Nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho các TCTD sử dụng đa dạng các công cụ tàichính, pháp luật Việt Nam ghi nhận BTT với tư cách là một nghiệp vụ tài chính lầnđầu tiên tại Quyết định số 1096/20
Trang 1MSSV: 5075215Lớp: Luật Thương mại 2– K33
Cần Thơ – Tháng 4/2011
Trang 2Tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp không chỉ với những cố gắng và nỗ lựccủa riêng tôi mà còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ.
Trước hết, tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ đãtạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và nâng cao trình độ trong những năm qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tìnhhướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, và tạo mọi điều kiệnthuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn cô Trần Thụy Quốc Thái – cố vấn học tập cùng tất
cả quý thầy, cô trong Khoa Luật đã dạy bảo và cung cấp kiến thức cho tôi trong suốtquá trình học tập và nghiên cứu
Cảm ơn các bạn đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, đã động viên và hỗ trợtôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn
Tôi xin gửi lời tri ân đến ba mẹ, những người đã vất vả thật nhiều để giúp tôivượt qua những khó khăn trong cuộc sống và hoàn thành đề tài.luận văn này
Kính chúc sức khỏe quý thầy, cô, ba mẹ và các bạn!
CHÂN THÀNH CẢM ƠN Cần Thơ, 04/2011
ĐỖ NGỌC LAN PHƯƠNG
Trang 3NHẬN XÉT CỦA QUÝ THẦY, CÔ
a&b
Trang 4
/
Trang 5MỤC LỤC
-o0o-LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN 4
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bao thanh toán 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Tại Việt Nam 6
1.2 Khái niệm bao thanh toán 7
1.3 Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán theo quy định của pháp luật Việt Nam 10 1.4 Vai trò của hoạt động bao thanh toán 11
1.4.1 Đối với bên bán hàng, cung ứng dịch vụ .11
1.4.2 Đối với bên mua hàng, sử dụng dịch vụ 12
1.4.3 Đối với đơn vị bao thanh toán 12
1.5 Phân loại bao thanh toán 13
1.5.1 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ 13
1.5.2 Căn cứ vào trách nhiệm đối với rủi ro 13
1.5.3 Căn cứ vào phương thức bao thanh toán 14
1.6 Phân biệt bao thanh toán và một số hình thức cấp tín dụng khác 14
1.6.1 Phân biệt bao thanh toán và bảo lãnh ngân hàng 14
1.6.2 Phân biệt bao thanh toán và chiết khấu giấy tờ có giá 18
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 23
2.1 Quy định của pháp luật về điều kiện hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng 23
2.1.1 Quy định của pháp luật về điều kiện để được thực hiện hoạt động bao thanh toán 23
2.1.2 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục để được chấp thuận hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng 28
Trang 62.1.2.2 Xem xét về việc chấp thuận hoạt động bao thanh toán của các
tổ chức tín dụng 29
2.2 Quy định của pháp luật về hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng 32
2.2.1 Giới thiệu chung về quy trình hoạt động bao thanh toán 32
2.2.2 Quy trình hoạt động bao thanh toán trong nước và quốc tế 33
2.2.2.1 Quy trình hoạt động bao thanh toán trong nước 33
2.2.2.2 Quy trình hoạt động bao thanh toán quốc tế 37
2.3 Quy định của pháp luật về hợp đồng bao thanh toán 39
2.3.1 Khái niệm về hợp đồng bao thanh toán 39
2.3.2 Chủ thể của hợp đồng bao thanh toán 40
2.3.2.1 Chủ thể bao thanh toán - Tổ chức tín dụng 41
2.3.2.2 Bên được bao thanh toán - Khách hàng của tổ chức tín dụng 42
2.3.3 Đối tượng của hợp đồng bao thanh toán 45
2.3.3.1 Các khoản phải thu 45
2.3.3.2 Các khoản phải trả 46
2.3.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bao thanh toán 49
2.3.4.1 Quyền và nghĩa vụ của bên bao thanh toán 49
2.3.4.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được bao thanh toán 50
2.3.4.3 Quyền và nghĩa vụ của chủ thể thứ ba 52
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN-NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM 53
3.1 Thực tiễn hoạt động bao thanh toán trên thế giới 53
3.2 Thực trạng hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.-Nguyên nhân và một số giải pháp .58
Trang 73.2.2 Tồn tại về phía khách hàng - Nguyên nhân và giải pháp 64 3.2.3 Tồn tại về hành lang pháp lý - Nguyên nhân và giải pháp 66
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU o0o
1 Lý do chọn đề tài
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và giữ được vị trí cạnh tranh hiện tại đang
là vấn đề sống còn đối với các tổ chức tín dụng Để đạt được mục tiêu này, cácđịnh chế tài chính Việt Nam đã đưa ra các công cụ tài chính mới trên thế giới vàotriển khai áp dụng ở thị trường tài chính Việt Nam, trong đó có bao thanh toán(Factoring)
Trong hoạt động mua bán hàng hóa, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu,phương thức mua hàng trả chậm vẫn còn là thói quen thương mại Tuy nhiên, cácdoanh nghiệp thường muốn thu được tiền ngay sau khi bán hàng để quay vòng vốnnhanh nhằm tăng hiệu quả kinh doanh và phòng tránh rủi ro mất khả năng thanhtoán của bên mua hàng, trong khi lại phải cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàngbằng phương thức thanh toán trả chậm Bao thanh toán ra đời đã giải quyết đượcmâu thuẫn trên
Theo đó, bao thanh toán là nghiệp vụ có nhiều cơ hội phát triển tại Việt Nam.Đáp ứng những đòi hỏi từ nền kinh tế thị trường, bao thanh toán được bổ sung vào
hệ thống những công cụ tài chính tại Việt Nam Kể từ khi Quyết định số1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vềQuy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng có hiệu lực đến naycũng đã có nhiều đơn vị đưa nghiệp vụ trên vào hoạt động Tuy nhiên, thực tế làviệc triển khai hoạt động bao thanh toán gặp nhiều vướng mắc và chưa mang lạihiệu quả như mong đợi Các văn bản pháp lý liên quan đến nghiệp vụ bao thanhtoán vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần phải hoàn thiện Các tổ chức tín dụng gặpnhiều lúng túng trong việc đem nghiệp vụ này vào triển khai hoạt động Các doanhnghiệp vẫn còn khá xa lạ với khái niệm “bao thanh toán” và tỏ ra dè dặt với nghiệp
vụ này
Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động bao thanh toán để tìm ra giải pháp cho sựphát triển của nghiệp vụ này trong bối cảnh hiện nay là điều cần thiết Xác địnhđược vấn đề trên, người viết chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình là
“Pháp luật về hoạt động bao thanh toán - Thực trạng và giải pháp”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, người viết mong muốn làm rõ những quy địnhpháp luật về hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam Từ đó tìm hiểu những tồn tại
và nguyên nhân của thực trạng áp dụng pháp luật về bao thanh toán hiện nay và
Trang 9đóng góp một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc
mở rộng và phát triển hoạt động này tại Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: trong luận văn này, người viết tập trung nghiên cứutrên cơ sở các văn bản pháp luật quy định trực tiếp về hoạt động bao thanh toán;các văn bản pháp lý có liên quan trong việc phân tích, làm rõ các khái niệm, đặctrưng Qua đó đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động trên đồng thời đưa
ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý
4 Phương pháp nghiên cứu
Người viết đã vận dụng một vài phương pháp nghiên cứu để làm công cụphục vụ cho việc nghiên cứu của mình như: phương pháp tổng hợp, phân tích luậtviết, phương pháp đối chiếu, so sánh những quy định của pháp luật về cùng mộtvấn đề, so sánh giữa lý luận và thực tiễn để thực hiện các mục tiêu đề ra khi thựchiện đề tài Cụ thể:
- Phương pháp duy vật biện chứng: nhìn nhận các hiện tượng và quá trìnhhoạt động của nên kinh tế trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau; dựa vàocác giai đoạn khác nhau của nền kinh tế mà đánh giá và nhận xét quá trìnhhình thành và phát triển của bao thanh toán
- Phương pháp logic: thực tế vận động phát triển của nền kinh tế nước ta khichuyển sang nền kinh tế thị trường diễn ra khá đa dạng, phức tạp, tác độngđến nhiều khía cạnh của thị trường tài chính trong nước Do đó, qua quátrình phân tích, đánh giá sự phát triển này, người viết rút ra đặc điểm, bảnchất của sự vật, hiện tượng
- Phương pháp phân tích luật viết: vận dụng những kiến thức đã học, đứngtrên góc độ pháp luật để nhìn nhận và đánh giá vấn đề
- Phương pháp phân tích số liệu: thống kê và xử lý số liệu để xem xét, đánhgiá thực trạng phát triển của nền kinh tế, thực trạng phát triển của hoạt độngbao thanh toán
- Phương pháp so sánh: so sánh sự khác biệt giữa bao thanh toán và các hìnhthức cấp tín dụng khác; so sánh giữa quy trình thực hiện bao thanh toán đốivới các khoản phải thu và quy trình bao thanh toán đối với các khoản phảitrả
5 Bố cục luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm các phần sau:
Chương I Tổng quan về hoạt động bao thanh toán
Chương này, người viết tập trung phân tích làm sáng tỏ một số khái niệm vềhoạt động bao thanh toán và các khái niệm có liên quan Đồng thời, phân tích
Trang 10những lợi ích mà bao thanh toán mang lại cho các chủ thể tham gia vào hoạt độngtrên Bên cạnh đó, người viết cũng đưa ra những đặc điểm phân biệt bao thanh toán
Chương III Thực trạng về hoạt động bao thanh toán - Nguyên nhân và một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam
Qua việc phân tích thực trạng về hoạt động bao thanh toán, người viết chỉ ranhững tồn tại của hoạt động bao thanh toán Từ đó đưa ra những giải pháp và kiếnnghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về hoạt động này
Do đề tài còn khá mới mẻ và sự hạn chế của kiến thức, luận văn sẽ khôngtránh khỏi những sai sót Kính mong sự góp ý của quý thầy cô để người viết có thểhoàn chỉnh hơn hiểu biết của mình về đề tài này
Trang 11Chương I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bao thanh toán
1.1.1 Trên thế giới 1
Bao thanh toán (BTT) còn gọi là factoring, là một nghiệp vụ không mấy xa lạđối với rất nhiều quốc gia trên thế giới bởi những lợi ích thiết thực mà nó mang đến,không chỉ cho bên khách hàng mà còn cho các đơn vị cung ứng nghiệp vụ trên Cùngvới một số các hình thức cấp tín dụng khác, BTT đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử như
là một sản phẩm tất yếu hình thành do nhu cầu của hoạt động giao thương
Hình thức sơ khai của hoạt động BTT được tìm thấy đầu tiên trong bộ luậtHammurabi, một công trình lưu dấu nền văn minh Lưỡng Hà - cái nôi của nền vănminh thế giới BTT không lụi tàn như xã hội đã tạo ra nó, mà vẫn tiếp tục nẩy mầmtrong lịch sử của nền sản xuất hàng hóa
Một số tài liệu cho rằng BTT khởi nguồn từ hoạt động đại lý thương mại từkhoảng hai nghìn năm trước dưới thời đế chế La Mã Thời ấy, hệ thống thông tin còn
sơ khai, đại lý hưởng hoa hồng thực hiện chức năng trung gian trong giao dịch thươngmại giữa nhà sản xuất nước ngoài và người mua trong nước Họ nắm giữ quyền sở hữutài sản do sự ủy nhiệm của các nhà sản xuất nước ngoài, rồi giao lại hàng hóa chongười mua, thu nợ khi đến hạn, chuyển dư nợ cho bên giao đại lý sau khi trừ phần hoahồng của mình Về sau, các đại lý dần tin vào khả năng thanh toán của bên mua tronggiao dịch Họ bắt đầu trả trước cho bên giao đại lý (các nhà sản xuất) để có thể hưởnghoa hồng nhiều hơn Các thương nhân La Mã cũng là những người đầu tiên thực hiệnviệc trao đổi các giấy nợ với mức giá thấp hơn giá trị bề mặt của nó
Theo đó, phương thức này đã phổ biến trước công cuộc khai thác châu Mỹ vàokhoảng đầu thế kỉ 15 sau thời điểm Christop Columbus phát hiện ra châu Mỹ năm
1492 Trong khoảng thời gian này, bông, lông thú, gỗ được thu vén từ thuộc địa.Những ngân hàng ở Luân Đôn và một số nơi khác của Châu Âu đã thực hiện việc ứngtrước một khoản tiền cho những người cung cấp nguyên liệu trên Nhờ đó nhữngngười làm ăn sinh sống tại thuộc địa màu mở này có thể tiếp tục khai khẩn trên vùngđất mới mà không phải mang gánh nặng về việc chờ đợi để được thanh toán từ nhữngthương buôn châu Âu
1 Tổng hợp từ các nguồn:
- http://fredcoutts.com/factoring_history.htm
- Đặng Thị Nhàn, Cẩm nang về nghiệp vụ BTT factoring và forfaiting trong tài trợ thương mại quốc tế,
NXB Thống kê, năm 2007, trang 16 - 17.
