1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp Luật Về Tài Chính Doanh Nghiệp Từ Thực Tiễn Các Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Tại Thành Phố

82 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 739,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sẽ được pháp luật điều chỉnh như doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước, dân cư mua cổ phiếu, trái phiếu tín phiếu của các doanh ngh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ HỒNG GIANG

PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

TỪ THỰC TIỄN CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ HỒNG GIANG

PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

TỪ THỰC TIỄN CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế “Pháp luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế và có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực khách quan và không sao chép của bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 08 năm 2019

Tác giả

Ngô Hồng Giang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 9

1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 9

1.1.1 Định nghĩa và chức năng của tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 9

1.1.2 Các nguồn hình thành tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 11

1.2 Khái niệm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 12

1.2.1 Định nghĩa pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 12

1.2.2 Đặc điểm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 13

1.3 Nguồn của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 15

1.4 Nội dung của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 16

1.4.1 Các quy định về hình thành, tạo lập vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 17

1.4.2 Các quy định điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa 17

1.4.3 Các quy định điều chỉnh hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 22

1.4.4 Các quy định điều chỉnh hoạt động mua bán, chuyển nhượng vốn, rút vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa 23

1.4.5 Các quy định về doanh thu, chi phí của doanh nghiệp nhỏ và vừa 26

1.4.6 Các quy định điều chỉnh hoạt động nộp thuế, phí và nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp nhỏ và vừa 28

1.4.7 Các quy định điều chỉnh hoạt động phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp 30

1.4.8 Các quy định về hình thành, quản lý và sử dụng các loại quỹ của doanh nghiệp nhỏ và vừa 30

1.4.9 Các quy định điều chỉnh hoạt động tiếp cận Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 32

Trang 5

1.5 Chủ thể quan hệ pháp luật tài chính doanh nghiệp 321.6 Khách thể của quan hệ pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 37

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40

2.1 Thực trạng pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 40

2.1.1 Thực trạng pháp luật về hình thành, tạo lập vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 40 2.1.2 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa 41 2.1.3 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 42 2.1.4 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động chuyển nhượng vốn, rút vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa 43 2.1.5 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động doanh thu, chi phí của doanh nghiệp nhỏ và vừa 44 2.1.6 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động nộp thuế, phí, nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp nhỏ và vừa 45 2.1.7 Thực trạng pháp luật về hình thành, quản lý, sử dụng các loại quỹ của doanh nghiệp nhỏ và vừa 46 2.1.8 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp nhỏ và vừa 46 2.1.9 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động tiếp cận Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 47

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 48

2.2.1 Thực trạng doanh nghiệp và các yếu tố địa phương tác động đến việc thi hành pháp luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh 48

Trang 6

2.2.2 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 54

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

603.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả thực hiện 60

3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp 60 3.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 61

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp 613.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh 64

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA (ASEAN Free Trade Area) Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

(Association of Southeast Asian Nations)

ASEM (The Asia-Europe Meeting) Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á –

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

IFC (International Finance Corporation) Tổ chức tài chính quốc tế

GDP (Gross Dometic Product) Tổng sản phẩm quốc nội

Internet Hệ thống thông tin toàn cầu

SWOT Mô hình phân tích SWOT

(Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats)

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

WB (World Bank) Ngân hàng thế giới

WTO (World Trade Organization) Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước đang

phát triển 35

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (Điều 4, Khoản 7, Luật Doanh nghiệp 2015) Tài chính doanh nghiệp bao hàm những nguồn lực tài chính, những quỹ tiền tệ khác nhau, đại diện cho mối quan hệ của các chủ thể trong xã hội Mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sẽ được pháp luật điều chỉnh như doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước, dân cư mua cổ phiếu, trái phiếu tín phiếu của các doanh nghiệp của ngân hàng, của kho bạc nhà nước, người lao động và các doanh nghiệp nộp tiền vào quỹ Bảo hiểm xã hội,…

Trong điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tự lo nguồn lực tài chính của mình và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp và phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực tài chính đã huy động

Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển của doanh nghiệp Để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh trước hết doanh nghiệp phải có vốn kinh doanh, đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Việc thu hút, khai thác đảm bảo vốn cho kinh doanh đối với doanh nghiệp đã trở thành động lực và thúc đẩy doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường

Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh thể hiện ở việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đồng thời cũng phải xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, bán hàng hóa, dịch vụ sẽ

có tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh, vốn được quay vòng nhanh, khả năng sinh lời lớn

Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu sản xuất với, phải bán những sản phẩm mà thị trường cần và chấp nhận chứ không được bán cái mình có,

Trang 10

để đáp ứng nhu cầu này người quản lý doanh nghiệp phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả

Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là công cụ hiệu quả để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh thông qua tình hình tài chính của doanh nghiệp, thông qua các chỉ tiêu như: hệ số nợ, hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu thành phần vốn Để phát huy có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, các doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt công tác kế toán, xây dựng chỉ tiêu thích hợp, duy trì chế độ phân tích tài chính của doanh nghiệp

Do vậy, vai trò của tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa vô cùng quan trọng vì vậy doanh nghiệp cần phải quản lý tài chính một cách rõ ràng, minh bạch, bên cạnh

đó pháp luật về tài chính doanh nghiệp sẽ giúp đơn vị kinh doanh vững chắc, đúng theo quy định của Nhà nước

Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi là doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có quy mô nhỏ xét về góc cạnh vốn, lao động hay lợi nhuận Căn cứ vào quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định cụ thể theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ dựa trên tiêu chí số lượng lao động, doanh thu hoặc vốn điều lệ

Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2020 Mục đích của chương trình này là nhằm khuyến khích, thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển mạnh lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và từng bước hình thành nhóm ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh trên địa bàn Thành phố, bước đầu tham gia vào chuỗi cung ứng Kế hoạch xác định giải pháp, phân công nhiệm vụ các đơn vị có liên quan nhằm hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp với các nhiệm vụ chính như sau:

