1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp Luật Về Ưu Đãi Đầu Tư Ở Việt Nam Hiện Nay-Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện

71 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 848,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào lĩnh vực và địa bàn đầu tư, tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa và sử dụng nhân công, luật đầu tư nước ngoài quy định về các mức thuế khác nhau: - Thuế doanh thu doanh nghiệp: Doanh nghi

Trang 1

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 1 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH - THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA 2007 - 2011

Đề tài:

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN

THIỆN

MSSV: 5075291

Cần Thơ, tháng 4/ 2011

Trang 2

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 2 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 3 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 4

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 4 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Thư cảm ơn!

Tri ân quý Thầy, Cô!

Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô khoa Luật đại

học Cần thơ đã tận tâm truyền dạy kiến thức pháp luật cho em trong suốt thời

gian theo học tập tại trường

Em xin được gửi lời cảm ơn đến thầy Đoàn Nguyễn Phú Cường – Giảng viên

hướng dẫn đã tận tình giúp đở, hướng dẫn và chỉ dạy giúp em hoàn thành tốt luận văn trong thời gian sớm nhất

Xin cảm ơn quý Thầy, Cô trong thành viên hội đồng bảo vệ luận văn đã xem luận văn và có những đóng góp ý kiến giúp luận văn của em hoàn chỉnh hơn

Kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe có nhiều niềm vui, an lành và thành

công trong cuộc sống

Người tri ân

Huỳnh Minh Nhựt

Trang 5

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 5 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

MỤC LỤC

Trang LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ Ở ViỆT NAM 3

1.1 Tổng quan về đầu tư và ưu đãi đầu tư 3

1.1.1 Khái niệm đầu tư 3

1.1.2 Khái niệm ưu đãi đầu tư 4

1.1.3 Vai trò và mục đích của ưu đãi đầu tư đối với nền kinh tế 4

1.1.3.1 Ưu đãi đầu tư là cơ sở tạo ra môi trường đầu tư tốt 4

1.1.3.2 Chính sách ưu đãi tạo cho Nhà nước sự chủ động trong việc cơ cấu nền kinh tế 6

1.1.3.3 Tạo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư, phù hợp với thông lệ quốc tế 6

1.2 Chính sách ưu đãi đầu tư ở Việt Nam trước năm 2005 6

1.2.1 Ưu đãi đầu tư trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 6

1.2.1.1 Tính tất yếu khách quan về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 6

1.2.1.2 Tác động của đầu tư có vốn nước ngoài 8

1.2.1.3 Pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và chính sách ưu đãi đầu tư 10

1.2.2 Ưu đãi đầu tư trong Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 18

1.2.2.1 Khái quát về Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 18

1.2.2.2 Chính sách ưu đãi đầu tư 19

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ TRONG LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005 25

2.1 Đối tượng và điều kiện ưu đãi đầu tư 25

2.1.1 Lĩnh vực ưu đãi đầu tư 25

2.1.2 Địa bàn ưu đãi đầu tư 26

2.2 Quy định về ưu đãi đầu tư trong luật đầu tư năm 2005 26

2.2.1 Ưu đãi về thuế 26

2.2.1.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 26

2.2.1.2 Thuế xuất nhập khẩu 29

2.2.1.3 Ưu đãi về thuế trong một số trường hợp đặc biệt 35

2.2.2 Ưu đãi về thuế sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước 37

2.2.2.1 Nguyên tắc thực hiện miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước 38

2.2.2.2 Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước 38

2.2.2.3 Giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước 41

2.2.2.4 Thẩm quyền quyết định miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước 41

Trang 6

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 6 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

2.2.3 Ưu đãi đối với nhà đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ

cao và khu kinh tế 41

2.2.3.1 Khái quát chung về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế

2.2.3.2 Nguyên tắc ưu đãi đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế 43

2.2.3.3 Một số ưu đãi đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế 44

2.2.4 Một số biện pháp hỗ trợ đầu tư 48

2.2.4.1 Hỗ trợ chuyển giao công nghệ 48

2.2.4.2 Hỗ trợ đào tạo 48

2.2.4.3 Hỗ trợ đầu tư phát triển và dịch vụ đầu tư 49

2.2.4.4 Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư 49

2.2.4.5 Điều chỉnh, bổ sung ưu đãi đầu tư 50

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 52

3.1 Tác động của những biện pháp ưu đãi đầu tư trong việc thu hút vốn hiện nay 52

3.1.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài 52

3.1.2 Tình hình cấp giấy chứng nhận đầu tư 52

3.2 Nguyên nhân thành tưu đạt được và những hạn chế tồn tại 54

3.2.1 Nguyên nhân thành tựu 54

3.2.2 Một số hạn chế, bất cập trong ưu đãi đầu tư hiện nay 56

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư hiện nay tại Việt Nam 58

KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 7 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng phát triển kinh tế của một quốc gia Từ sau khi đất nước thực hiện đổi mới, nền kinh tế nước ta dần hồi phục, thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và có những bước phát triển tiến bộ vượt bật Nguyên nhân chính là do đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước chú trọng việc mở cửa giao thương với các nước trên thế giới, kêu gọi nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư vào Việt Nam Thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới Thông qua việc ban hành nhiều văn bản pháp luật về đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong nước mở đường cho những làn sóng đầu tư vào Việt Nam Bên cạnh chú trọng phát triển kinh tế trong nước bằng nguồn “nội lực” tự có, Nhà nước ta còn xây dựng hệ thống pháp luật

về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm tranh thủ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO-2007) thì việc kêu gọi đầu tư ngày càng khó khăn hơn bởi sự cạnh tranh khốc liệt giữa quốc gia trong khu vực Mặc dù, Nhà nước ban hành Luật Đầu tư năm 2005 thống nhất giữa đầu tư nước trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các nhà đầu tư

Và mặc dù Việt Nam đã có những thay đổi về chính sách phát triển kinh tế và có những thành công bước đầu tích cực nhưng sự yếu kém trong khâu quản lý, hệ thống pháp luật còn phức tạp, chồng chéo, chính sách ưu đãi chưa rỏ ràng làm cho môi trường đầu tư nước ta dần kém hấp dẫn so với các nước trong khu vực

Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật đầu tư hoàn thiện, chính sách ưu đãi đầu tư thuận lợi, hấp dẫn mới có thể cạnh tranh với các quốc gia khác trong việc thu hút vốn đầu tư

Vì lẽ đó, em chọn đề tài “Pháp luật về ưu đãi đầu tư ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” để nghiên cứu Trong bối cảnh, hiện nay có rất ích công trình nghiên cứu khoa học nào về vấn đề này hoặc chỉ dừng lại một vài phân tích nhỏ mang tính tham khảo Qua đề tài, em xin khái quát chung về chặng đường pháp luật đầu tư nước ta trước khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005, giới thiệu về nội dung ưu đãi đầu tư hiện nay, tác động của chính sách ưu đãi đầu tư hiện nay trong việc thu hút vốn đầu tư Đồng thời, chỉ ra những mặt hạn chế và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư ở nước ta hiện nay

2 Mục đích của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu lý luận cơ bản về pháp luật đầu tư, các chính sách ưu đãi đầu tư mà Nhà nước ta quy định Hệ thống hóa văn bản pháp lý

Trang 8

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 8 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

quy định về ưu đãi đầu tư từ trước đến khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005