- http://www.factors-chain.com/
- Võ Đình Toàn, Giáo trình Luật Ngân hàng, Trường Đại học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội 2005.
Trang 12Thế kỉ 16 chứng kiến sự bành trướng của chế độ thực dân Mỹ, cùng với nó BTTcũng như nhiều công cụ tài chính khác có thêm cơ hội mới để mở rộng và phát triển.Khoảng cách giữa Châu Âu và thị trường thực dân vốn đã rất lớn, đặc biệt là khi Mỹ
mở rộng biên giới về phía Tây; các phương tiện lưu thông và thông tin thời bấy giờcòn hạn chế, do đó vòng tuần hoàn vốn từ lúc sản xuất đến lúc được thanh toán hoàntoàn bị kéo dài ra Chính điều này đã làm các nhà sản xuất Châu Âu khó khăn với việcthâm nhập thị trường Mỹ Khắc phục tình trạng trên, một số công ty tại Mỹ bước đầuthực hiện BTT như một công cụ tài chính mang lại hiệu quả kinh doanh tối ưu
Với sự ra đời của cuộc Cách mạng công nghiệp, BTT trở thành tiêu điểm chocác vấn đề về tín dụng, mặc dù các tiền đề cơ bản đã được hình thành trước đây vẫnđược giữ nguyên Trước năm 1930, tại Mỹ hoạt động BTT diễn ra khá sôi động chủyếu trong nền công nghiệp dệt may Các tổ chức BTT phát triển theo hướng tập trungvào tín dụng, thu nợ, kế toán, và các chức năng tài chính khác Việc cho phép các tổchức BTT thực hiện các chức năng này cho phép các nhà sản xuất (đặc biệt là trongngành dệt) tập trung sản xuất và phát triển kinh doanh Sau những năm chiến tranh,tiềm năng của phương thức tài trợ thương mại thông qua việc ứng trước cho các khoảnphải thu chưa đến hạn thanh toán này lại được ghi nhận một cách nghiêm túc hơn.BTT phát triển sang các ngành nghê khác
Tuy nhiên, hoạt động BTT chỉ trở thành một loại hình dịch vụ phổ biến ở nhiềuquốc gia kể từ những năm 1960 và cũng trong thời gian này Hiệp hội bao thanh toánquốc tế (Factors Chain International_FCI) đã được thành lập (1968) như là một tổchức bảo trợ cho các đơn vị BTT độc lập trên thế giới BTT lại càng có thêm nền tảngvững chắc để phát triển mạnh mẽ hơn2 Nhận thấy được những ưu điểm mà BTT manglại, nhiều đơn vị kinh tế đã mạnh dạn bước chân vào lĩnh vực này Cùng với quá trìnhchuyển mình của hoạt động BTT, nhiều nỗ lực nhằm tập hợp và thống nhất các nguyêntắc, tập quán, luật lệ chung cho hoạt động BTT đã được thực hiện Công ướcUNIDROIT về BTT quốc tế năm 1988 (còn gọi Công ước Ottawa năm 1988), Côngước của Liên hiệp quốc về chuyển nhượng khoản phải thu trong thương mại quốc tếnăm 2001 do UNCITRAL xây dựng, các quy định chung của Hiệp hội bao thanh toánquốc tế ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi khía cạnh pháp lý của quan hệ BTT.Ngày nay, rất nhiều nơi trên thế giới sử dụng BTT như là một giải pháp tối ưu thúcđẩy quá trình mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ diễn ra một cách trôi chảy và thuậntiện Chính những ưu thế riêng có mà BTT đã góp tên vào danh mục các sản phẩm củadịch vụ ngân hàng mang lại nhiều hiệu quả trong kinh doanh và cũng góp phần nângcao tính cạnh tranh của các ngân hàng trong và ngoài nước
2
Trang 131.1.1 Tại Việt Nam
Nghiệp vụ BTT hiện nay tuy còn khá mới mẻ đối với nhiều tổ chức và doanhnghiệp, nhưng cũng không còn xa lạ với hệ thống ngân hàng Việt Nam Ban đầu,nghiệp vụ BTT được các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam giới thiệu nhưmột sản phẩm mang lại nhiều ưu thế trong hoạt động ngân hàng Một số bài báo giớithiệu về nghiệp vụ BTT như bài viết của ông Nguyễn Mạnh Dũng - Vụ các ngân hàngđăng trên Thị trường tài chính tiền tệ tháng 7/1999, rồi bài viết của Nguyễn Văn Hàđăng trên tạp chí Phát triển kinh tế tháng 8/2004 đã cho thấy hình thức “mua bán nợ”
đã bắt đầu len lỏi trong nền kinh tế đang chuyển mình của nước ta bấy giờ Tháng9/2004 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký ban hành Quyết định số1096/2004/QĐ-NHNN về Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng(sau đây gọi tắt là Quy chế hoạt động BTT) Quyết định này có ý nghĩa như là mộtbước mở đường cho sự phát triển của nghiệp vụ BTT tại Việt Nam Vào thời điểmcuối năm 2004, đầu năm 2005 diễn ra rất nhiều các cuộc hội thảo, báo cáo và quảng bá
về dịch vụ này, như hội thảo về BTT do FENB (Far East National Bank thuộc tập đoànSinopac Holding) của Mỹ tổ chức vào ngày 23/9/2004 nhằm giới thiệu và vận động sựtham gia cung cấp dịch vụ của một số ngân hàng thương mại cổ phần (Ngân hàngthương mại cổ phần Phương Đông (OCB), Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu(ACB), Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương (Techcombank)…) Hội thảo vềBTT tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/3/2005 với sự tham dự của đại diệncác ngân hàng thương mại tại Việt Nam và các đại diện của Hiệp hội bao thanh toánthế giới3 BTT, tuy thế vẫn chưa thể trở thành một công cụ phổ biến được các doanhnghiệp sử dụng rộng rãi trong hoạt động phát triển kinh doanh của mình do nhiềunguyên nhân, mà một trong số đó là việc thiếu sót của quy định pháp luật về nghiệp vụBTT Nắm bắt được tình hình trên và cùng với sự gia tăng của các giao dịch kinh tế,cũng như xu hướng đa dạng hóa công cụ tài chính diễn ra trong thời gian qua màQuyết định 30/2008/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt độngBTT (ban hành theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Ngânhàng Nhà nước) được ban hành Đây được xem như động thái chuẩn bị cho một bướcchuyển mới của một nghiệp vụ đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong hệthống các công cụ tài chính đắc lực của nền kinh tế BTT sau đó được chính thức ghinhận trong một văn bản pháp lý cao hơn, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (hiệu lực01/01/2011) Có thể mạnh dạn nói rằng, bước ngoặt này sẽ mở ra một cơ hội mới choBTT mở rộng phát triển xứng đáng với tiềm năng của nó hiện vẫn được các quốc giatiên tiến khai thác Việt Nam được đánh giá là thị trường tiềm năng và là một mảnh đất
3 thuc-tin-dung-moi-tai-vie.html
Trang 14http://www.tapchiketoan.com/ngan-hang-tai-chinh/tai-chinh-doanh-nghiep/bao-thanh-toan-factoring-mot-hinh-màu mỡ để phát triển dịch vụ, bởi vì đó là nhu cầu cấp thiết từ phía khách hàng– chính
là đại đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động, cũng như nhu cầu từ phíanhà cung cấp – các tổ chức tín dụng (TCTD) trong và ngoài nước Do đó, BTT chắcchắn sẽ không là ngoại lệ
1.2 Khái niệm bao thanh toán
Theo các từ điển luật học, thuật ngữ BTT (factoring) thường được mô tả là việcchuyển nhượng các khoản thu thương mại của người bán cho tổ chức BTT (factor).Khi thực hiện các giao dịch thương mại làm phát sinh các khoản phải thu (các khoảntiền bán hàng chưa đến hạn thanh toán), người bán có thể cải thiện trạng thái ngân quỹcủa mình bằng việc đem nhượng bán các khoản phải thu để nhận ngay các khoản tiềnmặt đã trừ phần chiết khấu từ tổ chức BTT Tổ chức BTT sau khi nhận các khoản phảithu từ người bán sẽ thực hiện việc thu nợ đối với người mua
Theo Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCI), BTT là một dịch vụ tài chính trọngói, bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõicác khoản phải thu và dịch vụ thu hộ Đó là sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụBTT (factor) với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàngtrong quan hệ mua bán hàng hóa (seller) Theo như thỏa thuận, factor sẽ mua lại cáckhoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệmua bán hàng hóa (buyer) hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng (debtor)4
Công ước của UNIDROIT về BTT quốc tế năm 1988 (còn gọi Công ướcOttawa năm 1988) thì mô tả hoạt động BTT như sau5:
- Bên bán hàng hóa sẽ chuyển giao cho bên BTT các khoản phải thu phát sinh từhợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua (con nợ), trừ các hợpđồng nhằm mục đích tiêu dùng cho cá nhân, hộ gia đình
- Bên BTT sẽ thực hiện ít nhất hai trong số các nghiệp vụ sau: tài trợ tài chínhcho người bán hàng (như cho vay hoặc thanh toán trước cho các khoản phảithu); quản lý các giấy tờ, sổ sách kế toán liên quan đến các khoản phải thu; thựchiện việc thu nợ từ người mua; tiến hành các biện pháp phù hợp để giải quyếtcác hành vi gian lận của người mua
- Bên mua hàng phải được thông báo chính thức bằng văn bản về việc khoản phảithu đã được BTT
Nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho các TCTD sử dụng đa dạng các công cụ tàichính, pháp luật Việt Nam ghi nhận BTT với tư cách là một nghiệp vụ tài chính lầnđầu tiên tại Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc Ngân
4 Huỳnh Thị Hương Thảo, Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán trong hoạt động tài trợ thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 19 tháng 10/2008, trang
26.