Trang 11

- Cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế hiện nay

- Bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo số liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 31/12/2018, cả nước có 714.755 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 9,2% so với cùng thời điểm năm 2017, trong đó thành phố Hồ Chí Minh có 228.267 doanh nghiệp, chiếm 31,9% số doanh nghiệp đang hoạt động của

cả nước Bên cạnh đó, theo thống kê một số chỉ tiêu về phát triển doanh nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh đang dẫn đầu như: Số doanh nghiệp đang hoạt động thời điểm 31/12/2018 với 228.267 doanh nghiệp; Số doanh nghiệp đang hoạt động bình quân trên 1000 dân năm 2018 với 26,5 người; Số lao động trong doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh với 2.937.000 người; Doanh thu thuần của doanh nghiệp năm 2017 là 4.685.000 tỷ

Tuy nhiên, số liệu điều tra cũng chỉ ra, mặc dù số lượng doanh nghiệp phát triển nhanh nhưng quy mô doanh nghiệp thì chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hiệu quả của chỉ tiêu lợi nhuận còn nhiều hạn chế Trong tổng số 228.267 doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có 83.089 doanh nghiệp hoạt động có lãi, chiếm 36,4%;

số còn lại là kinh doanh hòa vốn và thua lỗ, do vậy năm 2017, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi thấp nhất cả nước [2]

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về tài chính

doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình Kết quả nghiên cứu nhằm sáng

tỏ một số nội dung lý luận pháp luật về tài chính doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh có cái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn về sự

Trang 12

tác động của pháp luật tài chính đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có những chính sách, chiến lược phù hợp hơn trong việc thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động theo đúng pháp luật, góp phần nâng cao giá trị

doanh nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đề tài nghiên cứu pháp luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh là một đề tài mới tại Việt Nam hiện nay

Bên cạnh đó, trong phạm vi luận văn của mình, tác giả xin tập trung tổng quan tình hình nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Phạm Văn Hồng (2007) “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, luận án đã tiến hành phân tích và đánh giá về sự

phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nghiên cứu đã phân tích và tổng kết những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu và phân tích thực trạng môi trường kinh doanh phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cũng như đánh giá thực trạng các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua

Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong thời gian tới với nội dung chính:

- Đối với vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu đã khái quát hóa các nội dung cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa, phân tích, đánh giá và các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Nghiên cứu đã phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh những cơ hội mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ gặt hái được thì các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, phân tích một số yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước, các hiệp hội và bản thân các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 13

- Nghiên cứu đưa ra những kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan,…

- Nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng môi trường thể chế phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổng kết và phân tích một số văn bản pháp luật và các chính sách

có tác động trực tiếp đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Bên cạnh đó, thông qua các kết quả khảo sát, điều tra, nghiên cứu đã đánh giá cụ thể về thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa làm nền tảng cho các đề xuất và các giải pháp cụ thể đối với Nhà nước, các hiệp hội và các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tiếp tục đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Lê Ngọc Nương (2018) “Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên”, luận án đã tập trung phân tích,

đánh giá và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên Luận án trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa gồm: trình độ công nghệ sản xuất, chính sách của Nhà nước, nguồn nguyên liệu, lao động, năng lực quản lý, chính sách hỗ trợ của địa phương và tiếp cận tài chính

Luận án đã đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự phát triển của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên Thông qua phân tích định lượng bằng mô hình cấu trúc tuyến tính, luận án đã chứng minh được 7 nhân tố được đưa vào phân tích đều có ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên gồm: trình độ công nghệ sản xuất, chính sách của Nhà nước, nguồn nguyên liệu, lao động, năng lực quản lý, chính sách hỗ trợ của địa phương và tiếp cận tài chính

Trong đó, nhân tố trình độ công nghệ sản xuất và tiếp cận tài chính là hai nhân

tố có ảnh hưởng lớn nhất Căn cứ vào quan điểm và mục tiêu phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới, kết hợp với những vấn đề còn tồn tại trong phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên và kết quả

Trang 14

phân tích mô hình SWOT các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên, luận án đề xuất 05 nhóm giải pháp:

- Hoàn thiện chính sách về khoa học công nghệ;

- Hoàn thiện chính sách nguồn nguyên liệu cho phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa;

- Hoàn thiện các chính sách về lao động trong doanh nghiệp công nghiệp nhỏ

phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên nhằm phát triển

doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, tầm nhìn năm

lý của doanh nghiệp và rào cản về tài sản thế chấp của ngân hàng

Từ đó, các tác giả đề xuất các giải pháp để phát triển nguồn tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng quản lý, quản trị kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: để đối phó với rủi ro và khủng hoảng ; nghiên cứu xây dựng các sản phẩm tài chính mới gắn với các cam kết về môi trường và xã hội của Hà Nội; phát triển các sản phẩm cho vay không cần tài sản thế chấp

Trang 15

Những công trình nghiên cứu trên đây đã giúp tác giả có những kiến thức quý

báu để tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện để tài luận văn “Pháp luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành

phố Hồ Chí Minh”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm nhận diện thực trạng pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chế định này của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh; từ

đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Từ mục tiêu nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn tập trung các nội dung chính sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Thực trạng pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa và thực tiễn thực tiễn thực hiện của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh

- Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ

và vừa và nâng cao hiệu quả thi hành từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại

thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thực hiện của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh

- Khách thể nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Phạm vi nghiên cứu: Từ khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu

lực (từ 01/01/2018)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 16

về nhà nước và pháp luật, về tài chính doanh nghiệp để nghiên cứu, luận giải, giải thích, đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Tác giả luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, phương pháp

hệ thống hóa, tổng hợp ở chương 1 để tìm hiểu một số vấn đề lý luận về tài chính doanh nghiệp và pháp luật tài chính doanh nghiệp

- Tác giả luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh, ở chương 2 để tìm hiểu thực trạng pháp luật tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

- Phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch được tác giả luận văn sử dụng ở chương 3 để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và

vừa

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Tác giả luận văn hy vọng, kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà xây dựng chính sách, pháp luật ở trung ương và địa phương trong việc nghiên cứu, xây dựng pháp luật về tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nghiên cứu này cũng có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật kinh tế, quản trị tài chính doanh nghiệp và những ai có nhu cầu

nghiên cứu sâu hơn về tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

7 Kết cấu của luận văn

Cấu trúc của luận văn bao gồm: ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu gồm ba chương chính

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TÀI CHÍNH DOANH

NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số lượng rất lớn Những doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm góp phần tăng thu nhập cho dân cư, ổn định xã hội Mặt khác, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò phục vụ những thị trường ngách của nền kinh tế, điều mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng

1.1.1 Định nghĩa và chức năng của tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận thuộc hệ thống tài chính của kinh tế thị trường Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là phạm trù kinh tế khách quan gắn với kinh tế hàng hóa tiền tệ, tính chất và sự phát triển của tài chính doanh nghiệp và phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế hàng hóa

Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ tiền tệ trong sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu nhất định

Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa có những chức năng chính sau:

- Xác định và sử dụng nguồn vốn nhằm đảm bảo nhu cầu vốn đầu tư cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình này có các quan hệ tài chính doanh nghiệp

đa dạng phát sinh như quan hệ giữa các thành viên hoặc cổ đông, những người sở hữu doanh nghiệp với nhau trong góp vốn, mua cổ phần hình thành vốn điều lệ của doanh nghiệp; quan hệ giữa những người sở hữu doanh nghiệp với nhau hoặc với bên thứ ba trong mua bán, chuyển nhượng vốn, cổ phần; quan hệ giữa các thành viên hoặc

cổ đông, những người sở hữu doanh nghiệp với nhau trong chia lợi nhuận, lợi tức; quan hệ thanh toán với các chủ thể khác trong xã hội trong thực hiện thanh toán các

Trang 18

hợp đồng; quan hệ nộp thuế giữa doanh nghiệp và Nhà nước; quan hệ tín dụng với ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng; quan hệ trả lương giữa người sử dụng lao động và người lao động,

Sự luân chuyển của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh gắn liền với các yếu tố nguyên vật liệu và sức lao động; ngoài phần đầu tư ban đầu, tài chính doanh nghiệp còn được

bổ sung từ kết quả kinh doanh; sự vận động vốn kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận

- Chức năng phân phối thu nhập của doanh nghiệp

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng động viên khai thác các nguồn vốn tài chính trong nền kinh tế để hình thành vốn kinh doanh và sử dụng vốn vào các mục đích khác nhau Nguồn tài chính chủ yếu cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay là nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp, ở mỗi loại hình doanh nghiệp, nguồn vốn còn được khai thác từ thị trường vốn và thị trường tiền tệ trong dân cư như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, cũng như những khoản đầu tư từ nước ngoài

Chức năng phân phối thể hiện công dụng và khả năng của phạm trù tài chính trong việc phân phối dưới hình thức giá trị của cải xã hội trên các khâu của quá trình tái sản xuất, phân phối trong sản xuất, trong trao đổi và tiêu dùng

- Chức năng giám đốc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thể hiện khả năng của tài chính trong việc giám sát tính mục đích, tính hiệu quả của việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp Cũng như chức năng phân phối, chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp là khả năng mang tính khách quan và nhờ vào đó có thể phát hiện những hạn chế trong khâu phân phối

và điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Có thể nói, thuộc tính khách quan của chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp được xuất phát từ nguyên lý sau đây: doanh nghiệp khi bỏ vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều có mong muốn là thu được lợi nhuận Lợi nhuận thu được

là yếu tố quan trọng nhất, quyết định phương hướng và cách thức đầu tư của doanh

Trang 19

nghiệp, chính vì vậy đòi hỏi tất yếu là phải có quá trình giám sát tính hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2 Các nguồn hình thành tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để tiến hành một quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng cần phải

có vốn, đây được hiểu là ngân sách của doanh nghiệp để phục vụ hoạt động sản xuất

và kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh, điều này đóng vai trò vô cùng quan trọng, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp là dòng tiền tệ nhằm phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh sau khi ứng ra được sử dụng vào kinh doanh và sau một chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động tiếp theo

Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp vừa và nhỏ được huy động, khai thác

là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể huy động dưới hình thức vay của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác và cũng có thể bằng hình thức doanh nghiệp phát hành trái phiếu để

huy động vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo theo Điều 6 Luật

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 cũng có thể nhận các nguồn vốn hỗ trợ sau:

Trang 20

- Nguồn vốn tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước;

- Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước;

- Nguồn vốn hỗ trợ từ miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và các khoản khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Nguồn vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định trên phải được lập dự toán, thẩm định, phê duyệt, quyết toán theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, theo Điều 8, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng quy định về việc hỗ trợ tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp

1 Trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp

và biện pháp phù hợp khác; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa được cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản

lý, minh bạch hóa tài chính của doanh nghiệp để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng

3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Điều 9 của Luật này

1.2 Khái niệm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1 Định nghĩa pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Pháp luật về tài chính doanh nghiệp là tổng hợp các văn bản pháp luật mang tính bắt buộc chung, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được công

bố công khai để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các loại vốn của doanh nghiệp và quỹ tiền tệ nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là tổng hợp các văn bản pháp luật mang tính bắt buộc chung và các văn bản riêng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được công bố công khai

Trang 21

để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các loại vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa; sử dụng, quản lý quỹ tiền tệ nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.2 Đặc điểm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận của hệ thống pháp luật tài chính doanh nghiệp Pháp luật tài chính doanh nghiệp tổng hợp các quy phạm pháp luật trong hệ thống các văn bản pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các loại vốn và quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ mục đích sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Đặc điểm của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa mang tính chất của pháp luật tư, trong đó, thể hiện ở các điểm sau đây:

- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cơ sở pháp lý đánh giá hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp trong sản xuất - kinh doanh

- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa bị chi phối bởi tính chất của các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp như sở hữu vốn, hoạt động kinh doanh của hệ thống doanh nghiệp quốc gia