Qua đó, có cái nhìn tổng thể về pháp luật ưu đãi đầu tư thông qua những quy định của pháp luật Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài còn nêu lên những mặt hạn chế còn tồn tại trong cơ chế, quản lý pháp luật về đầu tư và nêu lên một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về ưu đãi đầu tư ở Việt Nam

Và hy vọng rằng trong tương lai không xa nước ta sẽ hoàn thiện hệ thống pháp luật

về đầu tư và có những chính sách ưu đãi hiệu quả hơn trong việc thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội làm giàu cho đất nước

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu các quy định về khuyến khích đầu tư và những ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật trước và sau khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005 Nêu lên những khái niệm cơ bản về đầu tư, ưu đãi đầu tư… Nghiên cứu đối tượng, điều kiện ưu đãi đầu tư và nội dung ưu đãi đầu tư

Cụ thể là ưu đãi về thuế; ưu đãi về sử dụng đất, mặt nước; ưu đãi doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

và những ưu đãi khác mà Nhà nước ta thực hiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đựơc sử dụng trong luận văn là phương pháp liệt kê, phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp phân tích xử lý tài liệu và so sánh…

5 Kết cấu của Luận văn

Kết cấu của đề tài luận văn tốt nghiệp “Pháp luật về ưu đãi đầu tư ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính gồm ba chương sau đây:

Chương 1: Khái quát chung về pháp luật ưu đãi đầu tư ở Việt Nam

Chương 2: Quy định pháp về ưu đãi đầu tư trong luật đầu tư năm 2005 Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư tại Việt Nam

Mặc dù, Người viết đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận các nguồn tài liệu về pháp luật đầu tư ở Việt Nam Nhưng đây là một đề tài rộng, hệ thống pháp luật

có liên quan tương đối lớn và thường xuyên thay đổi nên trong quá trình thực hiện còn nhiều thiếu sót, cộng thêm thời gian thực hiện có giới hạn nên nhất định không tránh khỏi những thiếu sót Em hy vọng nhận được sự thông cảm của quý Thầy Cô cùng các bạn đọc

Đồng thời, chân thành đóng góp ý kiến để đề tài của em được hoàn thiện thêm Em xin cam đoan rằng luận văn là công trình nghiên cứu do chính em thực hiện, trên cơ sở kiến thức được học tập tại trường và được hướng dẫn tận tình của Giảng viên hướng dẫn

Trang 9

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 9 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về đầu tư và ưu đãi đầu tư

1.1.1 Khái niệm đầu tư

Khái niệm đầu tư theo cách hiểu phổ thông là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào

công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” 1 Trong khoa học kinh tế,

đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.2 Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế, là “chìa khoá” của sự tăng trưởng kinh tế Các nguồn lực được sử dụng để đầu

tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau (cá nhân, tổ chức) tiến hành và ngày càng phong phú, đa dạng cả về tính chất và mục đích.3

Hiểu theo một cách khác, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh, hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hoá,

mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng Có đầu tư sản xuất (xây dựng xí nghiệp, trang bị tư liệu sản xuất để sản xuất ra của cải và đem lại doanh lợi) và đầu tư dịch vụ (xây dựng những cơ sở phục vụ lợi ích công cộng như bệnh viện, trường học, thương mại, du lịch, vv.) Thông thường, đầu tư là bỏ vốn để tạo

ra một tài sản đem lại lợi nhuận Nguồn vốn đầu tư lấy từ trong lợi nhuận của các đơn

vị sản xuất, từ vốn vay ngân hàng, vốn tự có của nhà đầu tư hay từ cấp phát ngân sách; nói chung là từ quỹ tích luỹ của tái sản xuất xã hội, không thuộc quỹ tiêu dùng Cơ cấu

và hiệu quả đầu tư (tính bằng thời gian thu hồi vốn, hoặc bằng bảng tổng kết tài sản hiện hành) quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí Nhìn chung, mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng đều nhằm mang lại một lợi ích xác định Những lợi ích đạt được của đầu tư có thể là sự tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội Kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội Đầu tư có ý nghĩa kinh tế rất quan trọng, đặc biệt trong thời đại ngày nay

Dưới góc độ pháp lí, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động đầu tư nhằm mục đích lợi

Trang 10

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 10 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác4 Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại Trong khoa học pháp lí cũng như thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh nhằm mục đích tăng giá trị tài sản hay một lợi ích kinh tế xã hội nào đó

Tóm lại, đầu tư là một hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận bằng việc bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để thực hiện các dự án mà nhà đầu tư muốn thực hiện, hoạt động đầu tư phải chịu sự quy định của pháp luật mà mỗi nước bảo hộ đầu tư

đã quy định

1.1.2 Khái niệm ưu đãi đầu tư

Ưu đãi là hình thức đối xử ưu tiên đặc biệt nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi giữa một bên ưu đãi dành cho bên được ưu đãi để thực hiện một công việc mang lại lợi ích cho bên được ưu đãi hoặc cho cả hai bên

Ưu đãi đầu tư là một trong những biện pháp mà Nhà Nước áp dụng nhằm khuyến khích đầu tư để thu hút vốn đầu tư Qua đó, nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư vào những địa bàn, lĩnh vực nằm trong danh mục khuyến khích đầu tư mà Nhà Nước ban hành sẽ được hưởng những ưu đãi, thuận lợi hơn so với các nhà đầu tư khác theo quy định Những ưu đãi đó có thể là ưu đãi về thuế, ưu đãi về tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển, hỗ trợ tài chính…hay những ưu đãi khác mà Nhà nước cam kết ưu đãi dành cho nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam

1.1.3 Vai trò và mục đích của ưu đãi đầu tư đối với nền kinh tế

1.1.3.1 Ưu đãi đầu tư là cơ sở để tạo ra môi trường đầu tư tốt

Ưu đãi đầu tư là tổng hợp của rất nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến các yếu tố chính như: điều kiện về tự nhiên; điều kiện về nguồn nhân lực, điều kiện mức độ phát triển kinh tế - xã hội; điều kiện liên quan đến sự thông thoáng, thuận lợi của pháp luật Như vậy, khái niệm môi trường đầu tư của một quốc gia, một khu vực đều có sự khác biệt nhau (bởi những quy định khác nhau, những đặc trưng khác nhau của từng nước, từng khu vực) Dưới con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài, môi trường đầu tư của một nước cũng được quan tâm ở nhiều khía cạnh Họ luôn tìm hiểu, nghiên cứu, và đánh giá

về môi trường đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư Trên cơ sở đó để so sánh với môi trường đầu tư của các nước khác, nhằm xác định xem đây có phải là một môi trường đầu tư tốt hay không Môi trường đầu tư tốt là môi trường hội đủ các thuận lợi về chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý, hứa hẹn mức sinh lời cao và mức rủi ro thấp

Trong mối tương quan về đầu tư ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, đối với hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài, có thể khẳng định rằng giữa các

4

Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005

Trang 11

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 11 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

biện pháp ưu đãi đầu tư và môi trường đầu tư có mối quan hệ bền chặt Mối quan hệ đó được thể hiện cụ thể qua một số mặt sau:

Thứ nhất, các biện pháp ưu đãi đầu tư và môi trường đầu tư không thể tách rời

nhau khi đánh giá khả năng thu hút vốn trong và ngoài nước của một quốc gia nhất định Ưu đãi đầu tư chính là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên môi trường đầu