5 Võ Đình Toàn, Giáo trình Luật Ngân hàn, Trường Đại học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2005,
Trang 15hàng Nhà nước Việt Nam ban hành kèm Quy chế hoạt động BTT của các tổ chức tíndụng Cụ thể BTT được định nghĩa như sau:
BTT là một hình thức cấp tín dụng của TCTD cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Lúc này BTT phải co mình trong mỗi lĩnh vực mua bán hàng hóa, vì vậy việc
áp dụng Quy chế hoạt động BTT lại càng gò bó và chưa thực sự phát huy hết được lợithế của nghiệp vụ BTT, cũng như chưa được quan tâm một cách đúng mực từ phía cácdoanh nghiệp và các TCTD Từ tình hình trên, Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNNngày 16/10/2008 của Ngân hàng Nhà nước được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy chế hoạt động BTT ban hành theo Quyết định số
1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 Trong đó, BTT được mở rộng hoạt động bao gồm Mua bán
hàng hoá và Cung ứng dịch vụ.
Còn theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (có hiệu lực ngày 01/01/2011) thì
“Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ”.
Định nghĩa về BTT được ghi nhận trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đề cậpđến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, BTT đã không chỉ là một hình thức cấp tín dụng dành cho riêng
người bán BTT vẫn được áp dụng trước đây trong và ngoài nước là một loại hình tàitrợ thương mại dành cho người bán Các đơn vị BTT sẽ ứng cho người bán một khoảntiền để đổi lấy “quyền đòi nợ” đối với người mua hàng Qua đó, giúp người bán hàng,cung ứng dịch vụ có thể tìm kiếm nguồn tài chính khác mà không phải đối mặt với sựchậm trễ trong việc thanh toán của người mua hàng, sử dụng dịch vụ BTT theo địnhnghĩa trên còn là một hình thức cấp tín dụng cho người mua Nghĩa là các TCTD sẽcấp một khoản tài chính nhất định (theo thỏa thuận) giúp người mua đối mặt với cáckhoản nợ sắp đến hạn thanh toán trong hợp đồng với người bán
Thứ hai, BTT được mở rộng không chỉ trong việc mua lại “các khoản phải thu”
mà còn mua lại “các khoản phải trả” Nếu mua lại các khoản phải thu, đơn vị BTTmua lại “quyền đòi nợ” từ người bán với giá thấp hơn giá trị thực của hợp đồng Đốivới việc mua lại các khoản phải trả, đứng từ phía người mua, hoạt động BTT rất gầnvới vay tín dụng (do BTT giúp người mua đối phó với những khoản nợ trước mắt);đứng về phía các TCTD thì hoạt động trên lại rất giống nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng(do việc thay người mua thanh toán cho người bán sau đó sẽ được người mua hoàn trảlại) Theo quan điểm của người viết, “các khoản phải trả” được người mua bán cho
Trang 16đơn vị BTT có mức rủi ro cao hơn so với việc các TCTD mua lại “các khoản phải thu”
do người bán bán ra Do khi làm thủ tục xin tài trợ BTT, có thể suy đoán người muađang ở trong tình trạng nào mới thực hiện việc xin cấp tín dụng vào thời điểm cáckhoản nợ chưa đến hạn thanh toán Việc thẩm định tình hình sản xuất kinh doanh, tìnhhình nợ, khả năng thanh toán của bên mua có thể cho kết quả là không ổn định Và vìthế việc mua lại “các khoản phải trả” cần mức độ tin cậy đối với khách hàng nhiều hơn
là mua lại “các khoản phải thu”
Thứ ba, là quy định về việc “có bảo lưu quyền truy đòi” Quyền truy đòi không
được nhắc đến trong định nghĩa về BTT trong Quy chế hoạt động BTT Tuy nhiên,việc truy đòi hay miễn truy đòi lại được nhắc đến trong các loại hình BTT (Điều 11Quy chế hoạt động BTT) “Truy đòi” là việc bên bán hàng phải hoàn trả lại theo yêucầu của TCTD số tiền mà TCTD đã chuyển giao như thỏa thuận trong hợp đồng BTT
do các điều khoản trong hợp đồng mà theo đó các TCTD được quyền đòi lại các khoản
đã bỏ ra Có thể hiểu rằng việc truy đòi là dấu hiệu ngầm trong khái niệm BTT quyđịnh trong Quy chế hoạt động BTT Do rủi ro lớn nhất của hoạt động BTT là việc bênmua hàng trì hoãn việc thanh toán hoặc mất đi khả năng thanh toán, đặc biệt là đối vớiBTT miễn truy đòi Nên để giảm thiểu rủi ro trên các TCTD phải cẩn trọng khi xemxét đến việc có nên ký hợp đồng BTT với khách hàng hay không Điều đó lại còn tùythuộc vào nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên ngành, kinh nghiệm…của thành viên các TCTDthực hiện nghiệp vụ BTT Và để tạo cơ sở pháp lý vững vàng hơn cho hoạt động BTT,định nghĩa về BTT trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã đề cập đến điều đượcngầm hiểu trong khái niệm BTT quy định tại Điều 2 Quy chế hoạt động BTT Tuynhiên điều đó không có nghĩa là hoạt động BTT nhất định và luôn luôn phải được thựchiện dưới hình thức “BTT có quyền truy đòi” Việc “truy đòi” hay “miễn truy đòi” là
do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng BTT Xét đến các yếu tố rủi ro mà TCTD cóthể gặp phải, có thể nhận thấy, khi mua “các khoản phải thu”, cùng với việc ứng tiềncho người bán và thu tiền người mua khi đến hạn thanh toán thì có thể áp dụng mộttrong hai hình thức BTT trên Tuy nhiên, đối với việc cấp tín dụng cho người muathông qua việc mua lại “các khoản phải trả” thì rõ ràng TCTD chỉ có thể ký kết hợpđồng với quyền truy đòi, nếu như muốn đảm bảo sự an toàn cho đồng vốn đã bỏ ra
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều hướng về bản chấtcủa hoạt động BTT - sự chuyển nhượng quyền đòi nợ Khoản nợ từ hợp đồng củangười mua hàng, sử dụng dịch vụ (con nợ) sẽ được chuyển từ người bán hàng haycung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ) sang đơn vị BTT (chủ nợ mới) sau một hợp đồng “mua -bán” Hoạt động này không làm ảnh hưởng đến nội dung giao dịch thương mại củangười bán và người mua, ngoại trừ quyền đòi nợ và tiếp nhận sự thanh toán đượcchuyển sang cho tổ chức mua nợ Các khoản phải thu - một loại tài sản của doanh
Trang 17nghiệp, “là khoản tiền bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ phải thu từ bên mua hàng
hóa, sử dụng dịch vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ” 6 Tương tự
vậy, các khoản phải trả là tài sản nợ của doanh nghiệp, được tính dựa trên các khoản
nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ liên quan trực tiếp đếnhợp đồng Các chứng từ thương mại liên quan đến giao dịch giữa người mua và ngườibán được xem là căn cứ để xác định sự tồn tại pháp lý và giá trị kinh tế của các khoảnphải thu và phải trả Thông thường các loại chứng từ này bao gồm: chứng từ hàng hóa(ví dụ: hóa đơn bán hàng, hóa đơn vận tải…), chứng từ tài chính (ví dụ: hối phiếu, lệnhphiếu…) và có thể là các sổ sách kế toán có liên quan Hoạt động BTT gắn liền vớiviệc chuyển giao cho đơn vị BTT các chứng từ chứng minh các khoản phải thu và phảitrả này Xét một giao dịch thực tế thì bên bán hàng là bên ghi nhận chứng từ một cách
rõ ràng và cụ thể nhất Vì đó là cơ sở đảm bảo họ có thể đòi lại những khoản nợ đếnhạn và mặt khác là nhằm tránh những tranh chấp không đáng có Do vậy, bên bánhàng sẽ là chủ thể thực hiện việc chuyển giao này
1.3 Đặc điểm của hoạt động BTT theo quy định của pháp luật Việt Nam
BTT mang một số các đặc điểm nổi bật sau:
- BTT là một hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì cấp tín dụng được hiểu “là việc thỏa
thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” BTT là một nội dung của hoạt động cấp tín dụng nên chỉ
các TCTD (sau khi đáp ứng được các yêu cầu do pháp luật quy định và được sựchấp thuận của Ngân hàng Nhà nước) mới có quyền thực hiện nghiệp vụ BTT.Theo đó, TCTD chuyển tiếp một khoản tiền nhất định theo như thỏa thuận chokhách hàng và được “hoàn trả” bằng khoản phải thu trong hợp đồng mua bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ mà khách hàng này đã xác lập trước đó với một chủthể khác Hay nói cách khác, TCTD sử dụng nguồn vốn từ hoạt động kinhdoanh của mình để mua lại các khoản phải thu từ bên bán hàng và sẽ được thuhồi lại khi bên mua hàng thanh toán Khoản tiền ứng trước này sẽ thấp hơn giátrị thực tế của các khoản phải thu Phần chênh lệch này chính là phí và lãi tíndụng Như thế, “nguyên tắc hoàn trả” của hoạt động cấp tín dụng có thể đượcđảm bảo Mặt khác, giá trị hợp đồng mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụthường lớn hơn giá trị của hợp đồng BTT Các TCTD, vì thế, có thể tìm kiếmnhiều hơn những nguồn lợi từ hoạt động cấp tín dụng này
6 Điều 4 Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Trang 18- BTT mang bản chất là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn TCTD chỉ được cấp tín
dụng BTT nếu thời gian còn lại của các khoản phải thu tính từ thời điểm BTTkhông quá 180 ngày7 Quy định này nhằm đảm bảo khả năng quản lý củaTCTD đối với các khoản phải thu Tương tự vậy, có thể áp dụng khoản thờigian trên đối với các khoản phải trả
- Hoạt động BTT dựa trên quan hệ về mua bán quyền tài sản là quyền đòi nợ.