- Tính chặt chẽ của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa: do tính chất phức tạp của quan hệ tài chính doanh nghiệp nên đòi hỏi pháp luật tài chính doanh nghiệp nói chung, pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa nhỏ và vừa nói riêng cần được quy định chặt chẽ cả về nội dung và thủ tục

- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa mang tính chuyên ngành (điều chỉnh lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp); vừa mang tính liên ngành (được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau)

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là:

+ Doanh nghiệp: doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ

và vừa theo quy định của pháp luật

+ Cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Điều 2, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017)

Trang 22

- Phương pháp điều chỉnh của của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

là các phương tiện, biện pháp, cách thức tác động lên các quan hệ xã hội do pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh Thông qua đó, pháp luật tác động vào các quan hệ tài chính một cách đồng bộ làm nảy sinh, xác lập, bảo vệ, phát triển hoặc phòng ngừa, ngăn cấm, hạn chế đến sự nảy sinh, tồn tại, phát triển các quan hệ tài chính mà nhà cầm quyền mong muốn trong các lĩnh vực hoạt động nhất định của Nhà nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa

Có sự kết hợp giữa quy phạm pháp luật với các quy định nội bộ của doanh nghiệp Pháp luật vừa có những quy định (nội dung và thủ tục) bắt buộc hoặc hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện (ví dụ pháp luật về trích lập quỹ, pháp luật thuế, kế toán,…), vừa tạo cơ sở pháp lý hình thành các quy định nội bộ doanh nghiệp thể hiện

sự tự chủ của doanh nghiệp trong kinh doanh như: quy chế trả lương, quy chế chi tiêu nội bộ, quy định về phân phối lợi nhuận,…

- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh các mối quan hệ tài chính bên trong doanh nghiệp và các mối quan hệ tài chính bên ngoài doanh nghiệp Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh các mối quan hệ tài chính bên trong doanh nghiệp như quan hệ giữa các đồng sở hữu của doanh nghiệp với nhau

và với doanh nghiệp trong quá trình tạo lập, chuyển nhượng vốn, quản lý, sử dụng vốn, tài sản, các quỹ tài chính của doanh nghiệp và phân phối lợi nhuận Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa khác với các quy định nội bộ của doanh nghiệp nhỏ

và vừa Các mối quan hệ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ chủ yếu do điều lệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định vì mỗi doanh nghiệp

có những quy định nội bộ riêng; tuy nhiên các mối quan hệ tài chính này phải phù hợp với quy định của pháp luật Chẳng hạn, doanh nghiệp phải có một số quỹ nhất định và mục đích sử dụng, mức trích lập quỹ thường được pháp luật quy định Ngoài

ra, pháp luật còn điều chỉnh các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa bên ngoài doanh nghiệp như nộp thuế cho Nhà nước, vay tín dụng của ngân hàng hay các

tổ chức tín dụng,…

Trang 23

1.3 Nguồn của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nguồn của pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các loại vốn và quỹ tiền tệ nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Hệ thống pháp luật về tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm:

- Hiến pháp năm 2013: các quy định về thành phần kinh tế, về sở hữu, về doanh nghiệp, về đầu tư,…

- Bộ luật dân sự năm 2015: các quy định về thành phần kinh tế, về sở hữu, về doanh nghiệp, về pháp nhân,…

- Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017;

- Luật Doanh nghiệp năm 2014;

- Luật Đầu tư năm 2014;

- Luật Đất đai: các quy định về tài chính đất đai đối với doanh nghiệp

- Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp: đối với doanh nghiệp có vốn của Nhà nước

- Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi 2010);

- Luật Các tổ chức tín dụng 2010;

- Các luật về thuế;

- Luật Kiểm toán độc lập năm 2011;

- Luật Kế toán năm 2015

Một số văn bản dưới luật quan trọng, bao gồm:

- Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;

- Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ

và vừa;

Trang 24

- Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ

quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo;

- Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ hướng dẫn quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4 Nội dung của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa

Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội, tạo thành các nhóm quy phạm sau đây:

- Nhóm quy phạm tạo cơ sở pháp lý hình thành, tạo lập vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Nhóm quy phạm điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ

Trang 25

1.4.1 Các quy định về hình thành, tạo lập vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa được hình thành từ đầu tư (doanh nghiệp tư nhân), góp vốn (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh) và mua cổ phần (công ty cổ phần) Theo Luật doanh nghiệp (khoản 13 Điều 4), góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh được gọi là vốn điều lệ Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập Pháp luật cấm kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ vốn điều lệ như đã đăng kí, cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị (khoản 5 Điều 17)

1.4.2 Các quy định điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ

và vừa

Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp được huy động, khai thác từ những nguồn vốn sau:

1.4.2.1 Nguồn vốn thuộc chủ sở hữu

Đây là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp Đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau, nguồn hình thành nguồn vốn này cũng khác nhau

Theo quy định của pháp luật, để được kinh doanh trong một lĩnh vực cụ thể, nguồn vốn này phải đạt đến một mức độ nhất định

Các doanh nghiệp thường xác định quy mô nguồn vốn chủ sở hữu ở mức vừa phải để vừa tranh thủ các khoản nợ, làm tăng mức doanh lợi vốn và vừa san sẻ rủi ro trong kinh doanh

1.4.2.2 Các nguồn vốn tín dụng

Vốn từ nguồn tín dụng là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể huy động dưới hình thức vay của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác và cũng có thể bằng hình thức doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh

Trang 26

Những hình thức tín dụng điển hình hiện nay bao gồm:

- Tín dụng ứng tiền qua tài khoản,

Tín dụng thương mại cũng là một hình thức tín dụng khá phổ biến Khác với tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại là khoản vay tương đương với giá trị hàng hóa mua bán chịu giữa người mua và người bán

Theo quy định của pháp luật các doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện của pháp luật sẽ được vay vốn ở các tổ chức tín dụng trên cơ sở giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng

Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn, các doanh nghiệp có thể được vay vốn theo các kỳ hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nguồn vốn tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của các doanh nghiệp trong kinh doanh Nguồn vốn tín dụng trung hạn và dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp

để mua sắm tài sản cố định, sửa chữa mới, mở rộng quy mô thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ trong sản xuất kinh doanh

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể được vay vốn tại ngân hàng đầu tư và phát triển

để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các công trình xây dựng cơ bản trong sản xuất, kinh doanh

Dẫn chứng căn cứ pháp lý về huy động vốn trong công ty cổ phần:

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:

"3- Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn" (theo khoản 3 Điều 110)

Trang 27

"3-Cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần là tổng số cổ phần các loại mà Đại hội đồng cổ đông quyết định sẽ chào bán để huy động vốn Số cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng

số cổ phần các loại mà công ty sẽ bán để huy động vốn, bao gồm cổ phần đã được đăng ký mua và cổ phần chưa được đăng ký mua

5- Công ty có thể thay đổi vốn điều lệ trong các trường hợp theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ

sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông;" (Khoản 3, 5 Điều 111)

Như vậy, công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng cách:

1 Chào bán cổ phần là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyền chào bán và bán các cổ phần đó trong quá trình hoạt động để tăng vốn điều lệ

Hội đồng quản trị sẽ quyết định thời điểm, phương thức và giá bán cố phần Giá bán cố phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điếm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ trường hợp:

(i) Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập;

(ii) Cổ phần chào bán cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ ở công ty;

(iii) Cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bảo hành Trường hợp này, số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác

- Chào bán cho các cổ đông hiện hữu

(i) Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu là trường hợp công ty tăng thêm

sổ lượng cổ phần được quyền chào bán và bán toàn bộ số cổ phần đó cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty

Trang 28

(ii) Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần không phải

là công ty cổ phần đại chúng thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 (khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2014) Công ty phải thông báo bằng văn bản đến các cổ đông chậm nhất 15 ngày trước ngày kết thúc thời hạn đăng ký mua cổ phần Kèm theo thông báo phải có mẫu phiếu đăng ký mua cổ phần do công ty phát hành Trường hợp phiếu đăng ký mua cổ phần không được gửi về công ty đúng hạn như thông báo thì cổ đông có liên quan coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác Trường hợp cổ phần dự kiến chào bán không được cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua đăng ký mua hết thì Hội đồng quản trị có quyền bán số cổ phần được quyền chào bán còn lại cho cổ đông hoặc người khác theo cách thức hợp lý với điều kiện không thuận lợi hơn những điều kiện đã chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác hoặc cổ phần được bán qua Sở giao dịch chứng khoán

(iii) Chào bán cổ phần của công ty cổ phần niêm yết và đại chúng thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán

- Chào bán cổ phần ra công chúng

Chào bán cổ phần ra công chúng là việc chào bán cổ phần theo một trong các phương thức sau đây:

(i) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet;

(ii) Chào bán cổ phần cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;

(iii) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.Hình thức chào bán cổ phần ra công chúng bao gồm chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng, chào bán thêm cổ phần hoặc quyền mua cổ phần ra công chúng và các hình thức khác Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng gồm:

(iv) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán

từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kể toán;

Trang 29

(v) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ kế tính đến năm đăng ký chào bán;(vi) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua

Chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán

- Chào bán cổ phần riêng lẻ

(i) Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc công ty cổ phần chào bán cổ phần cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không

sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet

(ii) Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần đại chúng được thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán

(iii) Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty

cổ phần đại chúng được thực hiện theo quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp

2014 Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chào bán cổ phần riêng lẻ, công ty phải thông báo việc chào bán cổ phần riêng lẻ với cơ quan đăng ký kinh doanh Công ty có quyền bán cổ phần sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày gửi thông báo mà không nhận được ý kiến phản đổi của Cơ quan đãng ký kinh doanh

2 Phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty để huy động vốn

Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người

sở hữu đối với một phần vốn nợ của công ty cổ phân phát hành Trái phiếu thực chất

là một hợp đồng vay để tăng vốn vay của công ty

Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu cho vốn kinh doanh Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng quản trị có quyền quyết định loại trái phiếu, tông giá trị trái phiếu và thời điểm phát hành

Công ty không được phát hành trái phiếu trong trường hợp:

(i) Không thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành;

Trang 30

(ii) Không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn trong

03 năm liên tiếp trước đó

Việc phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn không bị hạn chế bởi quy định trên

3 Một số hình thức huy động vốn khác

Ngoài các hình thức huy động vốn nêu trên, có thể kể đến các hình thức huy động vốn khác được ghi nhận trong Điều lệ như vay tài sản, vay tín dụng, chuyển từ các quỹ sở hữu, giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư và chuyển thành cổ phần cho các cổ đông, chuyển trái phiếu thành cổ phiếu theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và quy định của pháp luật,

1.4.3 Các quy định điều chỉnh hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu, mà đặc điểm của chúng là tham gia vào chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị tiêu hao hoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm của các chu kỳ sản xuất tiếp theo

Nếu phân chia theo hình thái vật chất, tài sản cố định có hai loại là tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhìn chung tài sản cố định không bị thay đổi hình thái hiện vật nhưng năng lực sản xuất và giá trị của chúng bị giảm dần, tức

là tài sản cố định bị hao mòn Có hai loại hao mòn tài sản là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Những tài sản cố định có hình thái vật chất thường bị cả hai loại hao mòn, còn những tài sản cố định có hình thái phi vật chất thì chỉ bị hao mòn vô hình như bằng phát minh sáng chế, thương hiệu sản phẩm,…

Bộ phận giá trị đại diện cho phần hao mòn được gọi là khấu hao Tiền khấu hao là một yếu tố chi phí sản xuất, một bộ phận của giá thành sản phẩm Khi sản phẩm được tiêu thụ, tiền khấu hao được trích lại để hình thành quỹ khấu hao Quỹ

Trang 31

khấu hao dùng để tái sản xuất giản đơn tài sản cố định nên người ta còn gọi là quỹ khấu hao cơ bản