Thứ hai, các biện pháp ưu đãi đầu tư là cơ sở để tạo ra môi trường đầu tư tốt Sự ổn

định nhất quán và mở rộng những ưu đãi đối với nhà đầu tư luôn luôn tỉ lệ thuận với sức mạnh cạnh tranh đáng kể cho môi trường đầu tư khi môi trường này đã ổn định và

có những cam kết bảo đảm đầu tư

Thứ ba, môi trường đầu tư tốt, đến lượt nó quay lại giúp cho Nhà Nước có nhiều

điều kiện để cải thiện các biện pháp ưu đãi đầu tư Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là

vì bản thân môi trường đầu tư tốt sẽ đón nhận được ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài Trong quá trình quản lý, việc thực hiện các dự án đầu

tư này, Nhà nước sẽ nắm bắt được những nhu cầu phát sinh từ thực tế của nhà đầu tư hoặc các nhà đầu tư sẽ tự bộc lộ những mong muốn của mình, từ đó Nhà nước có thể bổ sung và hoàn thiện hơn nữa hệ thống những biện pháp ưu đãi đầu tư Những biện pháp mới này sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó sát với thực tế và có khả năng lớn trong việc giúp các nhà đầu tư thực hiện tốt dự án tại môi trường đầu tư với những đặc thù nhất định như môi trường đầu tư Việt Nam

Đứng trên phương diện của một nhà đầu tư thì việc xem những ưu đãi đầu tư mà nhà nước bảo hộ là mục tiêu hàng đầu trong việc quyết định đầu tư hay không Vì những ưu đãi mà một doanh nghiệp nhận đựơc sẽ là lợi thế cạnh tranh trên thương trường Nên việc xây dựng một chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn, thuận lợi là một trong những yếu tố quan trọng thu hút vốn đầu tư vào nước ta

Chính sách ưu đãi đầu tư tốt sẽ tranh thủ đuợc các nguồn vốn viện trợ, vốn đầu từ nước ngoài so với các nước trong khu vực, mà ngày càng có sự cạnh tranh khốc liệt trong việc thu hút vốn đầu tư Trong thời đại mà nền kinh thế giới có chiều hướng toàn cầu hóa, thì một quốc gia không thể tự mình vận động phát triển mạnh mẽ được Chính

vì thế mà vốn đầu tư nước ngoài và các khoản viện trợ khác trở thành nguồn năng lượng dồi dào cho những dự án phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, quốc gia nào cũng nhận ra được điều đó vì thế muốn thu hút nguồn lực này cần phải có những chính sách ưu đãi tốt hơn, công bằng và minh bạch đồng thời tạo sự thông thoáng trong môi trường đầu tư và cả pháp luật

Trang 12

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 12 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

1.1.3.2 Chính sách ưu đãi tạo cho Nhà nước sự chủ động trong việc cơ cấu nền kinh

tế

Theo quy định, doanh nghiệp muốn được hưởng ưu đãi phải thực hiện hoạt động đầu tư vào những lĩnh vực và những địa bàn cần khuyến khích đầu tư Điều này giúp Nhà nước chủ động trong việc phân bổ các nguồn vốn một cách tự nhiên, trên thực tế thì một số nghành nghề, địa bàn rất cần vốn đầu tư để phát triển Từ những thuận lợi về

ưu đãi sẽ khuyến khích các doanh nghiệp cảm thấy hấp dẫn và đầu tư vào những danh mục trên Mặc khác, sẽ giúp Nhà nước chuyển dịch được cơ cấu nền kinh tế một cách hợp lý và phát triển được các nghành nghề, lĩnh vực, địa bàn luôn trong tình trạng thiếu vốn kinh doanh nhằm phát triển đồng đều đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, tạo đà tăng trưởng bền vững, ổn định, có khả năng đối chọi được với các biến động khách quan của nền kinh tế - xã hội

1.1.3.3 Tạo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư, phù hợp với thông lệ quốc tế

Ưu đãi đầu tư là một trong những biện pháp khuyến khích thu hút vốn đầu tư hiệu quả nhất Việc hoàn thiện pháp luật đầu tư là một việc làm bắt buộc của mỗi quốc gia muốn tham gia vào cuộc chơi thương mại của quốc tế Xây dựng một hệ thống pháp luật đầu tư hoàn thiện sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý của mỗi quốc gia, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế để các nước có thể thực hiện những hoạt động đầu tư dễ dàng mà không có sự khác biệt về pháp luật giữa các nước Từ đó những chính sách về

ưu đãi đầu tư sẽ được quan tâm hơn, làm tăng sức mạnh cạnh tranh thu hút đầu tư của Việt Nam

1.2 Chính sách ưu đãi đầu tư ở Việt Nam trước năm 2005

1.2.1 Ưu đãi đầu tư trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

1.2.1.1 Tính tất yếu khách quan về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Sau năm 1975, nhu cầu khôi phục và xây dựng nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nghiêm trọng đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Học thuyết của V.I Lênin

về chính sách kinh tế mới, về việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và kết hợp với quan điểm phát triển kinh tế của Samuelon là phải có

“cú huých từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái vòng luẩn quẩn”, đó là phải có đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển, đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo cho phù hợp hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam5

Về chính sách hợp tác đầu tư nước ngoài, các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV và Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 24 nhấn mạnh chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ giữa nước ta đối với các nước khác trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi, tích cực tranh thủ điều kiện thụân lợi quốc tế để

5

Hồ Ngọc Cẩn, Tìm hiểu Luật Kinh tế, Nxb tài chính, tr.273

Trang 13

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 13 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Tranh thủ vốn

và kỹ thuật để tận dụng cho khả năng tiềm tàng về tài nguyên và sức lao động của nước

ta nhằm nhanh chóng đưa nước ta tiến lên trình độ tiên tiến thế giới Từ năm 1984, chính sách hợp tác đầu tư nước ngoài đã có những bước phát triển rõ rệt tạo tiền đề cho một giai đoạn mới: Mở rộng chính sách kinh tế đối ngoại với các nước trên thế giới Nghị quyết số 19 của Bộ chính trị ngày 17-7-1984 về quan hệ giữa nước ta với nước ngoài và Nghị quyết lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá V) ngày 20-12-

1984 về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1985 là một trong những cơ sở quan trọng của chính sách kinh tế mới đó Đặc biệt chủ trương này

đã được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội Đảng VI năm 1986 “công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu”

Bước sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rằng muốn có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng thì phải tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế và gia nhập thị trường thế giới

Bên cạnh mục tiêu tận dụng khai thác các yếu tố bên ngoài nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực trong nước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, thực hiện chính sách mở cửa một cách đồng bộ, nhất quán và có hệ thống, phù hợp với hệ thống kinh tế mở, mục tiêu

đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại đang ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm và đưa ra những đường lối, chủ trương đúng đắn Một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại đang được xem là trọng điểm đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong điều kiện tích luỹ từ nền kinh tế còn hạn chế, khả năng tạo ra nguồn hàng xuất khẩu bằng nguồn lực trong nước còn hạn chế, không thông thạo thị trường thế giới thì việc mở rộng hợp tác kinh doanh với nước ngoài, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước dưới các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yêu cầu bức thiết đối với công cuộc xây dựng đất nước và cũng

là vấn đề có tính quy luật đối với tất cả các nước kinh tế chậm phát triển muốn tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao

Trong điều kiện nước ta, bên cạnh việc khai thác khả năng của các thành phần kinh

tế tham gia kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment-FDI) có ý nghĩa và tầm quan trọng chiến lược và là mũi nhọn của kinh tế đối ngoại trong một thời kỳ dài Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định nền kinh tế nước ta, về cơ bản, đã thoát ra khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Con đường để thực hiện thành công chủ trương này là khai thác tối đa các nguồn lực ở trong và nước ngoài

Trang 14

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 14 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định coi vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng

Là bộ phận cấu thành đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng, FDI có tầm quan trọng thiết yếu đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là vì:

Thứ nhất, về bản chất, FDI là sự triển khai mạng lưới sản xuất quốc tế, là quá trình

di chuyển công nghệ và vốn trên phạm vi toàn cầu

Thứ hai, FDI làm tăng tiềm lực xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh

tế, do đó đẩy nhanh khả năng thâm nhập thị trường thế giới của Việt Nam FDI được xác định là một hình thức hợp tác quốc tế trong sản xuất, kinh doanh Thực tiễn cho thấy sự thống nhất và gắn bó của đầu tư nước ngoài - chuyển dịch cơ cấu – thương mại

là cốt lõi của quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam Tranh thủ nguồn vốn bên ngoài đầu tư phát triển và khai thác sản phẩm hướng về xuất khẩu có ý nghĩa quyết định đối với quy mô và nhịp độ tăng trưởng kinh tế Do đó, chính sách phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp có sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hướng về mục tiêu xuất khẩu có tác dụng đẩy nhanh nhịp độ chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta

1.2.1.2 Tác động của đầu tư có vốn nước ngoài

tư nhân kể từ khi Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999

Đầu tư có vốn nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn FDI cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP từ 23,79% vào năm 1991 lên 40% năm 2004

Đầu tư có vốn nước ngoài đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô,

xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may…Trong nông-lâm-ngư nghiệp đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới

Trang 15

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 15 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Đầu tư có vốn nước ngoài đã kích thích lĩnh vực dịch vụ Việt Nam nâng cao chất lượng và phát triển nhanh hơn, nhất là trong các ngành viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng…

Góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ

Đầu tư có vốn nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy… Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực FDI cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn FDI áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ

Đầu tư có vốn nước ngoài có tác động lan toả đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế

Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến các thành phần khác của nền kinh tế Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành

Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước và các cân đối vĩ

Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào ngân sách ngày càng tăng Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6

tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm FDI tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc, nguyên vật liệu…

Đầu tư nước ngoài góp phần giúp Việt Nam tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm như: dầu khí, hàng điện tử, máy tính và linh kiện, sản phẩm da giày, hàng may mặc…Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các

Trang 16

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 16 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới

Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới

Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện

1.2.1.3 Pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và chính sách ưu đãi đầu tư

Cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư nước ngoài ở nước ta là Nghị quyết số 115/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Trang 17

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 17 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

(18-4-1977), kêu gọi đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam dưới các hình thức khác nhau, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, xã hội

Tháng 12-1987, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và bổ sung, sửa đổi 1990, 1992, đã thu hút được một số lượng vốn đầu tư nước ngoài đáng kể Nhằm đáp ứng tình hình thực tiễn và yêu cầu mới của đất nước, tạo môi trường pháp lý

an toàn và hấp dẫn hơn để thu hút FDI, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước, tăng cường sự hội nhập kinh tế nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tăng cường quản lý nhà nước đối với FDI, ngày 12-11-1996 Quốc hội đã thông qua Luật mới về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Theo Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, FDI được hiểu

là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” So với phạm vi nội dung khái niệm đầu tư nước ngoài nêu trong Điều lệ đầu tư năm 1977, Luật đầu tư nước ngoài có phần rộng hơn rất nhiều Luật Đầu tư nước ngoài cho phép nhà đầu tư nước ngoài “được đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân” và có khuyến khích đầu tư vào các địa bàn trọng điểm (Điều 3) Khái niệm FDI ở Việt Nam không chỉ bao hàm sự vận động vốn (tư bản), tài sản nhất định từ nước ngoài đầu tư sang nước tiếp nhận mà còn cả hoạt động nhất định của nhà đầu tư nhằm đạt được những mục tiêu nhất định

Thực tiễn đã cho thấy thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài là chủ trương đúng đắn và kịp thời, góp phần quan trọng vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng thêm thế và lực của nước ta trên trường quốc tế Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát triển Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 và các luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990, 1992 Luật này cùng hệ thống văn bản pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển và mở cửa kinh tế, phù hợp với thực tiễn nước ta, đồng thời thích ứng với thông lệ quốc tế và có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Tuy nhiên, tình hình trong nước cũng như khu vực và thế giới đã có nhiều thay đổi, đồng thời yêu cầu mới của sự nghiệp tiếp tục đổi mới sâu rộng nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chủ động hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới

đã và đang đặt ra những đòi hỏi khách quan đối với việc cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua ngày

9-6-2000 với nhiều ưu đãi khuyến khích phát triển đầu tư một lần nửa khẳng định chủ

Trang 18

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 18 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

trương mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới

Tính đến cuối năm 1999, sau 12 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trên địa bàn cả nước đã có gần 3.000 dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư, trong đó trên 2.300 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký trên 36,7 tỷ USD và vốn thực hiện đạt trên 15,7 tỷ USD Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay chiếm trên 25% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, tạo ra trên 10% GDP của cả nước, chiếm gần 35% giá trị sản xuất toàn nghành công nghiệp và gần 22% kim nghạch xuất khẩu của cả nước, tạo việc làm cho gần 30 vạn lao động (không kể hàng chục vạn lao động gián tiếp khác)6

Để đạt được kết quả trên, chúng ta tạo nhiều điều kiện thuận lợi và ưu đãi cho đầu tư nhằm khuyến khích tăng các dự án, tăng vốn đầu tư vào nước ta Thể hiện qua việc ưu đãi về thuế và ưu đãi sử dụng đất, mặt nước, mặt biển…

 Ưu đãi về thuế:

So với các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên hợp doanh được hưởng nhiều ưu đãi về thuế hơn Căn cứ vào lĩnh vực và địa bàn đầu tư, tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa và sử dụng nhân công, luật đầu tư nước ngoài quy định về các mức thuế khác nhau:

- Thuế doanh thu doanh nghiệp: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên hợp

doanh nước ngoài sẽ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất là 25% lợi nhuận thu được, trừ các trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi sau đây:

+ 20% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau:(1) Doanh nghiệp khu công nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ;(2) dự án sản xuất không thuộc loại các dự án

áp dụng thuế suất 25%, 15% hoặc 10%

+ 15% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau: Thuộc danh mục dự án khuyến khích đầu tư; đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn; doanh nghiệp dịch vụ trong khu chế xuất; doanh nghiệp khu công nghiệp xuất khẩu trên 50% sản phẩm; chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động

+ 10% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau: Có hai tiêu chuẩn nêu trên; thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư; đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư; doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; doanh nghiệp chế xuất; thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học

6

Tờ trình Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Bộ kế hoạch và Đầu tư,

Hà Nội, 2000, tr.1-2

Trang 19

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 19 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo Luật Đầu tư nước

ngoài được giảm 20% thuế thu nhập doanh nghiệp so với các dự án cùng loại, trừ

trường hợp được hưởng mức thuế là 10% Thời hạn áp dụng thuế suất thu nhập doanh

nghiệp ưu đãi và thời gian được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định

như sau: + Trường hợp thứ nhất: Thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi được áp dụng trong

suốt thời hạn thực hiện dự án đầu tư đối với dự án đáp ứng trong các tiêu chuẩn sau:

thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư; thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế-

xã hội đặc biệt khó khăn trong danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư; phát triển hạ

tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; đầu tư vào khu công nghiệp,

khu chế xuất, khu công nghệ cao; thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục – đào tạo,

nghiên cứu khoa học

+ Trường hợp thứ hai: Mức thuế xuất thu nhập doanh nghiệp 10% được áp dụng

trong 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án nêu

tại trường hợp thứ nhất được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm kể từ khi

kinh doanh có lãi và giãm 50% trong 4 năm tiếp theo, trừ những dự án được miễn thuế

thu nhập doanh nghiệp trong 8 năm như các doanh nghiệp BOT, BTO, BT đầu tư vào

địa bàn thuộc danh mục khuyến khích đầu tư; doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao;

doanh nghiệp dịch vụ công nghệ cao trong khu công nghiệp; các dự án có quy mô lớn

và có tác động lớn đối với kinh tế-xã hội thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích

đầu tư

+ Trường hợp thứ ba: Mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 15% được áp dụng

trong 12 năm kể từ khi các dự án nêu tại trường hợp thứ nhất và được miễn thuế thu

nhập doanh nghiệp trong 2 năm kể từ khi thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm kể từ khi

kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo

+ Trường hợp thứ 4: Mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 20% được áp dụng trong

10 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án nêu tại

trường hợp thứ nhất và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 1 năm kể từ khi kinh

doanh có lãi và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo

Sau thời gian hưởng mức thuế suất ưu đãi trên, các dự án đầu tư đều phải nộp thuế

thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất là 25% Tuy nhiên các mức thuế suất 20%,

15% và 10% và việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ không áp dụng đối với

các dự án khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê (trừ trường hợp đầu tư vài địa bàn

khuyến khích đầu tư hoặc chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam

sau khi kết thúc thời hạn hoạt động), các dự án tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương

mại, cung cấp dịch vụ (trừ dự án trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ

cao) Đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và

Trang 20

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 20 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

một số tài nguyên quý hiếm khác thì mức thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ thực hiện theo

quy định của Luật Dầu khí và các quy định của pháp luật liên quan

Doanh nghiệp khu công nghiệp được hưởng các ưu đãi thuế sau đây:

+ Thuế thu nhập doanh nghiệp (được áp dụng trong suốt thời hạn của dự án) + Đối với doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao, doanh nghiệp dịch vụ công nghệ

cao trong khu công nghệ cao: 10% lợi nhuận thu được và được miễn thuế thu nhập

doanh nghiệp 8 năm kể từ khi kinh doanh có lãi

+ Đối với doanh nghiệp chế xuất: 10% lợi nhuận thu được và được miễn thuế thu

nhập doanh nghiệp 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi đối với doanh nghiệp sản xuất;

15% lợi nhuận thu được và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm kể từ khi kinh

doanh có lãi đối với doanh nghiệp dịch vụ

+ Đối với doanh nghiệp khu công nghiệp: 15% lợi nhuận thu được đối với doanh

nghiệp có hoạt động xuất khẩu dưới 50% sản phẩm và được miễn thuế thu nhập doanh

nghiệp kể từ khi kinh doanh có lãi; trường hợp xuất khẩu từ 50% đến 80% sản phẩm thì

được giảm thêm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm tiếp theo; 10% lợi

nhuận thu được đối với doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu trên 80% sản phẩm và

được miễn thuế thu nhập 2 năm và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo kể từ khi kinh

doanh có lãi; 20% lợi nhuận thu được đối với doanh nghiệp dịch vụ và được miễn thuế

thu nhập doanh nghiệp 1 năm kể từ khi kinh doanh có lãi

+ Đối với công trình phát triển hạ tầng khu công nghiệp: 10% lợi nhuận thu được và

được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50%

trong 4 năm tiếp theo

Nếu trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các

bên hợp doanh không đạt được các tiêu chuẩn để được hưởng thuế suất thuế thu nhập

doanh nghiệp ưu đãi và thời hạn miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ quan cấp

giấy phép đầu tư có quyền điều chỉnh mức thuế suất và thời hạn miễn, giảm thuế Tuy

nhiên, nếu gặp khó khăn trong quá trình kinh doanh do thiên tai, hỏa hoạn và các

trường hợp bất khả kháng thì Bộ Tài chính sẽ xem xét và quyết định việc miễn, giảm

thuế cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên hợp doanh

Thuế thu nhập doanh nghiệp có thể được hoàn lại khi doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài hoặc các bên hợp doanh dùng lợi nhuận và các thu nhập hợp pháp khác từ

hoạt động đầu tư tại Việt Nam để tái đầu tư vào các dự án đang hoạt động hoặc dự án

mới nếu tái đầu tư vào các dự án được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập và vốn tái đầu

tư được sử dụng từ 3 năm trở lên

Bên cạnh các quy định trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư

nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 quy định: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

và bên nhà nước tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh sau khi quyết toán thuế với cơ

Trang 21

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 21 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

quan thuế mà bị lỗ thì được chuyễn lỗ sang năm sau, số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế Thời gian được chuyển lỗ không được quá 5 năm”7 Việc sửa đổi, bổ sung lần này nhằm giảm dần các phân biệt đối xử, tránh miễn, giảm thuế tùy tiện và để phù hợp với các cam kết quốc tế trong các Hiệp định quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ tham gia

- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài phải nộp thuế

chuyển lợi nhuận ra nước ngoài khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, tùy thuộc vào mức góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc vốn thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh theo các mức sau:

+ Mức 3% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài8; nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh từ 10 triệu USD trở lên; nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư

+ Mức 5% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh từ 5 triệu USD đến dưới

10 triệu USD và đối với nhà dầu tư vào dự án thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học

+ Mức 7% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh không thuộc một trong hai trường hợp trên

- Thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài và các bên hợp doanh được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa để tạo tài sản

cố định khi thành lập doanh nghiệp hoặc bắt đầu tiến hành thay thế, đổi mới công nghệ, bao gồm: (1) Thiết bị, máy móc, linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển và vận tải chuyên dùng; (2) Phương vận tải chuyên dùng để đưa đón công nhân (ôtô từ 24 chỗ ngồi trở lên, phương tiện thủy); (3) Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để chế tạo linh kiện, chi tiết,

bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm với thiết bị, máy móc; (4) Vật tư xây dựng mà trong nước chưa sản xuất được; (5) Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu

để thực hiện dự án BOT, BTO, BT; giống cây trồng, vật nuôi, nông dược đặc chủng được phép nhập khẩu để thực hiện dự án nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

7

Điểu 1, khoản 9 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000

8

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 cho phép: “Người Việt Nam định

cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo quy định của Luật này được giảm 20% thuế thu nhập doanh nghiệp

so với các dự án cùng loại, trừ trường hợp áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10%;

được áp dụng mức thuế suất chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là 3% số lợi nhuận chuyển ra nước ngoài”

(Điều 1, khoản 12)

Trang 22

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 22 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Các hàng hóa nêu tại điểm (1- 4) phục vụ cho việc tạo tài sản cố định hoặc mở rộng quy mô dự án đối với các dự án khách sạn, văn phòng – căn hộ cho thuê, nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ kỹ thuật, siêu thị, sân golf, khu du lịch, khu thể thao, khu vui chơi giải trí, cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo, văn hóa, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ tư vấn cũng được miễn thuế nhập khẩu, trừ một số trang thiết bị chỉ được nhập khẩu miễn thuế một lần như trang thiết bị phòng khách sạn và trang trí nội thất, thiết bị vệ sinh, trang bị nội thất phòng khách, thiết bị nghe nhìn Riêng đối với các

dự án thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, dự án đầu tư sản xuất linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện, điện tử được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu sản xuất Các nguyên liệu, bộ phận rời, phụ tùng và vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu cũng được miễn thuế9

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên hợp doanh cũng được miễn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa để tạo tài sản cố định, bao gồm: Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được; vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được; nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất sản phẩm cung cấp cho các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu

- Các ưu đãi đối với dự án FDI theo hợp đồng BOT 10 :

Ngoài các ưu đãi áp dụng chung cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và 2000 và Nghị định 24, doanh nghiệp BOT (Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) còn được hưởng thêm những ưu đãi khác được quy định cụ thể trong Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 1998 như sau:

Theo đó, doanh nghiệp BOT được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động của dự án và được miễn thuế trong 4 năm kể từ khi kinh doanh

có lãi sẽ áp dụng nếu dự án BOT được thực hiện tại các địa bàn khuyến khích đầu tư Doanh nghiệp BOT và các nhà thầu phụ được miễn thuế nhập đối với thiết bị, máy móc nhập khẩu để tạo tài sản cố định (kể cả thiết bị, máy móc, phụ tùng sử dụng cho việc khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình) và các linh kiện, chi tiết, phụ tùng đi kèm theo; phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ nhập khẩu để tạo tài sản cố định và phương tiện vận chuyển dùng để đưa đón công nhân;

9

Xem: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000: “Nguyên

liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuôc dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến

khích đầu tư hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn thuế nhập khẩu trong

thời hạn 5 năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất: (Điều 1, khoản 14) “ Chính phủ quy định việc miễn, giảm

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa đặc biệt cần khuyến khích đầu tư khác” (Điều 1,

khoản 14)

10

Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005

Trang 23

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 23 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để thực hiện dự án và phục vụ sản xuất, vận hành công trình Doanh nghiệp BOT được miễn thuế thu nhập bản quyền liên quan đến chuyển giao công nghệ Doanh nghiệp BOT được miễn tiền thuê đất trong thời hạn thực hiện dự án

Ngoài ra, doanh nghiệp BOT được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo đảm cho việc chuyển đổi các khoản thu nhập hợp pháp bằng tiền Việt Nam từ việc thực hiện dự

án ra tiền nước ngoài để đáp ứng các giao dịch vãng lai bằng ngoài tệ, thanh toán các giao dịch vãng lai bằng ngoại tệ, thanh toán các khoản vay và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

 Ưu đãi sử dụng đất, mặt nước, mặt biển:

Nhà đầu tư đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực khuyến khích đầu tư hoặc đầu tư tại địa bàn được khuyến khích đầu tư sẽ hưởng một số điểm ưu đãi liên quan đến việc sử dụng đất theo các văn bản luật có liên quan

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên hợp doanh trong hợp đồng hợp tác kinh doanh có quyền sử dụng đất thông qua quan hệ thuê đất của Nhà nước Việt Nam hoặc thông qua bên Việt Nam góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào các doanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh Liên quan đến vấn đề sử dụng đất, điều mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn cả là giá thuê đất và sự ổn định trong quan hệ thuê đất giữa họ và Nhà nước Việt Nam

Chính phủ ban hành khung giá thuê đất chung, ổn định và rõ ràng cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các mức giá áp dụng với đất đô thị (5 nhóm), đất của các xã tiếp giáp đô thị (2 nhóm), đất các vùng còn lại (đồng bằng, trung du, miền núi) (Quyết định số 189/2000/QĐ-BTC ngày 24/11/2000 của Bộ tài chính) Những quyết định ưu đãi về giá tiền thuê đất được quy định theo Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 của Thủ tướng chính phủ và Thông tư số 81/1999/TT-BTC ngày 30/6/1999 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg:

- Dự án có sử dụng đất đô thị thuộc địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn, giá thuê đất giảm 50% so với mức quy định;

- Dự án sử dụng đất tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, giá thuê đất được tính bằng 80% giá áp dụng với đất đô thị, đất không phải là đất đô thị;

- Chính phủ quy định việc miễn giảm tiền thuê đất đối với các dự án đầu tư theo phương thức BOT, BTO, BT11;

- Các dự án được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản;

- Miễn tiền thuê đất 7 năm từ ngày hoàn thành xây dựng cơ bản, đưa dự án vào hoạt động đối với những dự án thuộc danh mục khuyến khích đầu tư và đặc biệt khuyến khích đầu tư;

11

Điều 13 Luật Đầu tư năm 2005

Trang 24

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 24 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

- Miễn tiền thuê đất 11 năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn kinh tế đặc biệt khó khăn;

- Dự án gặp khó khăn phải ngừng xây dựng cơ bản được miễn tiền thuê đất trong thời gian tạm ngừng đó;

- Dự án sản xuất kinh doanh gặp khó khăn phải tạm ngừng sản xuất kinh doanh được miễn tiền thuê đất trong thời gian tạm ngừng đó;

Trong thời gian tạm ngừng xây dựng cơ bản hoặc tạm ngừng sản xuất kinh doanh nếu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng một phần diện tích được thuê vào sản xuất kinh doanh thì được giảm 50% tiền thuê đất phải nộp đối với diện tích đất sử dụng Một lần nộp cho 5 năm được giảm 5% tổng số tiền thuê đất trong 5 năm đó; nộp một lần cho hơn 5 năm, mỗi năm tăng thêm được giảm thêm 1% tiền thuê phải trả nhưng tổng mức không vượt quá 25% tiền thuê đất phải trả; nộp một lần cho thời gian cho thuê đất trên 30 năm thì được giảm 30% tổng số tiền thuê đất của thời gian đó Đối với việc sử dụng mặt nước, mặt biển, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành khung giá tương đối ổn định và có những ưu đãi cụ thể, đặc biệt là với những dự án thuộc đối tượng đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư Đồng thời Chính phủ cũng có chế độ ưu đãi theo hướng miễn giảm tiền thuê mặt nước, mặt biển đối với những dự án gặp khó khăn trong xây dựng cơ bản để đưa dự án vào hoạt động hoặc những dự án gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh.12

1.2.2 Ưu đãi đầu tư trong Luật Khuyến khích đầu tư trong nước

1.2.2.1 Khái quát về Luật Khuyến khích đầu tư trong nước

Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II (1945), nền kinh tế toàn cầu đã có nhiều thay đổi với những bước thăng, trầm đáng nhớ Châu á, bên cạnh những thành công về chiến lược phát triển của Nhật Bản, Trung Quốc v.v cũng phải gánh chịu những cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, chính trị Những cuộc khủng hoảng đó như một hồi chuông cảnh báo về sự cần thiết của phát triển bền vững Nhìn lên bản đồ Châu á cũng như toàn thế giới có thể thấy rằng, tất cả những nước phát triển mà phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài thì sớm hay muộn cũng bị lệ thuộc về kinh tế, rối loạn về chính trị Đó

là bài học thực tế, trên lý thuyết cũng có những kết luận tương tự Một đất nước muốn phát triển bền vững thì cần phát triển dựa trên nội lực là chính, ngoại lực chỉ có tác dụng như một cú hích, nhằm phát phát huy tốt hơn nội lực mà thôi

Sau khi đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả rất đáng phấn khởi: tốc độ tăng trưởng luôn đạt mức cao trong khu vực cũng như trên thế giới, đời sống nhân dân được cải thiện vv… Những kết quả đó có phần đóng góp không nhỏ của hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, những năm gần đây do biến động của nền kinh tế thế giới, nguồn vốn nước ngoài

12

Trường đại học luật Hà Nội Giáo trình Luật Đầu tư Nxb công an nhân dân Tr 119-122

Trang 25

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 25 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

đầu tư vào Việt Nam đang giảm sút Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, việc huy động nội lực cho phát triển kinh tế đang là một vấn đề có tính chất thời sự Nhận định được vai trò và tầm quan trọng của việc khuyến khích đầu tư bằng nguồn vốn trong nước là một những yếu tố góp phần phát triển nền kinh tế một cách ổn định vì thế Nhà nuớc đã ban hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994

Và Nghị định của Chính phủ số 29/1995/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 1995 (hết hiệu lực) quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đầu tư trong nước Đây là cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước đối với vấn đề đầu tư trong nước trong giai đoạn phát triển mới Tuy nhiên để phù hợp với xu hướng thời đại mới Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 07/1998/NĐ-

CP ngày 15 tháng 1 năm 1998 quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) thay thế cho Nghị định 29/1995/NĐ-CP Và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) ngày 20 tháng 5 năm 1998, kèm theo đó là Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) Theo đó doanh nghiệp để được hưởng

ưu đãi về thuế hay ưu đãi về việc sử dụng đất, mặt nước, mặt biển thì phải có dự án đầu

tư vào các nghành nghề, lĩnh vực và địa bàn ưu đãi do Chính phủ ban hành

1.2.2.2 Chính sách ưu đãi đầu tư

 Ưu đãi về sử dụng đất:

Theo Nghị định 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 và Nghị định số 35/2002/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2002 về việc sửa đổi, bổ sung danh mục A, B và

C ban hành tại phụ lục kèm theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm

1999 của chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) thì Nhà đầu tư được Nhà nước giao đất trả tiền sử dụng đất để hoạt động sản

xuất, kinh doanh được hưởng ưu đãi về tiền sử dụng đất như sau :

Được giảm 50% tiền sử dụng đất nếu dự án đầu tư thuộc ngành, nghề, lĩnh vực quy

định được hưởng ưu đãi

Được giảm 75% tiền sử dụng đất nếu dự án đầu tư được thực hiện tại địa bàn có

điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

Được miễn nộp tiền sử dụng đất trong các trường hợp :

Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề, lĩnh vực khuyến khích đầu tư và được thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Dự án đầu tư được thực hiện tại địa bàn

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Thời gian miễn nộp tiền thuê đất, kể từ khi ký hợp đồng thuê đất đối với doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi như sau :

Trang 26

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 26 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Được miễn ba năm đối với dự án đáp ứng một điều kiện về lĩnh vực, nghành nghề kinh doanh hoặc số lao động sử dụng trong dự án đó thuộc diện được hưởng ưu đãi Được miễn sáu năm đối với dự án đáp ứng đủ hai điều kiện quy định trên

Nhà đầu tư có dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được miễn nộp tiền thuê đất, kể từ khi ký hợp đồng thuê đất như sau :

Được miễn bảy năm đối với dự án tại các huyện thuộc tỉnh miền núi, đồng bằng Được miễn mười năm đối với dự án tại các huyện thuộc tỉnh vùng cao

Nhà đầu tư có dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn đồng thời đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định 51/1999/NĐ-CP được miễn nộp tiền thuê đất, kể từ khi ký hợp đồng thuê đất như sau :

Được miễn mười một năm đối với dự án đầu tư nghành nghề khuyến khích đầu tư Được miễn mười ba năm đối với dự án đáp ứng đủ hai điều kiện quy định tại khoản 1, khoản 2 Nghị định 51/1999/NĐ-CP

Nhà đầu tư có dự án đầu tư ở địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư được miễn nộp tiền thuê đất, kể từ khi ký hợp đồng thuê đất như sau :

Được miễn mười một năm đối với dự án tại địa bàn các huyện thuộc tỉnh miền núi, vùng dân tộc đồng bằng đặc biệt khó khăn Được miễn mười lăm năm đối với dự án tại địa bàn có các huyện thuộc tỉnh vùng núi cao

Được miễn nộp tiền thuê đất trong suốt thời gian thực hiện dự án đối với dự án đầu

tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Nhà đầu tư được Nhà nước giao đất có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư được miễn, giảm thuế sử dụng đất, kể từ khi được giao đất như sau :

Được giảm 50% thuế sử dụng đất trong bảy năm đối với dự án đầu tư sử dụng nhiều lao động theo quy định Được miễn nộp thuế sử dụng đất trong suốt thời gian thực hiện

dự án đối với dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư

Nhà đầu tư có dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện khó khăn được miễn nộp thuế

sử dụng đất, kể từ khi được giao đất như sau :

Được miễn bảy năm đối với dự án tại địa bàn các huyện miền núi, đồng bằng Được miễn mười năm đối với dự án tại địa bàn các huyện thuộc tỉnh miền núi cao

Nhà đầu tư có dự án đầu tư tại địa bàn có điều kinh tế khó khăn đồng thời có lĩnh vực đầu tư thuộc diện ưu đãi hoặc sử dụng nhiều lao động sẽ được miễn nộp thuế sử dụng đất, kể từ khi được giao đất như sau :

Được miễn mười một năm đối với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư

hoặc sử dụng nhiều lao động Được miễn mười lăm năm đối với dự án đáp ứng đồng

thời hai điều kiện trên

Trang 27

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 27 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Nhà đầu tư có dự án đầu tư ở địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn được miễn nộp thuế sử dụng đất, kể từ khi được giao đất như sau :

Được miễn mười một năm đối với dự án tại địa bàn thuộc các huyện thuộc tỉnh miền núi, dân tộc đồng bằng Được miễn mười lăm năm đối với dự án tại định bàn các huyện vùng cao, hải đảo Nhà đầu tư sẽ được miễn nộp thuế sử dụng đất trong suốt thời gian thực hiện dự án đối với dự án đầu tư có lĩnh vực khuyến khích đầu tư, sử dụng nhiều lao động thực hiện

tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

 Ưu đãi về thuế:

Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất ưu đãi:

Theo nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 thì thuế suất ưu đãi được áp dụng đối với nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc Danh mục nghành nghề khuyến khích đầu tư hoặc dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn quy định tại Danh mục khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn được hưởng ưu đãi về thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp như sau :

