vii TÓM TẮT KHOÁ LUẬN Mục đích đề tài: Đánh giá sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và và khả năng phục hồi phấn của các dòng TGMS – Nếp, là thế hệ phân ly F4, và F
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MSV : 632229
Lớp : K63-GICT
Bộ môn : DI TRUYỀN VÀ CHỌN GIỐNG CÂY TRỒNG
Hà Nội, 2022
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu khóa luận tốt
nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quân tâm, giúp đỡ
của rất nhiều cá nhân và đơn vị thực tập
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS
NGUYỄN TUẤN ANH là người thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng
dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt quá trình thực hiện
đề tài và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các anh, chị phòng Kỹ
thuật Nông Nghiệp – Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng – Học viện Nông
nghiệp Việt Nam trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa, các Thầy Cô giáo trong
bộ môn Di truyền và chọn giống cây trồng – khoa Nông học đã tạo điều kiện
giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn những người bạn đã cùng tôi học tập và lao động tại Viện
Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, những người đã sát cánh cùng tôi, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến gia đình,
bạn bè tôi đã luôn động viên, khích lệ và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
UÔNG THỊ THU HỒNG
Trang 3ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ vi
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN vii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Nguồn gốc cây lúa 3
2.2 Cây lúa nếp và tầm quan trọng của cây lúa nếp đối với đời sống và kinh tế Việt Nam 5
2.2.1 Định nghĩa lúa nếp 5
2.2.2 Giá trị sử dụng và giá trị văn hoá của gạo nếp 5
2.2.3 Thị trường gạo nếp 6
2.2.4 Một số giống lúa nếp phổ biến ở Việt Nam 8
2.3 Đặc điểm di truyền, sinh lý và sinh hoá của lúa nếp, gạo nếp 10
2.3.1 Đặc điểm sinh hoá của gạo nếp 10
2.3.2 Cơ chế sinh hoá và di truyền kiểm soát tính trạng hạt nếp trên lúa 11
2.3.3 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hàm lượng amylose 16
2.4 Bất dục đực nhân cảm ứng với nhiệt độ 17
2.4.1 Khái niệm vật liệu bất dục đực nhân cảm ứng với nhiệt độ 17
Trang 4iii
2.4.2 Hệ thống lúa lai hai dòng sử dụng bất dục đực nhân cảm ứng với
điều kiện môi trường 18
PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Vật liệu nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.3.1 Địa điểm thời gian nghiên cứu 23
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 23
3.3.3 Gieo mạ, cấy lúa, chăm sóc và bón phân 24
3.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Thờ i gian qua các giai đoa ̣n sinh trưởng của các dòng TGMS trong vụ Xuân 2022 35
4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các dòng TGMS 38
4.3 Động thái tăng trưởng số lá của các dòng 40
4.4 Động thái tăng trưởng số nhánh ở lúa 42
4.5 Một số đặc điểm hình thái của các dòng TGMS vụ Xuân 2022 43
4.6 Một số đặc điểm hình thái 45
4.7 Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất 48
4.8 Đặc điểm hạt 52
4.9 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại 53
4.10 Quá trình chuyển đổi tính dục của một số dòng TGMS 55
4.11 Chọn lọc các dòng TGMS tiềm năng 58
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 64
Trang 5PGMS : Photoperiodic sensitive Genetic Male Sterility - bất dục đực
di truyền nhân mẫn cảm với độ dài chiếu sáng (gọi tắt là dòng bất dục đực mẫn cảm với độ dài chiếu sáng)
TGMS : Thermo sensitive Genetic Male Sterility - bất dục đực di
truyền nhân mẫn cảm với điều kiện nhiệt độ (gọi tắt là dòng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ)
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
IRRI : International Rice Research Institute (Viện Nghiên cứu lúa
Quốc tế) FCRI : Viện Khoa học Nông nghiệp, Viện cây lương thực và cây
thực phẩm
USDA : Bộ Nông nghiệp Mỹ
STT : Số thứ tự
Trang 6v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Vật liệu nghiên cứu 22 Bảng 4.1 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của các dòng nghiên cứu 37 Bảng 4.2 Một số đặc điểm hình thái của các dòng TGMS - Nếp vụ Xuân
2022 44 Bảng 4 3 Một số đặc điểm nông sinh học của các dòng TGMS – Nếp vụ
Xuân 2022 46 Bảng 4.4 Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của các dòng TGMS 49 Bảng 4.5 Đặc điểm hình thái hạt thóc của dòng TGMS – Nếp vụ xuân
2022 52 Bảng 4.6 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng TGMS – Nếp vụ
Xuân 2022 54 Bảng 4.7 Quá trình chuyển đổi tính dục của một số dòng TGMS – Nếp 55 Bảng 4.8 Đặc điêm nông học và năng suất của các dòng TGMS được
chọn 58
Trang 7vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Hình 2 1 Lịch sử tiến hóa của các loài lúa trồng 4
Hình 2 2 Sơ đồ hệ thống lúa lai 3 dòng 19
Hình 2 3 Sơ đồ hệ thống lúa lai 2 dòng 20
Hình 3 1 Kiểu đẻ nhánh ở lúa 27
Hình 3 2 Mức độ trỗ thoát của cổ bông 29
Đồ thị 4 1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các dòng TGMS – Nếp 39
Đồ thị 4.2 Động thái tăng trưởng số lá của các dòng TGMS – Nếp vụ Xuân 2022 41
Đồ thị 4.3 Động thái tăng trưởng số nhánh của các dòng TGMS – Nếp vụ xuân 2022 42
Đồ thị 4 4 Diễn biến hạt phấn của 11 dòng nghiên cứu 57
Đồ thị 4 5.Diễn biến hạt phấn của 12 dòng nghiên cứu 57
Trang 8vii
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN Mục đích đề tài:
Đánh giá sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và và khả năng phục hồi phấn của các dòng TGMS – Nếp, là thế hệ phân ly F4, và F5 trong điều kiện vụ xuân 2022 để chọn lọc những dòng ưu tú
Nội dung nghiên cứu :
Theo dõi đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm hình thái, đặc điểm nông sinh học, chống chịu và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng nghiên cứu
Xác định 30% số dòng có đặc điểm nông sinh học tốt, phục hồi phấn tốt để phát triển thế hệ F5
Kết luận
Thời gian từ gieo đến trỗ của các dòng, giống và quần thể phân ly F4 khoảng thời gian dao động từ 156 – 164 ngày trọng vụ Xuân, chiều cao cây cuối cùng từ 72 - 88 cm, số lá trên thân chính từ 13.5 – 15 lá, số nhánh từ 4.6 – 9.9 nhánh
Các dòng TGMS có biểu hiện kiểu hình bất dục rõ ràng với chiều cao cổ bông thấp (trỗ ngẹn đòng), cùng với tỷ lệ đậu hạt thấp trong vụ xuân 2022 Nhiều dòng có năng suất tiềm năng và năng suất lý thuyết tương đường hoặc cao hơn đối chứng E15S
Xác định được 6 dòng s560, s562, s565, s566, s570, s572 là các dòng TGMS - Nếp ưu tú nhất có thể tiếp tục được đánh giá ở các thế hệ sau
Trang 91
PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế
giới: Lúa gạo, lúa mỳ và ngô Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực nuôi sống hơn một nửa dân số trên thế giới nhất là ở các nước châu Á, châu Phi và châu
Mỹ La tinh
Ở Việt Nam, dân số trên 90 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Nông nghiệp trồng lúa ở Việt Nam vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước nên sản xuât lúa gạo
từ đầu đã trở thành nghề nghiệp truyền thống của nông dân Việt Nam, nó đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam
Trong ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam, gạo nếp không chỉ là sản phẩm quan trọng cho tiêu thụ nội địa, nó còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị với
tỷ trọng ngày càng tăng trong những năm gần đây (từ khoảng 8% năm 2018 lên tới 29.6% năm 2020 (vietnambiz.vn, 2021) Theo chiến lược phát triển quốc gia
về xuất khẩu lúa gạo giai đoạn 2020-2030, chính phủ chủ chương tiếp tục duy trì
tỷ trọng lớn 25% của gạo nếp (25%) trong tổng lượng gạo xuất khẩu (Thu Thuỷ
& Đặng Thành, 2018) Khi diện tích đất canh tác lúa đang ngày càng bị thu hẹp thì Nhu cầu về phát triển những giống lúa năng suất cao nói chung và lúa nếp nói riêng nếp mới có tiềm năng năng suất cao để duy trì phát triển chuỗi cung ứng là cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu về sản phẩm gạo nếp phục vụ xuất khẩu trong tương lai
Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có một giống lúa lai nếp cao sản nào thực sự trong sản xuất Tiềm năng năng suất của các giống lúa nếp vẫn thấp hơn lúa tẻ từ 10-20% Mục tiêu nào đưa vào sản xuất Mục tiêu phát triển 2 lúa lai nếp qua đó là một giải pháp tiềm năng nhằm nâng cao năng suất,
Trang 102
từ mở rộng diện tích qua đó đáp ứng tốt hơn với nhu cầu về sản lượng lúa nếp dành cho xuất khẩu Với số lượng các vật liệu lúa nếp và dòng bất dục đực nhân cảm ứng nhiệt độ rất phong phú tại Việt Namlúa bất dục đực (TGMS) rất phong phú, việc tạo ra các dòng TGMS-Nếp mới phục vụ hướng chọn tạo các tổ hợp lúa lai nếp hệ hai dòng các tổ hợp lúa lai nếp mới không phải là thách thức lớn
Đề tài “ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG PHỤC HỒI PHẤN CỦA CÁC DÒNG TGMS – NẾP, THẾ HỆ F4, F5 TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN 2022 TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI” nhằm xác định các dòng TGMS-Nếp tiềm năng hướng đến hiện thực hoá mục tiêu phát triển các tổ hợp lúa lai nếp trong tương lai gần
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Đánh giá sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và và khả năng phục hồi phấn của các dòng TGMS – Nnếp, là thế hệ phân ly F4 và F5 trong điều kiện vụ xuân 2022 để chọn lọc những dòng ưu tú
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi đặc điểm nông sinh học, sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh của các dòng TGMS-Nếp
- Theo dõi đặc điểm năng suất và đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng TGMS-Nếp
- Theo dõi khả năng phục hồi phấn của các dòng TGMS-Nếp trong điều kiện vụ xuân 2022
- Chọn lọc 30% dòng có các đặc điểm nông sinh học tốt, năng suất cao nhất, chống chịu khá sâu bệnh và khả năng phục hồi phấn ổn định
Trang 113
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc cây lúa
Người ta cho rằng tổ tiên của chi lúa Oryza là một loài cây hoang dại trên siêu lục địa Gondwana cách đây ít nhất 130 triệu năm và phát tán rộng khắp các châu lục trong quá trình trôi dạt lục địa Hiện nay có khoảng 21 loài cây hoang dại thuộc chi này và 2 loài lúa đã được thuần hoá là lúa châu Á (Oryza sativa) và lúa châu Phi (Oryza glaberrima) Tổ tiên của lúa châu Á (O sativa) là một loại lúa hoang phổ biến (Oryza rufipogon) có nguồn gốc tại khu vực xung quanh vùng lưu vực sông Dương Tử (Trung Quốc)
Hiện nay đây là giống lúa chính được gieo trồng làm cây lương thực trên khắp thế giới Hơn 10.000 năm trước, cư dân nơi đây đã trồng loại lúa nước, và
nó được xem như là quê hương của loại cây lương thực này vì nơi đây có đủ mọi điều kiện để phát triển giống lúa này, và đó cũng là nơi đã xuất hiện nền văn minh lúa nước, nơi đây còn có thể xem là một trong những trung tâm nông nghiệp đầu tiên trên thế giới
Theo T.T Chang (1976), nhà di truyền học cây lúa của Viện Nghiên Cứu lúa Quốc Tế (IRRI), đã tổng kết nhiều tài liệu khác nhau và cho rằng việc thuần hóa lúa trồng có thể đã được tiến hành một cách độc lập cùng một lúc ở nhiều nơi, dọc theo vành đai trải dài từ đồng bằng sông Ganges dưới chân phía đông của dãy núi Hy-Mã-Lạp-Sơn (Himalayas - Ấn Độ), ngang qua Bắc Miến Điện, Bắc Thái Lan, Lào và Việt Nam, đến Tây Nam và Nam Trung Quốc
Ở Việt Nam, văn minh lúa nước là những nền văn minh cổ đại xuất hiện
từ cách đây khoảng 10.000 năm tại vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa Nền văn minh này đã đạt đến trình độ đủ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thuỷ lợi, phát triển các công cụ và vật nuôi chuyên dụng Chính 4 sự phát triển của nền văn minh lúa nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền
Trang 124
văn hoá đương thời như Văn hóa Hemudu, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Hòa Bình v.v Cũng có những ý kiến cho rằng, chính nền văn minh lúa nước là chiếc nôi để hình thành cộng đồng dân cư có lối sống định cư định canh và các giá trị văn hoá phi vật thể kèm theo, đó chính là văn hóa làng xã
Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới, và đặc biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng năm vào các mùa nước lũ
Một số nhà khoa học khác không công nhận Đông Nam Á là trung tâm phát sinh nông nghiệp mà chỉ xếp hạng nó vào trung tâm thứ yếu Họ cho rằng địa thế và khí hậu, cũng như chủng tộc, miền châu thổ sông Hồng cùng nguồn gốc trong tiền sử với Nam Trung Hoa Nên vùng Đông Nam Á là nơi phát sinh thứ yếu của cây lúa trồng
Hình 2 1 Lịch sử tiến hóa của các loài lúa trồng
(Chang, 1975) (AA): Ký hiệu loại nhiễm sắc thể của lúa trồng
Trang 135
2.2 Cây lúa nếp và tầm quan trọng của cây lúa nếp đối với đời sống và kinh
tế Việt Nam
2.2.1 Định nghĩa lúa nếp
Lúa nếp được coi là giống lúa đặc sản được trồng từ rất lâu đời và được
sử dụng với nhiều mục đích khác nhau trong đời sống nhân sinh của nước ta cũng như trên thế giới Ở Việt Nam gạo nếp thường được sử dụng để chế biến nhiều món “quà” khác nhau đặc biệt là trong các dịp lễ hội tuyền thống như xôi ngày rằm, xôi chè mồng một, bánh chưng - bánh dầy ngày Tết, bánh trôi ngày rằm tháng Ba; hay được sử dụng để nấu rượu nếp một loại đồ uống truyền thống Ở nhiều địa phương gạo nếp được dùng để chế biến nhiều món bánh đặc sản như bánh gai, bánh nếp, bánh rán Với mùi thơm đặc trưng lại dẻo mềm, đậm đà nên từ lâu gạo nếp đã được người dân Thái Lan ưu tiên sử dụng nhiều trong những món ăn tạo nên nét phong phú và ấn tượng như bánh chuối, bánh chuối chiên dừa, các loại xôi như xôi nướng, xôi sầu riêng, xôi kem trứng (Quỳnh Phương, 2017)
