Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 .... Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
Người thực hiện : PHẠM THỊ ÁNH
Người hướng dẫn : PGS.TS TRẦN VĂN QUANG
Bộ môn : DI TRUYỀN - CHỌN GIỐNG CÂY TRỒNG
HÀ NỘI - 2022
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Trần Văn Quang - Bộ môn Di truyền và chọn giống cây trồng, Khoa Nông học, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam người đã dành nhiều thời gian , tâm huyết tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị phòng Kỹ Thuật Nông Nghiệp và toàn thể các cán bộ công nhân viên của Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban chủ nhiệm Khoa, các thầy cô giáo trong Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng - Khoa Nông học đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Nông Học cùng tập thể các thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dìu dắt , truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quãng thời gian học tập tại trường
Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến người thân trong gia đình và toàn thể bạn bè đã khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2022
Ký tên (Sinh viên)
Phạm Thị Ánh
Trang 3ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC ĐỒ THỊ Error! Bookmark not defined DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP viii
PHẦN I.MỞ ĐẦU 9
1.1 Đặt vấn đề 9
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 10
1.2.1.Mục đích 10
1.2.2 Yêu cầu đề tài 10
PHẦN II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
2.1 Nguồn gốc cây lúa, phân biệt cây lúa nếp và lúa tẻ 11
2.1.1 Nguồn gốc cây lúa 11
2.1.2 Phân biệt cây lúa nếp và lúa tẻ 11
2.2 Phương pháp chọn tạo giống lúa nếp cẩm 12
2.3 Một số thành tựu về nghiên cứu và phát triển giống lúa nếp cẩm trên thế giới và Việt Nam 11
2.3.1 Trên Thế giới 12
2.3.2 Tại Việt Nam 18
PHẦN III.VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Vật liệu 29
3.2 Nội dung nghiên cứu 29
3.3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 30
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 30
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 30
Trang 4iii
3.3.4 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu 35
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
PHẦN IV.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 37
4.2 Động thái tăng trưởng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 40
4.2.1 Một số đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng, giống lúa nếp cẩm 40
4.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng lúa nếp cẩm 42
4.2.3 Động thái ra lá của các dòng lúa nếp cẩm 44
4.2.4 Động thái đẻ nhánh của các dòng lúa nếp cẩm 48
4.3 Một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 51
4.4 Một số đặc điểm nông sinh học của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 54
4.5 Một số đặc điểm cấu trúc bông của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 57
4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 59
4.7 Kết quả đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh tự nhiên của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 64
4.8 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 66
4.9 Kết quả đánh giá cảm quan cơm của của các dò ng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 69
4.10 Kết quả tuyển chọn các dòng, giống lúa nếp cẩm triển vọng trong vụ Xuân 2022 72
PHẦN V.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74
5.1 Kết luận 74
5.2 Đề nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 5iv PHỤ LỤC 81
Trang 6v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CAP Cleaved Amplified Polymorphic
GABA γ-aminobutyric axit
IRRI International Rice Research Institute
PCR Polymerase Chain Reaction
PIC Hệ số đa dạng di truyền QTL Quantitative trait locus (Tính trạng số lượng)
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thời gian qua các giai đoa ̣n sinh trưởng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 38 Bảng 4.2 Một số đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 41 Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong
vụ Xuân 2022 43 Bảng 4.4 Động thái ra lá của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 46 Bảng 4.5 Động thái tăng trưởng số nhánh của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 49 Bảng 4.6 Một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân
2022 52 Bảng 4.7 Một số đặc điểm nông sinh học của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 55 Bảng 4.8 Một số đặc điểm cấu trúc bông của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 58 Bảng 4.9 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 61 Bảng 4.10 Mức độ nhiễm sâu bệnh tự nhiên của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 65 Bảng 4.11 Một số đặc điểm chất lượng gạo của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 67 Bảng 4.12 Kết quả đánh giá cảm quan cơm bằng phương pháp cho điểm (TCVN 13381-1:2021) 70 Bảng 4.13 Một số đặc điểm của các dòng, giống lúa nếp cẩm triển vọng trong vụ Xuân 2022 73
Trang 8vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Hình ảnh gieo mạ 81
Hình 2: Che phủ nilon cho mạ 81
Hình 3: Hình ảnh quần thể dòng lúa nếp cẩm thời kỳ mạ 82
Hình 4: Hình ảnh quần thể dòng lúa nếp cẩm thời kỳ chín 82
Hình 5,6: Hình ảnh cơm của đối chứng ĐH6 và các dòng nếp cẩm 83
Hình 7,8: Hình ảnh chiều dài, chiều rộng hạt gạo của giống 83
Trang 9Phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Xuân năm 2022 tại Khu thí nghiệm đồng ruộng - Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn, tuần tự không nhắc lại, diện tích mỗi công thức là 10 m2 Khoảng cách cấy hàng×hàng =
20 cm, cây×cây = 20 cm, cấy 1 dảnh/khóm
Kết quả chính và kết luận:
Qua nghiên cứu, khảo sát và đánh giá đã xác định được đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm hình thái, đặc điểm nông sinh học, năng suất và mức
độ nhiễm sâu bệnh của 23 dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022
Qua đánh giá tổng hợp về năng suất và chất lượng đã chọn ra được 5 dòng lúa nếp cẩm triển vọng trong vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm, Hà Nội là: C33, C35, C39, C51 và C66
Trang 10Lúa nếp cẩm (còn gọi là nếp than) là nguồn gen lúa nếp địa phương có phẩm chất gạo tốt, chất lượng cao, được trồng chủ yếu ở Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu; rải rác ở Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa… Gạo nếp cẩm còn được biết đến với tên gọi là “bổ huyết mễ”, đây là loại gạo được đánh giá rất cao vì có thành phần dinh dưỡng rất cao và bổ dưỡng Hàm lượng protein trong gạo nếp cẩm cao hơn 6,8%, chất béo cao hơn 20% so với các loại gạo khác Không chỉ thế, nếp cẩm còn chứa tới 8 loại axit amin (đặc biệt là Anthocyanin) cùng carotene và các nguyên tố vi lượng (sắt, kẽm) cần thiết cho cơ thể Theo Đông y, gạo nếp cẩm có tính ấm, vị ngọt, giúp bổ trung ích khí, tác dụng chữa ra