Đây là dấu hiệu để phân biệt hoạt động BTT và các hình thức cấp tín dụngkhác Do quyền đòi nợ là một loại tài sản được xác định từ một giao dịchthương mại cụ thể nên khi thực hiện hoạt động BTT, tổ chức tín dụng phải tiếnhành phân tích toàn diện và trực tiếp các giao dịch làm phát sinh các khoản phảithu, tình hình tài chính và hoạt động của cả bên bán hàng và bên mua hàng
1.4 Vai trò của hoạt động BTT
BTT mang lại nhiều lợi ích cho các bên trong quá trình thanh toán Cụ thể:
1.4.1 Đối với bên bán hàng, cung ứng dịch vụ
Thứ nhất, bên bán được giải quyết nhu cầu về vốn, do được cung cấp nguồn tài
chính để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn vốn bao giờ cũng là vấn đềchiếm trọn sự quan tâm của các doanh nghiệp Trong giao dịch mua bán hàng hóa, mộttrong những trăn trở của bên bán là làm sao có thể nhận được tiền nhanh chóng để cóthể tiếp tục quay vòng vốn kinh doanh Với BTT người bán có thể thu tiền ngay thay
vì phải đợi đến kì hạn mới được thanh toán theo hợp đồng Hoạt động BTT giúp ngườibán lấp được lỗ hổng thiếu hụt tiền mặt trong khoảng thời gian từ khi giao hàng đếnkhi được người mua thanh toán Nhờ sử dụng được các khoản ứng trước mà nguồnvốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh được tăng lên góp phần thúc đẩy hoạtđộng sản xuất kinh doanh phát triển
Thứ hai, các khoản nợ xấu có thể được loại trừ Không một doanh nghiệp nào
có thể tránh khỏi những khoản nợ, được xem là một yếu tố tất nhiên trong hoạt độngkinh doanh thường nhật Rất nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với những rủi ro
về tài chính trong đó có rủi ro do tổn thất nợ khó đòi làm suy giảm năng lực cạnhtranh BTT xuất hiện như một giải pháp cho vấn đề trên
Thứ ba, bên bán tiết kiệm được thời gian và chi phí cho việc quản lý sổ sách,
chứng từ Các vấn đề trên sẽ được tổ chức BTT thực hiện bằng nghiệp vụ, chuyênmôn, kinh nghiệm của mình Và vì thế doanh nghiệp có thể yên tâm mà tập trung vàohoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ tư, có được những lợi thế do BTT mang lại, hoạt động kinh doanh của bên
bán trở nên thuận lợi, nhanh chóng Trong giao thương, một cơ sở hoạt động sản xuất
7 Khoản 5 Điều 19 Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tín dụng ban hành kèm Quyết định NHNN ngày 06/9/2004, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống
Trang 191096/2004/QĐ-kinh doanh nhanh nhẹn, gọn gàng mà vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả tốt nhất luônđược đánh giá cao và thu hút được nhiều khách hàng hơn Như vậy, BTT tạo đượcnhiều lợi thế trong kinh doanh cho doanh nghiệp bằng việc giúp doanh nghiệp khẳngđịnh được vị thế, nâng cao sức ảnh hưởng và uy tín của mình trên thương trường; tănglợi thế cạnh tranh khi chào hàng với các điều khoản thanh toán trả chậm mà không ảnhhưởng đến nguồn vốn kinh doanh của mình.
Thứ năm, được sự tư vấn của tổ chức BTT, doanh nghiệp có thể hạn chế được
rủi ro trong kinh doanh đặc biệt là trong giao thương với các đối tác nước ngoài
1.4.2 Đối với bên mua hàng, sử dụng dịch vụ
Thứ nhất, do được đơn vị BTT ứng vốn trước nên bên mua có thể mua chịu
hàng một cách dễ dàng bên cạnh đó có thể tăng sức mua, tìm kiếm thêm lợi nhuậnđồng thời cũng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thứ hai, trong tài trợ thương mại thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
L/C (Letter of Credit) được xem là phương thức thông dụng nhất Trong phương thứcnày, nhà xuất khẩu (bên bán) yêu cầu nhà nhập khẩu (bên mua) tiến hành thủ tục mởL/C tại một ngân hàng với các điều kiện đã thỏa thuận Thủ tục mở L/C cho kháchhàng được xem là một hình thức tài trợ cho doanh ngiệp vì khi ngân hàng đồng ý mởL/C cho bên mua hàng bao hàm trong đó là sự cam kết thanh toán cho người hưởnglợi L/C Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro nếu bên mua không có khả năng thanh toán.Trong hoạt động BTT, bên mua nhờ sự đảm bảo tài chính của TCTD bằng một khoảnứng trước cho bên bán mà không phải mở L/C; đồng nghĩa với việc giảm được gánhnặng tài chính khi không phải bỏ ra một khoản tiền cho việc mở L/C nhằm đảm bảokhả năng thanh toán
Thứ ba, giảm được thời gian, chi phí quản lý sổ sách kế toán và quản lý các
khoản nợ Do chức năng quản trị sổ sách của nghiệp vụ BTT, đơn vị BTT sẽ là chủthể thực hiện việc quản lý các khoản nợ, theo sát tình hình kinh doanh của bên mua,thông báo cho bên mua hàng về tình trạng của sổ quản lý, thời hạn thanh toán…Theo
đó, bên mua hàng sẽ có thể tiết kiệm các khoản về nhân sự, tiết kiệm thời gian khi thựchiện quản lý sổ sách về các khoản phải trả
Thứ tư, bên mua có thêm điều kiện để mở rộng phạm vi kinh doanh ra ngoài
nước khi thực hiện BTT quốc tế bỏ qua những hạn chế về vốn, năng lực cạnh tranh,ngôn ngữ…
1.4.3 Đối với đơn vị BTT
Thứ nhất, BTT bổ sung một lượng tiền vào doanh thu hàng năm trong hoạt
động của đơn vị BTT Vì factoring được xem là hình thức tài trợ có chi phí cao, nênnguồn vốn hoạt động của đơn vị BTT có thể nhờ nguồn thu này mà được gia tăng Đối
Trang 20với các TCTD, việc gia tăng nguồn vốn luôn luôn mang đến những cơ hội hợp tác kinhdoanh khác, từ đó mang lại nhiều hơn doanh thu cũng như là lợi nhuận.
Thứ hai, BTT góp phần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của các đơn vị BTT.
Với các ngân hàng thương mại thì việc đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng là một vấn
đề quan trọng TCTD có nhiều dịch vụ sẽ tạo thêm nhiều sự lựa chọn cho khách hàng,
từ đó có thể tìm kiếm nhiều nguồn thu hơn Bên cạnh đó, TCTD còn có thể nâng caohình ảnh thương hiệu của mình, mở rộng phạm vi ảnh hưởng, tăng ưu thế cạnh tranh
Thứ ba, đơn vị BTT khi thực hiện nghiệp vụ này có thể lưu giữ sổ sách, xem
xét tình hình hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng đồng thời làtiến hành thu nợ Thực hiện BTT, các TCTD có thể theo dõi hoạt động kinh doanh củakhách hàng, bên cạnh đó có thể tiếp cận những khách hàng tiềm năng trong tương laithông qua những khách hàng cũ
1.5 Phân loại BTT
1.5.1 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
BTT được phân thành 02 loại: BTT trong nước và BTT quốc tế
- BTT trong nước: (hay Factoring nội địa, Domestic Factoring) là factoring chỉgiới hạn trong biên giới một quốc gia, dựa trên hợp đồng mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú theoquy định của pháp luật về quản lý ngoại hối (Khoản 2 Điều 4 Quy chế hoạtđộng BTT)
- BTT quốc tế: (BTT xuất - nhập khẩu, International Factoring) là BTT liên quanđến ít nhất hai quốc gia khác nhau, dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu (Khoản 3Điều 4 Quy chế hoạt động BTT)
Điểm khác biệt giữa hai loại BTT này là khả năng có sự tham gia của hai đơn vịBTT ở hai nước đứng ra làm đại lý cho nhau để cung cấp dịch vụ cho người xuất khẩu
và người nhập khẩu
1.5.2 Căn cứ vào trách nhiệm đối với rủi ro
Dựa vào căn cứ này, người ta chia factoring thành hai loại:
- BTT không có quyền truy đòi: (without recourse/ non - recourse factoring):Theo Điểm b Khoản 1 Điều 11 Quy chế hoạt động BTT, đơn vị BTT chịu toàn
bộ rủi ro khi bên mua hàng, cung ứng dịch vụ không có khả năng hoàn thànhnghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Đơn vị BTT chỉ có quyền đòi lại số tiền đãứng trước cho bên bán hàng, cung ứng dịch vụ trong trường hợp bên mua hàng,
sử dụng dịch vụ từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàngkhông đúng như thoả thuận tại hợp đồng mua bán hàng hoặc vì một lý do kháckhông liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng
Trang 21Theo phương thức này mọi rủi ro nếu xảy ra đều do đơn vị BTT gánh lấy.Chính vì thế mà phương thức miễn truy đòi chỉ được sử dụng khi đơn vị BTT thẩmđịnh và đánh giá khách hàng với độ tin cậy cao.
- BTT có quyền truy đòi: (with recourse/ recourse factoring) : Theo phương thứcnày đơn vị BTT sẽ truy đòi số tiền đã chuyển giao cho người bán do người mua
mất khả năng thanh toán Cụ thể: “đơn vị BTT có quyền đòi lại số tiền đã ứng
trước cho bên bán hàng, cung ứng dịch vụ khi bên mua hàng, sử dụng dịch vụ không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán” (Điểm a khoản 1 Điều 11
Quy chế hoạt động BTT)
Do những rủi ro mà BTT miễn truy đòi có thể gặp phải, các TCTD thường ápdụng mức phí và lãi suất khi thực hiện phương thức này cao hơn là phương thức BTT
có quyền truy đòi
1.5.3 Căn cứ vào phương thức BTT
Theo phương thức thực hiện nghiệp vụ thì BTT được chia thành:
- BTT từng lần: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng, cung ứng dịch vụ thựchiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phảithu của bên bán hàng, sử dụng dịch vụ
- BTT hạn mức: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng, cung ứng dịch vụ thoảthuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thờigian nhất định
- Đồng BTT: Hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt động baothanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng, cung ứng dịch vụ trong đó mộtđơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán8
1.6 Phân biệt BTT và một số loại hình cấp tín dụng khác
1.6.1 Phân biệt BTT và bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh được hiểu đơn giản là hành vi của một chủ thể tự nguyện cam kết bảođảm bằng uy tín hoặc tài sản của mình cho nghĩa vụ của người khác Theo đó, nhữngcam kết bảo lãnh được thực hiện một cách chuyên nghiệp bởi các TCTD theo yêu cầucủa khách hàng được gọi là bảo lãnh ngân hàng Vậy dưới góc độ pháp lý, bảo lãnhngân hàng được quan niệm thế nào?