Trong nền kinh tế có nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác nhau Do đó, sự điều chỉnh của pháp luật đối với quá trình tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạt vốn cố định của các loại hình doanh nghiệp có sự khác nhau

Doanh nghiệp phải có kế hoạch sử dụng và những giải pháp bảo toàn, phát triển vốn lưu động Bảo toàn vốn lưu động là bảo toàn được giá trị thực của vốn, bảo đảm được sức mua của vốn không bị giảm sút so với ban đầu

Trong nền kinh tế thị trường, hướng đầu tư của một doanh nghiệp không chỉ khép kín, giới hạn trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp mà còn có thể đầu tư một bộ phận vốn kinh doanh của doanh nghiệp được đầu tư dài hạn bên ngoài nhằm mục đích sinh lời, được gọi là đầu tư ngân sách của doanh nghiệp

Đầu tư ngân sách của doanh nghiệp ra bên ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận và bảo đảm an toàn về vốn Có nhiều hình thức đầu tư ngân sách ra bên ngoài như: doanh nghiệp bỏ vốn để mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp khác, góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác

Trong nhiều trường hợp, nhờ đầu tư ngân sách ra bên ngoài mà doanh nghiệp

có thể tự tháo gỡ được nguy cơ phá sản, giải tỏa cho hướng đầu tư đang bế tắc Tuy nhiên, điều quan trọng nhất khi đi tới quyết định đầu tư ngân sách ra bên ngoài là doanh nghiệp phải cân nhắc độ an toàn và tin cậy của dự án Đầu tư ngân sách của doanh nghiệp ra bên ngoài là một bộ phận của quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Tất cả các loại hình doanh nghiệp đều có quyền này Tuy vậy, điều kiện để thực hiện quyền đầu tư ngân sách được pháp luật quy định cho mỗi loại hình doanh nghiệp có khác nhau

1.4.4 Các quy định điều chỉnh hoạt động mua bán, chuyển nhượng vốn, rút vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Đối với doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn:

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, các vấn đề pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng vốn góp gồm mua lại phần vốn góp và chuyển nhượng phần vốn góp

Trang 32

+ Mua lại phần vốn góp: trường hợp thành viên Công ty bỏ phiếu không tán thành đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau thì có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình: sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều

lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên; tổ chức lại công ty; các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty

Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua quyết định vấn đề trên Trong thời hạn

15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên theo giá thỏa thuận hoặc giá thị trường hoặc giá theo nguyên tắc trong Điều lệ Việc thanh toán chỉ được thực hiện sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty đã thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác có liên quan

Trường hợp công ty không mua lại phần vốn góp thì thành viên đó có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên

+ Chuyển nhượng phần vốn góp: trường hợp Công ty không mua lại phần vốn góp theo quy định trên, thành viên có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp thì trình tự chuyển nhượng phần vốn góp được thực hiện như sau: phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong

thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán

- Đối với doanh nghiệp Cổ phần:

Doanh nghiệp cổ phần quy định cổ đông "không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần" (Khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2014) nhưng "được tự

do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là

cổ đông" (điểm d Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014) Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm doanh nghiệp cổ phần là mô hình tổ chức theo hình thức đối vốn,

có tính chất đại chúng (phản ánh cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng chuyển đổi dễ

Trang 33

dàng mà không làm mất đi tính ổn định trong cấu trúc vốn) khác hẳn với mô hình tổ chức theo hình thức đối nhân nên việc chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp cổ phần dễ dàng hơn so với công ty Trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh

Các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác một cách công khai trên thị trường chứng khoán theo những điều kiện mà pháp luật cũng như điều kiện của công ty quy định:

+ Đối với các cổ phần phổ thông được coi là nền tảng cơ bản về vốn của doanh nghiệp cổ phần, tổng giá trị loại cổ phần này chiếm tỷ lệ chủ yếu trong công ty Những người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông - họ là hiện thân về lợi ích của doanh nghiệp cổ phần trên thương trường Theo Luật Doanh nghiệp 2014, một

cổ phần phổ thông sẽ có một phiếu biểu quyết, như vậy mọi cổ đông phổ thông đều

có quyền tham gia biểu quyết, quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến hoạt động của công ty Một đặc trưng nữa của cổ phần phổ thông là quyền tự do chuyển nhượng của người sở hữu nó Khi không còn nhu cầu đầu tư vào công ty, cổ đông phổ thông có thể chuyển quyền sở hữu của mình đối với công ty cho người khác thông qua việc chuyển quyền sở hữu các cổ phần Các điều kiện về chào bán, chuyển nhượng loại cổ phần này có thể do Điều lệ công ty quy định hoặc không quy định

+ Đối với các loại cổ phần ưu đãi: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi

cổ tức, cổ phần ữu đãi hoàn lại và một số cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty nếu

có quy định Giống với các cổ đông phổ thông, các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại đều là những người đầu tư vào công ty bằng cách mua

cổ phần trong công ty và hoàn toàn có quyền tự do chuyển nhượng các loại cổ phần này Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản giữa các loại cổ phần này là: các cổ đông phổ thông hoàn toàn có quyền biểu quyết thì ngược lại các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi

cổ tức và ưu đãi hoàn lại không có quyền quan trọng đó

Đối với các loại cổ phần ưu đãi (trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết), việc chuyển nhượng chúng như thế nào hoàn toàn mang tính chất tùy nghi và do Điều lệ công ty quy định Đương nhiên nếu Điều lệ không cụ thể hóa vấn đề này các cổ đông sở hữu chúng sẽ tự do chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán

Trang 34

1.4.5 Các quy định về doanh thu, chi phí của doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4.5.1 Pháp luật về doanh thu của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được từ bán sản phẩm hàng hóa sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại

Doanh thu bán hàng còn bao gồm:

- Các khoản phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có), trợ giá phụ thu theo quy định của Nhà nước mà doanh nghiệp được hưởng