2.2.2 Giá trị sử dụng và giá trị văn hoá của gạo nếp
Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam, đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh - nền văn minh lúa nước Sông Hồng Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Hạt lúa và người nông dân cần
cù, mộc mạc là hình ảnh không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam bây giờ và mãi mãi sau này
Trước đây, người Việt chỉ có hai vụ lúa: chiêm và mùa Ngày nay, khoa học phát triển, mỗi năm có nhiều vụ nối tiếp nhau Trồng lúa phải qua nhiều giai đoạn: từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng Ruộng phải cày bừa, làm đất, bón phân Ruộng phải sâm sấp nước Khi lúa đẻ
Trang 146
nhánh thành từng bụi (đang thì con gái) lại phải làm cỏ, bón phân, diệt sâu bọ Rồi lúa làm đòng, trổ bông rồi hạt lúa chắc hạt, chín vàng Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo Biết bao công sức của nhà nông để có hạt gạo nuôi sống con người
Hạt gạo có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống vật chất của chúng
ta Gạo nếp là nguồn thực phẩm chứa nhiều tinh bột, vitamin (vitamin A, C, D,
E, vitamin B-1, vitamin B-2, niacin), protein, crom, gamma-oryzanol, carbohydrate, chất béo, chất xơ, chất kháng oxy (ít nhất 120 chất kháng oxy hóa) v.v … với nhiều vai trò khác nhau như tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa và giảm thiểu các chứng bệnh thường gặp, nâng cao và cải thiện sức khỏe (Ông Thắng thục phẩm không hoá chất, 2020) Ngoài việc nuôi sống con người, hạt lúa, hạt gạo còn gắn bó với đời sống tinh thần của người Việt Có nhiều loại gạo: gạo tẻ, gạo nếp Gạo nếp dùng làm bánh chưng, bánh giầy là hai loại bánh truyền thống của con người Việt Nam trong dịp Tết Nguyên Đán Bánh chưng, bánh giầy còn gắn liền với Lang Liêu thời vua Hùng dựng nước Lúa nếp non còn dùng để làm cốm - một thức quà thanh lịch của người Hà Nội Gạo nếp dùng để đồ các loại xôi – một món đồ lễ không thể thiếu trên bàn thờ của người Việt Nam trong ngày Tết và ngày cúng giỗ tổ tiên Đồng thời xôi cũng là thức quà quen thuộc hằng ngày
2.2.3 Thị trường gạo nếp
Thống kê từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho thấy năm 2017, xuất khẩu gạo nếp của Việt Nam đạt 1,4 triệu tấn, chủ yếu là sang thị trường Trung Quốc Năm 2017, trong khi nông dân Việt Nam mở rộng sản xuất lúa gạo nếp, Trung Quốc cũng nhanh chóng tăng sản xuất loại lúa gạo này Tồn kho của doanh nghiệp Trung Quốc hiện khá cao, nên xúc tiến xuất khẩu gạo nếp Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong ngắn hạn là không khả thi, theo một nhà xuất khẩu gạo nếp sang Trung Quốc tiết lộ Do nhu cầu đối với gạo nếp giảm,
Trang 157
giá gạo nếp đã giảm từ mức 530 – 540 USD/tấn hồi hai tháng đầu năm xuống còn 460 – 470 USD/tấn hiện nay Giá gạo nếp trên thị trường nội địa cũng giảm mạnh so với các loại gạo khác (Thị trường nông sản, 2018)
Năm 2019 Việt Nam duy trị xuất khẩu ở mức 6,5 triệu tấn do sản lượng tăng với các loại gạo chủ yếu là hương nhài nếp, gạo trắng hạt dài và hạt vừa (Vân Chi, 2019), giá trị xuất khẩu gạo nếp chiếm 9 % Hồng Kông là thị trường xuất khẩu gạo nếp lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 54 % tổng khối lượng gạo nếp xuất khẩu của Việt Nam, tiếp theo là Trung Quốc (20%) và Phillipines (13%) (Khánh Vũ, 2019) Thị trường gạo nếp trong tháng 7/2019 diễn biến khá sôi động khi giá gạo nếp Long An 10% tấm đã tăng mạnh từ mức 11,200-11,300 đầu tháng lên mức 11,650 - 11,700 vào cuối tháng Triển vọng các tháng 8-9/2019 nhu cầu gạo nếp tiếp tục tăng từ kênh tiểu ngạch đi Campuchia - Lào (AgroMonitor viettraders, 2019) An Giang là tình trồng lúa nếp lớn nhất ĐBSCL với 2 vùng chuyên canh lúa nếp rất lớn là Phú Tân khoảng 25.000 ha 8
và Châu Phú 10.000 ha, sản lượng vào khoảng 800.000 - 1 triệu tấn/năm Vào lúc cao điểm giá lúa nếp lên tới 7.500 đồng/kg Người dân một số tỉnh như: Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang lấy giống về trồng dẫn đến sản lượng tăng mạnh (Báo Thanh Niên, 2018) Xuất khẩu nếp tăng mạnh khiến cho giá lúa nếp
2016 luôn ở mức tốt Cụ thể, vụ ĐX 2015 - 2016, giá lúa nếp từ 5.000- 5.600 đ/kg; vụ hè thu 2016, giá lúa nếp 5.600 6.100 đ/kg Điều này đã kích thích nông dân ở nhiều địa phương lao vào trồng lúa nếp, kể cả ở những vùng chưa từng trồng lúa nếp Bằng chứng là trong vụ ĐX 2016-2017, diện tích gieo trồng lúa nếp ở ĐBSCL lên đến 223.044 ha, tăng 87.848 ha so với vụ ĐX 2015-2016 (Báo Nông Nghiệp Việt Nam, 2017)
Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) Trần Thanh Nam cho biết từ cuối năm 2017 đến nay, giá gạo xuất khẩu liên tục tăng
do cơ cấu lại sản xuất lúa và xuất khẩu gạo theo hướng giảm gạo phẩm cấp trung
Trang 168
bình và thấp, tăng mạnh gạo chất lượng cao, gạo thơm, gạo đặc sản, nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở thị trường châu Á chiếm tới 60 % Theo Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tỷ trọng gạo nếp chiếm khoảng 25% đặc biệt thay đổi tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường như: châu
Á còn 50%, châu Phi 25%, châu Mỹ 10%, châu Âu 6% và khu vực khác 9% (Thu Thủy và Đặng Thành, 2018)
Năm 2019 Việt Nam duy trị xuất khẩu ở mức 6,5 triệu tấn do sản lượng tăng với các loại gạo chủ yếu là hương nhài, nếp, gạo trắng hạt dài và hạt vừa (Vân Chi, 2019), giá trị xuất khẩu gạo nếp chiếm 9 % Hồng Kông là thị trường xuất khẩu gạo nếp lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 54 % tổng khối lượng gạo nếp xuất khẩu của Việt Nam, tiếp theo là Trung Quốc (20%) và Phillipines (13%) (Khánh Vũ, 2019)
Gạo chất lượng cao, gạo đặc sản, gạo nếp là những loại gạo triển vọng giúp thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, tăng giá trị, chất lượng lúa gạo Việt Nam, vì thế cần được chú trọng nghiên cứu và phát triển mạnh để đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của thi trường trong nước cũng như ngoài nước trong thời gian tới
2.2.4 Một số giống lúa nếp phổ biến ở Việt Nam
Việt Nam hiện nay, trong sản xuất phần lớn diện tích các giống đang được gieo trồng như IRI352, N97, N98, ĐT52, nếp cái hoa vàng, (Nguyễn Xuân Dũng & cs, 2015)
Giống nếp N97 là giống lúa nếp do Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo từ năm 1993, được Hội đồng khoa học Bộ NN & PTNT công nhận là giống quốc gia năm 2004 Là giống cảm ôn, gieo trồng được cả 2 vụ Cây ngắn, cứng cây, đẻ nhánh khoẻ, gọn, chống đổ, bông dài, hạt bầu, phẩm