Khoản 18 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã định nghĩa bảo lãnh ngân
hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo
lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
8 Điều 12 Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Trang 22Bảo lãnh ngân hàng trong Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành theo Quyết
định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng Nhà nước Là cam kết
bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền
đã được trả thay.
Như vậy, các bên liên quan trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng là:
- Bên bảo lãnh: các ngân hàng, các TCTD được phép thực hiện nghiệp vụ bảolãnh ngân hàng
- Bên được bảo lãnh: các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước(trừ một số cá thể được quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quy chế bảo lãnh ngânhàng)
- Bên nhận bảo lãnh (bên thụ hưởng bảo lãnh): các đơn vị, tổ chức kinh tế, cánhân; các ngân hàng hay TCTD khác có quyền thụ hưởng bảo lãnh
(3)
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa các bên trong quy trình bảo lãnh
(1): Hợp đồng dịch vụ bảo lãnh (ký kết giữa TCTD với khách hàng được bảolãnh)
(2): Hợp đồng bảo lãnh (ký kết giữa TCTD bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh- bên
là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn Mục đích của
hình thức bảo lãnh này là giảm thiểu rủi ro về thanh toán tiền hàng cho người bán
Bên bảo lãnh(Tổ chức tín dụng)
Trang 23hàng Vì lí do này, bảo lãnh thanh toán sẽ là sự đảm bảo thanh toán số hàng hóa chongười bán hàng nếu người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình khi đếnhạn Số tiền bảo lãnh thanh toán thường chính là giá trị hàng hóa và số phí phải trả cho
số ngày kéo dài thêm vì đòi bồi thường
Theo đó, có thể thấy BTT và bảo lãnh thanh toán có một số nét giống nhau:
- Đều là những hình thức cấp tín dụng, một nghiệp vụ của các TCTD được thựchiện bằng kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo sự an toàn cho cácđồng vốn mình bỏ ra khi chấp nhận đóng vai trò người sẽ trả các khoản nợ tàichính của khách hàng
- Đều gắn liền với một giao dịch cụ thể giữa hai chủ thể Đối với bảo lãnh thanhtoán thì hai chủ thể này sẽ tương tự như BTT: người bán, người thụ hưởng vàngười mua, người có nghĩa vụ thanh toán
- Đều là những công cụ mang tính chất tài trợ Nhu cầu về vốn đối với hoạt độngkinh tế là một vấn đề cầp thiết, đặc biệt là trong hợp đồng có giá trị lớn, thờigian kéo dài thì khả năng về vốn càng trở nên bức thiết Khi đó, sự xuất hiệncủa BTT và bảo lãnh ngân hàng mà cụ thể là bảo lãnh thanh toán là một sự hỗtrợ rất lớn
- Khi BTT được thực hiện dưới dạng mua lại các khoản phải trả, người mua phảinhận nợ và hoàn trả lại số tiền mà đơn vị BTT đã thực hiện chi trả thay chomình, giống như bảo lãnh ngân hàng khi thực hiện nghĩa vụ thay cho kháchhàng và được khách hàng hoàn trả theo thỏa thuận
Cả hai hoạt động BTT và bảo lãnh thanh toán đều có cũng bản chất là cung cấpcho khách hàng một khoản tín dụng nhất định Song với những đặc trưng riêng củamình, BTT và bảo lãnh thanh toán vẫn có những điểm khác biệt cơ bản
Thứ nhất, điểm khác nhau có thể nhận thấy dễ dàng nhất ở hai nghiệp vụ này là
thời điểm cấp tín dụng Nghiệp vụ BTT cấp tín dụng cho khách hàng khi các khoản nợvẫn chưa đến hạn thanh toán Như đã trình bày ở trên, các TCTD sẽ mua lại các khoản
nợ với giá thấp hơn giá trị thực của giao dịch thương mại giữa người bán và ngườimua Thông qua đó, là ứng trước một khoản tiền cho người bán, và chờ đến hạn thanhtoán các hóa đơn, chứng từ sẽ được người mua thanh toán lại Còn đối với bảo lãnhngân hàng, vốn được xem là hình thức cấp tín dụng bằng tài sản vô hình mà cụ thể là
uy tín của ngân hàng thì việc phải sử dụng tài sản của mình để thanh toán thay chonghĩa vụ của khách hàng khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ thanh toán khi đến hạn, đồng nghĩa với rủi ro Nói cách khác, trong bảo lãnh thanhtoán, TCTD sẽ thực hiện việc trả thay cho khách hàng khi các khoản nợ đã đến hạnthanh toán mà người mua không có khả năng chi trả
Trang 24Thứ hai, BTT và bảo lãnh thanh toán còn khác nhau về chủ thể được cấp tín
dụng Tùy vào từng loại hình bảo lãnh ngân hàng mà có thể có các đối tượng kháchhàng khác nhau Ví dụ: đối với bảo lãnh vay vốn, đối tượng là các doanh nghiệp, tổchức và cá nhân có nhu cầu vay vốn trong và ngoài nước; đối với bảo lãnh hoàn trảtiền đặt cọc thì đối tượng là người bán trong hợp đồng thương mại…Và đối tượng củabảo lãnh thanh toán chính là người mua, người có nghĩa vụ trả tiền trong giao dịchthương mại Nghiệp vụ BTT được quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 là
hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng.
Thứ ba, mức tài trợ của hai hình thức cấp tín dụng này cũng có điểm khác nhau.
Đơn vị BTT khi mua lại các khoản nợ thì thường với mức giá thấp hơn giá trị củakhoản nợ đó Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đãmua và giá mua thực tế của món nợ đó Nói cách khác, khi cấp tín dụng cho ngườibán, giá trị bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị các khoản thu Ngược lại, với bảo lãnh thanhtoán, khi thực hiện chi trả cho bên có quyền, TCTD thông thường phải chấp nhận sốtiền là toàn bộ giá trị hợp đồng
Thứ tư, sự khác biệt giữa BTT và bảo lãnh thanh toán còn thể hiện ở quan hệ
hợp đồng khi thực hiện nghiệp vụ Mặc dù ở hai hình thức cấp tín dụng trên đều tồn tại
ít nhất ba chủ thể: TCTD; bên bán, bên có quyền; bên mua, bên có nghĩa vụ thanh toánnhưng về quan hệ hợp đồng thì có sự khác nhau Trong bảo lãnh thanh toán thường tồntại hai mối quan hệ pháp luật như sau: một là, quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh(phát sinh giữa TCTD với khách hàng được bảo lãnh); hai là, quan hệ hợp đồng bảolãnh (phát sinh giữa TCTD bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh - bên có quyền) Còn đốivới BTT, chỉ tồn tại hợp đồng BTT giữa TCTD (bên tài trợ) và bên bán hoặc bên mua(bên được tài trợ) TCTD tiếp đó chỉ việc thực hiện việc thông báo cho bên còn lạitrong hợp đồng thương mại mà không cần phải ký thêm một hợp đồng nào khác
Thứ năm, về khả năng bảo hiểm đối với rủi ro, TCTD mặc nhiên có quyền truy
đòi người mua, bên có nghĩa vụ thanh toán các khoản đã trả cho người bán Còn đốivới hoạt động BTT, TCTD có thể truy đòi hoặc không, tùy thuộc vào đây là hợp đồngBTT có quyền truy đòi hay là miễn truy đòi
Trên đây là một số điểm để phân biệt BTT và bảo lãnh ngân hàng, vốn là haihình thức có nhiều điểm giống nhau Có thể thấy, khi thực hiện cấp tín dụng cho ngườimua bằng cách mua lại các khoản phải trả thì lúc này, BTT càng có điểm tương đồngvới bảo lãnh ngân hàng hơn Và khác nhau rõ nhất có thể thấy là bảo lãnh ngân hàngmang tính chất như một “lời hứa” thanh toán, còn BTT là một hợp đồng thanh toánthực tế ngay sau khi ký kết
Trang 251.6.2 Phân biệt BTT và chiết khấu giấy tờ có giá
Trong đời sống kinh tế, nhiều chủ thể được pháp luật cho phép phát hành cácgiấy tờ có giá để huy động vốn Ví dụ: công ty cổ phần được quyền phát hành cổphiếu, trái phiếu; ngân hàng thương mại có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi; thươngnhân có quyền phát hành hối phiếu Theo Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam 2010 thì giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.
Theo đó, kể từ khi xác lập quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá, chủ sở hữu cầnphải chờ đến hạn thanh toán mới thu hồi được lượng tiền đã bỏ ra Tuy nhiên, có mộtgiải pháp khác có thể nhanh chóng thu hồi đó là chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ
có giá cho chủ thể khác trước hạn thanh toán Nếu bên mua giấy tờ có giá là TCTD thìđược gọi là cấp tín dụng bằng hình thức chiết khấu giấy tờ có giá
Chiết khấu theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010 là “việc mua có kỳ hạn hoặc
mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán”
Phần bài này, người viết chỉ đề cập đến chiết khấu hối phiếu, hình thành dựatrên quan hệ thương mại Như đã biết, trong kinh doanh, việc mua bán chịu giữa cácđối tác gần như đã trở thành một “thói quen thương mại” Một mặt nó thúc đẩy quátrình mua bán Mặt khác, lại tạo một gánh nặng về vốn ngắn hạn đối với ngưới bán.Kết quả của quá trình mua bán chịu là giá trị các khoản phải thu đang dần trở thànhnhững tồn đọng nợ khó đòi Để giải quyết tình trạng trên, giá trị của các khoản phảithu có thể được ký phát thành một hối phiếu đòi nợ (sau đây gọi tắt là hối phiếu) dongười bán lập ra để lệnh cho người mua phải trả tiền cho người thụ hưởng theo một sốtiền và thời hạn nhất định với mệnh giá cụ thể; hoặc tồn tại dưới những hóa đơn khácnhau tập hợp thành một bộ chứng từ chứng minh mối quan hệ nợ nần giữa các đối táckinh doanh
Thực chất của hoạt động trên là việc TCTD bỏ tiền ra mua hối phiếu theo mộtgiá bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị thực của các chứng từ đó TCTD sẽ cấp tín dụng chongười thụ hưởng (người sở hữu chứng từ) Theo đó thì người thụ hưởng muốn nhậnđược số tiền này bắt buộc phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho TCTDchiết khấu với các chứng từ xin chiết khấu Khi chứng từ đến hạn, TCTD sẽ gửi chứng
từ đi để đòi tiền người có nghĩa vụ trả tiền9
9 Nguyễn Đăng Dờn, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Trường Đại học kinh tế TP.HCM, NXB Đại học quốc gia TP.HCM, 2009, trang 108.