mồ hôi trộm, suy nhược cơ thể, tiêu chảy, giúp chữa viêm loét dạ dày, tá tràng, đặc biệt gạo nếp cẩm cũng rất tốt giúp bổ máu huyết và tim mạch
Giống lúa nếp cẩm được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long (Cục Trồng trọt, 2018) Tuy nhiên, diện tích trồng lúa nếp cẩm ở Việt Nam còn hạn chế, chiếm khoảng 5% diện tích trồng lúa (khoảng 390 nghìn ha), số giống được công nhận và phát triển sản xuất còn quá ít, năng suất không cao, nhiễm nặng sâu bệnh đặc biệt là đạo ôn, bạc lá hoặc đã bị thoái hóa làm giảm chất lượng Vì vậy cần phải nghiên cứu, chọn tạo các dòng, giống lúa nếp cẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, trồng được 2 vụ/năm và phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu
Trang 11Trong những năm qua, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng đã tập trung thu thập vật liệu, đánh giá, lai tạo và chọn lọc các dòng lúa nếp cẩm có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất khá, nhiễm nhẹ sâu bệnh và có hàm lượng anthocyanin cao Nhằm góp một phần nhỏ bé vào việc tuyển chọn các giống lúa nếp cẩm mới có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu tốt với dịch hại, phù hợp với điều kiện sinh thái của các tỉnh khu vực phía Bắc và đặc biệt đáp ứng
được thị hiếu người tiêu dùng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
sinh trưởng, năng suất và chất lượng một số dòng lúa nếp cẩm mới chọn tạo trong điều kiện vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm, Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1.Mục đích
Đánh giá được các đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh, năng suất và chất lượng của một số
dò ng lúa nếp cẩm mới cho ̣n ta ̣o trong vu ̣ Xuân 2022 ta ̣i Gia Lâm, Hà Nô ̣i
1.2.2 Yêu cầu đề tài
- Theo dõi đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái của mô ̣t số dòng lúa nếp cẩm mới cho ̣n ta ̣otrong vụ Xuân 2022
- Đánh giá mứ c đô ̣ nhiễm sâu bê ̣nh của các dòng lúa nếp cẩm trong vu ̣ Xuân 2022
- Theo dõi, thu thập số liệu về các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất
và chất lượng của các dòng lúa nếp cẩm trong vu ̣ Xuân 2022
- Chọn được 5 - 10 dòng lúa nếp cẩm có triển vo ̣ng trong vu ̣ Xuân 2022
Trang 12PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc cây lúa, phân biệt cây lúa nếp và lúa tẻ
2.1.1 Nguồn gốc cây lúa
Về nguồn gốc cây lúa, đã có nhiều nghiên cứu khác nhau đề cập tới nhưng cho tới nay vẫn chưa có những dữ liệu chắc chắn và thống nhất
Nguồn gốc của lúa cẩm vẫn chưa rõ ràng nhưng có thể có nguồn gốc từ các nước Châu Á bao gồm Trung Quốc (Mingwei & cs., 1995), Nhật Bản (Natsumi & Noriko, 1994) và ở Việt Nam (Quan, 1999) Chaudary & Tran (2001) cho rằng lúa cẩm có nguồn gốc từ Sri Lanka, Philippin, Bangladesh, Thailand, Myanmar và Indonesia Lúa cẩm đa dạng về màu sắc vỏ hạt do hàm lượng sắc tố anthocyanin và khác nhau về hình thái Lúa cẩm chưa được biết rõ
về nguồn gốc, nhưng hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng lúa cẩm có nguồn gốc
từ các nước Châu Á Lúa cẩm chủ yếu là lúa nếp và có ở cả hai loài phụ Indica
và Japonica (Mingwei & cs., 1995)
2.1.2 Phân biệt cây lúa nếp và lúa tẻ
Từ lâu, các nhà khoa học dựa vào nội nhũ để phân biệt các giống lúa nếp hay lúa tẻ, các đặc điểm hình thái, sinh lý để nhận biết các dạng lúa Theo IRRI (2002), gạo nếp thường có hàm lượng amylose < 3% Theo Chena & cs (2008), hàm lượng amylose của gạo nếp khoảng từ 0 - 5% Việc phân biệt nội nhũ của các giống địa phương giúp cho các nhà quản lý nguồn gen xác định kỹ thuật bảo quản nguồn gen đó
Căn cứ chủ yếu để phân chia lúa nếp và lúa tẻ dựa trên cấu tạo tinh bột của nội nhũ Nội nhũ của lúa tẻ tích lũy tinh bột dạng amylose gồm 200 đến
1000 đơn vị gluco, nối với nhau bởi các nối α-1,4 glocozit với khối lượng phân
tử từ 10.000 đến 100.000 đơn vị gluco Phân tử có cấu trúc xoắn với 6 gluco nối thành vòng, amylose nhuộm màu xanh với iốt
Trang 13Nội nhũ lúa nếp được tích lũy dưới dạng amylopectin có phân tử lớn hơn gồm 20 đến 25 đơn vị gluco sắp xếp thành nhánh liên kết với nhau bởi cả hai nối
α-1,4 glucozit và α-1,6 glucozit với khối lượng phân tử 50.000 đến 1.000.000
đơn vị gluco, phản ứng với iốt chuyển màu đỏ tía Để phân biệt lúa nếp và lúa tẻ, nhuộm tinh bột bằng dung dịch KI 1%
2.2 Phương pháp chọn tạo giống lúa nếp cẩm
Phương pháp chọn lọc dòng thuần chủ yếu là từ tập đoàn các giống lúa địa phương như: Nếp Lâm, Nếp Ngự, Nếp Than, Nếp Khẩu Pái và Nếp Khẩu Lường Ván Kết quả là đã có nhiều giống triển vọng được các địa phương chấp nhận và ở rộng sản xuất Đây là phương pháp sử dụng phổ biến ở Việt Nam và rất có giá trị trong công tác phục tráng các giống lúa cổ truyền
Phương pháp nhập nội được thực hiện rất nhiều nhưng với các giống lúa nếp thì rất ít
Phương pháp đột biến phóng xạ Co60 để cải tạo giống lúa cẩm có chiều cao cây trên 150 cm và các giống lúa cẩm cảm quang
Phương pháp lai sử dụng nguồn gen lúa địa phương trong hầu hết các tổ hợp lai hoặc lúa nếp cải tiến đã chọn tạo ra các giống lúa nếp có triển vọng, công nhận tạm thời, công nhận chích thức như Nếp 44, Nếp 97, Nếp ĐS101, OM 208,
2.3 Một số thành tựu về nghiên cứu và phát triển giống lúa nếp cẩm trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Trên Thế giới
a) Vai trò, giá trị của cây lúa nếp cẩm trên thế giới
Borah & cs (2018) cho biết Chakhao (lúa đen; Oryza sativa L.) là tên gọi
chung cho các giống lúa đen bản địa nổi tiếng ở vùng Manipur (là một trong 8 bang ở vùng Đông Bắc Ấn Độ, nổi tiếng với các giống lúa cổ truyền có giá trị về
văn hoá và y học) Ở đây có 4 giống lúa đen bản địa (Chakhao poireiton,
Chakhao angouba, Chakhao amubi và Chakhao pungdol amubi) được 57 %
nông dân gieo trồng và chiếm 10% diện tích lúa Theo nông dân, tất cả các
Trang 14giống lúa đen này đều có khả năng chống chịu sâu bệnh Gạo đen được sử dụng trong các lễ và nghi lễ tôn giáo-văn hóa khác nhau của người Meiteis Ngoài ra,
nó còn được dùng làm thuốc chữa bệnh tiểu đường và phụ nữ có thai
Theo Farhan & cs (2020) tiêu thụ gạo màu đang gia tăng nhanh chóng do chúng được coi là nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng Trong các giống lúa màu có chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học Các hợp chất phenolic đã được tìm thấy bao gồm anthocyanidins, axit ferulic, diferates, anthocyanins và proanthocyanidins cao phân tử Anthocyanin nằm ở lớp vỏ cám, trong khi axit phenolic chủ yếu có phía bên trong lớp cám, tồn tại ở dạng tự do hoặc liên kết Ngoài tác dụng chống viêm, chống oxy hóa và chống ung thư, gạo màu còn được coi là một loại thực phẩm chức năng và nguồn lương thực ở nhiều nước châu Á
Anthocyanins là thành phần chính tạo nên màu đỏ, tím, xanh ở hoa, quả ở cây ra và cây lương thực Nó được coi là nhân tố hết sức quan trọng đối với sức khoẻ con người, đặc biệt dành cho ăn kiêng Các nghiên cứu về sinh tổng hợp và
di truyền Anthocyanin được nhiều tác giả nghiên cứu trên cả cây 1 lá mầm và 1
lá mầm (Cappellini & cs., 2021)
Theo Mackon & cs (2021) anthocyanins là chất chống oxy hóa được sử dụng làm chất tạo màu tự nhiên và có lợi cho sức khỏe con người Anthocyanin góp phần giải độc các loài có phản ứng oxy hoá và duy trì sự tăng trưởng và phát triển của thực vật dưới các áp lực môi trường khác nhau Chúng là các hợp chất phenol phân bố rộng rãi trong tự nhiên và là nguyên nhân tạo ra một loạt các màu hấp dẫn trong nhiều cơ quan thực vật Anthocyanins được tìm thấy trong các bộ phận khác nhau của thực vật như hoa, lá, thân, chồi và ngũ cốc
b) Đa dạng di truyền nguồn gen lúa nếp cẩm
Nghiên cứu qui luật di truyền của gen điều kiển sinh tổng hợp anthocyanin
ở lúa được nhiều nghiên cứu công bố Các gen cấu trúc bao gồm phenylalanin amoniac lyase (PAL), cinnimate 4-hydroxylase (C4H), chalcone synthase
Trang 15(CHS), chalcone isomerase (CHI), flavanone 3-hydroxylase (F3H), flavonoid hydroxylase (F3'H), dihydroflavonol 4-reductase (DFR) và anthocyanidin synthase (ANS), trong đó anthocyanidin synthase (ANS) và UDP-glucosyl transferase (UGT) trực tiếp tham gia vào con đường sinh tổng hợp anthocyanin (Kim & cs., 2007; Shih & cs., 2008)
3'-Mức độ chuyển hoá anthocyanin trong gạo tím được phụ thuộc vào mức độ biểu hiện của DFR đầu tiên, sau đó ANS, LAR, CHS và CHI ở giai đoạn vào chắc của hạt (Chen & cs., 2013) Ngoài ra, Nayeem & cs (2020) gần đây đã nghiên cứu sự biểu hiện của 8 gen cấu trúc trong giống lúa tím Navara cho thấy mức độ chuyển hoá của CHS, CHI, F3H, DFR, LAR và ANS tập trung chính ở gốc, trong khi chỉ có PAL được tìm thấy ở thân
Anthocyanin trong hạt gạo được quy định bởi hai nhóm gen bHLH (Ra1,
OsB1, Rb, Ra2 và OsB2), và gen R2R3-MYB (OsC1) (Maeda & cs., 2014;
Rachasima & cs., 2017) Kim & cs (2018) cũng chứng minh rằng mức độ biểu
hiện cao của OsHY5, OsBBX14 và OsB2 trong quá trình phát triển của hạt có
liên quan đến sắc tố anthocyanin trong hạt Cho đến nay, ở các giống lúa tím, bộ phận sinh dưỡng màu tím đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn vì có liên
quan đến quá trình sinh tổng hợp anthocyanin Một gen ứng cử viên plr4 có liên
quan đến sự tích tụ sắc tố trong lá lúa (Gao & cs.,CHưa 2019) Hu & cs (2020)
chứng minh rằng tác động kết hợp của hai gen điều hòa bao gồm các locus MYB
(OsC1) và bHLH (Rb1 và Rb2) dẫn đến sự tích tụ đáng kể của
cyanidin-3-glucoside và peonidin-3-cyanidin-3-glucoside trong bẹ lá
Fongfon & cs (2021) sử dụng chỉ thị phân tử SSR để đánh giá đa dạng di truyền của 37 mẫu giống lúa cẩm địa phương cho thấy hầu hết các mẫu giống thuộc nhóm lúa cạn ở cả vĩ độ thấp và cao là loài phụ japonica Mức độ sai khác
di truyền thấy rõ ở giữa các mẫu giống lúa cạn và lúa nước nhưng không có sự sai khác giữa các vĩ độ khác nhau
Trang 16Thông qua đánh giá kiểu hình của 11 giống lúa đen và 2 giống lúa trắng cho rằng khoảng phân loại là 1, 2 trong 5 nhóm, với nhóm I bao gồm giống lúa đen từ Sragen (T) và từ Bantul (O); nhóm II bao gồm giống lúa đen từ Banjarnegara (Y), và từ Wonosobo (W), giống lúa đen không râu từ Magelang (S) và có râu từ Magelang (R); nhóm III gồm Pari Ireng (D), lúa đen từ NTT (E), Cempo Ireng (C) và Jlitheng (B); nhóm IV bao gồm giống lúa trắng từ Inpari 6 (I) và Situbagendit (G); và nhóm V gồm 1 giống lúa đen từ Melik (A) Sắc tố Anthocyanin có tác dụng làm giảm cholesterol trong cơ thể con người
(Lee và cs., 2008) So với lúa trắng, lúa đen chứa nhiều khoáng chất hơn, bao gồm Fe, Zn, Mn và P (Zhang & cs., 2000) Nguồn gốc của lúa đen vẫn chưa rõ
ràng nhưng nó có thể có nguồn gốc từ các nước châu Á bao gồm Trung Quốc
(Mingwei và cs., 1995), Ấn Độ (Sastry, 1978), Nhật Bản (Natsumi and Noriko,
1994) Chaudary and Tran (2001) cho rằng lúa đen có nguồn gốc từ Sri Lanka, Philippines, Bangladesh, Thailand, Myanmar và Indonesia Lúa đen đa dạng về màu do hàm lượng sắc tố anthocyanin và khác nhau về hình thái
c) Chọn tạo giống lúa nếp cẩm
Theo Pujiasmanto & cs (2021), ở Indonesia có giống lúa địa phương Cempo Ireng giàu anthocyanin Tuy nhiên giống này dài ngày, thích ứng rộng, năng suất thấp Tác giả sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ tia Co60 và chọn lọc Kết quả đã chọn được dòng số 51 có năng suất cao nhất đạt 8,45 tấn/ha
và dòng số 44 có hàm lượng anthocyanin cao nhất đạt 75.10 ppm
Tương tự, Purwanto & cs (2021) đã đánh giá 24 dòng lúa cẩm được chọn lọc từ việc xử lý đột biến phóng (10 dòng ở liều lượng 100 Gy và 2 đối chứng (đ/c 1); và 10 dòng ở liều lượng xử lý 200 Gy và 2 đối chứng tương ứng (đ/c 2) Kết quả đánh giá cho thấy chiều cao cây các dòng cải tiến đều thấp hơn đối chứng đ/c 1 Số lượng rễ sơ cấp cao hơn cả 2 đối chứng Tuy nhiên, đối với hàm lượng diệp lục, các dòng ở liều lượng 100 Gy cao hơn đối chứng nhưng các dòng ở liều lượng 200 Gy tương đương với đối chứng
Trang 17Pennapa & cs (2021) đã tiến hành nghiên về hàm lượng anthocyanin, kẽm (Zn), sắt (Fe) và năng suất của 11 giống lúa cẩm (PP1–PP11) ở điều kiện canh tác khác nhau: 1- ruộng có tưới; và 2- ruộng nhờ nước trời Kết quả đánh giá cho thấy: hàm lượng anthocyanin, Zn và Fe của các giống ở điều kiện có tưới biến động cụ thể: anthocyanin (1–117 mg/ 100 g), Zn (19–41 mg/ kg) và Fe (6–
19 mg/ kg) Ở điều kiện nhờ nước trời hàm lượng các chất trên thấp hơn so với điều kiện có tưới trong cùng một giống Mức chênh lệch hàm lượng các chất của cùng 1 giống ở 2 điều kiện khoảng: anthocyanin (>40 mg/100 g), Zn (>30 mg/kg) và Fe (>15 mg/ kg) Tác giả khuyến cáo nên trồng các giống lúa cẩm ở ruộng có tưới để có hàm lượng Zn và Fe cao hơn
Pujiasmanto & cs (2021) đã sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ và đã chọn được 3 dòng (13, 46, 52) ở thế hệ M7 có hàm lượng các chất cao hơn giống gốc Dòng 52 có hàm lượng anthocyanin và chất béo cao nhất, lần lượt đạt 75,04 ppm và 1,35% Dòng 46 có hàm lượng protein cao nhất đạt 7,88% Dòng
13 có hàm lượng amylose cao nhất đạt 14,92%
d) Kỹ thuật canh tác lúa nếp
* Nghiên cứu về đạm cho cây lúa
Nabilla & cs (2020) nghiên cứu của N, P, K và Nano Silica tới hàm lượng đạm tổng số, lượng đạm hấp thu và năng suất giống lúa màu ở Indonesia đã xác định được mức phân bón (300 kg Urê + 50 kg lân SP-36 + 50 kg KCl/ha và 2 mL/L Nano Silica phù hợp cho giống đạt năng suất cá thể (82,20 g/cây) hoặc năng suất thực thu (11,18 tấn/ ha) cao nhất
* Nghiên cứu về lân cho cây lúa
Theo Sarker (2002), khi nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của lân đối với lúa cho thấy hiệu suất của lân đối với hạt ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn cuối và lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân phối ở các cơ quan sinh trưởng Do
đó, phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa
Trang 18Zhang & cs (2012), khi nghiên cứu ảnh hưởng của lân đến hai giống lúa
japonica (1 giống lúa cạn Zhonghan 3 và 01 lúa nước Yangfujing 8) ở 2 phương
thức cấy khác nhau (cả hai giống cấy ở trên cạn và dưới nước) với 3 mức lân khác nhau (mức thấp 45 kg P2O5/ha; mức trung bình 90 kg P2O5/ha và mức cao
135 kg P2O5/ha) Khi mức lân tăng thì năng suất tăng của cả giống lúa cạn và nước đều tăng ở điều kiện cạn nhưng không có sự sai khác về năng suất giữa mức lân cao và trung bình đối với cả 2 giống, cụ thể năng suất của giống lúa cạn tăng nhẹ còn lúa nước giảm nhẹ Ở cả điều kiện khô hạn và có tưới, ở mức lân thấp, cả hai giống lúa đều có tỷ lệ gạo nguyên cao hơn, chất lượng nấu nướng và
ăn tốt hơn ở mức lân cao và trung bình
* Nghiên cứu về kali cho cây lúa
Kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989) cho thấy lúa hút kali vào thời kỳ
đẻ nhánh sẽ có tác dụng làm tăng số bông, số hạt, ở thời kỳ làm đòng làm tăng
số hạt và tăng trọng lượng nghìn hạt Vì vậy, thiếu kali ở giai đoạn này làm năng suất giảm mạnh Đây cũng là cơ sở cho biện pháp bón kali hợp lý
Theo kết quả nghiên cứu của Sarker (2002), từ khi cây lúa bắt đầu bén rễ đến cuối đẻ nhánh, đối với vụ sớm và vụ muộn đều hút một lượng kali tương đương nhau Từ khi phân hoá đòng đến lúc bắt đầu trỗ, cây lúa hút kali nhiều nhất và sau đó lại giảm, nhưng từ khi trỗ đến thời kỳ hạt chắc và chín thì tỷ lệ hút kali ở vụ muộn lại cao hơn vụ sớm Ở giai đoạn đầu hiệu suất của kali cao sau đó giảm dần và đến giai đoạn cuối lại cao Do lúa cần lượng kali lớn nên cần bón kali bổ sung đến giai đoạn trỗ, đặc biệt ở giai đoạn hình thành hạt là rất cần thiết
* Nghiên cứu về phân hữu cơ cho cây lúa
Herliana & cs (2018) nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ (phân gà) và
số dảnh cấy đến năng suất, hàm lượng antioxidant, amylum, and thiamin hydroclorine của giống lúa màu tại Indonesia Kết quả đánh giá cho thấy phân
gà làm tăng năng suất (5,1 tấn/ha), hàm lượng amylum 33,86%, hàm lượng anthocyanin 275.40 ppm và hàm lượng Thiamin hydrocloride đạt 0,056 mg/10g
Trang 19Tại công thức cấy 3 dảnh/khóm, cho hàm lượng các chất đạt cao nhất: amylum đạt 33,78%, hàm lượng anthocyanin đạt 275.18 ppm và hàm lượng Thiamin
hydrocloride đạt 0,058 mg/10g
Ton-ogan & Bañoc (2022) nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng dinh dưỡng của các giống lúa đen, đỏ và trắng trên đất phèn Kết quả đánh giá cho thấy đối với các giống lúa đen và đỏ có hàm lượng chất béo, tro cao hơn lúa gạo trắng ở tất cả công thức Đối với giống lúa gạo trắng khi tăng lượng phân bón hàm lượng đạm, đường và tinh bột Để giống lúa đen có năng suất và chất lượng cao, tác giả khuyến cáo nên bón 2,5 tấn phân gia cầm + 60 kg
N + 30 kg P2O5 + 30 kg K2O/ha
* Nghiên cứu về mật độ gieo, cấy
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thật canh tác quan trọng, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống Khi nghiên cứu vấn đề này, Sasato (1996) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dày Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với vùng nóng
ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn
so với lúa gieo sớm (Zhang & cs., 2008)
2.3.2 Tại Việt Nam
a) Vai trò, giá trị của cây lúa nếp ở Việt Nam
Theo Nguyễn Thị Mai Phương & cs (2015) thì protein cám gạo là loại protein thực vật có giá trị dinh dưỡng vượt trội do có khả năng chống ung thư và không gây dị ứng cho người sử dụng Protein này vẫn chưa được thương mại phổ biến trên thị trường, đặc biệt là ở Việt Nam vì các phương pháp tách chiết đang sử dụng hiện nay chưa cho phép thu được sản phẩm có chất lượng cao với giá thành phù hợp Quy trình công nghệ thu nhận protein từ cám gạo xây dựng được gồm 8 bước Protein thu được từ quy trình này có hàm lượng đạt 41,77% và hiệu suất là 13,41%
Trang 20Các giống lúa nếp có hàm lượng protein cao hơn các giống lúa tẻ (trung bình đối với các giống lúa nếp khoảng 7,94%; biến động từ 7,25 - 8,56%) Ðiều này được giải thích bởi khả năng sinh tổng hợp và tích lũy protein trong hạt gạo nếp tốt hơn, dẫn đến hàm lượng protein trong gạo nếp cao hơn gạo tẻ Nội nhũ của các giống nếp chứa tinh bột chủ yếu ở dạng amylopectin có cấu tạo phân nhánh, còn tinh bột bình thường của gạo tẻ thì chủ yếu ở dạng amylose có cấu tạo không phân nhánh Chính sự khác biệt trong cấu trúc của tinh bột gạo nếp và gạo tẻ đã gây ra sự khác nhau về sinh tổng hợp và tích lũy protein trong hai loại gạo này (Nguyễn Hữu Nghĩa & Lê Vĩnh Thảo, 2007)
Lúa nếp đã có giá trị về kinh tế và văn hóa đối với Việt Nam và một số nước khu vực Châu Á như Trung Quốc, Lào, Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan… Gạo nếp có hương thơm, mềm được nhiều dân tộc ít người sử dụng làm lương thực chính Hơn nữa, lúa nếp được chọn làm nguyên liệu để chế biến thành lễ vật dâng cúng thần linh và tổ tiên của hầu hết các dân tộc ở Việt Nam trong ngày lễ, tết Ở nước ta lúa nếp được trồng chủ yếu để phục vụ nội tiêu trong gia đình và trao đổi hàng hóa mang tính chất vùng miền, nhỏ lẻ Gạo nếp dùng chế biến các loại sản phẩm mang tính chất lễ vật như: bánh chưng, bánh dầy, bánh tét, bánh rán, bánh khảo, các loại xôi, cốm rượu Vì vậy, các giống lúa nếp hiện nay càng được quan tâm phát triển và trở thành sản phẩm hàng hóa mang lại giá trị cao cho người nông dân (Nguyễn Văn Vương, 2013)
b) Đa dạng di truyền lúa nếp cẩm
Theo Trần Danh Sửu & cs (2010), trong số 36 chỉ thị SSR được sử dụng trong nghiên cứu đa dạng di truyền của 124 mẫu giống thu thập, 36 chỉ thị cho đa hình Trong đó, nghiên cứu đã phát hiện 3 locus SSR cho các băng đặc trưng của
3 giống lúa bản địa thu thập tại Lào Cai, có thể được ứng dụng trong công tác tạo lập bộ chỉ thị nhận dạng giống lúa bản địa và các giống lúa Việt Nam nói chung Các giống lúa trong vùng thu thập tại Lào Cai rất đa dạng, tập trung trong 2 phân nhóm chính của nhóm I, gồm các giống lúa thuộc nhóm lúa japonica Các giống này đều mang kiểu ADN lục lạp không khuyết thiếu của japonica Các giống lúa
Trang 21nương và lúa ruộng có xu hướng nhóm vào hai phân nhóm trong nhóm I Nhóm II gồm tất cả các giống lúa có kiểu ADN khuyết thiếu của indica và 13 giống có kiểu ADN lục lạp không khuyết thiếu Tỷ lệ lúa thuộc nhóm japonica đạt 62% (dựa trên đa hình ADN lục lạp), chiếm đa số trong các giống lúa thu thập tại Lào Cai
Theo Đoàn Thị Thùy Linh & cs (2013), khi đánh giá 50 mẫu giống lúa có nguồn gốc khác nhau cho thấy các mẫu giống trong tập đoàn chủ yếu là các giống trung ngày (chiếm 88%), chủ yếu thuộc loại bán lùn và trung bình, có khả năng đẻ nhánh ít, khối lượng trung bình hạt đạt từ trung bình đến cao chiếm đa
số và hạt gạo chủ yếu là loại hạt dài, đây là đặc điểm quý Kích thước lá, chiều dài bông rất đa dạng, tuy nhiên góc độ lá đòng chủ yếu là rất lớn, đây là một hạn chế lớn của các giống lúa địa phương Dựa trên các tính trạng kiểu hình, qua phân tích cho thấy 50 mẫu giống được chia thành 14 nhóm khác nhau cách biệt
về di truyền Như vậy, các mẫu giống lúa khá đa dạng, có một số đặc điểm quý
và có thể sử dụng để chọn tạo các giống lúa thuần năng suất, chất lượng
Theo Nguyễn Quốc Trung & cs (2016), anthocyanin là chất sinh học tự nhiên, thuộc nhóm flavonoid có nhiều trong gạo đỏ và gạo tím (gạo cẩm) Các giống lúa cẩm nếp và tẻ của Việt Nam rất phong phú và đa dạng theo vùng địa
lý và có nhiều giá trị về dinh dưỡng, kinh tế và mang đậm màu sắc văn hoá Kết quả đo pH vi sai thu được mẫu giống N20 có vỏ nội nhũ đen đậm có hàm lượng anthocyanin cao nhất > 0,2% (379 mg/100g), mẫu giống N25 có vỏ nội nhũ nâu
đỏ có hàm lượng anthocyanin thấp nhất < 0,01% (2 mg/100g) Gen Rc sinh tổng hợp anthocyanin được xác định nằm trên NST số 7 Kết quả chọn lọc trong 4 chỉ thị ADN để kiểm tra sự có mặt của gen Rc là Ra, Rc, qPC7 và RM21197 đã xác định chính xác được chỉ thị qPC7 liên kết chặt với gen Rc xuất hiện trong 20 mẫu giống lúa cẩm nghiên cứu
Theo Ngô Thị Hồng Tươi & cs (2014), phân tích đa dạng di truyền của
46 dòng/giống lúa cẩm gồm cả lúa nếp và tẻ được thu thập từ các địa phương dựa vào sự có mặt và mức độ đa hình của chỉ thị phân tử SSR Thí nghiệm sử
Trang 22dụng 35 chỉ thị phân tử SSR, trong đó có 9 chỉ thị đơn hình và 26 chỉ thị đa hình với tổng số 68 alen đa hình chiếm tỷ lệ trung bình 2,62 alen trên một locus Hệ
số đa dạng di truyền (PIC) dao động từ 0,08 đến 0,74 với giá trị trung bình là 0,46 Kết quả phân tích đã chia nguồn vật liệu nghiên cứu thành 2 nhóm chính Ngoài ra thí nghiệm đánh giá hàm lượng anthocyanin của các mẫu lúa nghiên cứu, có 6 giống cho hàm lượng anthocyanin cao nhất là N14, N16, N18, N4, N22 và N20 Qua đánh giá một số chỉ tiêu nông sinh học cũng cho hai nhóm giống cây di truyền
c) Chọn tạo giống lúa nếp cẩm
Theo Nguyễn Thị Lang & cs (2016), giống lúa nếp OM366 được chọn lọc từ tổ hợp lai OM2008/nếp Sáp Giống lúa OM366 có ưu điểm là giống lúa cứng cây, đẻ nhánh khoẻ, năng suất cao (6 - 7 tấn/ha), gạo tương đối dẻo, ngon cơm Kết quả khảo nghiệm qua các vụ cho thấy, giống lúa OM366 thích hợp trong cả hai vụ đông xuân và hè thu, phù hợp ở nhiều vùng đất khác nhau Giống lúa nếp OM366 có khả năng chống chịu được bệnh cháy bìa lá ở cấp 1, chống chịu bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá ở mức độ trung bình khá, nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn (cấp 3 - 5) Giống lúa OM366 phù hợp cho vùng An Giang, Hậu Giang, Long An, Cần Thơ và Trà Vinh
Theo Trần Văn Minh & Đỗ Thị Diệu Hạnh (2016) các giống lúa nếp Ba tháng, nếp Lân và nếp Ngự được trồng lâu đời và gắn bó với người nông dân các dân tộc ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định Nếp Ba tháng và nếp Ngự thuộc nhóm giống trung ngày (115 - 118 ngày), nếp Lân thuộc nhóm giống dài ngày (180 - 187 ngày) Cả ba giống được gieo trồng trong vụ Hè Thu và thuộc loại hình cao cây Giống nếp Lân có khả năng đẻ nhánh cao 9,33 nhánh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu 85,42%, chiều dài bông lúa 32,56 cm Các giống khi trỗ có độ thoát cổ bông tốt, ít rụng hạt, khả năng chống lạnh tốt, sâu bệnh hại không đáng kể Giống nếp Ba tháng năng suất 47,67 tạ/ha, nếp Lân 46,67 tạ/ha, nếp Ngự 43,33 tạ/ha Các giống lúa có dạng hạt bầu, tỷ lệ gạo nguyên cao (87,76% - 95,89%),
Trang 23chất lượng cơm ngon, thơm, dẻo Hàm lượng protein cao (9,76 - 10,71%), hàm lượng amylose rất thấp (4,22% - 4,67%)
Nguyễn Thị Lân & Nguyễn Thế Hùng (2017) đã phục tráng thành công 2 giống lúa nếp đặc sản Khẩu Pái và Khẩu Lường Ván tại Tuyên Quang trong 3 năm từ 2014 - 2016 Kết quả chọn được 5 dòng ưu tú/giống; năng suất trung bình đạt 42,94 tạ/ha (giống Khẩu Pái) và 44,52 tạ/ha (giống Khẩu Lường Ván), cao hơn so với năng suất của các giống này khi chưa chọn lọc tương ứng là 7,22 tạ/ha (tăng 16,82%), 8,00 tạ/ha (tăng 18,07%); từ 5 dòng ưu tú/giống, đã hỗn dòng và tạo được 100 kg hạt giống siêu nguyên chủng (50 kg/giống) có độ thuần và độ sạch đạt 100%; tạp chất và hạt khác giống là 0%, tỷ lệ nảy mầm 97,5 - 98,2%, độ ẩm 12%
d) Kỹ thuật canh tác
* Nghiên cứu về đạm cho cây lúa
Theo nghiên cứu của Tăng Thị Hạnh & cs (2014) thì đạm đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cây lúa Đạm giữ vị trí quan trọng trong việc tăng năng suất, là một trong những nguyên tố hóa học quan trọng của các cơ quan như rễ, thân, lá, hoa và hạt Trong các vật chất khô của cây trồng có từ 1-5% đạm tổng số
Trong các giai đoạn sinh trưởng thì bắt đầu từ đẻ nhánh đến đẻ rộ hàm lượng đạm trong thân lá luôn cao sau đó giảm dần Như vậy cần tập trung bón đạm mạnh vào giai đoạn này Tuy nhiên, thời kỳ hút đạm mạnh nhất quan sát thấy ở lúa lai là từ đẻ rộ đến làm đòng, mỗi ngày lúa lai hút 3,520 gam N/ha chiếm 34,68% tổng lượng hút, tiếp đến mới là giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến
đẻ rộ, mỗi ngày cây hút 2,737 gam N/ha chiếm 26,82% tổng lượng hút Vì lý do này mà bón lót và bón thúc tập trung là rất cần thiết nhằm cung cấp đủ đạm cho lúa lai Ở giai đoạn cuối, tuy lúa lai hút đạm không mạnh như ở 2 giai đoạn đầu song giữ một tỉ lệ N cao và sức hút N mạnh rất có lợi cho quang hợp tích lũy
Trang 24chất khô vào hạt Vì thế một lượng đạm nhất định cần được bón vào giai đoạn cuối (khoảng 20 ngày trước khi lúa trỗ) (Nguyễn Văn Hoan, 1999)
* Nghiên cứu về lân cho cây lúa
Lân cũng làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt là
rễ bên và lông hút Phân tích hàm lượng lân trong lá cho thấy giai đoạn đẻ rộ cao nhất Ở giai đoạn chín, hàm lượng lân trong thân lá lúa lai cao hơn hẳn lúa thường Giai đoạn từ đẻ rộ đến phân hóa đòng lúa lai hút tới 84,27% tổng lượng lân Vì thế muốn để lúa lai đạt năng suất cao thì tổng lượng lân cần được cung cấp đủ trước khi làm đòng (Nguyễn Văn Hoan, 2003)
Theo Bùi Huy Đáp (1980), lân được hút chậm hơn đạm trong thời kỳ sinh dưỡng đầu và được hút nhanh từ khi phân hoá đòng đến lúa vươn lóng Phần lớn lân tích luỹ trong thân và lá trước khi trỗ rồi chuyển về bông, vì sau khi trỗ lúa thường không hút nhiều lân Khi bón quá nhiều lân, đất sẽ giữ lân lại, do đó ruộng ít bị xảy ra hiện tượng thừa lân Ruộng lúa ngập nước sẽ làm tăng độ dễ tiêu của lân, tăng hiệu quả của phân bón cho cây lúa Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng, vì vậy có thể bón lót hết lượng lân dành cho cả vụ Như vậy khi cây lúa được cung cấp lân đầy đủ nó sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiện cho sinh trưởng, phát triển tốt, thúc đẩy
sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa
Theo Nguyễn Văn Bộ & cs (2003), cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân Thiếu lân trong thời kỳ cây non cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều lân thì cây cũng trỗ không đều hoặc không thoát Do vậy, cần bón đủ lân ngay từ giai đoạn đầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả Ở mỗi thời kỳ, lúa hút lân với lượng khác nhau, trong đó có hai thời kỳ hút mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng Tuy nhiên, xét về mức độ thì lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh Trung bình để tạo ra một tấn thóc, thì cây lúa hút khoảng 7,1 kg P2O5 Lân trong đất là rất ít, hệ số sử dụng lân của lúa lại thấp, do đó cần phải bón lân với liều lượng tương đối khá Để nâng cao hiệu quả của việc bón
Trang 25lân cho cây lúa ngắn ngày, trong điều kiện thâm canh trung bình (10 tấn phân chuồng, 90 - 120 kg N, 60 kg K2O/ha) nên bón lân với lượng 80 - 90 kg P2O5/ha
và tập trung bón lót
* Nghiên cứu về kali cho cây lúa
Trong các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây yêu cầu về kali khác nhau nhưng cây lúa cần kali nhất vào thời kỳ làm hạt để tăng khả năng vận chuyển dinh dưỡng vào hạt Vì vậy bón kali kéo dài đến lúc trỗ bông, lúc giai đoạn hình thành sản lượng là điều rất cần thiết (Yosihida, 1985)
Nguyễn Như Hà (2006) cho rằng kali có ảnh hưởng rõ đến sự phân chia tế bào và sự phát triển của bộ rễ lúa trong điều kiện ngập nước nên có ảnh hưởng
rõ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Kali có ảnh hưởng lớn đến quá trình quang hợp, tổng hợp các chất gluxit, ngoài ra còn tham gia vào quá trình tổng hợp protein ở trong cây lúa, nhất là trong điều kiện ánh sáng yếu Ngoài ra còn ảnh hưởng tới các yếu tố cấu thành năng suất như số hạt, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng 1000 hạt
Từ giai đoạn đẻ nhánh đến khi trỗ, lúa lai hút kali với cường độ tương tự lúa thường Tuy nhiên, từ sau khi trỗ thì lúa thường hút rất ít kali, trong khi đó lúa lai vẫn duy trì sức hút kali mạnh, mỗi ngày vẫn hút 0,67 kg/ha chiếm 8,7% tổng lượng hút Như vậy, trong suốt thời kỳ sinh trưởng cường độ hút kali của lúa lai luôn cao Đây là đặc điểm rất đặc trưng về hút các chất dinh dưỡng của lúa lai Từ đặc điểm này có thể kết luận: Để có năng suất cao cần coi trọng bón phân kali cho lúa lai (Nguyễn Văn Hoan, 2003)
Hoàng Thị Bích Thảo & cs (2016), nghiên cứu xác định thời vụ, mật độ cấy và liều lượng phân bón phù hợp đối với giống lúa nếp cạn đặc sản Khẩu Nua Trạng canh tác trên đất cạn không chủ động nước tại Hà Giang Kết quả cho thấy gieo hạt vào vụ chính (20/6) lúa đạt năng suất cao và ít bị sâu bệnh hại hơn hai vụ còn lại Thí nghiệm tổ hợp mật độ và phân bón cho thấy giống sinh
Trang 26trưởng và phát triển tốt ở mật độ M2 (30 khóm/m2) kết hợp với mức phân bón P3 (60 kg N + 60 kg P2O5 + 45 kg K2O/ha)
* Nghiên cứu về phân hữu cơ cho cây lúa
Dương Thị Hồng Mai (2015), lượng phân bón thích hợp cho giống lúa nếp Ốc trên đất lúa nhiễm mặn tại Nam Định là bón 5 tấn phân chuồng + 90 kg
N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha và cấy với mật độ 30 khóm/m2
Theo Lê Văn Huy & cs (2017) nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến giống lúa nếp N612 tại vùng đồng bằng sông Hồng cho thấy mật độ cấy không ảnh hưởng nhiều đến thời gian sinh trưởng của giống lúa nếp N612 Thời gian sinh trưởng của giống chịu ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau, bón nhiều phân làm tăng thời gian sinh trưởng của giống từ 5 - 6 ngày Ở các công thức có lượng phân bón cao và mật độ cấy dày, giống N612 có mức độ nhiễm các loại sâu bệnh hại cao hơn so với các công thức có lượng phân bón thấp và mật độ cấy thưa Công thức bón 1 tấn phân hữu cơ vi sinh + 80 kg
N + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha kết hợp với mật độ cấy 50 khóm/m2 phù hợp cho giống lúa nếp N612 đạt năng suất cao nhất trong cả vụ Xuân và Mùa
Để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, góp phần mở rộng diện tích đối với 2 giống lúa Khẩu Pái và Khẩu Lường Ván, tác giả Nguyễn Thị Lân (2017) đã tiến hành thí nghiệm với 6 tổ hợp phân bón, trong đó tổ hợp 0 tấn phân chuồng + 60 kg N + 40 kg P2O5 + 40 kg K2O/ha được sử dụng làm đối chứng Kết quả thí nghiệm cho thấy: phản ứng của 2 giống lúa với các tổ hợp phân bón trong thí nghiệm là như nhau ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu Số nhánh tối đa tăng tỷ lệ thuận với lượng phân bón, trong khi chiều cao cây và số nhánh hữu hiệu chịu ảnh hưởng của lượng phân bón không rõ ràng Mức bón 9 tấn phân chuồng + 90 kg N + 70 kg P2O5 + 70 kg K2O/ha đến 10 tấn phân chuồng + 100 kg N + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha bị nhiễm sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn và bệnh khô vằn ở điểm 1 như mức đối chứng (0 tấn phân chuồng + 60 kg N + 40 kg P2O5 + 40 kg K2O/ha) Khả năng chống đổ của 2
Trang 27giống lúa không cao và có xu hướng tỷ lệ nghịch với lượng phân bón Mức bón
7 tấn phân chuồng + 70 kg N + 50 kg P2O5 + 50 kg K2O/ha cho năng suất thực thu cao nhất
Theo Lê Quốc Thanh & cs (2016), công thức bón 1000 kg phân hữu cơ sông Giang + 120 kg N + 100 kg P2O5 +100 kg K2O/ha phù hợp cho giống lúa J01 đạt năng suất cao nhất trong vụ Xuân tại các tỉnh miền Bắc
* Nghiên cứu về mật độ gieo, cấy lúa
Theo Nguyễn Thế Hùng & Nguyễn Thị Lân (2017) để nâng cao năng suất
và hiệu quả kinh tế, góp phần mở rộng diện tích 2 giống lúa nếp đặc sản Khẩu Pái và Khẩu Lường Ván tại tỉnh Tuyên Quang, đã thiết kế thí nghiệm với 6 mức mật độ (25, 30, 35, 40, 45, 50 khóm/m2), trong đó mật độ 25 khóm/m2 (mật độ nông dân đang cấy) được sử dụng làm đối chứng Kết quả thí nghiệm cho thấy phản ứng của 2 giống lúa với mật độ cấy là như nhau ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu Chiều cao cây và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của 2 giống lúa có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với mật độ, nhưng số nhánh tối đa/khóm, số nhánh hữu hiệu/khóm, độ cứng cây, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt tỷ lệ nghịch với mật độ Số bông/khóm, số hạt chắc/bông, khối lượng 1000 hạt của cả 2 giống lúa đều tương quan nghịch có ý nghĩa với mật độ theo đường tuyến tính, năng suất thực thu tương quan với mật độ theo đường parabôn bậc 2 Mật độ tốt nhất cho cả 2 giống lúa là 30 khóm/m2 vì cho năng suất và lãi thuần cao nhất
Nguyễn Văn Khoa & Phạm Văn Cường (2015), nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo và mức đạm bón khác nhau đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa cạn nếp Nương tròn Kết quả thí nghiệm cho thấy tăng lượng đạm bón
từ 0 kg N/ha đến 80 kg N/ha làm tăng chỉ số SPAD, cường độ quang hợp, số nhánh/m2, số bông hữu hiệu, tỷ lệ hạt chắc và năng suất thực thu Ngược lại tăng mức đạm từ 80 kg N lên 160 kg/ha đã làm giảm năng suất do giảm quang hợp,
số bông hữu hiệu/m2 và tỷ lệ hạt chắc/bông Ở mức bón đạm thấp (0 kg N/ha -
80 kg N/ha) khi tăng mật độ thì số nhánh đẻ tăng, chỉ số SPAD và cường độ
Trang 28quang hợp không có sự sai khác rõ rệt Ở mức bón đạm cao (120 kg N/ha - 160
kg N/ha) tăng mật độ giảm cường độ quang hợp, số bông/m2, tỷ lệ hạt chắc và năng suất Ở các mức bón đạm khác nhau, mức bón 40 kg N/ha cho hiệu quả sử dụng đạm cao nhất, đạt 13,5 kg thóc/kg N
e) Thương mại hóa gạo chất lượng cao
Ngày 21/5/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định TTg phê duyệt đề án Phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Mục tiêu chung của Đề án trên là xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam nhằm định vị giá trị, hình ảnh sản phẩm gạo Việt Nam, nâng cao sự nhận biết của các nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối và người tiêu dùng trong nước và ngoài nước đối với các sản phẩm gạo của Việt Nam, tạo cơ sở để củng
706/QĐ-cố và phát triển thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, thị phần và sức cạnh tranh của sản phẩm gạo Việt Nam trên thị trường thế giới Mục tiêu cụ thể đến năm
2020 của Đề án là xây dựng thương hiệu gạo gắn với lịch sử văn hóa, truyền thống, chất lượng sản phẩm và lợi thế của Việt Nam Đưa hình ảnh gạo Việt Nam được quảng bá, giới thiệu rộng rãi trong nước và đến ít nhất 20 thị trường xuất khẩu thông qua một chương trình dài hạn, đồng bộ và kết hợp với quảng bá
du lịch, ẩm thực, văn hóa nông nghiệp, đất nước và con người Việt Nam; thương hiệu gạo quốc gia được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận tại Việt Nam và ít nhất 50 quốc gia; xây dựng và phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương tại những vùng, địa phương có năng lực sản xuất gạo quy mô lớn, có chất lượng phù hợp với yêu cầu của thị trường tiêu thụ và đăng
kí bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định; tổ chức sản xuất, chế biến và phân phối các sản phẩm gạo trắng, gạo thơm và đặc sản, phấn đấu đạt 20% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu gạo Việt Nam Đến năm 2030, các vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu ổn định, hiệu quả và bền vững, đưa gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm; phấn đấu
Trang 29đạt 50% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu gạo Việt Nam, trong đó 30% tổng sản lượng gạo xuất khẩu là nhóm gạo thơm và gạo đặc sản
Để đạt được những mục tiêu trên, đề án sẽ thực hiện nâng cao chất lượng hình ảnh, giá trị thương hiệu gạo Việt Nam thông qua tổ chức hoạt động đồng
bộ nhằm quảng bá, giới thiệu hình ảnh thương hiệu gạo Việt Nam đến doanh nghiệp, người tiêu dùng tại các thị trường trong nước và quốc tế…; xây dựng và triển khai kế hoạch hợp tác chung giữa các cơ quan xúc tiến thương mại với doanh nghiệp để quảng bá, giới thiệu hình ảnh, chất lượng gạo Việt Nam trên thị trường thế giới; khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp sử dụng thương hiệu gạo Việt Nam; thúc đẩy hợp tác quốc tế về xây dựng, quản lý và quảng bá thương hiệu gạo Việt Nam
Trang 30TT Do ̀ng Nguồn gốc TT Do ̀ng Nguồn gốc
2 C10 Viện NC&PTCT 13 C39 Viện NC&PTCT
3 C13 Viện NC&PTCT 14 C46 Viện NC&PTCT
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái của mô ̣t số dòng lúa nếp cẩm mới cho ̣n ta ̣o trong vụ Xuân 2022tại Gia Lâm, Hà Nội
- Đánh giá mứ c đô ̣ nhiễm sâu bê ̣nh trên đồng ruộng của một số dòng lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm, Hà Nội
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của một số dòng lúa nếp cẩm trong vu ̣ Xuân 2022 tại Gia Lâm, Hà Nội
Trang 313.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khu thí nghiệm đồng ruộng - Viện Nghiên cứu và Phát triển
cây trồng - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
- Thời gian: Từ tháng 01 tới tháng 07 năm 2022
3.3.2 Bố trí thí nghiệm
- Ngày gieo mạ: 14/01/2022
- Bố trí thí nghiệm: Theo phương pháp khảo sát tập đoàn, tuần tự không nhắc lại, diện tích mỗi công thức là 10m2 Khoảng cách cấy hàng×hàng = 20cm, cây×cây = 20cm, cấy 1 dảnh/khóm
- Kỹ thuật canh tác theo quy trình của Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi
a Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
- Tuổi mạ: thời gian từ khi gieo đến khi cấy
- Thờ i gian bén rễ hồi xanh: từ khi cấy đến khi ra lá mới
- Thời gian từ ngày cấy đến ngày bắt đầu đẻ nhánh: 10% số cây đẻ nhánh dài 1cm nhô khỏi bẹ lá
- Thời gian từ ngày cấy đến ngày kết thúc đẻ nhánh: ngày có số nhánh không đổi
- Thời gian từ gieo đến trỗ 10%, 50%, 80%, 100%: thời gian được tính từ gieo đến 10%, 50%, 80% và 100% số bông trong quần thể trỗ một bông được coi là trỗ khi bông nhô ra ngoài bẹ lá đòng 3 - 5 cm, nếu là cây phân ly sớm hẳn thì ghi lại và bỏ cây phân ly
- Thời gian trỗ của cá thể và quần thể
- Thời gian sinh trưởng: Tính từ ngày gieo đến khi hạt trên một khóm chín 90%
* Đánh giá 10 cây trên 1 dòng - giống
Trang 32b Đặc điểm nông sinh học
* Động thái sinh trưởng:
- Động thái đẻ nhánh (theo dõi 7 ngày/ lần): Đếm tất cả nhánh của 10 cây theo dõi (cây theo dõi được cấy liên tiếp 10 cây tính từ cây thứ 3 trên hàng 2)
- Động thái tăng chiều cao (theo dõi 7 ngày/lần): Đo chiều cao của 10 khóm cây theo dõi, đo từ mặt đất đến ngọn của lá cao nhất
- Động thái ra lá trên thân chính (theo dõi 7 ngày/lần): Hàng tuần đánh dấu các lá số lẻ mới xuất hiện và dựa vào lá đánh dấu để đếm số lá trên thân chính của 10 khóm cây theo dõi
Khi mạ được 3 lá thì bắt đầu đánh dấu số lá, tiến hành đánh dấu từ lá thứ
3 (dùng sơn trắng đánh dấu lên lá) theo cách:
+ Lá thứ 3 chấm 1 chấm
+ Lá thứ 5 chấm 2 chấm
+ Lá thứ 7 chấm 3 chấm
+ Lá thứ 9 quay về 1 chấm, lá thứ 11 đánh 2 chấm, lá thứ 13 đánh 3 chấm và cứ đánh dấu lần lượt như vậy cho đến khi cây không ra lá mới nữa
Lấy lá hoàn chỉnh làm chuẩn số lá được tính như sau:
+ Lá mới nhú 20% so vớ i lá kề trước: tương đương 0,2 lá
+ Lá nhú 50% so vớ i lá kề trước: tương đương với 0,5 lá
+ Lá được 80% so với lá kề trước: tương đương với 0,8 lá
* Các chỉ tiêu khác:
- Chiều cao cây cuối cùng (cm): Đo từ gốc đến múp đầu bông cao nhất (không kể râu hạt)
- Độ cứng cây
- Chiều dài lá đòng (cm): Đo từ tai lá đến ngọn lá
- Chiều rộng lá đòng (cm): Đo vị trí rộng nhất của phiến lá
- Chiều dài bông (cm): Đo từ cổ bông đến đến múp đầu bông lúa (không
kể râu hạt)
- Độ thoát cổ bông
- Chiều dài hạt (cm)
Trang 33Mô tả hình thái tại các thời điểm:
- Đẻ nhánh rộ mô tả: + Kiểu đẻ nhánh: xoè, gọn, cụm
- Đứng cái mô tả: + Màu sắc thân
+ Màu sắc lá, cổ lá, tai lá
+ Độ phủ lông trên lá
- Trỗ: + Hình dạng phiến lá
+ Mật độ hạt/bông
+ Xếp hạt: thưa - trung bình - dày
d Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Số bông hữu hiệu/khóm
- Số hạt/bông (đếm trên 10 khóm): tổng số hạt/bông
- Tỷ lệ hạt chắc (%): là tỷ số hạt chắc/tổng số hạt
- Khối lượng 1000 hạt (gam): Cân 3 lần mẫu 200 hạt đã khô 13%
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha)
- Năng suất cá thể (gam/khóm): thu 10 khóm trên từng dòng, tuốt hạt phơi khô đưa về độ ẩm 14%, cân tính ra năng suất thực thu
- Năng suất thực thu (tạ/ha): Thu hoạch riêng từng ô thí nghiệm Gặt mỗi
ô 5m2, tuốt hạt phơi khô đưa về độ ẩm 13%, quạt sạch, cân tính năng suất thực thu, sau đó tính năng suất trên ha (tạ/ha)
e Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh
Hàng tuần đi quan sát, thấy dòng nào xuất hiện sâu bệnh gây hại thì ghi lại tên sâu, bệnhvà tiếp tục quan sát; mô tả mức độ sau 3 ngày quan sát lại, nếu thấy mức độ tăng lên thì phun thuốc phòng trừ (ghi lại tên loại thuốc, nồng độ; thời gian ngừng gây hại sau phun)
Trang 34* Khả năng chống chịu sâu:
5 Tất cả các lá bị biến vàng, cây lùn rõ rệt hoặc cả hai
7 Hơn nửa số cây bị chết, số còn lại bị héo vàng và lùn nặng
Trang 36f Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng gạo:
- Chiều dài hạt gạo (mm)
4 Trắng ngà Thơm, đặc trưng Mềm dẻo Dính Bóng Khá ngon
3 Trắng hơi xám
Có mùi thơm nhẹ, khá đặc trưng
Hơi mềm Hơi dính Hơi bóng Ngon
Có mùi cơm, hương thơm kém đặc trưng
xỉn
Chấp nhận được
Không ngon
3.3.4 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu
- Đánh giá các đặc điểm nông sinh học theo phương pháp của IRRI (2002)
- Phân tích tỷ lệ gạo lật, kích thước hạt gạo theo tiêu chuẩn TCVN 1643:2008
- Đánh giá chất lượng cơm theo TCVN 13381-1:2021
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 Công thức tính một
số đại lượng thống kê cơ bản cần quan tâm:
Trang 37) (
Trong đó: + s là độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình
+ xi là giá trị đo đếm được của cá thể ( hoặc dòng) thứ i (i từ 1 n) + n là tổng số cá thể hoặc dòng được đánh giá
+ X là giá trị trung bình
Chọn các cá thể có giá trị nằm trong khoảng Xs
Trang 38PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022
Thời gian sinh trưởng của cây lúa tính từ lúc hạt nảy mầm đến khi thu hoạch, đây là một tính trạng biến động trong một phạm vi rộng do nhiều gen cùng kiểm soát Thời gian sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng dòng, giống lúa, từng mùa vụ gieo trồng, điều kiện chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh Việc xác định thời gian qua từng giai đoạn sinh trưởng và tổng thời gian sinh trưởng của một giống có vai trò vô cùng quan trọng trong bố trí cơ cấu thời vụ và tác động các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của giống
Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của các dòng lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022 tại khu thí nghiệm đồng ruộng được trình bày tại bảng 4.1
Trang 39Bảng 4.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống lúa nếp cẩm trong vụ Xuân 2022
BĐ đẻ nhánh
KT đẻ nhánh 10% 50% 80% 100% Cá thể Quần thể
Trang 40Qua bảng số liệu 4.1 cho thấy:
Trong điều kiê ̣n vu ̣ Xuân 2022, do gặp thời tiết bất thuận nên các dòng - giống lúa nếp cẩm có thời gian hồi xanh sau khi cấy dài, cụ thể là 7 ngày
Thời gian từ cấy đến khi bắt đầu đẻ nhánh là một đặc trưng của giống, ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như: thời tiết, chế độ dinh dưỡng các giống khác nhau có sự đẻ nhánh khác nhau Kết quả bảng 4.1 cho thấy: tất cả các dòng, giống lúa nếp cẩm bắ t đầu đẻ nhánh sau cấy từ 14 ngày
Thời gian từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh là thời gian quyết định số nhánh/đơn vị diện tích, nó ảnh hưởng trực tiếp đến số bông/đơn vị diện tích Thông thường các giống lúa đẻ sớm, đẻ nhánh tập trung cho số bông hữu hiệu/đơn vị diện tích cao và ngược lại các giống đẻ muộn, thời gian đẻ kéo dài thường cho số bông hữu hiệu/đơn vị diện tích thấp hơn Qua bảng số liệu 4.1 cho thấy: thờ i gian từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh của hầu hết các dòng, giống lúa nếp cẩm kéo dài dao đô ̣ng trong khoảng từ 56 - 63 ngày Thời gian đẻ nhánh của dòng C4, C28, C29, C33, C35, C38, C48, C51, C55, C66, C77 và đối chứ ng ĐH6 là 53ngày, tất cả các dòng còn lại đều có thời gian kết thúc đẻ nhánh muộn hơn
Giai đoạn trỗ là giai đoạn rất quan trọng và rất mẫn cảm đối với cây lúa,
nó quyết định số hạt trên bông và số hạt chắc trên bông Nhìn chung cây lúa trỗ vào những ngày trời nắng nhẹ, quang mây, gió nhẹ và nhiệt độ trung bình từ 25 -
32˚C là tốt nhất Thời gian từ gieo đến giai đoa ̣n lúa trỗ 10% của các dòng, giống lúa nếp cẩm được nghiên cứu dao động trong khoảng 114 - 125 ngày, trong đó đối chứng ĐH6 (118 ngày) Thời gian từ gieo đến trỗ 50% là 116 - 127 ngày, từ gieo đến trỗ 80% là 118 - 129 ngày Thời gian từ gieo đến trỗ 100% là
120 - 130 ngày Nhìn chung các dòng, giống lúa nếp cẩm gieo trồng trong vụ Xuân 2022 có thời gian trỗ khá đồng đều
Thời gian trỗ quần thể được tính từ khi bắt đầu trỗ đến kết thúc trỗ Thời gian trỗ cá thể được tính từ bông đầu tiên trong khóm trỗ đến khi tất cả các bông trong khóm trỗ Qua bảng số liệu 4.1 ta thấy: các dòng, giống lúa nếp cẩm trong
vụ Xuân 2022 có thời gian trỗ quần thể biến động trong khoảng từ 4 - 11 ngày