Trang 17Giống lúa nếp cái hoa vàng được công nhận giống năm 1995, là giống truyền thống nổi tiếng tại các tỉnh Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ Việt Nam, có hạt gạo tròn, dẻo, thơm đặc biệt nên thường dùng đồ xôi, làm cốm, làm các loại bánh có sử dụng gạo nếp, làm tương hoặc ủ rượu Nếp cái hoa vàng là giống cây phản ứng với ánh sáng ngắn nên được trồng vào vụ mùa TGST dài, cao cây chống đổ tốt, đẻ nhánh trung bình yếu, chống chịu với một số điều kiện thiên nhiên, nhiễm sâu đục thân nặng Năng suất trung bình khoảng 35- 40 tạ/ha (Wikipedia, 2020)
Nếp Tú Lệ nhờ có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, mà người dân của vùng đất Yên Bái đã tạo ra một loại nông sản thơm ngon Thời điểm lúa chín, bà con nông dân ở nơi đây lại tất bật ra ruộng để thu hoạch được những hạt gạo to tròn, màu trắng trong, toả mùi thơm dịu nhẹ, quyến rũ vô cùng Nếp Tú Lệ thường được dùng để nấu xôi, làm bánh chưng, bánh dày, nấu rượu, làm món chè, Dù được biến tấu thành món ăn nào thì gạo nếp vẫn giữ được độ dẻo thơm, vị béo ngậy, ngọt đậm đà, ngon đến khó tả Bên cạnh nếp cái hoa vàng, nếp nhung cũng là một đặc sản nổi tiếng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ, thường được trồng nhiều ở 2 tỉnh Nam Định và Thái Bình Loại gạo nếp này có hạt to tròn, mập, màu trắng đục, chứa nhiều giá trị dinh dưỡng, dùng để đồ xôi là ngon
Trang 1810
nhất Khi nấu chín, nếp nhung có vị ngọt nhẹ, mềm dẻo vừa ăn, toả mùi hương quyến rũ, không bị cứng khi nguội nên được rất nhiều người yêu thích
2.3 Đặc điểm di truyền, sinh lý và sinh hoá của lúa nếp, gạo nếp
2.3.1 Đặc điểm sinh hoá của gạo nếp
a Tiêu chuẩn gạo nếp
Theo TCVN5643: 1999, gạo nếp (Oryza sativa L glutinoza) là loại gạo có nội nhũ trắng đục hoàn toàn, có mùi, vị đặc trưng, khi nấu chín, hạt cơm dẻo, dính với nhau có màu trắng trong; thành phần tinh bột hầu hết là amylopectin Bên cạnh đó, tiêu chuẩn gạo quốc tế cũng đánh giá gạo nếp (gạo sáp) là loại gạo đặc biệt, hạt có bề ngoài màu trắng đục, tinh bột của gạo nếp bao gồm gần như hoàn toàn amylopectin Hạt cơm có xu hướng dính vào nhau sau khi nấu gạo nếp (International Standards’ Organization [ISO 7301]) Theo Chung el al (2011), gạo nếp khác với gạo thông thường (gạo tẻ) chủ yếu ở chỉ tiêu là có ít hoặc hầu như không có amyloza (< 5 %) trong tinh bột, đồng nghĩa với việc có hàm lượng amylopectin cao Gạo nếp chứa rất nhiều dưỡng chất như vitamin E, canxi hay các vitamin nhóm B, sắt và các chất chống oxy hóa, chất xơ, đặc biệt cao trong nếp cẩm Trong y học, gạo nếp được dùng để trị các loại bệnh đi ngoài, tiểu rắt hay tiểu đường, giúp ngăn ngừa ung thư, chống lão hóa và điều trị thiếu máu rất hiệu quả (VOV, 2018 )
b Thành phần tinh bột hạt gạo
Theo Dương Hồng Dật (2011), thành phần hóa sinh chủ yếu của hạt gạo gồm tinh bột, protein, vitamin, khoáng chất và một phần nhỏ các hợp chất khác Tinh bột là một loại polysaccarit có trong cơ thể thực vật được cấu tạo từ Amyloza (tinh bột mạch thẳng) và amylopectin (tinh bột mạch nhánh) 11 Hàm lượng tinh bột có trong thóc chiếm 82% khối lượng hạt Hàm lượng amyloza thường chiếm khoảng 20 - 30% ở gạo tẻ và xunh quanh 0% đối với tinh bột gạo
Trang 1911
nếp, còn lại là amylopectin Tinh bột lúa tẻ khi hòa tan trong iodua kali (KI) tạo
ra dung dịch màu xanh tím, còn tinh bột lúa nếp thì cho dung dịch có màu đỏ nâu Thông thường gạo hạt tròn chứa hàm lượng amylopectin cao trong khi gạo hạt dài chứa hàm lượng amylopectin thấp hơn
Amyloza là một loại polymer không phân nhánh hoặc ít phân nhánh được tạo ra bởi 1000 - 50.000 đơn vị glucoza được nối với nhau bằng liên kết α-1,4 Amylopectin có nhiều nhánh, có thể chứa tới 100.000 - 1.000.000 đơn vị glucoza Mỗi chuỗi nhỏ của nó chứa từ 20 đến 24 đơn vị glucoza được nối với nhau bằng liên kết α-1,4 và α-1,6 (Manners, 1989)
Hàm lượng amyloza (AC) được coi là chỉ số quan trọng nhất trong việc phân loại các giống lúa vì nó ảnh hưởng đến kết cấu và tiềm năng nâng cấp của hạt nấu chín Các giống lúa được phân loại thành các lớp amyloza cao (> 25%), trung bình (20 - 25%), thấp (10 - 19%), rất thấp (3 - 9%) hoặc sáp (0 - 2%) (Paula and A., 2012) Hàm lượng amylose biến động có thể do hệ gen khác nhau, điều kiện sinh trưởng phát triển, thu hoạch và bảo quản khác nhau Cùng một loại gạo sinh trưởng phát triển trong các mùa vụ khác nhau, chịu tác động của các điều kiện ngoại cảnh khác nhau (như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng ), thời gian thu hoạch và bảo quản khác nhau thì hàm lượng amylose sẽ có sự biến động (Dương Hồng Dật, 2011)
2.3.2 Cơ chế sinh hoá và di truyền kiểm soát tính trạng hạt nếp trên lúa
a Cơ chế sinh hoá
Sự phối hợp của các enzyme khác nhau một cách có tổ chức và rất phức tạp để tổng hợp tinh bột Có bốn nhóm enzyme chính có liên quan trực tiếp và là chất xúc tác trong quá trình sinh tổng hợp tinh bột: adenosine 5' disphosphate glucose pyrophosphorylase (AGPase), enzyme tổng hợp tinh bột (SS), enzyme phân nhánh tinh bột (SBE) và enzyme bóc vỏ tinh bột (DBE) 12 Những enzyme
Trang 20DP = 8-12 chuỗi glucan (Commuri and Keeling, 2001), SSII và SSIII lần lượt sản xuất 12-25 (Zhang et al 2004; Morell et al 2003) và DP = 25-40 hoặc lớn hơn glucan chuỗi trong amylopectin (Tomlinson and Denyer, 2003) GBSS được
mã hóa bởi gen Waxy (Wx) rất cần thiết cho quá trình tổng hợp amyloza và chỉ liên kết với hạt tinh bột (Nakamura et al 1993; Sano, 1984; Echt and Schwartz, 1981), có hai đồng dạng của GBSS; GBSSI và GBSSII; GBSSI chịu trách nhiệm kéo dài amyloza trong các mô dự trữ và GBSSII trong các mô như vỏ quả, lá, thân và rễ (Yandeau-Nelson et al 2011; Vrinten and Nakamura, 2000) Đột biến xảy 13 ra trong gen waxy dẫn đến việc sản xuất thiếu amyloza (Vrinten and Nakamura, 2000; Vrinten et al 1999)
Các đồng phân khác nhau của enzyme sinh tổng hợp tinh bột được thể hiện khác nhau ở các giai đoạn phát triển nội nhũ khác nhau trong ngũ cốc (Dian
et al 2005) SSIIa, SSIII-1 và SBEIIa được thể hiện ở giai đoạn đầu; SSI, SSII-3, SSIII-2 và SBEIIb được thể hiện ở giai đoạn giữa của quá trình làm hạt; GBBSSI, SSIV và SBE1 được thể hiện khác nhau ở giai đoạn sau của giai đoạn sau làm đầy hạt trong ngũ cốc (Liu et al 2009; Fujita et al 2006; Dian et al 2005; Morell et al 1997; Gao et al 1996) Sự sắp xếp cấu trúc phân nhánh của amylopectin được tạo ra bởi các enzyme phân nhánh tinh bột (SBEs) Các enzyme này tạo ra các liên kết α-1,6 thông qua sự phân tách các liên kết
Trang 2113