- Giá trị hàng hoá biếu tặng, trao đổi tiêu dùng nội bộ sau khi sản xuất ra được

sử dụng trong kỳ

Doanh thu cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch cung cấp dịch vụ cho khách hàng, trường hợp cho thuê tài sản, nhận trước tiền cho thuê của nhiều năm thì doanh thu là tổng số tiền thu được chia đều cho

số năm cho thuê tài sản

Doanh thu hoạt động tài chính gồm tổng số tiền thu từ tiền lãi, tiền bản quyền,

cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp

Thu nhập khác là các khoản thu từ các hoạt động sảy ra không thường xuyên của doanh nghiệp như thu về bán vật tư thừa ứ đọng, bán công cụ dụng cụ phân bổ hết giá trị đã hư hỏng, thu tiền phạt vi phạm hợp đồng thanh toán, thu từ thanh lý

nhượng bán tài sản cố định, nợ khó đòi đã xử lý

1.4.5.2 Pháp luật về chi phí

Theo điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC (sửa đổi bởi Thông tư BTC và Thông tư 96/2015/TT-BTC) của Bộ tài chính Doanh nghiệp nhỏ và vừa được trừ các khoản chi phí sau nếu đáp ứng đủ các điều kiện:

119/2014/TT Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

- Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật hiện hành

Trang 35

- Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế Giá trị gia tăng) khi thanh toán phải có chứng

từ thanh toán không dùng tiền mặt

Ngoài ra, một số chi phí liên quan đến phần tổn thất, hàng hóa bị hư hỏng sẽ được tính vào chi phí được trừ Cụ thể:

- Trường hợp doanh nghiệp có chi phí liên quan đến phần giá trị hao tổn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi

thường thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu

thuế

- Hàng hóa bị hư hỏng do thay đổi quá trình sinh hóa tự nhiên, hàng hóa hết hạn sử dụng, không được bồi thường thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

Như vậy, chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các hao phí vật chất và lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một thời kỳ nhất định

Chi phí của doanh nghiệp bao gồm chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí hoạt động khác Chi phí hoạt động kinh doanh bao gồm các chi phí có liên quan đến quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên, nhiên, vật liệu; khấu hao tài sản cố định, tiền lương, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác

Chi phí hoạt động khác bao gồm các chi phí cho việc mua bán trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, chi phí cho thuê tài sản, chi phí cho hoạt động liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ đã xóa, chi phí để thu tiền phạt và các khoản chi phí khác

Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay có nhiều loại hình doanh nghiệp Tùy thuộc vào tính chất sở hữu và đặc điểm của mỗi loại hình doanh nghiệp

mà sự điều chỉnh của pháp luật có sự khác nhau đối với hoạt động quản lý chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 36

Đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh chủ yếu xuất phát từ lợi ích của chính họ theo nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh, pháp luật chỉ quy định chế độ quản lý chi phí kinh doanh liên quan đến việc xác định các khoản phải nộp mà họ có nghĩa vụ thực hiện với Nhà nước như thuế, phí, lệ phí…

Chi phí quản lý doanh nghiệp, bao gồm:

- Chi phí nhân viên quản lý: là toàn bộ các chi phí phải trả cho nhân sự quản

lý doanh nghiệp, bao gồm tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội,…

- Chi phí vật liệu quản lý: là các khoản chi cho vật liệu dùng cho công tác quản

lý doanh nghiệp: văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ,…

- Chi phí đồ dùng văn phòng: chi phí chi cho các dụng cụ, đồ dùng văn phòng

- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là khoản khấu hao các tài sản cố định dùng chung cho doanh nghiệp: nhà cửa làm việc, máy móc thiết bị quản lý, vật kiến trúc,…

- Thuế, phí và lệ phí: thuế môn bài, tiền thuê đất, các khoản phí, lệ phí khác,…

- Chi phí dự phòng: dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: các khoản chi dịch vụ mua ngoài phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp: tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, tiền thuê tài sản cố định, chi phí trả cho nhà thầu phụ,…

- Chi phí bằng tiền khác: các chi phí khác như chi phí hội nghị, công tác phí, tàu xe,…

1.4.6 Các quy định điều chỉnh hoạt động nộp thuế, phí và nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Lệ phí môn bài đối với doanh nghiệp mới thành lập Theo các quy định của

pháp luật hiện hành, mức lệ phí môn bài được áp dụng từ ngày 01/01/2017 sẽ được

quy định cụ thể như sau: vốn điều lệ: trên 10 tỷ đồng: lệ phí môn bài phải nộp là: 3.000.000 đồng/năm; vốn điều lệ: từ 10 tỷ trở xuống: lệ phí môn bài phải nộp là: 2.000.000 đồng/năm Đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh: lệ

phí môn bài phải nộp là: 1.000.000 đồng/năm

Trang 37

Theo Khoản 1, điều 4 Thông tư 302/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016, nếu doanh nghiệp được thành lập vào thời gian từ ngày 01/01 đến ngày 30/06 của năm dương lịch thì nộp đủ 100% lệ phí môn bài được quy định bên trên Nếu được thành lập từ ngày 01/07 đến ngày 31/12 của năm dương lịch thì nộp 50% lệ phí môn bài theo quy định

Căn cứ vào Khoản 3 điều 4 Thông tư 302/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 Đến các năm tiếp theo, lệ phí môn bài phải nộp là 100% theo quy định tại khoản 1 điều 4 Thông tư 302/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016

- Thuế Thu nhập doanh nghiệp: mức thuế suất 20% dành cho các doanh nghiệp

vừa và nhỏ, hoạt động trong các ngành kinh doanh thông thường

- Thuế Giá trị gia tăng: hiện tại, các doanh nghiệp đăng kí thành lập mới đa số

áp dụng phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng theo khấu trừ

Số thuế Giá trị gia tăng phải nộp = Thuế Giá trị gia tăng đầu ra – (Thuế Giá trị gia tăng đầu vào + Thuế Giá trị gia tăng còn được khấu trừ ở kỳ trước chuyển sang)

