ĐẶNG VĂN DUNG ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA VIỆC TRỒNG KEO LAI ACACIA MANGIUM x ACACIA AURICULI FORMIS LÀM NGUYÊN LIỆU GIẤY TẠI ĐĂK LĂK VÀ ĐĂK NÔNG LUẬN VĂN THẠC
Trang 1ĐẶNG VĂN DUNG
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ
HỘI CỦA VIỆC TRỒNG KEO LAI (ACACIA MANGIUM x ACACIA AURICULI FORMIS) LÀM NGUYÊN LIỆU GIẤY
TẠI ĐĂK LĂK VÀ ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Tây - 2007
Trang 2ĐẶNG VĂN DUNG
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ
HỘI CỦA VIỆC TRỒNG KEO LAI (ACACIA MANGIUM x ACACIA AURICULI FORMIS) LÀM NGUYÊN LIỆU GIẤY
TẠI ĐĂK LĂK VÀ ĐĂK NÔNG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
GS – TS NGÔ QUANG ĐÊ
Hà Tây - 2007
Trang 3Để hoàn thành khóa học tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu
Trường Đại học Lâm nghiệp, các thầy cô giáo Khoa sau đại học đã tận tình
dạy dỗ tôi trong suốt thời gian khoá học
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GS TS Ngô Quang Đê thầy
hướng dẫn khoa học đã giành nhiều thời gian quý báu và tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn cô giáo Tiến sỹ Hà Thị Mừng, cô giáo Thạc sỹ
Nguyễn Thị Mừng giảng viên Khoa Nông Lâm nghiệp trường Đại học Tây Nguyên
đã đóng góp những ý kiến hết sức quý báu và giúp đỡ tôi nhiều mặt trong thời gian
thực tập tốt nghiệp và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Công ty cổ phần giấy Tân Mai,
Ban Giám đốc Xí nghiệp nguyên liệu giấy Đăk Lăk, bạn bè đồng nghiệp nơi
tôi công tác đã quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và
thực tập tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp xa gần và những người
thân gia đình đã động viên và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn
Đăk Lăk, tháng 06 năm 2007
Tác giả
Trang 43.1 Hiện trạng của khu vực trồng rừng xã Cư K’Roá ………29
3.2 Hiện trạng của khu vực trồng rừng xã Đăk Rồ ………30
3.3 Hiện trạng của khu vực trồng rừng xã Quảng Khê……… 31
4.1 Hàm lượng mùn tổng số ……… 41
4.2 Hàm lượng chất dễ tiêu……….42
4.3 Độ chua trao đổi………44
4.4 Thành phần cơ giới trung bình 03 khu vực……… 45
4.5 Chiều cao trung bình của Keo lai 6 năm tuổi (m)……….50
4.6 Đường kính D1.3 trung bình của Keo lai 6 năm tuổi (cm)……….53
4.7 Trữ lượng của Keo lai 6 tuổi của các khu vực nghiên cứu……… 56
4.8 Chất lượng rừng Keo lai ở các khu vực nghiên cứu……… 60
4.9 Chi phí trồng, chăm sóc, bảo vệ 01 ha rừng từ năm thứ I – VI…………63
4.10 Bảng tổng hợp chi phí đầu tư cho 01 ha rừng 6 năm ở Cư K’Roá…….66
4.11 Bảng tổng hợp chi phí đầu tư cho 01 ha rừng 6 năm ở Đăk Rồ……… 67
4.12 Bảng tổng hợp chi phí đầu tư cho 01 ha rừng 6 năm ở Quảng Khê… 68
4.13 Tổng thu nhập cho 1 ha rừng (chu kỳ kinh doanh 6 năm)……… 70
4.14 Cân đối thu nhập và chi phí cho 1 ha rừng……….70
4.15 Bảng hiệu quả kinh tế tính cho 1 ha rừng trồng……… 71
4.16 Số lao động tham gia trồng rừng 1 chu kỳ kinh doanh 6 năm…………73
Trang 54.1 BIỂU ĐỒ SINH TRƯỞNG CHIỀU CAO Hvn CỦA KEO LAI ……….50
4.2 BIỂU ĐỒ SINH TRƯỞNG ĐƯỜNG KÍNH D1.3 CỦA KEO LAI …….54
4.3 BIỂU ĐỒ TRỮ LƯỢNG KEO LAI 6 NĂM TUỔI ………57
4.4 RỪNG KEO LAI 6 NĂM TUỔI XÃ CƯ K’ROÁ ……… 79
4.5 RỪNG KEO LAI 6 NĂM TUỔI XÃ ĐĂK RỒ………80
4.6 RỪNG KEO LAI 6 NĂM TUỔI XÃ QUẢNG KHÊ……… 81
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Thời gian gần đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Trước tình hình đó, nhiều địa phương trong nước đã phải đóng cửa rừng tự nhiên và chuyển sang đẩy mạnh kinh doanh rừng trồng
Để góp phần đẩy nhanh tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi trọc, đáp ứng nhu cầu về gỗ đồng thời tạo thêm nhiều việc làm cho người dân sống gần rừng nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, thì việc trồng rừng các loài cây mọc nhanh cho năng suất cao đang là yêu cầu cấp thiết
Đăk Lăk và Đăk Nông là hai tỉnh miền núi thuộc khu vực Tây Nguyên Phát triển lâm nghiệp ở đây không chỉ để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo
vệ môi trường sinh thái mà còn tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân tộc tại chỗ, hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy, nâng cao tỷ lệ che phủ của bề mặt
Trong nhiều năm qua, một số đơn vị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn Đăk Lăk và Đăk Nông đã chú trọng công tác trồng rừng sản xuất, rừng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ và rừng nguyên liệu giấy nhưng chất lượng giống chưa được cải thiện, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chưa đồng bộ Vấn đề lựa chọn loài cây trồng chưa phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai nơi trồng, đầu tư thấp dẫn đến năng suất các loại rừng trồng chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu gỗ cho công nghiệp chế biến nói chung và nguyên liệu cho ngành công nghiệp bột giấy nói riêng
Xí nghiệp nguyên liệu giấy Đăk Lăk – Công ty cổ phần giấy Tân Mai là đơn vị thuộc tổng Công ty giấy Việt Nam được nhà nước giao nhiệm vụ trồng rừng nguyên liệu giấy, hàng năm cung cấp cho ngành giấy từ 40.000 – 50.000m3 gỗ nguyên liệu làm bột giấy Tính bình quân mỗi năm Xí nghiệp nguyên liệu giấy Đăk Lăk phải trồng từ 500 – 600ha rừng [3] trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông Vì vậy cần thiết phải trồng các loài cây mọc nhanh
Trang 8cho năng suất cao, chu kỳ kinh doanh ngắn mới cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy giấy của Công ty
Keo lai là loài cây mọc nhanh đã được Công ty Cổ Phần Giấy Tân Mai khảo nghiệm và đưa vào trồng thuần loài ở các huyện M’Đrăk – Đăk Lăk, KRông Nô, Đăk Glong – Đăk Nông bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế [7], nhưng chưa đánh giá được tình hình sinh trưởng cũng như chất lượng và hiệu quả kinh tế, xã hội một cách khoa học để làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây mọc nhanh làm nguyên liệu giấy phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của Đăk Lăk và Đăk Nông
