TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: “Đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất một số dòng đậu xanh mới trong vụ Xuân năm 2022 tại Gia Lâm, Hà Nội” được thực hiện với mục đích tìm
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu
Gồm 12 dòng, giống mới chọn tạo do Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng cung cấp Giống ĐX208 được sử dụng làm đối chứng.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2022
- Khu thí nghiệm đồng ruộng khoa Nông học, Học viện nông nghiệp Việt Nam
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá đặc điểm nông học, đặc điểm sinh trưởng, phát triển một số dòng/giống đậu xanh
Đánh giá khả năng chống chịu và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng, giống đậu xanh tại Gia Lâm, Hà Nội là rất quan trọng Nghiên cứu này cũng xem xét các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực tế của các giống đậu xanh, nhằm xác định những giống có tiềm năng phát triển tốt trong điều kiện địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
- Thí nghiệm bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn không lặp lại
- Khoảng cách hàng cách hàng 0,4m; rãnh 0,3m Xung quanh thí nghiệm có luống đậu xanh bảo vệ
- Mật độ: 25 cây/m 2 , khoảng cách 40 x 15 cm/cây
- Làm đất, lên luống: Cày bừa kĩ, nhặt sạch cỏ dại và lên luống
- Phân bón: Lượng phân bón cho 1 ha: phân chuồng hoai mục 20-30 tấn, supe lân 300kg, ure 100-150kg, kali clorua 100-150kg
- Cách bón: lượng đạm và 50% kali còn lại
+ Phân chuồng, phân lân bón lót rải đều trên ruộng trước khi xới
+ Đạm, kali bón thúc làm 3 đợt:
Đợt 1 vào ngày 10-15 sau khi gieo, bón thúc 30% lượng phân đạm
Đợt 2 lúc 25 ngày sau khi gieo, bón thúc 40% lượng phân đạm và 50% phân kali
Đợt 3 lúc 40 ngày sau khi gieo, bón 30%
+ Lần 1: Khi cây có 1-3 lá thật, xới nhẹ phá váng và tỉa định số cây
Khi cây đạt 5-6 lá thật, cần xới sâu và vun cao, đồng thời bón thúc để cây phát triển tốt Đảm bảo độ ẩm cho đất trong suốt thời kỳ sinh trưởng; nếu độ ẩm dưới 65%, cần tưới nước bổ sung để duy trì sự phát triển của cây.
- Phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên kiểm tra và phòng trừ sâu bệnh kịp thời
Thu hoạch quả cần thực hiện sau mỗi đợt chín, thu riêng từng ô để tránh lẫn lộn giữa các dòng và giống khác Cần chú ý không để quả bị rơi rụng Sau khi thu hoạch, phơi và đập quả để lấy hạt khi quả đã khô.
3.4.3 Chỉ tiêu theo dõi Áp dụng theo: “QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn.
3.4.3.1 Các giai đoạn sinh trưởng của đậu xanh
- Ngày nảy mầm: Khoảng 50% số cây/ô mọc 2 lá mầm
- Ngày ra hoa: Khoảng 50% số cây/ô có ít nhất 1 hoa nở
- Thời gian ra hoa: Không tập trung: hoa nở kéo dài > 30 ngày; trung bình: hoa nở kéo dài 16-30 ngày; tập trung: hoa nở dưới 15 ngày
- Thời gian sinh trưởng: Tính từ ngày gieo đến ngày thu hoạch đợt cuối
3.4.3.2 Đặc điểm hình thái của đậu xanh
- Kiểu sinh trưởng: Hữu hạn, vô hạn
- Dạng cây: Đứng, nửa đứng, ngang
- Màu sắc thân mầm: xanh, tím
- Màu hoa: Vàng nhạt, vàng, màu khác
- Màu sắc hạt khi chín: Vàng, xanh vàng, xanh nhạt, xanh sẫm, màu khác
- Dạng hạt: Tròn, ô van, hình trụ, dạng khác
- Vỏ hạt: Sáng bóng, mốc
3.4.3.3 Các chỉ tiêu nông sinh học
Động thái tăng trưởng chiều cao cây được đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của cây, với tần suất đo định kỳ 10 ngày một lần, bắt đầu từ ngày 20 sau khi gieo.