Trong đó, thuế Giá trị gia tăng đầu ra là số tiền thuế được ghi trên hóa đơn Giá trị gia tăng mà doanh nghiệp của bạn xuất cho khách hàng/đối tác

- Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân nhưng

doanh nghiệp đã chi trả phần thu nhập này thì phải tiến hành khấu trừ thuế Thu nhập

cá nhân của người lao động trước khi thực hiện chi trả Doanh nghiệp bắt buộc phải

kê khai và nộp số tiền thuế Thu nhập cá nhân (đã khấu trừ vào lương của người lao động) vào ngân sách nhà nước

Trên đây là các loại thuế cơ bản, thường phát sinh trong các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, có hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường như: thương mại, dịch vụ hay sản xuất Ngoài ra, còn có một số loại thuế khác như: thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường,…sẽ có phát sinh trong cách doanh nghiệp kinh doanh ở các ngành nghề cụ thể

Trang 38

1.4.7 Các quy định điều chỉnh hoạt động phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp

Kết thúc quá trình sản xuất, sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường, doanh nghiệp thu được một khoản tiền bán hàng Đó là doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Thông thường doanh thu của một doanh nghiệp bao gồm doanh thu tiêu thụ sản phẩm và doanh thu từ các hoạt động khác

Đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, doanh thu là cơ sở để xác định thu nhập của doanh nghiệp (thu nhập của doanh nghiệp = doanh thu – chi phí) Còn trong một số trường hợp thu nhập của doanh nghiệp là các khoản tiền mà doanh nghiệp thụ hưởng theo quy định của pháp luật

Phần chênh lệch giữa thu nhập và toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra tương ứng được gọi là lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định

Chế độ phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp: Tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế Nhà nước quy định chế độ phân phối lợi nhuận sao cho phù hợp với tính chất sở hữu của doanh nghiệp

Trong số các loại hình doanh nghiệp, hoạt động phân phối lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhà nước chịu sự điều chỉnh chi tiết và chặt chẽ của pháp luật

1.4.8 Các quy định về hình thành, quản lý và sử dụng các loại quỹ của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Các quỹ doanh nghiệp bao gồm quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi Các quỹ doanh nghiệp được hình thành bằng cách trích một tỷ lệ nhất định từ phần lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp theo quy định của chế độ tài chính và từ một số nguồn khác như viện trợ, tặng thưởng, cấp duới nộp, cấp trên cấp bổ sung Các quỹ doanh nghiệp được sử dụng cho từng mục đích chi tiêu riêng

Quỹ đầu tư phát triển: được dùng để bổ sung vốn điều lệ của Công ty; sử dụng cho các mục đích mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư theo chiều sâu, mua sắm, xây dựng tài sản cố định, cải tiến và đổi mới dây chuyền sản xuất, đổi mới công

Trang 39

nghệ, mua cổ phiếu, góp cổ phần, nghiên cứu khoa học, trích nộp lên cấp trên để hình thành quỹ phát triển

Quỹ dự phòng tài chính: dùng để bù đắp những tổn thất, thiệt hại về tài sản, công nợ không đòi được xảy ra trong quá trình kinh doanh; bù đắp khoản lỗ của Công

ty theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc đại diện chủ sở hữu; ngoài ra một phần

sẽ trích nộp lên đơn vị cấp trên theo tỷ lệ quy định

Các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu được sử dụng để thưởng cho Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc Công ty Mức thưởng do đại diện chủ sở hữu quyết định gắn với hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty, trên cơ sở đề nghị của Chủ định Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc Công ty đối với Công ty không có Hội đồng quản trị

Quỹ khen thưởng: thưởng cuối năm hoặc thường kỳ trên cơ sở năng suất lao động và thành tích công tác của mỗi cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp Nhà nước; Thưởng đột xuất cho những cá nhân, tập thể trong doanh nghiệp Nhà nước; Thưởng cho những cá nhân và đơn vị ngoài doanh nghiệp Nhà nước có đóng góp nhiều cho hoạt động kinh doanh, công tác quản lý của doanh nghiệp

Quỹ phúc lợi được dùng để đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi của doanh nghiệp; chi cho các hoạt động phúc lợi công cộng của tập thể công nhân viên, phúc lợi xã hội; góp một phần vốn để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi chung trong ngành, hoặc với các đơn vị khác theo hợp đồng Ngoài ra có thể sử dụng một phần quỹ phúc lợi để trợ cấp khó khăn đột xuất cho những người lao động kể cả những trường hợp về hưu, về mất sức, hoàn cảnh có nhiều khó khăn, không nơi nương tựa, hoặc làm công tác từ thiện xã hội

Việc sử dụng quỹ khen thưởng, phúc lợi do Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc (đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị) quyết định sau khi tham khảo ý kiến của Công đoàn doanh nghiệp Việc sử dụng các quỹ nói trên phải thực hiện công khai theo quy chế công khai tài chính, quy chế dân chủ ở cơ sở và quy định của Nhà nước Doanh nghiệp chỉ được chi các quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng Ban quản lý điều hành doanh nghiệp sau khi thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ

tài sản khác đến hạn phải trả

Trang 40

1.4.9 Các quy định điều chỉnh hoạt động tiếp cận Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Điều 9 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa:

1 Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập

2 Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện chức năng cấp bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việc bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên tài sản bảo đảm hoặc phương án sản xuất, kinh doanh khả thi hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

3 Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thực hiện đúng, đầy

đủ nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết; không được từ chối bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ

và vừa đủ điều kiện được bảo lãnh

Theo Điều 20 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do Thủ tướng Chính phủ thành lập, thực hiện các chức năng sau đây:

- Cho vay, tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị;

- Tiếp nhận và quản lý nguồn vốn vay, tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.5 Chủ thể quan hệ pháp luật tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là khái niệm được biết đến trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa được các nước quan tâm đầu tư và phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX Trong các nghiên cứu hiện nay,

có nhiều quan niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm

Ngày đăng: 30/03/2020, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN