưvậy về chi phí trung gian nên nuôi QCCT đã trở thành hình thức nuôi phổ biến trên địabàn xã và trở thành sự lựa chọn cần thiết của những hộ thiếu vốn đầu tư
Theo điều tra thực tế, chi phí trung gian ở đây là các khoản chi phí về giống,thức ăn (bao gồm thức ăn tươi và thức ăn công nghiệp), tu bổ, nạo vét ao, xử lý ao hồ,thuê lao động, phòng trừ dịch bệnh, chi phí điện, nhiên liệu và chi phí khác
Trang 37Ta thấy rằng, nói đến chi phí trung gian cho NTTS thì không thể không nói đếnchi phí về giống Giống là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu quyết địnhđến kết quả và hiệu quả NTTS nói chung và nuôi xen ghép nói riêng Trong thời gianqua, nhờ sự nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc tăng cường kiểm tra nguồngiống nên các hộ ngư dân đã được tiếp cận với nguồn tôm, cá, cua giống ngày càng tốthơn Tuy nhiên, nguồn giống ở đây thường được ngư dân nhập về từ Đà Nẵng nên cónhiều khó khăn trong công tác quản lý, chất lượng tôm giống chưa thực sự bảo đảm docác trại tôm giống đầu tư kém, đồng thời công tác kiểm tra nguồn giống vẫn chưađược thường xuyên khiến cho nguồn giống thủy sản mà các hộ ngư dân được tiếp cậnvẫn chưa thực sự bảo đảm.
Nói đến chi phí về giống của các hộ điều tra, ta thấy rằng, do thiếu sự đầu tưcác máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động nuôi xen ghép nên các hộ nuôiQCCT thường nuôi xen ghép tôm – cá – cua với mật độ thấp hơn do đó chi phí giốngcũng thấp hơn so với các hộ nuôi BTC Điều này được thể hiện rõ ở bảng số liệu sau:
Bảng 9: Chi phí giống của các hộ điều tra năm 2009
(Tính bình quân 1 ha)
Tôm Số lượng (vạn con) Thành tiền (1000đ) 4540,035,03 6005,757,26 5053,035,81
Cá Số lượng (vạn con) Thành tiền (1000đ) 3835,523,50 4712,643,81 4142,513,61
Thành tiền (1000đ) 2141,19 16139,85 7040,72
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)Nhìn vào bảng 8, ta thấy rằng các hộ nuôi QCCT bỏ ra chi phí giống cho hoạtđộng nuôi xen ghép tôm – cá – cua bình quân là 10516,74 ngàn đồng/ha, trong đó tôm
là đối tượng nuôi được thả nhiều nhất (5,03 vạn con/ha) và chi phí cho tôm giống cũngcao nhất đối với các hộ nuôi QCCT, chi phí tôm giống là 4540,03 ngàn đồng/ha, chiếm43,17% trong tổng chi phí về giống của các hộ nuôi QCCT Tôm giống thường đượccác hộ nuôi QCCT thả 2 lần, còn cá, cua thì giống được thả một lần và tiến hành thutỉa Đối với các hộ nuôi BTC, chi phí giống bình quân là 26858,24 ngàn đồng/ha vàtrong đó tôm vẫn là đối tượng được thả nhiều nhất (7,26 vạn con/ha), tuy nhiên chi phí
Trang 3816139,85 ngàn đồng/ha, chiếm đến 60,09% trong tổng chi phí giống) vì giá cua giống
là cao nhất trong các loại giống tôm, cá, cua, thường giá cua giống vào khoảng 3000
-5000 đồng/con Đối với các hộ nuôi BTC thì giống tôm, cá, cua đều được thả 1 lần vàthu hoạch cũng 1 lần
Chi phí về thức ăn hay lao động cũng là một trong những chi phí trung gianquan trọng trong hoạt động NTTS nói chung và hoạt động nuôi xen ghép tôm – cá –cua nói riêng Trong đó, thức ăn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinhtrưởng và phát triển của tôm, cá, cua từ đó ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả nuôicòn chi phí lao động cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệuquả nuôi Theo kết quả điều tra, đối với các hộ nuôi QCCT thì thường họ tốn rất ít chiphí thức ăn, có nhiều hộ còn không bỏ chi phí thức ăn, thức ăn mà các hộ nuôi QCCT
ở đây sử dụng chỉ có thức ăn tươi, không bỏ thức ăn công nghiệp Còn các hộ nuôiBTC ở đây thì lại chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp mà không chú trọng đến việctận dụng nguồn thức ăn tươi giá rẻ Về lao động, hầu hết các hộ ở đây đều sử dụng laođộng gia đình, rất ít sử dụng lao động thuê ngoài Các hộ nuôi BTC do nguồn lao độnggia đình ít hơn, đồng thời nuôi với mật độ dày hơn, đòi hỏi nhiều công chăm sóc, thuhoạch hơn và phải tuân thủ quy trình kỹ thuật nuôi một cách chặt chẽ hơn các hộnuôi QCCT nên các hộ nuôi BTC phải thuê lao động bên ngoài nhiều hơn so với hộnuôi QCCT Còn đối với các hộ nuôi QCCT, do việc thả tôm giống được chia làm 2đợt đồng thời lại tiến hành thu tỉa nên công lao động bỏ ra cũng không ít, tuy nhiên do
họ có nguồn lao động gia đình tương đối lớn, bên cạnh đó họ thường thực hiện đổicông nên họ ít phải thuê lao động Mặc dù công lao động gia đình không nằm trong chiphí trung gian nhưng tôi vẫn xét đến trong bảng dưới đây để nhìn nhận một cách đầy
đủ hơn về chi phí lao động của các hộ điều tra
Bảng 10: Chi phí thức ăn và lao động của các hộ điều tra
năm 2009 (Tính bình quân cho một ha)
Trang 39ăn cũng chiếm tỷ lệ cao trong chất thải có trong ao Do vậy trong kỹ thuật nuôi hiệnnay, việc quản lý cho ăn là một khâu rất quan trọng Sự dư thừa của thức ăn không chỉlàm tăng chi phí sản xuất, tăng giá thành sản phẩm, mà còn gây ô nhiễm môi trường
Qua bảng 9, ta thấy rằng chi phí thức ăn mà các hộ nuôi QCCT bỏ ra rất ít, bìnhquân mỗi hộ chỉ tốn 327,51 ngàn đồng/ha cho chi phí thức ăn tươi và không tốn chiphí cho thức ăn công nghiệp Trong khi đó, chi phí thức ăn mà các hộ nuôi BTC bỏ ra
là một khoản tiền không hề nhỏ, bình quân mỗi hộ tốn đến 30033,52 ngàn đồng/ha(69,44 ngàn đồng/ha cho chi phí thức ăn tươi và 29964,08 ngàn đồng/ha cho chi phíthức ăn công nghiệp), gấp 91,70 lần so với các hộ nuôi QCCT Ta thấy rằng, việc đầu
tư thức ăn ở các hộ điều tra còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, các hộ nuôi QCCT thìthường tận dụng nguồn thức ăn có sẵn trong đầm phá mà không bỏ thức ăn hoặc bỏthêm thức ăn tươi mà không hề sử dụng thức ăn công nghiệp, ta cần biết rằng thức ăncông nghiệp là loại thức ăn tổng hợp chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng giúp tôm, cá,cua phát triển tốt, vậy mà các hộ nuôi QCCT lại không biết tận dụng để làm tăng hiệuquả hoạt động NTTS của mình, trong khi đó chi phí cho thức ăn đối với các hộ nuôiBTC tương đối lớn mà lại chủ yếu là chi phí thức ăn công nghiệp, trong khi đó nguồnthức ăn tươi giá rẻ thì không có nhiều hộ sử dụng, mặc dù thức ăn công nghiệp là loạithức ăn tổng hợp chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng giúp tôm, cá, cua phát triển tốtnhưng ta cũng nên sử dụng kết hợp với thức ăn tươi để giảm chi phí thức ăn cho hộngư dân, đây là vấn đề mà các hộ nuôi BTC trong thời gian tới cần nhìn nhận lại để có
Trang 40động nuôi xen ghép thì các hộ nuôi xen ghép cần ý thức hơn trong việc sử dụng kếthợp giữa thức ăn tươi và thức ăn công nghiệp theo một tỉ lệ hợp lý.
Còn nói đến vấn đề lao động, khác với các loại hình sản xuất khác, các đốitượng trong NTTS có độ nhạy cảm cao với sự thay đối của các yếu tố môi trường nhưnhiệt độ, độ pH, độ mặn của nước… Vì vậy, ngoài việc đầu tư về yếu tố vật chất thìyếu tố vô cùng quan trọng đối với NTTS là phải đầu tư nhiều công chăm sóc, theo dõidiễn biến sự thay đổi của các yếu tố có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và pháttriển của các dối tượng nuôi để có biện pháp xử lý kịp thời sẽ hạn chế được những tổnthất khi có dịch bệnh xảy ra Theo số liệu điều tra, tổng số công lao động mà hộ nuôiQCCT bỏ ra bình quân một hecta là 193,84 công, tính về giá trị là 13570,74 ngànđồng/ha trong đó đến 99,91% là công lao động gia đình, chỉ có 0,09% là công lao độngthuê ngoài Đối với các hộ nuôi BTC thì công lao động của họ bỏ ra nhiều hơn hộQCCT là 118,42 công/ha, sở dĩ có sự chênh lệch như vậy chủ yếu là do ao nuôi củacác hộ QCCT thường có diện tích lớn hơn so với ao nuôi của các hộ nuôi BTC trongkhi đó công chăm sóc mà các hộ QCCT và hộ BTC bỏ ra trên một ao nuôi khôngchênh lệch nhiều Các hộ BTC bình quân bỏ 74,23% công lao động gia đình và bỏ25,77% công lao động thuê ngoài trong tổng số công lao động Công lao động gia đìnhtrên thực tế rất khó xác định vì lao động gia đình tham gia lao động không kể giờ giấc,những tính toán trên về công lao động gia đình chỉ mang tính chất ước lượng
Xét đến cơ cấu chi phí trung gian của các hộ điều tra thì ta thấy, chiếm tỷtrọng cao nhất trong tổng chi phí trung gian của các hộ điều tra là chi phí giống, sau
đó đến chi phí thức ăn và thấp nhất là chi phí khác Cụ thể đối với các hộ nuôiQCCT, có những hộ chỉ đầu tư chi phí giống mà không hề đầu tư những chi phí cònlại trong chi phí trung gian, những hộ còn lại có đầu tư nhưng không nhiều Chi phígiống là chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí trung gian của các hộ nuôiQCCT, nó chiếm đến 85,28% tổng chi phí trung gian Chiếm tỷ trọng lớn thứ haitrong tổng chi phí trung gian của các hộ QCCT là chi phí tu bổ, nạo vét ao, chi phínày chiếm 7,55% tổng chi phí trung gian Chi phí tu bổ, nạo vét ao là một chi phí kháquan trọng, cứ sau mỗi vụ nuôi, thức ăn thừa và phân của tôm, cá, cua lại đọng lạidưới đáy ao, vì vậy, việc tu bổ, nạo vét ao trước khi nuôi là cần thiết để giảm ô