Trang 26Sơ đồ 1.2 Quy trình chiết khấu hối phiếu 10
Tiền(3) Hối phiếu
Chứng từ + Hối phiếu
(1) Hàng hóa
(1) Ký phát hối phiếu
(2) Chấp nhận và gửi hối phiếu
(3) Chiết khấu hối phiếu
(4) Thanh toán hối phiếu
Theo đó, ta thấy được những khác biệt cơ bản giữa chiết khấu hối phiếu và baothanh toán:
- Về đối tượng:
Chiết khấu hối phiếu có đối tượng là hối phiếu đòi nợ, do người ký phát lập, yêucầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong mộtthời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng Trong khi đó, đối tượngcủa BTT là các hóa đơn chứng tỏ quan hệ tín dụng thương mại giữa người bán vàngười mua
- Về khách hàng:
Người được BTT là một trong hai chủ thể trong quan hệ thương mại Còn đối vớichiết khấu hối phiếu, người được chiết khấu có thể là người bán, cũng có thể làngười thụ hưởng (người thứ ba) do ký hậu chuyển nhượng
- Về quyền truy đòi:
Nếu như đối với chiết khấu hối phiếu, quyền truy đòi các chủ thể có liên quan làhiển nhiên khi người mua không có khả năng thanh toán thì đối với BTT, việc truyđòi còn phải tùy thuộc vào hợp đồng ký kết giữa đơn vị BTT và khách hàng là “cóquyền truy đòi hay miễn truy đòi”
10 Nguyễn Đăng Dờn, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Trường Đại học kinh tế TP.HCM, NXB Đại học quốc gia TP.HCM, 2009, trang 108.
hối phiếu
Người bị ký phát
(người trả tiền)
Người ký phát(Người phát lệnh)
Trang 27- Về kỹ thuật tài trợ:
Với chiết khấu hối phiếu: chiết tính phần TCTD được hưởng, trừ đi khỏi giá trịchứng từ và chuyển giao cho khách hàng phần còn lại Mức chiết khấu nhiều hay íttùy thuộc vào các nhân tố: thời hạn chiết khấu; lãi suất chiết khấu; tỉ lệ hoa hồng và
Trong khi đó, TCTD khi thực hiện BTT còn phải thực hiện thêm nhiều chứcnăng:
• Chức năng tài trợ: Khi thực hiện BTT, đơn vị BTT sẽ cấp tín dụng cho kháchhàng theo tỷ lệ căn cứ vào giá trị chứng từ
• Theo dõi và quản lý việc thu nợ: đơn vị BTT nắm giữ các chứng từ hóa đơnmua hàng, xử lý các phát sinh, phụ trách toàn bộ quá trình thu nợ tiền hàng từ ngườimua Ngoài ra, BTT còn bao gồm một số dịch vụ như quản lý tài khoản phải thu củakhách hàng, cung cấp các thông tin kinh tế, tiền tệ, tín dụng và thương mại nhằm tăngthu và giữ tốt các mối quan hệ khách hàng
• Chức năng đảm nhận rủi ro thương mại của người mua hàng: Khi chuyểnnhượng quyền đòi nợ, những rủi ro thương mại của người mua (không bán được hàng,không thanh toán được tiền hàng) cũng được chuyển sang cho đơn vị BTT Mức độđảm nhận rủi ro do thỏa thuận giữa người bán và đơn vị BTT được quy định trong hợpđồng BTT11
Tóm lại, chiết khấu hối phiếu và BTT là những hình thức khác nhau của chiếtkhấu các khoản phải thu, phân biệt dựa trên đối tượng chiết khấu, khả năng bảo hiểmrủi ro nợ xấu, kỹ thuật tài trợ, kỹ thuật nghiệp vụ…
11 Trần Thị Bình An, Bao thanh toán - một hình thức đặc biệt của nghiệp vụ chiết khấu, Hoàn thiện luật ngân
hàng - Những đòi hỏi từ hội nhập kinh tế quốc tế, Trường Đại học ngân hàng TP.HCM, NXB Lao động- xã hội,
2007, trang 287 - 288.
Trang 28Sự khác biệt này có thể tóm lược lại bằng bảng so sánh sau:
Tiêu chí Bao thanh toán Chiết khấu hối phiếu
Đối tượng Hóa đơn chứng minh mối
quan hệ thương mại củangười bán và người mua
Hối phiếu do người bán lậpyêu cầu người mua thanhtoán theo một số tiền nhấtđịnh trong một thời gianxác định
Khả năng bảo
hiểm rủi ro
nợ xấu
- Có quyền truy đòi
- Miễn truy đòi
Kỹ thuật tài trợ Ứng trước một số tiền
(khoảng 70 - 90% giá trịchứng từ), sau khi đượcthanh toán, trả phần chênhlệch còn lại
Khấu trừ một số tiền (tínhtheo trị giá chứng từ, thờihạn chiết khấu, lãi suất vàcác tỉ lệ chiết khấu khác),
số tiền còn lại thanh toáncho người thụ hưởng
Trang 29Kỹ thuật
Nghiệp vụ
- Mua lại các khoảnphải thu hoặc phảitrả chưa đến hạnthanh toán
- Theo dõi và quản lýviệc thu nợ
- Thông báo chokhách hàng nhữngthông tin cần thiết(Ví dụ: thông báo
về thời hạn trảnơ…)
- Truy đòi (nếu cóthỏa thuận) khi đếnhạn mà người muakhông thực hiệnviệc thanh toán
- Mua lại các hốiphiếu (chưa đến hạnthanh toán), hưởngphần chiết khấu
- Truy đòi khi đếnhạn thanh toán màngười trả tiền khôngthực hiện việc thanhtoán
Bảng 1.3 So sánh bao thanh toán và chiết khấu hối phiếu
Tóm lại, các hình thức cấp tín dụng trên tuy có sự khác nhau nhưng một mặt đãcho thấy những ưu điểm riêng có của mình với tư cách là một nghiệp vụ của ngânhàng thương mại Mặt khác, phân biệt BTT và các hình thức khác là bước đầu cho cácdoanh nghiệp hình dung về các công cụ tài chính có khả năng mang đến nguồn tài trợlớn, đồng thời lựa chọn những hình thức phục vụ hữu ích cho hoạt động kinh doanhcủa mình phù hợp xu thế hiện đại
Trang 30CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BTT CỦA CÁC TCTD
TẠI VIỆT NAM 2.1 Quy định của pháp luật về điều kiện để các TCTD thực hiện hoạt động BTT
2.1.1 Quy định của pháp luật về điều kiện để được hoạt động BTT
Môi trường kinh tế xã hội ổn định, hoạt động thương mại nói chung và hoạt độngxuất nhập khẩu nói riêng ngày càng có chiều hướng tăng trưởng tích cực, tiềm tàngnhững nhu cầu lớn đối với việc triển khai và phát triển nghiệp vụ BTT Bên cạnh đó,nhu cầu về tín dụng trong kinh doanh thương mại luôn là nhu cầu cấp thiết đối với cácdoanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp bán hàng trả chậm trong giai đoạn hiện nay(trong khi các nguồn tài trợ truyền thống vẫn chưa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đầu
tư, phát triển của nền kinh tế) Thực tế đó đã mở ra cơ hội cho các hình thức cấp tíndụng như BTT phát triển tại Việt Nam Vì thế, các văn bản pháp luật quy định về hoạtđộng BTT lần lượt được ban hành nhằm tạo cơ sở cho sự tiếp nhập của nghiệp vụ trênvào thị trường tài chính Việt Nam Đến thời điểm hiện tại, văn bản quy định cụ thểnhất về nghiệp vụ BTT vẫn là Quy chế hoạt động BTT (ban hành theo Quyết định1096/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004), được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trong đó, BTT đượcnhắc đến với phương thức cấp tín dụng cho người bán qua việc mua lại các khoản phảithu Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đề cập đến BTT là hình thức cấp tíndụng cho cả người bán hoặc người mua thông qua mua lại các khoản phải thu hoặc cáckhoản phải trả Sau khi có hiệu lực thi hành, vẫn chưa có văn bản nào giải thích cụ thểhơn về nghiệp vụ này cũng như là chưa ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung Quy chếhoạt động BTT, trong đó quy định về phương thức cấp tín dụng cho người mua thông
qua việc mua lại các khoản phải trả Theo đó, tại Chương II Pháp luật về hoạt động BTT của các TCTD tại Việt Nam, người viết sẽ phân tích dựa trên Quy chế hoạt
động BTT đã ban hành (có sửa đổi, bổ sung) và quan điểm cá nhân đối với việc thựchiện BTT có đối tượng là các khoản phải trả theo hướng mà người viết cho là hợp lý
Tại Việt Nam không phải bất kì tổ chức nào cũng có thể tiến hành hoạt độngBTT Pháp luật hiện hành đã gắn BTT với khái niệm “cấp tín dụng”, nghĩa là chỉ cócác TCTD thành lập và hoạt động hợp pháp theo khuôn khổ của pháp luật Việt Nammới có thể trở thành các đơn vị BTT (factor) trong quan hệ BTT Đối tượng thực hiệnfactoring ở một số các quốc gia trên thế giới không bị giới hạn trong phạm vi cácTCTD là ngân hàng và phi ngân hàng, mà còn là những công ty có năng lực tài chínhvững mạnh và uy tín Vấn đề được đặt ra ở đây là: tại sao pháp luật lại quy định BTTnhư là một hình thức cấp tín dụng hay một nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi cácTCTD? Theo người viết, điều đó có thể xuất phát từ những nguyên nhân như sau:
Trang 31- Hoạt động BTT gắn với tính chất tài trợ thương mại Việc chi trả cho nhữngkhoản phải thu hay những khoản phải trả cần một khả năng tài chính vữngmạnh do việc ứng trước một khoản tiền tương đối lớn (khoảng 70 – 90% giá trị)
và các khoản đã bỏ ra này chỉ có thể được thu hồi khi đến hạn thanh toán củahợp đồng Nói cách khác một khoản tiền lớn sẽ đi vào trạng thái “đóng băng”,không thể đưa vào hoạt động kinh doanh hay hoạt động tín dụng, một hình thứchoạt động mà nguồn vốn luôn phải luân chuyển không ngừng Và vì thế, nếukhông có một năng lực tài chính ổn định và khả năng huy động vốn để vận hànhtiếp tục bộ máy hoạt động của tổ chức như các TCTD thì factoring sẽ gây nêntình trạng thiếu hụt nguồn vốn và đẩy các đơn vị BTT không phải là TCTD rơivào khủng hoảng
- Factoring là hoạt động mang nhiều rủi ro Dễ dàng nhất có thể thấy là bên muarơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Đặc biệt, nếu là hình thức BTTmiễn truy đòi, đơn vị BTT rõ ràng bị buộc phải chấp nhận việc một khoản nợlớn đã trở thành nợ khó đòi Để khắc phục tình trạng này và hỗ trợ khả năng thuhồi, thông thường bên mua hàng sẽ thực hiện những hình thức bảo đảm (theopháp luật hiện hành thì đó là: ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng tàisản của bên thứ ba…) Nếu một công ty không phải TCTD được phép thực hiệnBTT, thì việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ gặp rất nhiều khó khăn do phải qua nhiềucông đoạn mà quan trọng nhất là quyết định của Tòa án Đối với các TCTD, cáctài sản bảo đảm này sẽ được xử lý dễ dàng hơn
- Về việc quản lý sổ sách và theo dõi khả năng chi trả của bên mua hàng, bằngnghiệp vụ ngân hàng hiện đại những công việc trên sẽ trở nên dễ dàng, thuậntiện và hiệu quả hơn Sự tham gia của TCTD cùng với nghiệp vụ riêng có củamình vào hoạt động thương mại của bên mua hàng và bên bán hàng sẽ giúp tìnhhình kinh doanh được tiến hành một cách khít khao hơn, mặt khác, lại mangtính chất như một công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng Hơn nữa, các tổ chứckinh tế thông thường rất e ngại sự can thiệp của một chủ thể khác vào hoạt độngkinh doanh của mình Đặc biệt điều này sẽ gây trở ngại lớn hơn nếu chủ thể đókhông phải một TCTD, mà lại còn là một tổ chức kinh tế hoạt động thương mạitrong cùng môi trường kinh doanh với các doanh nghiệp trong quan hệ BTT.Tóm lại, việc cho phép các TCTD thực hiện hoạt động BTT được xét trên nhiềugóc độ lợi và hại Với thị trường Việt Nam hiện tại và hệ thống pháp luật hiện hành,các TCTD rõ ràng là những tổ chức có khả năng thực hiện BTT hiệu quả nhất
Các TCTD trên nếu muốn thực hiện BTT dưới tư cách là một factor trước hếtphải hội đủ các điều kiện mà pháp luật Việt Nam đòi hỏi nhằm đảm bảo cho TCTD khi
Trang 32đi vào thực hiện nghiệp vụ có thể đáp ứng được những nhu cầu của thị trường tàichính.
Thứ nhất, phải có nhu cầu hoạt động BTT Hay nói cách khác, nhu cầu thị
trường trên địa bàn mà TCTD hoạt động là có và cần thiết Nhu cầu này của các TCTDxuất phát từ nhu cầu của các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường ngày một mởrộng và đòi hỏi nhiều hơn ở các doanh nghiệp sự năng động trong đường lối kinhdoanh Đối với các doanh nghiệp mua bán hàng trả chậm và các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì nhu cầu này lại càng trở nên cấp thiết Việcthiếu hụt nguồn vốn có thể dẫn đến sự trì trệ trong bộ máy kinh doanh Vì vậy, để đáplại nhu cầu đó, các TCTD thể hiện nguyện vọng của mình trong việc cấp tín dụng chocác đối tượng trên dưới hình thức một nghiệp vụ của ngân hàng thương mại: nghiệp vụBTT
Thứ hai, là vấn đề cơ sở đảm bảo hoạt động BTT của một TCTD Một điều kiện
khác mà các TCTD cần phải đáp ứng để được hoạt động BTT đó là: tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ tại thời điểm cuối từng tháng của 03 tháng gần nhất dưới 5%; không vi phạm các quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng 12
Nợ xấu theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 ban hành Quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạtđộng ngân hàng của tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Ngân hàng Nhà Nước) là “khoản nợ thuộcvào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mấtvốn) được quy định tại Điều 6, Điều 713” Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợquá hạn trả lãi và/hoặc gốc dưới 90 ngày; đồng thời tại Điều 7 của Quy định nói trêncũng đề cập đến việc các TCTD căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạchtoán các khoản vay vào các nhóm thích hợp Như vậy nợ xấu được xác định theo haiyếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của mộtTCTD Có thể nói đây là mối lo ngại của mọi TCTD Nếu nợ xấu lớn sẽ hình thành rủi
ro dẫn đến nguy cơ khủng hoảng do nguồn vốn tự có của TCTD rất khó khăn để đápứng cho hoạt động của toàn bộ hệ thống Tỷ lệ này càng cao, chất lượng tín dụng càng
12 Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số
1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
13 Xem Điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Xem Điều 7 Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm
Trang 33thấp và ngược lại Nên việc thực hiện BTT của các TCTD sẽ khả thi hơn nếu như cácTCTD này vẫn đảm bảo được khả năng tăng trưởng và nâng cao chất lượng tín dụng.
Song song đó, các TCTD phải tuân thủ pháp luật về các quy định về các tỷ lệ antoàn trong hoạt động ngân hàng Lĩnh vực tài chính ngân hàng chứa đựng rất nhiều rủi
ro, do đó năng lực thanh toán của các TCTD lại càng là mối quan tâm lớn đối với cáckhách hàng Bản chất của hoạt động ngân hàng với cơ chế huy động vốn rộng rãi từhoạt động nhận tiền gửi đã luôn đặt TCTD trước rủi ro về khả năng chi trả các khoản
nợ Bên cạnh đó, mục tiêu quan trọng nhất của các TCTD là tìm kiếm lợi nhuận thôngqua hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác Chính vì thế, để phòngngừa việc các TCTD theo đuổi các mục tiêu kinh doanh mà ảnh hưởng đến khả năngthanh toán các khoản nợ, pháp luật Việt Nam đã có những quy định khá chặt chẽ nhằmđảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng như: chế độ bảo hiểm tiền gửi, giới hạncấp tín dụng, quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ, phận loại nợ và trích lập dựphòng rủi ro, các tỷ lệ an toàn…Theo đó, để tìm kiếm lợi nhuận qua nghiệp vụ BTT,các TCTD phải đáp ứng các quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng
Nghĩa là đảm bảo: Tỷ lệ an toán vốn tối thiểu, Giới hạn tín dụng, Tỷ lệ khả năng chi
trả, Giới hạn góp vốn, mua cổ phần, Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động 14
Thứ ba, các TCTD phải không thuộc đối tượng đang bị xem xét xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng hoặc đã bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhưng đã khắc phục được hành vi vi phạm Dễ
dàng thấy, các TCTD nếu bị đặt trong tình trạng “đang xem xét xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng” hoặc đã bị xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực tài chính, ngân hàng mà không khắc phục được hành vi vi phạm thì về mặt tưcách sẽ không được xem xét để được cho phép hoạt động BTT vì không có cơ sở gìđảm bảo khả năng TCTD đó không tiếp tục vi phạm
Các TCTD khi hoạt động BTT nội địa phải đảm bảo các điều kiện pháp địnhnhư trên, còn đối với hoạt động BTT quốc tế thì ngoài các điều kiện qui định trên,TCTD nếu xin chấp thuận hoạt động BTT xuất-nhập khẩu phải là TCTD được phéphoạt động ngoại hối
Để được hoạt động ngoại hối, TCTD phải được cấp giấy phép hoạt động ngoạihối Theo quy định của Pháp lệnh ngoại hối 2005 thì Ngân hàng Nhà nước là cơ quan
có thẩm quyền cấp, sửa đổi, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối của TCTD
Và để được cấp giấy phép hoạt động ngoại hối, các TCTD phải đáp ứng những điềukiện mà pháp luật quy định Điều kiện để cung ứng dịch vụ ngoại hối này có khác
14 Xem Thông tư số 19/2010/TT-NHNN sửa đổi một số Điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Trang 34nhau giữa ngân hàng và TCTD phi ngân hàng, cũng như giữa cung ứng dịch vụ ngoạihối trong nước và quốc tế15.
Về bản chất pháp lý, nghiệp vụ BTT là một nghiệp vụ kinh doanh có điều kiện.Ngoài những điều kiện về thị trường được thể hiện bằng việc xác định nhu cầu về hoạtđộng BTT; điều kiện về hiệu quả tín dụng, điều kiện về tuân thủ pháp luật; điều kiện
về ngoại hối trong trường hợp tiến hành hoạt động BTT xuất nhập khẩu, pháp luật hiệnhành còn quy định về loại hình TCTD được phép thực hiện BTT Khoản 2 Điều 1 Quychế hoạt động BTT (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) liệt kê các TCTD này là:
a Tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng
- Ngân hàng thương mại nhà nước;
- Ngân hàng thương mại cổ phần;
- Ngân hàng liên doanh;
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;
- Công ty tài chính;
- Công ty cho thuê tài chính
b Ngân hàng nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam theo Luật Các tổchức tín dụng
So với Quy chế hoạt động BTT, Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã bổ sung thêm một loại hình TCTDkhác là Công ty cho thuê tài chính Loại hình TCTD này hoạt động chủ yếu theophương thức cho thuê tài sản và trao quyền sử dụng, khai thác tài sản cho bên thuê(thay vì cấp cho khách hàng một khoản tiền mặt như cách thức của các TCTD là ngânhàng) và thu lợi nhuận từ hoạt động này Ở một số quốc gia trên thế giới, các công tycho thuê tài chính ngoài hoạt động cho thuê tài sản như trên còn có thể thực hiện hoạtđộng BTT nếu hội đủ những tiêu chí do pháp luật đặt ra Xét trên những khía cạnh đãphân tích, các công ty cho thuê tài chính có khả năng tài chính ổn định; một mặt có thểhuy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo hoạt động kinh doanh và khảnăng chi trả Luật Các tổ chức tín dụng 2010 tại Khoản 7 Điều 112 cũng quy định các
công ty cho thuê tài chính có thể “thực hiện hình thức cấp tín dụng khác khi được
Ngân hàng Nhà nước cho phép” Ngoài những điều kiện như đã nêu đối với các TCTD
muốn thực hiện nghiệp vụ BTT, pháp luật về hoạt động BTT quy định riêng cho đối
tượng là các Công ty cho thuê tài chính như sau: “Đối với Công ty cho thuê tài chính,
chỉ được thực hiện hoạt động bao thanh toán khi có mức vốn điều lệ tương đương với
15 Xem Thông tư 03/2008/TT-NHNN ngày 11/04/2008 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về hoạt động cung
Trang 35mức vốn pháp định quy định đối với Công ty tài chính” Trong đó, mức vốn pháp định
áp dụng cho đến năm 2011 quy định đối với Công ty tài chính theo Nghị định số10/2011/NĐ/CP ngày 26/01/2011 của Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 về ban hành danh mụcmức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng là 500 tỷ đồng Tuy nhiên, hoạt động BTTcủa công ty cho thuê tài chính còn bị giới hạn bởi đối tượng được thực hiện BTT, cụ
thể là “chỉ được thực hiện BTT đối với khách hàng là bên thuê của Công ty cho thuê
tài chính”.