Để góp phần cải thiện và nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng nguyên liệu, tận dụng diện tích đất trống đồi núi trọc một cách hợp lý, có hiệu quả, nhằm chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ nói chung và nguồn nguyên liệu cho ngành bột giấy nói riêng ở Đăk Lăk và Đăk Nông Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế, xã hội của việc trồng Keo lai
(Acacia Mangium x Acacia Auriculifomis) làm nguyên liệu giấy tại Đăk Lăk và Đăk Nông”
Do quỹ thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sinh trưởng chiều cao vút ngọn, đường kính ngang ngực D1.3, trữ lượng (M) và hiệu quả kinh tế - xã hội của việc trồng Keo lai dòng BV10 thuần loài bằng cây hom tại
Xã Cư K’Rroá - huyện M’ĐRăk tỉnh Đăk Lăk, xã Quảng Khê - huyện Đăk Glong, xã Đăk Rồ huyện KRông Nô tỉnh Đăk Nông có điều kiện khí hậu, đất đai đại diện cho 03 khu vực
Đề tài sẽ góp phần nghiên cứu cơ sở khoa học trồng rừng nguyên liệu giấy bằng dòng Keo lai BV10 trồng bằng cây hom và đề xuất một số vùng trồng rừng kinh tế trên địa bàn Đăk Lăk và Đăk Nông Kết quả của đề tài là
Trang 9tài liệu tham khảo để xây dựng các dự án trồng rừng nguyên liệu giấy và những nơi có điều kiện tương tự
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Keo lai là tên gọi viết tắt của giống lai tự nhiên giữa hai loài Keo tai
tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Giống lai
này được Messrs Hepbum và Shim phát hiện năm 1972 trong những hàng cây trồng ven đường Năm 1978 khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) Pedkey đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm Trong tự nhiên Keo lai cũng được phát hiện ở Papu NewGuinea (Turn bull,1986; Grinfin, 1988) dẫn theo Lê Đình Khả (1997)[22]
Nghiên cứu năm 1987 của Rufelds cho thấy tại miền Bắc Sabah – Malaisia, Keo lai xuất hiện ở rừng Keo tai tượng 3 - 4 cây/ha còn Wong thì thấy xuất hiện tỷ lệ 1/500 cây
Năm 1991 Cyrin Pinso và Robert NaSi đã thấy tại khu UluKukut cây lai tự nhiên đời F1 sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của Keo tai tượng ở Sabah Các tác giả này cũng thấy rằng gỗ của Keo lai là trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm, có phẩm chất tốt hơn Keo tai tượng
Tại Thái Lan (Kij Kar,1992), Keo lai được tìm thấy ở vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaisia) tại trạm nghiên cứu Jon – Pu của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al,1989) Trong giai đoạn vườn ươm Keo lai hình thành lá giả (Phylod) sớm hơn Keo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm, dẫn theo Lê Đình Khả (1997)[22]
Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống thành công bằng hom (Griffin, 1991) Tuy nhiên, trên thế giới vẫn chưa có những nghiên cứu về tính chất vật
lý và cơ học cũng như tính chất bột giấy của Keo lai và chưa có những nghiên cứu chọn lọc cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính để từ đó tạo ra các dòng tốt nhất để đưa vào sản xuất (Lê Đình Khả,1999)[20]
Trang 111.2 Trong nước
Ở nước ta, Keo lai xuất hiện lác đác một số nơi ở Nam Bộ như Tân Tạo, Trảng Bom, Sông Mây và ở BaVì (Hà Tây), Phú Thọ, Hoà Bình và Tuyên Quang…(Lê Đình Khả,1999) [20] Những cây lai này đã xuất hiện trong rừng Keo tai tượng với những tỷ lệ khác nhau Ở các tỉnh Miền Nam là
3 - 4%, còn ở Ba Vì là 4 - 5% Riêng giống lai tự nhiên tại BaVì được xác
định là Acacia Mangium (xuất xứ Daitree thuộc bang Queensland) với Acacia auriculiformis (xuất xứ Darwin thuộc Bang Northern Territoria) của
Australia
Keo lai được phát hiện và khảo nghiệm đợt 1 từ năm 1993 – 1995, đến năm 1996 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với các đơn vị khác tiếp tục nghiên cứu về Keo lai Các nghiên cứu này là chọn lọc thêm các cây trội Keo lai tự nhiên, xây dựng khảo nghiệm các dòng vô tính, tiến hành đánh giá tiềm năng bột giấy của Keo lai cũng như tiến hành khảo nghiệm các dòng Keo lai được lựa chọn ở các vùng sinh thái khác nhau (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Văn Thảo và các cộng sự,1999; Lê Đình Khả,1999)[22] Kết quả cho thấy Keo lai có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm, có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm Khi cắt cây để tạo chồi thì Keo lai cho rất nhiều chồi (trung bình 289 hom/01gốc) Các hom này có tỷ lệ ra rễ trung bình 47%, trong đó có 11 dòng cho ra rễ từ 57 – 85% Sai khác giữa các dòng về sinh trưởng là khá rõ Một số dòng vô tính sinh trưởng rất nhanh nhưng các chỉ tiêu chất lượng không đạt yêu cầu, một số dòng vừa sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt có thể nhân giống nhanh và số lượng nhiều đưa vào sản xuất như các dòng BV5, BV10, BV16, BV29, BV32
Năm 1996 –1997 việc chọn lọc cây trội tại BaVì (Hà Tây) và khu vực Đông Nam Bộ như khu vực Bầu Bàng, Sông Mây, và trường Cao Đẳng Lâm
Trang 12nghiệp Ở BaVì điều kiện lập địa khá khắc nghiệt (đất đồi trọc, nghèo dinh dưỡng và mùa đông lạnh)
Ở Đông Nam Bộ là đất phù sa cổ sâu, ít bị đá ong hoá, tương đối bằng phẳng, có nắng quanh năm Vì vậy, Keo lai ở BaVì sinh trưởng chậm hơn ở Đông Nam Bộ song các cây lai được chọn cả hai nơi đều có sinh trưởng vượt trội rõ rệt hơn so với Keo tai tượng, số liệu dưới đây cho thấy những cây Keo lai được lựa chọn có đường kính vượt Keo tai tượng 30,1 – 149,1% (tại BaVì)
và 25,3 – 107,7% (tại Đông Nam Bộ), chiều cao vượt Keo tai tượng từ 29,4 – 125,8% (tại Ba Vì) và 12,1 – 81,8% (tại Đông Nam Bộ) Đây cũng là những cây Keo lai có hình dáng thân cây và tán lá đẹp nhất ở mỗi nơi, khảo nghiệm dòng vô tính có thể sẽ chọn được một số dòng tốt nhất để phát triển vào sản xuất (Lê Đình Khả, Nguyễn Văn Thảo, Phạm Văn Tuấn và các cộng sự 1999;
Lê Đình Khả, 1999)[20]
Khảo nghiệm một số dòng vô tính mới được chọn năm 1996 ở (Cẩm Quỳ) đã được xây dựng ngay tại nơi chọn lọc cây mẹ Nguồn Keo lai được lựa chọn là từ các rừng Keo tai tượng được lấy giống từ Đồng Nai, thấy nổi lên một số nét chính các cây trội Keo lai mới được chọn mặc dù có độ vượt ban đầu khá lớn, song qua khảo nghiệm đều thấy sinh trưởng kém hơn các dòng Keo lai cũ là BV5, BV10 Trong 14 dòng được đưa vào khảo nghiệm có
10 dòng vượt các loài Keo có bố mẹ được trồng làm đối chứng Trong đó có 8 dòng có độ vượt lớn hơn 25% so với các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả và các công sự, 1997-1999) Hệ số biến động về đường kính và chiều cao của Keo lai cũng luôn nhỏ hơn Keo tai tượng và Keo lá tràm, nghĩa là Keo lai có ưu điểm có đường kính và chiều cao đồng đều hơn Keo tai tượng (Lê Đình Khả
và các cộng sự, 1997)[16]
Nghiên cứu tiềm năng bột giấy của Keo lai (Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc,1995;1999, Lê Quang Phúc,1999) Cho thấy gỗ Keo lai có tỷ trọng trung
Trang 13gian giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng có khối lượng gấp 3 - 4 lần hai loài bố
mẹ, ở giai đoạn 4 tuổi tỷ trọng gỗ của Keo lai trung bình khoảng 0,455g/cm3, trong khi đó Keo tai tượng là 0,414g/cm3, Keo lá tràm là 0,469g/cm3 Các dòng Keo lai được lựa chọn có tỷ trọng gỗ và có tính co rút của gỗ khác nhau, trong đó các dòng BV32, BV33 có tỷ trọng cao nhất, dòng BV16 thì gỗ không
bị nứt khi phơi khô (Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc, 1999)[18]
Một số dòng Keo lai được lựa chọn có hàm lượng xenlulô cao hơn hai loài bố mẹ và cao hơn Bạch đàn Caman Độ chịu kéo, độ gấp, và độ trắng giấy của Keo lai cũng cao hơn hai loài bố mẹ, Bồ đề và Mỡ
Nghiên cứu của Lê Đình Khả và các cộng sự năm 1997 [20] cho thấy không nên dùng hạt của Keo lai trồng rừng mới Cây lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và đồng nhất tương đối về hình thái Song khi sinh sản bằng hạt để cho thế hệ thứ lai thứ hai (F2) lại bị phân ly hình thái và
bị thoái hoá, vì vậy khi trồng rừng bằng cây con mọc từ hạt của cây lai F1 cây trồng sẽ bị phân hoá về sinh trưởng và hình thái, đồng thời ưu thế lai cũng bị giảm xuống Chính vì vậy, việc nhân giống bằng hom hoặc nhân giống bằng nuôi cấy mô là phương pháp bảo đảm nhất để giữ ưu thế lai đời F1
Nghiên cứu so sánh tại rừng trồng ở BaVì đã cho thấy lúc 2,5 tuổi Keo lai có chiều cao 4,5m, đường kính ngang ngực trung bình từ 5,21cm, trong khi Keo tai tượng có chiều cao là 2,77m và đường kính là 2,63m (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Đình Hải, 1993) [25]
Nghiên cứu chọn lọc cây trội, nhân giống và bước đầu khảo nghiệm dòng vô tính Keo lai ở Đông Nam Bộ do Phạm Văn Tuấn, Lưu Bá Thịnh, Phạm Văn Chiến tiến hành năm (1995;1998;1999) [25] cho thấy hom chồi ra
rễ cao nhất được giâm hom từ tháng 5 – 7 và xử lý bằng IBA dạng bột nồng
độ 0,7% và 1,0% trong đó các cá thể Keo lai khác nhau có tỷ lệ ra rễ khác nhau Qua khảo nghiệm cho thấy các dòng Keo lai có sinh trưởng nhanh hơn
Trang 14Keo lá tràm và Keo tai tượng từ đó chọn được các dòng 3; 5; 6; 12 có sinh trưởng nhanh để nhân giống đại trà cho trồng rừng sản xuất ở Đông Nam Bộ
và các địa phương có điều kiện lập địa tương tự
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân, Trần Hồ Quang, Ngô Thị Minh Duyên, Đoàn Thị Mai (1995)[28][34] về nuôi cấy mô cây Keo lai thấy rằng
có thể nhân giống nhanh cây Keo lai bằng phương pháp nuôi cấy mô trong môi trường MS (Murashige and Skoog) với BAP (Benzym Amino Purinine) 2mg/l thì số chồi nhân lên 20 – 21 lần và có thể cho các chồi ra rễ bằng biện pháp giâm hom thông thường trên nền cát sông được phun sương trong nhà kính, nghiên cứu này đã xác định được môi trường thích hợp và tỷ lệ các nguyên tố đa lượng, vi lượng, tỷ lệ các chất kích thích sinh trưởng cũng như môi trường nuôi cấy mô Keo lai
Sau này Lê Đình Khả và cộng sự ở Malaisia thí nghiệm giâm trực tiếp cây mô trên nền cát sông, sau 01 tháng giâm hom cây mô có tỷ lệ ra rễ 90 – 100% và sau 02 tháng giâm hom cây ra rễ vẫn giữ được 80 – 100% (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001)[22]
Nghiên cứu nhân giống Keo lai bằng hom tại BaVì cho thấy khả năng cung cấp hom thay đổi theo tuổi cây và theo các tháng trong năm Số hom cắt được từ cây giống một tuổi là 116 hom/cây, cây giống hai tuổi là 357 hom/cây, cây từ 3 – 4 tuổi từ 511 – 518 hom/cây Như vậy, cây hai tuổi đã có khả năng cung cấp hom gấp 3 lần cây một tuổi, cây ba tuổi thì khả năng cung cấp hom bắt đầu ổn định, thời gian cắt được nhiều hom nhất là tháng 5 – tháng 10, thực tế đây là thời kỳ ra rễ cao nhất [19]
Các loại hoocmon dùng để giâm hom cho cây gỗ là IAA, IBA Thí nghiệm giâm hom cho cây giống ba tuổi của Keo lai bằng IAA, IBA dạng bột, được chuẩn bị theo chất nền của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng có tên gọi tắt là (TTG) đã được tiến hành tại vườn ươm Chèm (Hà Nội) của trung
Trang 15tâm nghiên cứu giống cây rừng được tiến hành tháng 8 năm 1998, mỗi công thức 30 hom, lặp lại 03 lần Kết quả thí nghiệm cho thấy công thức đối chứng (không xử lý hoocmon) có tỷ ra rễ 61,1%, các công thức xử lý TTG2 (tức là IAA) có tỷ lệ ra rễ trung bình từ 70 - 77,8%, các công thức xử lý TTG1 (tức là IBA) có tỷ lệ ra rễ trung bình 72,2 – 88,9%, trong đó công thức xử lý bằng IBA 0,75% dạng bột có tỷ lệ ra rễ trung bình cao nhất (86,7 – 93,3%) Điều này chứng tỏ IAA, IBA có tác dụng kích thích ra rễ đối với hom Keo lai khá
rõ rệt và IBA là chất kích thích ra rễ mạnh hơn IAA
Nghiên cứu giống Keo lai và vai trò các biện pháp thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) cho thấy cải thiện giống và các biện pháp thâm canh đều có vai trò quan trọng trong tăng năng xuất rừng trồng Muốn tăng năng suất rừng trồng cao, nhất thiết phải áp dụng tổng hợp các biện pháp cải thiện giống và các biện pháp thâm canh khác Kết hợp giữa giống được cải thiện với các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh mới tạo được năng suất cao trong sản xuất lâm nghiệp Các giống Keo lai được lựa chọn qua khảo nghiệm có năng suất cao hơn rất nhiều so với các loài bố mẹ Ví dụ tại Cẩm Quỳ (BaVì – Hà Tây) khi được trồng ở điều kiện thâm canh (có cày đất và bón phân thích hợp) thì ở giai đoạn hai năm tuổi Keo lai có thể tích 19,6dm3/cây Trong lúc các loài Keo bố mẹ trồng cùng điều kiện lập địa ở công thức quảng canh có thể tích thân cây 4,7dm3/cây Trong khi các loài bố mẹ trồng cùng điều kiện thâm canh như vậy thì thể tích thân cây chỉ đạt 2,7 – 6,1dm3/cây, còn công thức quảng canh chỉ đạt 0,6 – 1,2dm3/cây (Lê Đình Khả, 1997;1999)
Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của Keo lai và hai loài bố mẹ của Lê Đình Khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải (1999)[22] cho thấy ở giai đoạn vườn ươm 03 tháng tuổi các dòng Keo lai đã được lựa chọn có số lượng nốt sần từ 39,9 – 80,3 cái/cây, gấp 2,5 – 13 lần các loài bố mẹ Khối lượng tươi
Trang 16của các nốt sần ở các dòng keo lai từ 0,39 – 0,47g/cây, trong lúc của các loài
bố mẹ là 0,075 – 0,15g/cây, còn khối lượng khô của các nốt sần ở các dòng Keo lai là 0,08 – 0,130g/cây, gấp 5 – 12 lần các loài Keo bố mẹ (0,011 – 0,017g/cây)
Một số dòng Keo lai có lượng vi khuẩn cố định nitơ cao hơn các loài bố
mẹ, một số khác có tính chất trung gian Đặc biệt, dưới tán rừng Keo lai 5 tuổi khảo nghiệm tại Đá Chông thuộc trạm thực nghiệm giống BaVì (1999), số lượng vi sinh vật và số lượng vi khuẩn cố định Nitơ tự do trong 01 gram đất cao hơn rõ rệt so với đất dưới tán rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm, 01 gam đất dưới tán rừng Keo lai có thể gấp 5 – 17 lần các loài Keo bố mẹ và cao gấp
97 lần mẫu đất lấy ở nơi đất trống Vì thế đất dưới tán rừng Keo lai được cải thiện hơn đất dưới tán rừng Keo hai loài bố mẹ cả về hoá tính, lý tính và số lượng vi sinh vật
Nghiên cứu khả năng chịu hạn của một số dòng Keo lai được lựa chọn tại BaVì của Lê Đình Khả, Đoàn Thị Mai, Nguyễn Thiên Hương, (1999)[22] trong các dòng Keo lai được lựa chọn có sự khác nhau về cường độ thoát hơi nước, áp suất thẩm thấu, độ ẩm cây héo và thể hiện tính chịu hạn cao hơn bố
mẹ Trong đó dòng BV32 có sức chịu hạn khá nhất, tiếp theo là các dòng BV5, BV10 và BV16
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Dao (2003)[9] cho thấy khảo nghiệm tại BaVì (Hà Tây) ở phương thức thâm canh Keo lai 78 tháng tuổi chiều cao vút ngọn trung bình 15m, đường kính trung bình D1.3 14,3cm, thể tích thân cây Keo lai đạt 172,2dm3/cây gấp 1,42 – 1,48 lần Keo tai tượng và gấp 5,6 – 10,5 lần thể tích Keo lá tràm Khảo nghiệm tại Bình Thanh (Hoà Bình) ở công thức thâm canh 7 tuổi chiều cao trung bình Keo lai là 22,3m, đường kính trung bình D1.3 20,7cm, ở công thức quảng canh Keo lai có chiều cao 22,9m, đường
Trang 17kính D1.3 là 19,3cm, thể tích thân cây Keo lai đạt 383,1dm3/cây ở công thức thâm canh, còn thể tích thân cây công thức quảng canh là 344,2 dm3/cây
Khảo nghiệm ở Hàm Yên (Tuyên Quang) cho thấy ở công thức thâm canh 7 tuổi Hvn của Keo lai đạt 21,7m, đường kính trung bình 16,9cm, thể tích thân cây 255dm3/ cây, trữ lượng là 320,6m3/ha, lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm 45,8m3/ha/ năm
Khảo nghiệm tại Đại Lải (Vĩnh Phúc) ở đất đồi lateritic nghèo dinh dưỡng, mùa đông lạnh sau 6 năm tuổi ở công thức thâm canh Hvn trung bình đạt 15,5m, D1.3 trung bình 11,7cm, thể tích thân cây đạt 86,2dm3/cây, trong khi đó thể tích thân cây Keo tai tượng là 16,2 – 31,3dm3/cây Khảo nghiệm tại Đông Hà (Quảng Trị) cho thấy ở 5,5 tuổi Hvn Keo lai là 16,7m, D1.3 trung bình 17,2cm, thể tích thân cây là 202,2dm3/cây
Khảo nghiệm tại Long Thành (Đồng Nai) ở giai đoạn 5 tuổi Hvn trung bình đạt 21,6m, D1.3 13,6cm, thể tích thân cây là 189,7dm3/cây
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thế năm 2004 [37] thì Keo lai dòng BV10 trồng thuần loài trên đất phát triển trên đá phiến Thạch sét và đất phát triển trên đá Sa thạch ở Lâm trường Hữu Lũng và Lâm trường Phúc Tân thuộc Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc Kết quả cho thấy tại hai khu vực sinh trưởng chiều cao vút ngọn của dòng Keo lai (BV10) cao hơn Keo tai tượng từ 3,1 – 4,4m, dòng Keo lai (BV10) sinh trưởng trên cùng một loại đất ở hai khu vực thì chiều cao (Hvn) ở Hữu Lũng cao hơn ở Phúc Tân; đường kính D1.3
của dòng Keo lai (BV10) ở Hữu Lũng sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng, tại Hữu Lũng D1.3 của Keo lai (BV10) từ 11,3 – 12,7cm, còn Keo tai tượng từ 10,6 – 12,2cm, ở Phúc Tân sinh trưởng đường kính D1.3 của Keo lai từ 8,9 – 9,3cm, Keo tai tượng từ 7,6 – 7,7cm Hệ số biến động chiều cao của Keo lai thấp hơn so với Keo tai tượng
Trang 18Tóm lại: Từ năm 1993 đến nay ở Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu
Keo lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm từ các nghiên cứu về hình thái, chọn lọc cây trội nhân giống bằng hom, nuôi cấy mô, khảo nghiệm các dòng vô tính đến những nghiên cứu về tính chất cơ lý, tiềm năng bột giấy…
Từ các kết quả nghiên cứu đã chọn được một số dòng như BV10, BV6, BV29
và BV32 ở Ba Vì Hà Tây và một số dòng khác ở Đông Nam Bộ như TB6, TB12
Hai tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông hiện tại quỹ đất trống, đồi trọc còn nhiều, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, một số đơn vị sản xuất lâm nghiệp
ở đây đã trồng Keo lai nhưng diện tích chưa nhiều, đầu tư thấp, năng suất chưa cao Đặc biệt là chưa có những nghiên cứu đánh giá sinh trưởng chiều cao, đường kính, trữ lượng (M), cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội của Keo lai Đề tài góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại trên
Trang 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Dòng Keo lai (BV10) trồng thuần loại bằng cây con giâm hom trên địa bàn Đăk Lăk và Đăk Nông
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng và hiệu quả kinh tế - xã hội của
việc trồng Keo lai làm nguyên liệu giấy tại Đăk Lăk và Đăk Nông
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu đặt ra đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung như sau:
2.3.1 Nghiên cứu về đất và kỹ thuật trồng rừng trồng rừng Keo lai BV10
- Nghiên cứu một số đặc điểm lý hoá tính của đất dưới tán rừng Keo lai
- Tìm hiểu về kỹ thuật trồng rừng Keo lai dòng BV10
2.3.2 Đánh giá sinh trưởng
- Sinh trưởng chiều cao Hvn
- Sinh trưởng đường kính ngang ngực D1.3.
- Đánh giá chất lượng rừng trồng: Tốt, trung bình, xấu
- Trữ lượng gỗ Keo lai 6 năm tuổi (M)
2.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 20- Xác định chi phí đầu tư cho 01 ha rừng trồng (từ phát, dọn thực bì, trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ - phòng chống cháy rừng trong suốt chu kỳ kinh doanh 6 năm)
- Xác định thu nhập cho 01 ha rừng trồng (lấy tổng thu nhập khi kết thúc chu kỳ kinh doanh trừ đi các chi phí từ trồng rừng, chăm sóc rừng, quản
lý bảo vệ - phòng chống cháy rừng trong suốt chu kỳ kinh doanh kể cả các khoản thuế và lãi vay)
2.3.4 Đánh giá hiệu quả xã hội
- Khả năng tạo ra việc làm cho người dân
- Khả năng tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người dân
- Nhận thức và sự chấp nhận của người dân địa phương khi thực hiện
dự án trồng rừng Keo lai làm nguyên liệu giấy
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận tổng quát
Sinh trưởng cây rừng nói chung là sự tăng lên về kích thước chiều cao vút ngọn, đường kính ngang ngực, thể tích thân cây… Nói cách khác đó là sinh trưởng của một thực thể sinh học, nó chịu sự tác động của các nhân tố môi trường và các nhân tố nội tại trong bản thân mỗi cá thể và quần thể Vì vậy, khi nghiên cứu sinh trưởng không thể tách rời ảnh hưởng của các nhân tố
đó
Sinh trưởng của cá thể và của quần thể (lâm phần) là hai vấn đề khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Sinh trưởng của lâm phần gồm toàn bộ sự tăng lên về khối lượng vật chất được tích luỹ bởi từng cá thể và vật chất bị mất đi từ những bộ phận hay các thể bị đào thải (chết hoặc bị tỉa thưa) Những đại lượng sinh trưởng bình quân như chiều cao vút ngọn, đường kính ngang ngực, thể tích thân cây có vỏ…luôn phụ thuộc vào tuổi và tuân theo những quy luật nhất định Sự tăng lên của những chỉ tiêu này là kết quả tổng
Trang 21hợp của hai quá trình trên Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn trong quá trình sinh trưởng của lâm phần, sự lớn lên của các đại lượng sinh trưởng trên đã tạo ra những biến đổi về chất của lâm phần đó theo những nguyên lý của quy luật
“lượng đổi chất đổi”
Về dự toán chi phí, thu nhập của 01 ha rừng trồng Keo lai trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài, trên góc độ kinh doanh được hiểu là kết quả cuối cùng của một chu kỳ sản xuất kinh doanh (một chu kỳ khai thác) Dự toán đó biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả thu được trong một quá trình hoạt động sản xuất với chi phí về lao động, vật chất trong mối quan hệ với khả năng sinh trưởng và sản phẩm đạt được trên một lâm phần, đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư
Hiệu quả xã hội được xem xét dựa vào khả năng tạo ra việc làm cho người dân, khả năng tăng thu nhập, nâng cao đời sống và sự chấp nhận của người dân
Trong quá trình nghiên cứu đề tài luôn cố gắng bảo đảm tính khách quan, đánh giá trung thực các chỉ tiêu về sinh trưởng, kinh tế bằng phương pháp áp dụng các kỹ thuật về thu thập và xử lý thông tin
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu chung
- Áp dụng phương pháp điều tra khảo sát, thu thập số liệu kết hợp phân tích trong phòng thí nghiệm
- Sử dụng thống kê toán học trong lâm nghiệp để xử lý số liệu và đánh giá kết quả nghiên cứu
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài thừa kế các số liệu đã có về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng, điều kiện lập địa, tình hình dân sinh kinh tế của 03 khu vực nghiên cứu; kỹ thuật trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ và phòng chống cháy rừng Các
Trang 22định mức dự toán, trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ 01 ha rừng trong suốt chu
kỳ kinh doanh ở từng khu vực
Phần hiệu quả kinh tế, đánh giá căn cứ vào giá trị thực tế của hợp đồng
kinh tế số: 04/HĐKT.2007 “Về việc bán cây đứng rừng trồng nguyên liệu
giấy loài cây Keo lai” ngày 01/02/2007 của Công ty cổ phần giấy Tân Mai và
Công ty liên doanh TNHH Cát Phú Ngoài ra, đề tài còn tham khảo giá thị
trường từng khu vực thời điểm nghiên cứu
2.4.3.2 Phương pháp điều tra đất
Tại mỗi ô tiêu chuẩn đào 03 phẫu diện đại diện, mô tả đất và lấy 03
mẫu/01phẫu diện theo từng độ sâu 0 - 30cm; 30 - 60cm; 60 - 90cm, các mẫu
sau khi lấy xong được trộn đều với nhau sau đó mỗi tầng lấy 01 kg mang về
phân tích tại phòng phân tích đất của Trung tâm nghiên cứu đất, phân bón và
môi trường Tây Nguyên
Tổng cộng: 03 khu vực x 03 phẫudiện/Ô x 03 ô = 27 phẫu diện
03 khu vực x 03 mẫu/03 phẩu diện x 03 phẩu diện = 27 mẫu đất
- Hàm lượng mùn được xác định bằng phương pháp Tiurin
- Xác định PHKCL bằng máy quét PH met
- Hàm lượng P2O5 bằng phương pháp sử dụng máy quang phổ kế
- Hàm lượng Đạm được xác định theo phương pháp Kjeldal (Phương
pháp so màu)
- Hàm lượng K2O được xác định bằng phương pháp quang kế ngọn lửa
- Độ chua trao đổi được xác định bằng phương pháp chuẩn độ
- Thành phần cơ giới được xác định trong môi trường nước
2.4.4 Phương pháp điều tra sinh trưởng
2.4.4.1 Phương pháp thu thập số liệu về sinh trưởng
- Lập ô tiêu chuẩn:
Trang 23Tại mỗi địa điểm nghiên cứu lập 03 OTC đại diện, mỗi ô có diện tích 1000m2 (20 x 50m), bảo đảm mẫu quan sát n >= 30 cây/Ô Các ô được lập nơi đại diện cho sinh trưởng của rừng trồng tại địa điểm nghiên cứu, bảo đảm đủ
3 lần lặp lại
Tổng thể 3 địa điểm nghiên cứu x 3 ô = 9 OTC
- Đo đếm sinh trưởng
Các chỉ tiêu đo đếm sinh trưởng theo giáo trình Điều tra rừng (Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao,1997) [13]
+ Chiều cao vút ngọn của cây (Hvn) được đo từ mặt đất lên đỉnh sinh trưởng cao nhất, đơn vị là mét (m)
+ Đường kính ngang ngực (D1.3) được đo ở vị trí 1.3m thân cây tính từ mặt đất, đơn vị là centimet (cm)
Các chỉ tiêu về chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính ngang ngực (D1.3) được đo đếm trên toàn bộ các cây trong ô tiêu chuẩn
2.4.4.2 Thu thập các chỉ tiêu về chất lượng
Dựa vào chiều cao Hvn, đường kính D1.3, độ thẳng thân cây, mà chất lượng cây rừng được đánh giá bằng phương pháp phân loại từng cây trong ô
tiêu chuẩn theo 3 cấp
- Cây tốt (A): là những cây một thân có Hvn, D1.3 cao hơn Hvn và D1.3
những cây trung bình, hình thân thẳng, tán đều, ít bị chèn ép, tỉa cành tự nhiên tốt, không gãy ngọn, không sâu bệnh, độ thon cây đồng đều
- Cây trung bình (B): là những cây có Hvn, D1.3 gần đạt đường kính chiều cao trung bình trở lên, tán hơi bị lệch, bị chèn ép một phần, tán vẫn nằm trong tầng tán chính của rừng, thân hơi cong, không gãy ngọn và ít bị sâu bệnh
Trang 24- Cây xấu (C) là những cây bị chèn ép, tán nằm dưới tầng tán chính của rừng, có Hvn, D1.3 dưới trung bình, hoặc cây cong queo, sâu bệnh, tỉa cành tự nhiên kém, thân bị cong hoặc bị tổn thương
- Xếp loại cho lâm phần:
+ Lâm phần tốt (A) là lâm phần có: - Cây tốt > 60%
IVa: Gồm những cây còn được chiếu sáng
IVb: Gồm những cây không được chiếu sáng (sẽ bị chèn ép)
+ Cấp V: Gồm những cây sinh trưởng kém, chất lượng xấu có hai cấp phụ:
Va: Gồm những cây còn sống
Trang 25Vb: Gồm những cây đang chết hoặc sắp chết
2.4.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Ứng dụng phần mềm xử lý thống kê kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong Nông – Lâm nghiệp trên máy vi tính bằng Excel 5.0 của Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi cho phép loại bỏ những trị số quá đặc thù có thể sai sót khi quan sát số liệu, việc này chủ yếu là căn cứ mức độ chênh lệch giữa chúng với trung bình của dãy số quan sát
- Dùng phương pháp phân tích phương sai hai nhân tố để kiểm tra ảnh hưởng của các khu vực đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn và đường kính D1.3 và trữ lượng
- Kiểm tra điều kiện phân tích phương sai:
+ Điều kiện phân bố chuẩn: Do số cây quan sát trong ô tiêu chuẩn n >
30 nên mẫu quan sát tiệm cận với phân bố chuẩn
+ Điều kiện bằng nhau của các phương sai:
Dung lượng mẫu quan sát của các khu vực nghiên cứu bằng nhau, mỗi khu vực nghiên cứu đo đếm 03 OTC đại diện, n1 = n2 = n3 = 3, nên chúng tôi
sử dụng tiêu chuẩn Cochran để kiểm tra sự bằng nhau của các phương sai
Giả thuyết: H0: 2
3 2 2 2
Trang 26- Nếu Gmax tính Gmax 0.05 thì ngược lại
Hai chỉ tiêu Hvn, D1.3 được dùng để kiểm tra ảnh hưởng của các khu vực nghiên cứu đến sinh trưởng Hvn, D1.3, trữ lượng của dòng Keo lai BV10
- Phân tích phương sai:
i 1 1
xij (2-2)
Trong đó: n = a.b là dung lượng mẫu quan sát toàn thí nghiệm
Trang 27Giả thuyết H0A : Đúng thì tỷ số:
FA =
a V VN A
b a
1
1 1
Có phân bố F với k = a-1 và k = (a-1)(b-1) bậc tự do
Nếu FA tính F0.05(k1; k2) thì H0A được chấp nhận nhân tố A tác động đồng đều lên thí nghiệm
Nếu FA tính > F0.05 (k1; k2) thì ngược lại
Tương tự: Nếu giả thuyết H0B đúng thì đại lượng:
FB =
V VB A a V VN B b
b a
1 1
Có phân bố F với k1 = b-1; k2 = (a-1)(b-1) bậc tự do
- Nếu FB tính F0.05 (k1; k2) thì giả thuyết H0B được chấp nhận, nhân tố B tác động đồng đều lên thí nghiệm
- Nếu FB tính > F0.05 (k1; k2) thì ngược lại
+ Tìm khu vực có ảnh hưởng mạnh nhất đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn
Trong đó: xmax1 là trị số trung bình lớn thứ nhất
xmax2 là trị số trung bình lớn thứ hai
ni, nj là dung lượng mẫu quan sát ứng với các trị số trung bình lớn thứ nhất và trị số trung bình lớn thứ hai
S’’ là phương sai ngẫu nhiên S’’ =
a n
VN
Trang 28+ Thể tích thân cây được tính bằng công thức:
f : là hình số thân cây (f = 0,5)
D1.3 là đường kính thân cây ở vị trí 1.3m
+ Trữ lượng gỗ trên 01 ha được tính bằng công thức:
faj ai
j ij
f
1 1
f ij: tần số quan sát của mẫu thứ thứ i cấp chất lượng j
T ai tổng tần số quan sát của mẫu thứ i
T bj tổng tần số quan sát của cấp chất lượng j
Nếu: -2
tính 2
0.05 Chất lượng rừng trồng trên các khu vực là thuần nhất
Trang 29- 2
tính > 2
0.05 Chất lượng rừng trồng trên các khu vực khác nhau
2.4.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
- Giá trị hiện tại thực (NPV) được tính bằng giá trị hiện tại của tất cả các thu nhập trừ đi giá trị hiện tại của tất cả các chi phí trong suốt chu kỳ sản xuất kinh doanh
Công ty Cổ Phần Giấy Tân Mai bán rừng bằng hình thức cây đứng nên chúng tôi không tính chi phí khai thác
Bằng phương pháp tính toán cân đối trực tiếp nếu cân đối bằng 0 thì kết quả sản xuất kinh doanh hoà vốn (tổng thu bằng tổng chi) Nếu cân đối < 0 kinh doanh bị thua lỗ phương án không được chấp nhận Nếu cân đối >0 kết quả kinh doanh có lãi, phương án được chấp nhận
- Công thức tính theo Dk.Paul [1] như sau:
1 1 (2-15) Trong đó: NPV là giá trị hiện tại thực (giá trị lợi nhuận ròng hiện tại)
Bt: Thu nhập năm thứ t
Ct: Chi phí năm thứ t
r: Tỷ lệ lãi suất của vốn đầu tư
t: Thời gian của chu kỳ kinh doanh
(1+r)t : Hệ số tính kép
Nếu: - NPV >0 kinh doanh có lãi phương án được chấp nhận
- NPV < 0 kinh doanh bị thua lỗ phương án không được chấp nhận Chỉ tiêu này cho biết mức lợi nhuận về mặt số lượng, nó cho phép lựa chọn các phương án có quy mô và kết cấu đầu tư như nhau, phương án nào có NPV lớn thì được lựa chọn
+ Tỷ suất thu nhập so với chi phí Benefit Costs Ratio (BCR)
Trang 30Là tỷ số giữa giá trị hiện tại của toàn bộ thu nhập so với giá trị hiện tại của toàn bộ chi phí sau khi đã chiết khấu đưa về giá trị hiện tại
Công thức tính theo John Egunter [1] như sau:
r: Tỷ lệ lãi suất của vốn đầu tư
t: Thời gian của chu kỳ sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng đầu tư, tức là cho biết thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Nó cho phép so sánh và lựa chọn các phương án
có quy mô và kết cấu đầu tư khác nhau, phương án nào có BCR lớn nhất thì được lựa chọn
+ Chỉ tiêu tỷ suất thu hồi vốn nội tại Internal Rate of Return (IRR) hay còn gọi là tỷ lệ thu hồi vốn nội tại, là một tỷ lệ chiết khấu làm cho giá trị hiện tại của chuỗi thu nhập bằng giá trị hiện tại của chuỗi chi phí
(2-17) Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lợi tối đa của một chương trình đầu
tư Dựa vào chỉ tiêu này cũng có thể thấy được khả năng chịu đựng mức lãi suất tiền vay lớn nhất của một chương trình đầu tư
IRR là tỷ lệ lãi suất làm cho NPV = 0, tức là với mức lãi suất IRR thì chương trình đầu tư hoà vốn khi đó:
Trang 31Vì vậy từ IRR cho phép xác định thời điểm hoàn trả vốn đầu tư, nó cho phép so sánh và lựa chọn các phương án có quy mô và kết cấu đầu tư khác nhau phương án nào có IRR lớn nhất thì được lựa chọn
- Nếu IRR > r phương án có khả năng hoàn trả vốn và được chấp nhận
- Nếu IRR < r phương án không có khả năng hoàn trả vốn không được chấp nhận
2.4.6 Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đánh giá hiệu quả xã hội thông qua việc thực hiện trồng rừng Keo lai làm nguyên liệu giấy sẽ tạo ra việc làm cho đồng bào dân tộc ở địa phương và dân kinh tế mới ở mỗi khu vực nghiên cứu
Từ hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng Keo lai dòng BV10 làm nguyên liệu giấy ngoài việc tạo ra nhiều việc làm, thông qua các buổi hội nghị tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ rừng – phòng chống cháy rừng sẽ làm cho ý thức trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng của người dân tộc địa phương được nâng lên làm cho họ chấp nhận tham gia trồng rừng, chăm sóc và quản
Trang 32Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên các khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
* Huyện M’ ĐRăk
Khu vực trồng rừng nguyên liệu giấy thuộc xã Cư K’Róa huyện M’ĐRăk tỉnh Đăk Lăk cách thành phố Buôn Mê Thuột 100 km về phía Tây
Vị trí giáp giới như sau:
- Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên và Xã Ea Pil huyện M’ĐRăk
- Phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa và huyện KRông Bông – Đăk Lăk
- Phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa
- Phía Tây giáp Xã KRông Jing và Xã Ea Riêng huyện M’ĐRăk
Có tọa độ từ: - 1080 6’ 36” đến 1080 29’ 6” độ kinh đông
- 120 27’ 5” đến 120 57’ 5” vĩ độ bắc
* Huyện KRông Nô
Khu vực rừng trồng nguyên liệu giấy nằm trên các tiểu khu: 1263;1274,
xã Đăk Rồ cách trung tâm huyện KRông Nô 15km về hướng Tây và cách trung tâm huyện Đăk Mil 11km về hướng Đông
Vị trí tiếp giáp: - Phía Bắc giáp tiểu khu: 1257;1258
- Phía Nam giáp tiểu khu: 1285
- Phía Đông giáp tiểu khu: 1261;1266
- Phía Tây giáp tiểu khu: 1286;1087 Toạ độ địa lý: 12 0 26’ đến 120 31’ Vĩ độ Bắc
1070 43’ đến 1070 48’ Kinh độ Đông
* Huyện Đăk Glong
Khu vực trồng rừng nguyên liệu giấy ở tiểu khu: 1027; 1029 xã Quảng Khê cách trung tâm huyện 13 km về phí Tây
Trang 33*Huyện KRông Nô
Khu vực rừng trồng nguyên liệu giấy nằm trên thượng nguồn của các suối chính: Suối Đăk Mân, suối Đăk Rồ và suối Đăk Sắc từ hệ thống các khe suối trên đã hình thành nên các hệ dông núi thuộc dải chính Yôr Dam Hoa
Địa hình đồi núi trung bình đến thấp, chia cắt trung bình và một số nơi tương đối bằng phẳng
Độ cao tuyệt đối 720m, nơi thấp nhất 500m, độ cao trung bình 610m so với mặt nước biển Độ dốc trung bình 150
* Huyện Đăk Glong
Phần lớn diện tích rừng trồng có địa hình gồm nhiều đồi núi kế tiếp nhau, độ cao trung bình 600m, nơi cao nhất là 920m, nơi thấp nhất là 280m,
Trang 34* Huyện KRông Nô
Toàn bộ diện tích Keo lai trồng trên đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá
mẹ Ba zan Tầng đất dày >100cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ, độ phì cao, đá
lộ đầu không đáng kể Đây là vùng đất rất tốt thích hợp với nhiều loài cây trồng, đặc biệt rất thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây Keo lai
* Huyện Đăk Glong
Khu vực rừng Keo lai được trồng trên đất Feralit nâu vàng phát triển trên phiến thạch sét tập trung trên các dãy núi có độ cao từ 10 – 200 là chính Đất có thành phần cơ giới là đất thịt trung bình, độ sâu tầng đất A + B > 60cm, tỷ lệ đá lẫn chiếm 10%
Nhìn chung đất ở đây không thích hợp với các loại cây nông nghiệp ngắn ngày, độ dốc cao thường bị xói mòn rửa trôi vào mùa mưa, sự cần thiết lựa chọn các loài cây mọc nhanh để tăng cường độ che phủ bề mặt, cải tạo đất
là hết sức cần thiết Chính vì vậy việc trồng và phát triển loài cây Keo lai ở đây là giải pháp phù hợp và rất cần thiết
3.1.4 Thảm thực vật
* Huyện M’Đrăk
Số liệu điều tra của Trung tâm khảo sát thiết kế nông lâm nghiệp Đăk Lăk năm 1999 [3] trình bày ở bảng 3.1 cho thấy:
Trang 35Bảng 3.1 Hiện trạng của khu vực trồng rừng xã Cư K’Roá
Hiện trạng Diện tích đất tự nhiên của xã (ha)