- Chiều cao cây cuối cùng: Đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính,đo10 cây mẫu/ô
- Số đốt trên thân chính
- Số cành cấp 1/cây: Đếm số cành mọc từ thân chính của 10 cây mẫu/ô
- Tính chống đổ điều tra trước thu hoạch theo các thang
Không đổ (Hầu hết các cây đều đứng thẳng) Nhẹ (75% số cây bị đổ rạp)
- Tính tách quả điều tra trên quả và hạt khi chín theo các thang
Không có quả tách vỏ
Trung bình (25% đến 50% quả tách vỏ)
Rất cao (>75% quả tách vỏ)
3.4.3.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Số quả/cây: Đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình 1 cây
- Số hạt/quả: Đếm tổng số hạt trên quả của 10 cây mẫu/ô, tính trung bình 1 quả
- Khối lượng 1000 hạt: Cân 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt ở độ ẩm hạt 12%, lấy 1 chữ số sau dấu phẩy
- Năng suất cá thể (g/cây): khối lượng hạt trung bình của 10 cây mẫu = số hạt trung bình/cây × m1000/10 3 (cũng tính theo các lần thu hoạch và cộng lại)
* Cách chọn 10 cây lấy mẫu: Hai hàng ngoài lấy 3 cây còn hàng giữa lấy 4 cây sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh, trừ các cây ở 2 bên đầu hàng
3.4.3.5 Tình hình nhiễm một số sâu bệnh hại trên đồng ruộng
Theo dõi một số sâu bệnh hại chính:
+ Bệnh lở cổ rễ cây con (Rhizoctonia solani, Fusarium sp.) theo dõi sau 15 ngày mọc:
1 - Không nhiễm (76% số cây có vết bệnh) + Bệnh khảm lá (Mosaic Virus) theo dõi trước thu hoạch qua các thang điểm:
1 - Không nhiễm (76% số cây có vết bệnh)
Để điều tra sâu đục quả (Eitiella zinekenella) trước thu hoạch, cần xác định tỷ lệ quả bị hại bằng công thức: Tỷ lệ quả bị hại = Số quả bị hại / Tổng số quả điều tra Việc điều tra nên được thực hiện trên ít nhất 10 cây đại diện, sử dụng phương pháp 5 điểm chéo góc để đảm bảo tính chính xác.
Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) cần được điều tra trước khi thu hoạch Tỷ lệ lá bị hại được tính bằng cách chia số lá bị cuốn cho tổng số lá được điều tra Để có kết quả chính xác, cần điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc.
Thống kê và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng chương trình Excel 2013.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả đánh giá đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu xanh
Đặc điểm hình thái của cây là yếu tố quan trọng để phân biệt các giống, bao gồm thân, lá, hoa, quả và hạt Việc nhận biết các đặc điểm hình thái đặc biệt như màu sắc thân mầm, màu sắc hoa và màu sắc rốn hạt sẽ giúp dễ dàng hơn trong việc nhận dạng, đặc biệt hỗ trợ các nhà chọn tạo giống trong quá trình lai tạo các dòng/giống mới Kết quả đánh giá các đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu xanh trong vụ Xuân 2022 được trình bày trong bảng 4.1.
Thân đậu xanh là loại thân thảo, mọc thẳng đứng hoặc hơi nghiêng, với lớp lông mịn màu nâu sáng Màu sắc của thân non không liên quan chặt chẽ đến màu hoa, cho thấy tính trạng này độc lập Thân mầm có hai màu xanh và tím, cấu tạo từ nhiều đốt, số lượng đốt phụ thuộc vào yếu tố di truyền Chiều dài các đốt chịu ảnh hưởng bởi thời kỳ sinh trưởng, điều kiện ngoại cảnh và chăm sóc Những dòng có đốt dài trung bình và to có khả năng chống đổ tốt Kết quả theo dõi cho thấy có 2 dòng với mật độ lông phủ ít (ĐX208, 45X) và 4 dòng với mật độ lông phủ nhiều (13DX25, KB, DX12 và 45T), trong khi các dòng còn lại có mật độ lông phủ trung bình Quan sát gốc thân cho thấy chỉ có một dạng màu xanh Tất cả 12 dòng, giống đậu xanh nghiên cứu đều có kiểu sinh trưởng hữu hạn.
Tất cả các mẫu giống đậu xanh nghiên cứu đều có lá kép với 3 lá chét mọc cách Mỗi lá hoàn chỉnh bao gồm lá kèm, cuống lá và phiến lá Khi quan sát ở giai đoạn cây trưởng thành, hình dạng lá của các dòng giống đậu xanh có hình tim và màu sắc lá là xanh thẫm.
Hoa đậu xanh là bộ phận quan trọng của cây, thực hiện chức năng sinh sản với hoa lưỡng tính, cánh tràng màu xanh tím và cánh hoa màu vàng Hoa mọc thành chùm ở nách lá, có cuống hoa dài từ 5-10 cm, thuận lợi cho việc thu hoạch Mặc dù ở đậu tương, màu sắc thân mầm có mối liên hệ chặt chẽ với màu hoa, nhưng ở đậu xanh, chưa tìm thấy mối liên hệ này Đặc biệt, hoa đậu xanh chỉ có màu vàng, khác với đậu tương có hai màu tím và trắng Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các dòng, giống đậu xanh đều có hoa màu vàng.
4.1.4 Đặc điểm về quả và hạt Đậu xanh là cây trồng chịu hạn khá, song muốn nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế thì phải tưới nước cho đậu xanh, đặc biệt với những giống thâm canh Ở hầu hết các thời kỳ sinh trưởng của đậu xanh cần độ ẩm 80% Thời kỳ khủng hoảng nước là giai đoạn ra nụ, hoa, quả Giai đoạn cây con chỉ cần tưới độ ẩm