glycosid nội bộ α-1,4 Các đầu khử sau đó được chuyển đến các hydroxyl C6 tạo thành một điểm nhánh mới SBEs có nhiều đồng phân (ví dụ SBEI, SBEIIa và SBEIIb) (Regina et al 2005; Gao et al 1997)
Đột biến gen SBEI dẫn đến giảm thời gian tổng hợp chuỗi dài (DP≥37) và chuỗi trung gian (DP 12 đến 21), tăng chuỗi ngắn (DP≤10) và chuỗi trung gian (DP 24 đến 34), giảm nhiệt độ khởi phát cực đại và nhiệt độ hồ hóa cuối (Xie et al., 1999; Satoh et al., 2003) Đối với gen SBEIIb, SNP được xác định bởi Han
et al (2004) trong 3′UTR, giữa giống lúa indica và lúa japonica Các alen indica
Wx (Wxi) đóng vai trò chính trong khi indica SSI (SSIi), japonica SSIIa (SSIIaj)
và indica SBEI (SBEIi) có vai trò nhỏ trong việc tăng hàm lượng amyloza (Jixun Luo et al., 2015) Enzyme bóc vỏ tinh bột đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển của amylopectin tinh thể Có hai loại DBE là Iso-1, Iso-2 (Nakamura, 2002, James et al 1995)
b Gen waxy
Cơ sở di truyền của AC đã được nghiên cứu rộng rãi Gen Waxy là gen chính quy định hàm lượng amylose và được xác định nằm trên nhiễm sắc thể số Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng trên locus Wx có ít nhất 3 alen có chức năng khác Tính dẻo được kiểm soát bởi gen lặn wx với kiểu 3n = wxwxwx, tạo nên nội nhũ của gạo nếp chỉ chứa amylopectin Gạo tẻ bao gồm cả amylose và amylopectin được kiểm soát bởi gen trội Wx, số lượng gen trội Wx trong kiểu 3n có ảnh hưởng đến hàm lượng amylose trong nội nhũ (IRRI, 1976)
Các biến dị trong gen Wx ảnh hưởng đến hàm lượng amylose: Các alen chức năng Wxa và Wxb , gây ra bởi một thay đổi cơ sở duy nhất tại vị trí nối 5' của intron 1, phân biệt hàm lượng amyloza thấp với các lớp cao và trung gian (Hirano et al., 1998; Wang et al., 1995) Đột biến G → T (AG(G/T)TATA) trong vị trí nối của intron 1 gây ra phiên mã không hiệu quả vì nối xen kẽ (Bligh
et al., 1998; Cai et al., 1998; Isshiki et al., 1998) Một CT dinucleotide đa hình
Trang 22và GBSS có thể phát hiện được, đã được báo cáo có chứa alen wx với một codon kết thúc dịch mã sớm (Wanchana et al 2003) Sự nhân đôi 23 bp trong exon 2 đã được phát hiện trong tất cả các đột biến sáp và được sử dụng làm dấu phân tử để mô tả đặc điểm hạt sáp trong kiểu gen của cây lúa (Toong Long Jeng
et al., 2008) Chúng tôi đã thành công trong việc phát triển một dấu hiệu trình tự
đa hình được khuếch đại (dCAPS) được phân tách có nguồn gốc để phát hiện đột biến nối một gốc mà không cần giải trình tự Một đoạn mồi không phù hợp
đã được sử dụng để tạo ra vị trí hạn chế ở alen Wx (a) (AGGT) nhưng không phải ở alen Wx (b) (AGTT) Ba trăm năm mươi ba chủng lúa sáp được tìm thấy rộng rãi ở châu Á sau đó đã được sử dụng để phân tích bằng cách sử dụng dấu hiệu dCAPS này (Shinsuke Yamanaka et al., 2004)
Một số alen của gen waxy đã được liệt kê như: Wxa , Wxin, Wxb , Wop Các alen Wxa và Wrop đã được xác định ở Indica trong khi các alen Wxin, Wxb
và Wx xuất hiện trong các phân loài Japonica Hàm lượng amyloza của nội nhũ gạo được kiểm soát bởi các con đường phức tạp ức chế và biểu hiện của gen waxy thông qua quá trình tổng hợp mRNA Nó đã được báo cáo rằng sự tích lũy 3,3kb Wx mRNA (với intron 1) và 2,3kb Wx mRNA (không có intron 1) quy định sự khác biệt của hàm lượng amyloza Một số đột biến được công bố có ảnh hưởng đến việc cắt intron 1 là chèn 16 nucleotide hoặc thay thế G/T tại các điểm nối intron 1/exon 1 SNP trong exon 6, được xác định là alen wx, phân tách các giống có hàm lượng amyloza trung bình và cao; và SNP trong exon 4 liên kết
Trang 2315
với kiểu hình mờ, được định nghĩa là alen Wxop Một số SNP khác ở exon 6 (A/C) và exon 10 (C/T) trong gen Waxy đã được xác định là tác động đáng kể nhất đối với hàm lượng amyloza Hơn nữa, một số thay đổi của gen sáp như (C/T) SNP tại điểm 2777 ở vị trí ranh giới của intron 7/exon 8; (A/G) SNP ở vị trí 497 từ codon khởi đầu, dẫn đến sự thay thế Asp-165/Glu-165; (G/T) SNP ở
vị trí 497 (thay thế Arg-158/His-158 ở exon 4) và (T/C) SNP ở vị trí 595 191/His-191 thay đổi ở exon 5'; (GC/TT) SNP trong intron 6, exon 7, intron7, exon 8 và một phần của 3' hoặc lặp lại chuỗi đơn giản (CT)n và (AATT)n được coi là có hiệu lực đối với nội dung amyloza Các gen waxy của giống ban đầu và loại trưởng thành được giải trình tự bằng phương pháp sanger và được so sánh thông qua công cụ tìm kiếm Nucleotide cơ bản (BLASTN) để làm rõ sự khác biệt Kết quả BLASTN cho thấy bốn đột biến điểm trong các vùng mã hóa: xóa T/ tại vị trí 34 và chèn /T giữa các vị trí 70 và 71 trong exon 3; Sự thay thế C/T
(Tyr-ở vị trí 14 trong exon 4 và sự thay thế T/C (Tyr-ở vị trí 115 trong exon 9 Trong 59 nucleotide đột biến ở các vùng không mã hóa, một số thay đổi đáng kể đã được liệt kê: việc xóa nucleotide G ở vị trí đầu tiên của intro 6 và bổ sung 32 nucleotides "GGGCCTGCGAACTGGGAGAATGTGCTCCT" vào cuối intron
12 cho thử nghiệm đầu tiên Một dấu hiệu DNA mới đã được phát triển dựa trên đột biến C/T ở vị trí 14 trong exon 4 và thay thế T/C ở vị trí 115 trong exon 9 để nâng cao hiệu quả của việc nhân giống lúa liên quan đến gen sáp (Nguyen Thi Hong et al., 2018)
Trình tự của gen Wx trên giống O Sativa (Japonica Heng-feng) dài 5499bp gồm 14 exon, 13 intron (Wang et al., 1990) Sử dụng cặp mồi: RM190.F
TTTCCAGCCCAACACCTTAC 3’ Enzyme cắt giới hạn AccI xử lý sản phẩm PCR giúp phân biệt alen wx từ WX Sản phẩm PCR của WX gồm 2 đoạn 126 bp
Trang 2416
+ 127 bp trong khi của wx sẽ có một đoạn dài hơn 253 bp (Phạm Văn Thuyết và cs., 2015)
2.3.3 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hàm lượng amylose
Nhiệt độ giai đoạn chính: Chen et al đã phát hiện thêm rằng nhiệt độ không khí cao hơn trong quá trình phát triển hạt có liên quan đến việc giảm AAC loại thấp và trung gian và tăng loại AAC cao (Nayar, 2014)
Nhiệt độ giai đoạn thu hoạch: Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng amylose trung bình của vụ Đông Xuân cao hơn vụ Hè Thu Giống MTL325, MTL385 và OM1490 có hàm lượng amylose cao trong vụ Đông Xuân nhưng trung bình trong vụ Hè Thu, giống MTL386 thì ngược lại (Lê Thu Thủy và cs., 2005) Theo Phương Thảo và Hương Trang (2017) với điều kiện thời tiết thuận lợi, đặc biệt là biên độ nhiệt ngày - đêm cao tạo điều kiện cho quá trình tích lũy dinh dưỡng của gạo vào thời kỳ trổ bông và chín chậm, là điều kiện để gạo có chất lượng dinh dưỡng tốt hơn, dẻo hơn do hàm lượng amylose xuống thấp so với các điều kiện sản xuất khác Hàm lượng amylose trung bình của gạo IR64 Điện Biên thấp hơn khá nhiều 17,04% so với IR64 được trồng ở vùng lân cận 21,3% Kết quả đó cho thấy, xét với đặc điểm về giống gốc, khi lúa IR64 được trồng tại tỉnh Điện Biên đã có sự thay đổi đáng kể về hàm lượng amylose (đều thấp hơn so với 24,4% - chỉ số của giống) (Phương Thảo và Hương Trang, 2017)