cỏ, cây bụi này trồng cây nông nghiệp ngắn ngày kém hiệu quả Điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu khu vực này thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây Keo lai Chính vì vậy, việc trồng Keo lai phát triển vùng nguyên liệu giấy ở khu vực này là hết sức cấp bách để tạo ra việc làm cho người dân kinh
tế mới ổn định cuộc sống, tận dụng quỹ đất trống, đồi núi trọc kém hiệu quả
Trang 36này thành một vùng nguyên liệu có hiệu quả kinh tế cao Mặt khác, trồng rừng Keo lai làm nguyên liệu giấy sẽ nhanh chóng nâng cao tỷ lệ che phủ bề mặt
*Huyện KRông Nô
Số liệu kiểm kê rừng tự nhiên năm 1997 [33] của viện điều tra quy hoạch rừng thì diện tích tự nhiên khu vực trồng rừng được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Hiện trạng của khu vực trồng rừng xã Đăk Rồ
Trang 37Hiện tượng phá rừng vẫn còn diễn biến phức tạp mà nguyên nhân chính là do dân di cư tự do từ phía bắc vào Trong số diện tích: 2.078,7ha đất trống không có rừng thì diện tích đất trống và đất nương rẫy không cố định (có thể bị bỏ hoang) ước tính có khoảng trên 1.500ha Với diện tích lớn này, cần nhanh chóng đẩy mạnh công tác trồng rừng làm nguyên liệu là hợp lý nhất Đặc biệt là điều kiện đất đai, khí hậu ở đây rất phù hợp với sinh trưởng
và phát triển của nhiều loài cây nhất là cây Keo lai
* Huyện Đăk Glong
Kết quả điều tra hiện trạng rừng của Trung tâm khảo sát thiết kế nông lâm nghiệp Đăk Lăk thực hiện tháng 08 năm 2000 Thì hiện trạng khu vực rừng trồng nguyên liệu giấy thể hiện ở bảng 3.3 như sau:
Bảng 3.3 Hiện trạng của khu vực trồng rừng xã Quảng Khê
- Đất trống, cây bụi, gỗ rải rác 198,6
Với hiện trạng rừng le, lồ ô và đất không có rừng chiếm: 3.848,5ha cần quy hoạch cải tạo đất, trồng rừng Keo lai làm nguyên liệu sẽ nhanh chóng cải thiện được đất, tăng tỷ lệ che phủ, hạn chế được tình trạng phá rừng làm nương rẫy và cho hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 383.2 Khí hậu - Thủy văn
3.2.1 Khí hậu
* Huyện M’Đrăk
Khu vực trồng rừng nằm trên Cao nguyên Trung bộ có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 2 đến tháng
7, mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau
* Nhiệt độ: + Nhiệt độ tối cao trung bình là 370C
+ Nhiệt độ tối thấp trung bình 120C
+ Nhiệt độ bình quân 250C
+ Tổng lượng nhiệt trong năm từ 8000 – 85000C
* Độ ẩm: + Độ ẩm trung bình năm 85 – 90%
+ Độ bốc hơi bình quân 1250mm/năm
+ Lượng mưa bình quân hàng năm từ 2000 – 2,500mm
* Gió: Có hai hướng gió chính sau:
+ Gió Đông Bắc thổi vào mùa mưa mang theo hơi ẩm, mưa phùn lạnh
+ Gió Tây Nam thổi vào mùa khô thường vào buổi chiều
* Huyện KRông Nô và Huyện Đăk Glong
Cả hai huyện KRông Nô và huyện Đăk Glong đều nằm trên Cao nguyên Nam Trung Bộ, có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 02 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 04 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau
+ Chế độ nhiệt:
- Nhiệt độ tối cao trung bình: 360C
- Nhiệt độ tối thấp trung bình:120C
- Nhiệt độ trung bình: 230C
Tháng nóng nhất là tháng 3 hàng năm, tháng lạnh nhất là tháng 12
Trang 39+ Chế độ ẩm:
Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.800 – 2.220mm, lượng mưa tập trung từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, độ ẩm tương đối hàng năm là: 80%
+ Gió:
Khu vực rừng trồng có hai hướng gió chính sau:
- Gió Đông Bắc thổi và xuất hiện vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng
Nhìn chung khu vực này có nguồn nước dồi dào, rất thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển
*Huyện KRông Nô và Huyện Đăk Glong
Cả hai xã có nhiều sông, suối lớn có nước quanh năm
- Huyện KRông Nô: Có suối Đăk Mâm, Đăk Rồ, Đăk Sắc có lượng nước dồi
dào quanh năm, đảm bảo đủ nước cho sản xuất, sinh hoạt
- Huyện Đăk Glong: Đây là khu vực đầu nguồn của sông Đồng Nai có hệ
thống suối dày đặc có nước quanh năm bảo đảm đáp ứng đủ nước cho nhu cầu sản xuất Mùa mưa tốc độ dòng chảy lớn làm hư hỏng các công trình giao thông, thuỷ lợi
Nhìn chung cả hai khu vực có nguồn nước dồi dào, và có nước quanh năm rất thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển nhưng rất khó khăn cho việc đi lại vào mùa mưa
Trang 403.3 Điều kiện kinh tế xã hội
3.3.1 Dân số
* Huyện M’Đrăk
Khu vực rừng trồng thuộc địa bàn xã Cư K’Róa là xã kinh tế mới, mới thành lập có 310 hộ gia đình với 1230 nhân khẩu trong đó có 620 lao động, phần lớn là đồng bào dân tộc người Ê Đê và dân kinh tế mới, chủ yếu là canh tác cây lúa nước và trồng cà phê để sinh sống
Nhìn chung mức sống của đồng bào rất thấp, mức sản xuất lương thực thấp, tình trạng thiếu ăn còn xảy ra 2 - 3 tháng/năm Số hộ đói nghèo chiếm 30% tổng số hộ trong khu vực rừng trồng Do đó việc trồng rừng và phát triển vùng nguyên liệu giấy tại đây sẽ giúp đồng bào dân tộc cải thiện đời sống
*Huyện KRông Nô
Dân cư trên địa bàn xã Đăk Rồ khoảng 200 hộ, gần 600 nhân khẩu trong đó có hơn 50 hộ, gần 100 nhân khẩu là dân di cư tự do sống rải rác chưa
ổn định
* Huyện Đăk Glong
Trên địa bàn xã có khoảng 270 hộ gia đình, khoảng 1.487 nhân khẩu,
đa số là dân tộc thiểu số Tây Nguyên và một số dân di cư tự do sống rải rác chưa ổn định
3.3.2 Văn hóa – Giáo dục – Y tế
* Huyện M’Đrăk
+ Văn hóa: Xã Cư K’Roá đã có trạm tiếp sóng truyền hình phục vụ nhân
dân Tuy nhiên phương tiện sử dụng của người dân còn hạn chế và do địa hình đã cản trở việc truyền đạt các thông tin đại chúng đến trực tiếp với người dân
+ Giáo dục: Trình độ văn hóa của nhân dân trong vùng còn thấp do đường sá
xa xôi, nhiều em nhỏ không theo học được, một số còn chưa được xóa mù