Vậy, nếu đáp ứng yêu cầu mà pháp luật đặt ra đối với các TCTD muốn thựchiện nghiệp vụ BTT, các công ty cho thuê tài chính có thể trở thành các Factor trongquan hệ BTT
Tóm lại, các điều kiện trên đã đặt ra bên cạnh việc thỏa mãn các yêu cầu về mặtquản lý Nhà nước đối với hoạt động của TCTD, đảm bảo chức năng của Ngân hàngNhà nước, là việc đảm bảo cho hoạt động của các TCTD được an toàn và hiệu quả khitham gia thực hiện nghiệp vụ mới mẻ này
2.1.2 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục để được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận hoạt động BTT của các TCTD
Các TCTD, ngoài việc hội đủ những điều kiện chung để được hoạt động BTT,còn phải thỏa mãn quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục chấp thuận hoạt độngBTT, cụ thể là:
2.1.2.1 Chuẩn bị hồ sơ
Hồ sơ xin chấp thuận hoạt động BTT bao gồm16:
- Văn bản của Chủ tịch Hội đồng quản trị TCTD hoặc người được uỷ quyền đềnghị Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho TCTD hoạt động BTT Trường hợp
uỷ quyền, phải có văn bản uỷ quyền của Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đối vớiChi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam phải có văn bản của Tổng giámđốc (Giám đốc) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Phương án hoạt động BTT Trong phương án hoạt động này phải nêu rõ nhucầu thị trường đối với hoạt động BTT tại địa bàn, dự kiến các đối tượng kháchhàng có thể thực hiện nghiệp vụ, kế hoạch hoạt động đi kèm theo có thể là cácnguyên tắc tài chính, hiệu quả và lợi ích kinh tế…
- Bản sao Giấy phép thành lập và hoạt động; bản sao Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh Về thủ tục cấp giấy phép thành lập, chủ sở hữu, các thành viênsáng lập gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập đến Ngân hàng Nhà nước
16 Khoản 1 Điều 8 Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định NHNN ngày 06/9/2004, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Trang 361096/2004/QĐ-Các văn bản trong hồ sơ sẽ do Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể, nhưng về
ý nghĩa, thì các loại giấy tờ này chỉ nhằm chứng minh TCTD có đủ điều kiện đểhoạt động17 Sau khi được cấp giấy phép, các TCTD sẽ tiến hành đăng ký kinhdoanh theo quy định của pháp luật Các văn bản trên chủ yếu chứng minh tưcách của các TCTD khi muốn thực hiện nghiệp vụ này
- Báo cáo tài chính của tổ chức tín dụng năm gần nhất đã được kiểm toán bởi một
tổ chức kiểm toán độc lập; báo cáo về việc thực hiện các tỷ lệ bảo đảm an toàntrong hoạt động của TCTD tại thời điểm gần nhất theo qui định
- Đối với hồ sơ xin chấp thuận hoạt động BTT xuất - nhập khẩu thì ngoài các hồ
sơ trên còn bao gồm bản sao giấy phép hoạt động ngoại hối do Ngân hàng Nhànước cấp
Do đặc tính của từng loại hình TCTD mà có sự phân biệt về trình tự, thủ tục, cụthể: đối với TCTD cổ phần, hồ sơ xin chấp nhận hoạt động BTT được lập thành 02 bộgửi đến Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phố nơi TCTD đặt trụ sở chính.Với các TCTD khác, trừ TCTD cổ phần, hồ sơ được lập thành 01 bộ và được gửi đếnNgân hàng Nhà nước (Vụ các ngân hàng và TCTD phi ngân hàng) Các tài liệu trong
hồ sơ phải là bản chính, trường hợp là bản sao thì phải có xác nhận của cơ quan đã cấpbản chính hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
2.1.2.2 Xem xét về việc chấp thuận hoạt động BTT của các TCTD 18
Trong thời hạn tối đa 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ xin chấp thuậnhoạt động BTT của TCTD cổ phần, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phốxem xét, có ý kiến bằng văn bản về điều kiện (điều kiện về thị trường, điều kiện vềhiệu quả tín dụng, điều kiện về tuân thủ pháp luật như đã phân tích), hồ sơ xin hoạtđộng BTT theo Quy chế hoạt động BTT Văn bản này sẽ được gửi đến cho Ngân hàngNhà nước (Vụ các ngân hàng và TCTD phi ngân hàng) kèm theo 01 bộ hồ sơ củaTCTD cổ phần Ngân hàng Nhà nước, trong 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ của TCTD cổ phần do Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phố gửi tới,phải xem xét và có ý kiến bằng văn bản về việc chấp thuận hay không chấp thuận chophép hoạt động BTT của TCTD cổ phần Trường hợp không chấp thuận, Ngân hàngNhà nước phải có văn bản nêu rõ lý do
Đối với các TCTD (trừ TCTD cổ phần) thì sẽ được Ngân hàng Nhà nước xemxét và ra văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận (trường hợp không chấp thuận thìphải có văn bản nêu rõ lý do) trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ
17 Xem Điều 20 Điều kiện cấp Giấy phép quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010.
18 Điều 9 Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân
Trang 37Có thể thấy về hồ sơ của các TCTD cổ phần, phải qua công đoạn xem xét vàcho ý kiến của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố nơi địa bàn hoạt độngcủa TCTD Nhìn chung, nhu cầu hoạt động BTT của TCTD thể hiện qua hồ sơ xinchấp thuận hoạt động BTT sẽ được xem xét và có văn bản trả lời trong thời gian tối đa
là 30 ngày kể từ ngày các TCTD nộp đủ hồ sơ, dù là có sự phân biệt giữa các TCTD
cổ phần và các TCTD khác
Sau khi được chấp thuận hoạt động BTT bằng văn bản của Ngân hàng Nhànước, TCTD phải tiến hành đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh Ngoài ra, TCTDcòn phải tiến hành đăng báo Trung ương, địa phương trong 03 số liên tiếp bằng tiếngViệt theo quy định của pháp luật hiện hành, sau đó, gửi tới Ngân hàng Nhà nước các
số báo đã đăng, bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có chứng thực của cơquan có thẩm quyền và các tài liệu khác có liên quan
Theo Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 sửa đổi, bổ sung Quychế hoạt động BTT của các TCTD, trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày được Ngânhàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, TCTD phải tiến hành thực hiện hoạt độngBTT Nếu hết thời hạn trên mà TCTD không tiến hành thì văn bản chấp thuận củaNgân hàng Nhà nước sẽ hết hiệu lực
Có thể tóm lược trình tự thủ tục chấp nhận BTT bằng sơ đồ sau:
Trang 38Nộp hồ sơ Nộp hồ sơ
Xem cho ý kiến
Tổ chức tíndụng khác
Ngân hàng Nhà nước Chi
Đăng ký tại cơ quan đăng
ký kinh doanh - đăng báo
Hợp thức giấy tờ
Khai trương hoạt động
Trang 392.2 Quy định của pháp luật về quy trình hoạt động BTT của các TCTD
2.2.1 Giới thiệu chung về quy trình hoạt động BTT
Theo quy định của pháp luật, cụ thể là Điều 13 Quy chế hoạt động BTT (sosánh tương quan với việc thực hiện BTT đối với các khoản phải trả), quy trình BTT cóthể tóm tắt như sau:
Bước 1: Đề nghị BTT
Việc đề nghị BTT có thể được một trong các bên đề xuất mà không nhất thiếtphải bắt đầu từ phía khách hàng Kết thúc quá trình này là thủ tục bên bán hoặc bênmua lập văn bản đề nghị đơn vị BTT thực hiện BTT đối với các khoản phải thu hoặccác khoản phải trả, sau đó, gửi các tài liệu cần thiết theo hướng dẫn của TCTD để tiếnhành bước thẩm định BTT
Bước 2: Thẩm định đề nghị BTT
TCTD sẽ thực hiện phân tích các khoản phải thu (cũng như là các khoản phảitrả), tình hình hoạt động và khả năng tài chính của bên bán hàng và bên mua hàng đểquyết định có nên cấp tín dụng hay không Nếu từ chối, TCTD phải trả lời rõ ràngbằng văn bản cho chủ thể đề nghị BTT
Bước 3: Thương lượng và ký kết hợp đồng BTT
TCTD và khách hàng thảo thuận và tiến hành ký kết hợp đồng BTT Trên thực
tế, hầu hết các hợp đồng BTT đều đã được soạn thảo sẵn thành một hợp động mẫu đểkhách hàng điền các nội dung liên quan và thực hiện ký kết
Bước 4: Thông báo
Bên khách hàng gửi văn bản thông báo về hợp đồng BTT cho bên đối tác tronghợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các bên có liên quan, (bên bán hàngnếu BTT cho các khoản phải trả, bên mua hàng nếu BTT cho các khoản phải thu),trong đó nêu rõ việc chuyển nợ từ bên bán hàng cho phía đơn vị BTT và hướng dẫnviệc thanh toán cho đơn vị BTT đối với bên mua hàng
có văn bản cam kết thực hiện thanh toán cho đơn vị BTT thì việc tiếp tục thực hiệnBTT giữa bên bán và đơn vị BTT sẽ do hai bên quyết định và tự chịu trách nhiệm khi
có rủi ro phát sinh)
Trang 40Bước 6: Thực hiện hợp đồng
Bên bán hàng bảng kê kèm bản gốc hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịchvụ; chứng từ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ và các chứng từ khác liên quan đếncác khoản phải thu cho đơn vị BTT, sau đó TCTD chuyển tiền ứng trước cho bên bánhàng theo thỏa thuận trong hợp đồng BTT TCTD sẽ theo dõi và thu nợ từ bên muahàng Sau khi thu nợ xong TCTD sẽ tất toán tiền với bên bán hàng theo quy định tronghợp đồng BTT
Theo từng bước của quy trình trên, hoạt động BTT được triển khai thành quytrình hoạt động BTT trong nước và quốc tế Sự khác biệt cơ bản giữa BTT quốc tế vàBTT trong nước là khả năng có sự tham gia của hai TCTD với tư cách là đơn vị BTTnhập khẩu và đơn vị BTT xuất khẩu ở hai quốc gia đứng ra để thực hiện tài trợ thươngmại cho người nhập khẩu và người xuất khẩu
2.2.2 Quy trình hoạt động BTT trong nước và quốc tế
2.2.2.1 Quy trình hoạt động BTT trong nước
Có thể tóm tắt quy trình hoạt động BTT trong nước (cụ thể là cấp tín dụng chobên bán hàng qua việc mua lại các khoản phải thu) bằng sơ đồ sau:
16
2 4 5 7 8 11 3 9 10
Sơ đồ 2.2 Quy trình BTT trong nước (hệ thống một đơn vị BTT) 19
(1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng trên hợp đồng mua bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ
(2) Người bán đề nghị đơn vị BTT tài trợ với tài sản đảm bảo chính là khoảntiền sẽ thu được trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
(3) Đơn vị BTT tiến hành thẩm định khả năng thanh toán tiền hàng của ngườimua
(4) Nếu xét thấy có thể thu được tiền hàng từ người mua theo đúng hạn hợpđồng mua bán, đơn vị BTT sẽ thông báo đồng ý tài trợ cho người bán
19 Nguyễn Xuân Trường, Bao thanh toán- Một dịch vụ tài chính đầy triển vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam,
Đơn vị BTT