Thời gian bảo quản: Theo Nguyễn Văn Siêng và Chung Hưng Lợi (1993), thời gian sấy và nhiệt độ sấy ảnh hưởng đến tỷ lệ gạo trắng và tỷ lệ gạo nguyên rất rõ Nhiệt độ sấy thấp (400C) và thời gian sấy từ 7-8 giờ thì cho tỷ lệ gạo trắng và tỷ lệ gạo nguyên tốt nhất Sấy ở nhiệt độ cao (600C) và thời gian sấy ngắn (30’) thì cho tỷ lệ gạo trắng và tỷ lệ gạo nguyên thấp nhất, điều này có thể
do khi sấy với nhiệt độ cao, tốc độ thoát ẩm nhanh, ẩm độ giảm đột ngột làm cho hạt bị rạn nứt, khi xay xát dễ bị bể (gãy) làm ảnh hưởng đến chất lượng xay
Trang 2517
chà Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Bảnh (2004) cũng cho thấy: thời gian sấy
và nhiệt độ sấy cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ gạo nguyên Thời gian sấy 6-10 giờ thì nhiệt độ từ 40- 430C, nếu nhiệt độ hạt lớn hơn 450C trong thời gian 1 giờ thì độ gãy vỡ tăng lên một cách đáng kể Nhiệt độ sấy cũng liên hệ đến tốc độ giảm ẩm: giảm ẩm càng nhanh thì gạo gãy càng nhiều (Lê Thu Thủy và cs., 2005) D
2.4 Bất dục đực nhân cảm ứng với nhiệt độ
2.4.1 Khái niệm vật liệu bất dục đực nhân cảm ứng với nhiệt độ
Dạng bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) do yếu tố nhiệt độ quyết định, ở nhiệt độ cao thì bất dụcnhưng ở nhiệt độ thấp hữu dục
bình thường (Chen et al., 2010; Hai et al., 2012) Sự di truyền tính bất dục dạng TGMS do cặp gen lặn tms trong nhân kiểm soát (Zhang et al., 2013; Dung Nguyen Tien et al.,2013)
Ngưỡng nhiệt độ cảm ứng, hay ngưỡng nhiệt độ chuyển hoá của một dòng TGMS: Nhiệt độ chuyển hoá của các dòng TGMS khác nhau tuỳ thuộc vào gen
mỗi dòng Chính vì vậy chúng ta không thể nào khống chế chính xác ngưỡng nhiệt độ chuyển hoá của một dòng Một số dòng TGMS bất kỳ đều bất dục ở điều kiện nhiệt độ cao và hữu dục ở điều kiện nhiệt độ thấp hơn, lấy nhiệt độ chuyển hóa làm mốc Độ dài ngày rất ít ảnh hưởng đến tính hữu thụ của kiểu bất dục này
Yếu tố di truyền kiểm soát tính bất dục và ngưỡng nhiệt độ chuyển hoá
(gen tms, gen kiểm soát ngưỡng nhiệt độ chuyển hoá)
Gen tms là cặp gen lặn để kiểm tra tính dục nằm trong nhân tế bào Vào giai đoạn mẫn cảm nếu nhiệt độ môi trường tăng cao thì gen tms hoạt động gây bất dục và nếu nhiệt độ giảm xuống thấp thì gen tms hoạt động gây tính hữu dục Các nhà khoa học phát hiện gen tms1 nằm trên nhiễm sắc thể số 1 thuộc dòng 5460S của Trung Quốc (Wang, 1995), gen tms2 nằm trên nhiễm sắc thể số
Trang 2618
7 thuộc dòng Norin PL12 của Nhật Bản (Yamagushi, 1997), gen tms3 nằm trên nhiễm sắc thể số 6 thuộc dòng IR32364 của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) (Subudhi, 1997), gen tms4-1 nằm trên nhiễm sắc thể số 2 thuộc dòng TGMS-VN1 của Việt Nam (Dong, 2000), gen tms4-2 nằm trên nhiễm sắc thể số 2 (Reddy, 2000), gen tms5 và tms6-1 đều nằm trên nhiễm sắc thể số 2 thuộc dòng AnnongS-1 của Trung Quốc (Wang, 2003), gen tms6-2 nằm trên nhiễm sắc thể
số 5 thuộc dòng Sokcho-MS của Hàn Quốc (Lee, 2005) Và các gen này có thể dùng các marker OPB-19 với tms1, RM11 với tms2, F18F/F18RM với tms3, RM257 với tms4, C365-1 với tms5 và RM3351 với tms6 (Phạm Văn Thuyết và cs.,2015)
2.4.2 Hệ thống lúa lai hai dòng sử dụng bất dục đực nhân cảm ứng với điều kiện môi trường
a Lúa lai
Lúa lai (Hybrid rice) là danh tử dùng để gọi các giống lúa ứng dụng hiệu
ứng ưu thế lai đời F1 Lúa lai khác với lúa thuần (Conventinal rice) ở chỗ hạt giống lúa lai chỉ sử dụng một đời khi mà hiệu ứng ưu thể lai thể hiện mạnh nhất (Nguyễn Văn Hoan, 2006) Lúa lai có nhiều ưu điểm như có phẩm chất ưu tú, vượt trội so với bố mẹ chẳng hạn như có sức sống cao hơn, sinh trưởng nhanh, phát triển mạnh, chống chịu bệnh tật tốt, năng suất cao, thích nghi tốt Ưu thế lai biểu hiện trong lai khác thứ, lai khác dòng và rõ nhất là trong lai khác dòng Ưu thế lai thường được biểu hiện cao nhất ở đời đầu rồi sau đó giảm dần do ở các thế hệ sau mức độ dị hợp giảm dần
b Lúa lai hai dòng, phân biệt với lúa lai 3 dòng
Lúa lai 3 dòng là hương pháp chọn tạo giống lúa lai hệ “ba dòng” dựa trên
cơ sở sử dụng hệ thống bất dục đực tế bào chất để tạo ra các dạng mẹ Dạng mẹ bất dục đực ký hiệu là dòng A hoặc dòng CMS dùng để làm mẹ trong sản xuất hạt lai
Trang 2719
Để duy trì dòng bất dục được người ta có một dòng B tương ứng Dòng B chỉ khác dòng A ở chỗ không chứa yếu duy trì bất dục ở tế bào chất Sử dụng một số dòng phục hồi R (Restorer) phục hồi phấn cho dòng A và cho con lai có
ưu thế lai cao
Phương pháp tạo giống lúa lai hệ “hai dòng” dựa trên cơ sở phát hiện những vật liệu di truyền mới của cây lúa Đó là những dòng có hiện tượng bất dục đực được kiểm soát bởi gen nhân, loại gen này mẫn cảm với điều kiện môi trường
Hình 2 2 Sơ đồ hệ thống lúa lai 3 dòng
(theo ngân hàng kiến thức trồng lúa) Các dòng khác nhau sẽ phản ứng khác nhau với sự thay đổi của điều kiện môi trường gọi là EGMS (environment - sensitive make sterility) Dòng nhạy cảm với nhiệt độ môi trường gọi là TGMS (thermo - sensitive genic male sterility) trong khi nhạy cảm với thời gian chiếu sáng gọi là PGMS (photoperiod
- sensitive genic male sterility) Cả hai loại PGMS và TGMS đều do một cặp gen lặn nằm trong nhân kiểm soát, được ký hiệu là pms hoặc tms (Lu et al., 1994)
Trang 2820
Hình 2 3 Sơ đồ hệ thống lúa lai 2 dòng
(theo ngân hàng kiến thức trồng lúa)
c Ưu nhược điểm của lúa lai 2 dòng so với 3 dòng trong điều kiện Việt Nam
Lúa lai 2 dòng có khả năng thích ứng rộng do có sức sống mạnh mẽ, thích ứng nhanh và tăng khả năng đẻ nhánh trỗ bông Quá trình sản xuất hạt lai đơn giản hóa, không phải tổ chức một lần lai để duy trì dòng bất dục như ở hệ
“ba dòng” vì không cần dòng B Dòng TGMS trong điều kiện nhiệt độ cao cần thiết và dòng PGMS trong điều kiện ngày dài cần thiết sẽ bất dục tuyệt đối; ở thời kỳ này chúng được sử dụng làm mẹ để sản xuất hạt lai F1
Trong điều kiện nhiệt độ ôn hòa hoặc ngày ngắn cần thiết các dòng TGMS và PGMS sẽ hữu dục bình thường, chúng được nhân giống để duy trì hạt dòng mẹ bằng tự thụ phấn Do tính bất dục được kiểm soát bởi các gen lặn nên hầu hết các giống lúa thường đều phục hồi phấn được cho các dòng PGMS và TGMS Như vậy việc chọn được dòng phục hồi sẽ dễ dàng hơn, phổ cập hơn, có thể mở rộng ra ngoài phạm vị của một loài phụ và khả năng tạo ra các tổ hợp năng suất cao hơn được tăng lên đáng kể Kiểu gen TGMS và PGMS dễ dàng được chuyển sang giống khác để tạo ra các dòng bất dục mới vời nguồn di truyền khác nhau, tránh được nguy cơ đồng tế bào chất và thu hẹp phổ di truyền
Trang 2921
Tính bất dục của các dòng TGMS và PGMS không liên quan đến tế bào chất vì thế các ảnh hưởng của kiểu bất dục dạng “WA” đã được khắc phục, khả năng kết hợp giữa năng suất cao và chất lượng tốt được mở rộng và hiện thực hơn D òng mẹ của lúa lai “hai dòng” có phổ phục hồi rộng, nhân dòng mẹ đơn gian hản lúa lai “ba dòng” nhưng hạn chế bởi chi phối của điều kiện thời tiết nên
độ thuần hạt lai không cao, làm giảm ưu thế lai của tổ hợp Dòng lúa lai “hai dòng” dù có ưu thế cao nhưng tỷ lệ hữu dục hạt phấn thấp dẫn đến tỷ lệ hạt lép cao
Trang 3022
PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Bảng 3.1 Vật liệu nghiên cứu
22X558 s558 F5 TGMS-Nếp 21MWS12 1,2,3 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X560 s560 F5 TGMS-Nếp 21WS20 1 Hạt cá thể Lai hữu tính 22X562 s562 F5 TGMS-Nếp 21MWS24 1 Hạt cá thể Lai hữu tính 22X563 s563 F5 TGMS-Nếp 21MWS25 1,2 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X564 s564 F5 TGMS-Nếp 21MWS26 1,2 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X565 s565 F5 TGMS-Nếp 21MWS27 2,3,4 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X566 s566 F5 TGMS-Nếp 21MWS27 5,6,7,8 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X567 s567 F5 TGMS-Nếp 21MWS28 1,2,3,4 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X568 s568 F5 TGMS-Nếp 21MWS29 1,2,3,4 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X570 s570 F5 TGMS-Nếp 21MWS68 2 Hạt cá thể Lai hữu tính 22X572 s572 F5 TGMS-Nếp 21MWS70 1,2 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X574 s574 F5 TGMS-Nếp 21MWS73 1,2 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X575 s575 F5 TGMS-Nếp 21MWS82 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X576 s576 F5 TGMS-Nếp 21MWS84 hỗn hạt F4 Lai hữu tính 22X581 s581 F4 TGMS-Nếp 21XHS13 26 Hạt cá thể Lai hữu tính 22X586 s586 F4 TGMS-Nếp 21XHS2 c Hạt cá thể Lai hữu tính 22X587 s587 F4 TGMS-Nếp 21XWS25 11 Cây mẹ đồng hợp Lai hữu tính 22X588 s588 F4 TGMS-Nếp 21XWS25 12 Cây mẹ đồng hợp Lai hữu tính 22X589 s589 F4 TGMS-Nếp 21XWS25 13 Cây mẹ đồng hợp Lai hữu tính 22X590 s590 F4 TGMS-Nếp 21XWS25 51 Cây mẹ đồng hợp Lai hữu tính 22X591 s591 F4 TGMS-Nếp 21XWS25 25 Cây mẹ đồng hợp Lai hữu tính 22X592 s592 F4 TGMS-Nếp 21XHS14 Hỗn hạt F3 Lai hữu tính 22X609 s609 ĐC E15S 20X E15S TV2 hỗn hạt Lai hữu tính
Trang 3123
3.2 Nội dung nghiên cứu
o Đánh giá đặc điểm nông sinh học, sinh trưởng phát triển và khả năng chống chịu sâu bệnh của các dòng nghiên cứu
o Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng TGMS-Nếp
o Theo dõi độ hữu dục hạt phấn hữu dục của các dòng TGMS trong giai đoạn trỗ bông chính đầu tháng 4 và giai đoạn bông chét đầu tháng 5
o Chọn lọc 30% dòng có các đặc điểm nông sinh học tốt, năng suất cao nhất, chống chịu khá sâu bệnh cùng đặc điểm tính dục (phục hồi/bất dục) ổn định
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Địa điểm thời gian nghiên cứu
- Địa điểm : Khu thí nghiệm đồng ruộng Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Thời gian : Từ tháng 01 tới tháng 07 năm 2021
Trang 3224
3.3.3 Gieo mạ, cấy lúa, chăm sóc và bón phân
a Gieo mạ
Đầu tiên cắt bỏ hết tàn dư thực vật từ vụ trước trên diện tích đất mạ Sau
đó cuốc lật toàn bộ ô mạ, phơi đất khô trong 1-2 tuần Cho nước vào ruộng ngâm 1-2 ngày trước rút nước xấp mặt ruộng, cuốc nhẹ lần 2 cho tơi đất Dùng cào vùi phân với lượng 16 gram/m2 N-P-K 12-17-15 vào đất ở độ sâu 3-4cm Tiến hành lên luống và trang phẳng mặt luống với độ nghiêng nhẹ 3-5o để tránh đọng nước Ngâm, ủ và gieo hạt : Cho hạt lúa bỏ vào túi nylon có đục lỗ để ngâm ủ Sau đó ngâm bằng nước lạnh trong vòng 60 giờ Cứ 24 giờ thì thay nước rửa hạt một lần để tránh làm chua hạt đến khi phôi hạt nổi màu trắng rõ Vẩy sạch nước trong túi nylon Bọc túi nylon đựng hạt bằng khăn ẩm rồi ủ hạt nảy mầm trong tủ định ôn 28oC khoảng 16-24 giờ sau thì đem gieo Gieo hạt bằng cách gieo ngẫu nhiên hạt trên ruộng mạ được che bằng nylon, luống mạ được chia thành từng ô 30 cm × 30 cm, mỗi ô gieo khoảng 100 -150 hạt của mỗi dòng
Chăm sóc mạ : Sau khi gieo mạ cần chú ý bảo vệ mạ thời tiết xấu, khỏi chim và chuột, có thể chăng lưới hoặc quây nylon nếu cần thiệt Khi mạ được 1
lá thật thì cho nước vào láng mặt ruộng Khi mạ được 4.1 lá bón thúc bằng phân NPK 12-17-15 với liều lượng 16g/m2 Tháo hết nước trong 2 ngày cho mạ cứng cây và đẻ nhánh đều , đồng loạt Sau đó và đẻ nhánh đều, đồng loạt Sau đó cho nước vào ngập bề mặt luống, ngang với mặt lá thứ 2 (khoảng 2-3cm) Giữ mức nước 2-3cm trong ruộng cho đến khi nhổ mạ đi cấy Cây mạ đủ tiêu chuẩn đi cấy là lá mạ to, bẹt, xanh đậm, có từ 1-3 nhánh, không sâu bệnh Nhổ mạ nhẹ tay, vuốt bùn, rửa đất (không đập đất) xếp vào rành chuyển mạ ra ruộng cấy ngay tránh để qua đêm
Trang 3325
b Cấy và chăm sóc sau cấy
Phương pháp cấy lúa : Ruộng trước khi cấy cần được bừa ít nhất 2 lần Lần đầu bừa dập cây, lần hai bừa kỹ Nước được điều chỉnh xuống xâm sấp mặt ruộng để cấy lúa được dễ dàng Cây lúa được cấy 1 dảnh, cây lúa được cấy theo kiểu hàng rộng (20 cm) – hàng hẹp (20 cm) với khoảng cách cây trong hàng là
15 cm (tương đương 25 khóm/m2 mỗi hàng 14 cây
Chăm sóc sau cấy : Bón lót trước khi bừa ruộng lần 2 bằng NPK 12-17-15 (16g/m2) Một tháng sau cấy bón thúc một lần với lượng 20 g/m2 Tổng lượng phân bón NPK là 28kg/sào Phòng trừ sâu bệnh hại : Các sâu bệnh hại phổ biến trên lúa trong vụ Xuân thương bao gồm : bạc lá, khô vằn, sâu cuốn lá, sâu đục thân cần được theo dõi hàng tuần để đảm bảo xử lý kịp thời không ảnh hướng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa
3.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Động thái tăng trưởng
Theo dõi động thái tăng trưởng về số lá, số nhánh, và chiều cao cây của các dòng được tiến hành mỗi tuần/lần Đánh giá và lấy giá trị trung bình của 7 cây liên tiếp trên hàng thứ 2, từ cây thứ 3 đến cây thứ 10 của mỗi dòng vật liệu
Chiều cao cây được đo là chiều cao từ mặt đất đến đầu mút lá cao nhất
Số nhánh được đếm gồm nhánh chính và tất cả các nhánh bên có thể quan sát thấy Số lá được đếm trên nhánh chính Một lá hoàn chỉnh được đếm là khi nó
đã phát triển và quan sát thầy gối lá Các lá đang kéo dài sẽ được tính là 0,2 lá nếu đầu lá thấp hơn ½ chiều dài phiến lá trước nó, là 0,5 nếu đầu lá dài hơn ½ chiều dài phiến lá trước nó và 0,8 nếu đầu lá dài hơn phiến lá của lá trước nó
Khi mạ được 3 lá thì bắt đầu đánh dấu số lá, tiến hành đánh dấu từ lá thứ
3 bằng sơn trắng theo cách sau Dùng sơn trắng đánh dấu lên lá theo cách: lá thứ
3 chấm 1 chấm, lá thứ 5 chấm 2 chấm, lá thứ 7 chấm 3 chấm, lá thứ 9 quay về 1
Trang 3426
chấm Cứ như thế cho đến lá cuối cùng ghi số liệu số lá/ thân chính Lấy lá hoàn chỉnh làm chuẩn số lá được tính: lá mới nhú 20% tương đương 0,2lá, lá nhú 50% tương đương với 0,5 lá, lá được 80% tương đương với 0,8 lá
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được chia nhỏ thành các giai đoạn: giai đoạn từ khi gieo mạ cho đến khi đẻ nhánh (khi mã có đến 50% số cây trong hàng có nhiều hơn 1 nhánh) có thời gian giao động từ 42 – 45 ngày tùy khả năng sinh trưởng khác nhau của các giống; giai đoạn từ khi gieo cho đến khi trỗ (khi
có đến 50% số cây trong hàng có bông dài trên 5cm) thì có thời gian dao động
từ 75 – 93 ngày tùy theo khả năng sinh trưởng của các giống; giai đoạn cuối là giai đoạn từ trỗ đến khi chín (khi hầu hết các hạt thóc đã vào chắc) giao động từ
4 - 5 ngày và còn tùy vào từng dòng
Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được chia nhỏ thành các giai đoạn: giai đoạn mạ, giai đoạn từ đoạn khi cấy đến hồi xanh, đến bắt đầu đẻ nhánh, đến trỗ
và đến khi bông lúa chín n từ khi gieo mạ cho đến khi đẻ nhánh (khi mã có đế 50% số cây trong hàng có nhiều hơn 1 nhánh) có thời gian giao động từ 42 – 45 ngày tùy khả năng sinh trưởng khác nhau của các giống; giai đoạn từ khi gieo cho đến khi trỗ (khi có đến 50% số cây trong hàng có bông dài trên 5cm) thì có thời gian dao động từ 75 – 93 ngày tùy theo khả năng sinh trưởng của các giống; giai đoạn cuối là giai đoạn từ trỗ đến khi chín (khi hầu hết các hạt thóc đã vào chắc) giao động từ 4 - 5 ngày và còn tùy vào từng giống
Tuổi mạ (ngày) là thời gian từ ngày gieo mạ đến ngày cấy
Thời gian từ ngày cấy đến khi cây bén rễ hồi xanh (ngày) là cây bén rễ hồi
xanh khi cây xuất hiện các rễ trắng mới, bắt đầu xuất hiện lá mới, số lá tăng
Thời gian từ ngày cấy đến khi cây bắt đầu đẻ nhánh (ngày) là cây bắt đầu đẻ
nhánh khi quần thể có 10% số cây đẻ nhánh dài 1cm nhô khỏi bẹ lá Thời gian
Trang 3527
từ ngày cấy đến khi cây kết thúc đẻ nhánh (ngày) là khi cây kết thúc đẻ nhánh
khi quần thể có số nhánh không đổi
Thời gian từ gieo đến trỗ được tính bằng (10%, 50%, 80% và 100%) (ngày) Thời gian sinh trưởng (ngày) là thời gian từ ngày gieo đến chín hoàn
toàn
Đặc điểm hình thái
Chiều cao cây cuối cùng: được đo từ mặt đất lên đến hết đầu bông dài nhất (không tính râu) Tổng số nhánh: số nhánh ban đầu sẽ là 1, sau khi cây lên nhánh mới sẽ là 2, 3, Khả năng đẻ nhánh là khoẻ, yếu hay trung bình Thêm vào
đó kiểu đẻ nhánh được xác định bằng cách ước lượng bằng mắt về góc của nhánh cấp 1 và nhánh chính như thân đứng (< 15o), nửa đứng (15-30o), mở (30-
45o), xoè (> 45o)
Hình 3 1 Kiểu đẻ nhánh ở lúa
Trang 3628
Tổng số bông: đếm số bông chứa hạt trên cả thân chính và nhánh Đếm số bông vô hiệu và bông hữu hiệu (bông có >10 hạt chắc được coi là bông hữu hiệu)
Chiều dài, chiều rộng, góc lá đòng và lá công năng: Cách đo chiểu dài và chiều rộng của lá đòng và lá công năng là tương tự nhau chỉ khác vị trí mọc ra của lá Chiều dài lá đo từ tai lá đến mút lá Chiều rộng của lá là đo phần rộng nhất của lá, góc lá đòng đo góc giữa cổ bông và gân lá
Độ cong phiến lá đòng (đo dây cung từ gốc lá đòng đến điểm đầu mút lá đòng, tỷ lệ giữa chiều dài phiến lá và dây cung là chỉ số độ cong phiến lá) Độ cong bản lá đòng (đo dây dung tạo ra bởi 2 mép bản lá đòng, tỷ lệ giữa chiều rộng bản lá và dây cung là chỉ số độ cong bản lá)
Màu sắc của thân có sắc tố antoxian có/không Màu sắc của lá xanh nhạt – xanh trung bình – xanh đậm Tai lá có màu xanh nhạt/tím Màu sắc của phiến lá xanh – xanh nhạt – xanh đậm – tím đỉnh lá – tím mép lá Tất cả chỉ tiêu màu sắc quan sát bằng mắt
Màu sắc mỏ hạt là vàng – tím ở giai đoạn chưa chín sẽ dễ hơn Và râu hạt có/không
Chiều dài bông: được tính từ đốt cổ bông cho đến hết đầu bông dài nhất (không tính râu) Độ trỗ thoát, chiều dài cổ bông được đo từ gối lá đòng cho đến đốt cổ bông Số dé cấp 1: được đếm trên mỗi bông
Trang 3729
Hình 3 2 Mức độ trỗ thoát của cổ bông
Chiều dài/chiều rộng hạt thóc: lấy 10 hạt của mỗi dòng xếp thành chiều dọc sát nhau để đo chiều dài của 10 hạt đó, sau đó chia cho 10 để được chiều dài hạt Với chiều rộng cũng tương tự nhưng sẽ xếp 10 hạt thóc theo bề ngang bằng nhau, sau đó đo và chia 10 để được chiều rộng
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Chọn ra 3 bông/ khóm có kích thước (nhỏ, trung bình, lớn) Sau đó đếm tổng số hạt/bông bằng cách đếm toàn bộ số hạt trên bao gồm đếm cả hạt chắc và hạt lép
Đếm hạt chắc/ lép của từng bông xong cộng lại chia trung bình.Sau đó tính tổng số hạt đếm số hạt có sẵn trên cây và hỗn Tính tỷ lệ hạt chắc = số hạt
Trang 3830
chắc/tổng số hạt (%) Số hạt/bông = Tổng số hạt chắc của khóm / số bông hữu hiệu
Số khóm/m2 được tính với khoảng cách 20x20cm là 25 cây/m2
Tổng số bông/khóm: tính tổng tất cả các bông cá thể được chọn, sau đó tính tổng và chia cho số cá thể được chọn.Số bông hữu hiệu/khóm: tuong tự thì đếm tổng số bông hữu hiệu của cá thể được chọn, sau đó chia cho số cá thể được chọn
Khối lượng hạt (M1000): Trên 1 khóm tiến hành tuốt hết hạt lúa và đếm
ra 3 lần mỗi lần 100 hạt Cho riêng ra 3 khay khác nhau rồi đem đi cân Sau khi cân xong thì tính giá trị trung bình của cả 3 lần cân thì sẽ ra được khối lượng của
100 hạt Sau đó lấy khối lượng của 100 hạt nhân với 10g thì ra khối lượng của 1000hạt Nhưng nếu CV% (hệ số biến động của 3 lần cân mà > 6% thì tiến hành cân lại)
Trang 3931
hữu dục, đại diện cho tỷ lệ phấn hữu dục của dòng trong giai đoạn trỗ Chụp ảnh
và mô tả hình dạng hạt phấn
Xác định tỷ lệ hạt phấn hữu dục: đếm số hạt phấn bất dục và hạt phấn hữu dục có trong ảnh, sau đó tính tổng số hạt phấn = số hạt bất dục + số hạt hữu duc
Tỷ lệ hạt phấn hữu dục (%) = (tổng số hạt phấn hữu dục/tổng số hạt phấn) × 100% Quan sát được thấy hạt phấn hữu dục có màu đen tròn và to Hạt phấn bất dục sẽ có màu nâu hoặc màu hơi trong và bé hơn hạt phấn hữu dục
Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính
Hàng tuần đi thăm đồng kết hợp quan sát, thấy giống nào xuất hiện sâu bệnh hại, ghi tên sâu, bệnh; mô tả mức độ sau 3 ngày quan sát lại nếu thấy mức
độ tăng lên thì phun thuốc phòng trừ Ghi rõ loại thuốc, nồng độ, thời gian ngừng gây hại sau phun; chi tiêu nào cho điểm thì ghi điểm
Thang điểm Tỷ lệ bị hại (%)
như bảng dưới Thang điểm đánh giá sâu đục thân trên cây lúa
Trang 4032
Sâu cuốn lá: Mức độ gây hại của sâu cuốn lá được đánh giá thông qua đếm tổng số dảnh lúa (mạ) có trong điểm kiểm tra; điểm số lá của 5 dảnh ngẫu nhiên Tính số lá bình quân/ dảnh, từ đó tính số lá/m2 Đếm toàn bộ số lá bị hại Tính phần trăm và cho điểm theo bảng dưới
Thang điểm sâu cuốn lá trên cây lúa
Thang điểm Tỷ lệ bị hại (%)
Thang điểm đánh giá bệnh khô vằn trên cây lúa
7 >1/2 - 3/4 diện tích bẹ lá và lá phía trên bị bệnh
9 Vết bệnh leo đến đỉnh cây lúa, các lá nhiễm bệnh nặng,
một số cây bị chết