Doanh nghiệp sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi 25% đối với dự án đầu tư thuộc danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư hoặc danh mục địa bàn khó khăn do Chính phủ ban hành;

Doanh nghiệp sẽ được hưởng ưu đãi thuế suất là 20% đối với dự án đầu tư thuộc danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư thực hiện ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn;

Thuế suất 20% đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuế suất là 15% đối với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư được thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn

Về thời hạn miễn và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà đầu tư có dự án thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 15, Điều 16 Nghị định 51/1999/NĐ-CP thì được miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, kể từ khi

có thu nhập chịu thuế như sau :

Được miễn hai năm và giảm 50% số thuế phí nộp cho hai năm tiếp theo đối với dự

án đáp ứng một điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định này; Được miễn hai năm và giảm 50% số thuế phí nộp cho bốn năm tiếp theo đối với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, nghành nghề ưu đãi và sử dụng nhiều lao động

Doanh nghiệp được miễn ba năm và giảm 50% số thuế phải nộp cho năm năm tiếp theo đối với dự án đầu tư thuộc danh mục lĩnh vực, nghành nghề hưởng ưu đãi thuế được thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn

Trang 28

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 28 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Được miễn ba năm và giảm 50% số thuế phi nộp cho bảy năm tiếp theo đối với dự

án đầu tư đáp ứng cả hai điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định 51/1999/NĐ-CP và được thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn

Được miễn bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp cho bảy năm tiếp theo đối với

dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư và được thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn Được miễn bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp cho chín năm tiếp theo đối với dự án đầu tư đáp ứng cả hai điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định 51/1999/NĐ-CP và được thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn

Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án BOT, BTO

Nhà đầu tư có dự án theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) hoặc hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bốn năm đầu, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho chín năm tiếp theo

Nhà đầu tư được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu Theo đó, Nhà đầu tư có dự án đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu quy định tại Danh mục A ban hành kèm theo Nghị định 51/1999/NĐ-CP được hưởng ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm do đầu tư này mang lại quy định như sau :

Được miễn một năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong bốn năm tiếp theo; Được miễn ba năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong năm năm tiếp theo đối với dự án đầu

tư thực hiện tại địa bàn khó khăn; được miễn bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong bảy năm tiếp theo đối với dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn đặc biệt khó khăn theo quy định

Ngoài ra, doanh nghiệp khi thực hiện các dự án đầu tư mà đủ điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư sẽ được hưởng những chính sách ưu đãi về: miễn thuế thu nhập bổ sung, miễn thuế thu nhập cá nhân đối với nhà đầu tư là cá nhân, miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc tạo thành tài sản cố định, ưu đãi bổ sung về thuế đối với nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu và những ưu đãi khác được quy định trong các văn bản khác

Những ưu đãi thuế vừa trình bày trên áp dụng theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 quy định chi tiết thi hành luật khuyến khích đầu tư trong nước Về sau, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2003 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã áp dụng mức thuế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp khác Tuy nhiên, hai Nghị định trên đến thời diểm hiện nay đều hết hiệu lực thi hành

Trang 29

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 29 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Nhìn chung, giai đoạn trước khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005 các biện pháp ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư tập trung vào ưu đãi thuế và ưu đãi sử dụng đất Một số biện pháp ưu đãi khác nhằm hỗ trợ, làm tăng thêm sức hấp dẫn môi trường đầu tư ở Việt Nam và được quy định rãi rác trong các văn bản pháp luật có liên quan khác Những quy định ưu đãi về thuế, ưu đãi sử dụng đất đã tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư vào nước ta thời

kỳ này Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới khi mà nền kinh tế đang toàn cầu hóa thì vấn đề đặt ra là làm sau phải hội nhập nhanh chóng nhằm thu hút đầu tư để xây dựng

và phát triển kinh tế-xã hội quốc gia Mà chính sách về đầu tư hiện tại không còn phù hợp, có nhiều hạn chế và kém hấp dẫn Còn có sự phân biệt giữa đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài Trong khi đó các nước trong khu vực như: Trung quốc, Thái lan, Singapore…đang “chạy đua” trong vấn đề thu hút vốn đầu tư và thành công vượt bật

Cần phải cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư là vấn đề được đặt ra

Nhận ra vấn đề cần phải đổi mới hệ thống pháp luật đầu tư và những chính sách ưu đãi đầu tư phải hấp dẫn hơn, môi trường đầu tư tốt, thông thoáng hơn mới có thể cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 Quy định quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Và Chính phủ ban hành Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Mặt khác,

đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời

kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trong và ngoài nước Qua đó có

Trang 30

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 30 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

những biện pháp ưu đãi đầu tư nhằm khuyến khích đầu tư được đánh giá là thuận lợi hơn, thông thoáng hơn hơn tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn và khả năng sinh lợi cao cho các nhà đầu tư khi thực hiện các hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Trang 31

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 31 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ TRONG LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005

2.1 Đối tượng và điều kiện ưu đãi đầu tư

Thực hiện đường lối đổi mới phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng và Nhà nước đề ra trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 theo nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với quan điểm huy động tối đa các nguồn lực để phát triển kinh tế, pháp luật về đầu tư của Việt Nam đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày càng đảm bảo hành lang pháp lý an tòan, thông thoáng cho các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh Chính sách ưu đãi đầu tư ngày càng thu hút vốn đầu

tư có hiệu quả do có nhiều ưu đãi thuận lợi, thông thoáng, các biện pháp hỗ trợ đầu tư ngày càng phát huy có hiệu quả và mang tính đồng bộ cao Qua đó giúp Nhà nước chủ động trong vấn đề quản lý vốn đầu tư, khuyến khích phát triển những nghành nghề, lĩnh vực và sự phân bổ nguồn vốn đầu tư giữa các vùng, miền có điều kiện khó khăn được tốt hơn thông qua việc quy định về đối tượng và điều kiện được hưởng ưu đãi đầu tư

2.1.1 Lĩnh vực ưu đãi đầu tư

Theo Điều 27 Luật Đầu tư năm 2005 thì các ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư được xem xét để áp dụng khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào những lĩnh vực sau:

- Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo

- Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, làm muối, sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới

- Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao

- Sử dụng nhiều lao động

- Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, các dự án quan trọng, có quy mô lớn

- Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao và văn hóa dân tộc

- Phát triển ngành, nghề truyền thống

- Những lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích

Chủ trương ưu đãi những lĩnh vực, nghành nghề cần khuyến khích đầu tư nhằm phù hợp với nguồn lực và sự phát triển kinh tế của nước nhà Tạo tiền đề cơ sở cho những bước phát triển tiếp theo Việc nghiên cứu, ban hành Danh mục những nghành nghề khuyến khích đầu tư tạo sự chủ động trong việc quản lý nền kinh tế mà Nhà nước muốn nhắm đến để thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế của nước ta muốn hướng đến Ngoài những quy định về lĩnh vực được hưởng ưu đãi nêu trên thì tùy theo thời kỳ phát

Trang 32

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 32 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

triển kinh tế mà Nhà nước có quy định riêng về lĩnh vực được hưởng ưu đãi cho phù hợp

2.1.2 Địa bàn ưu đãi đầu tư

Luật Đầu tư năm 2005 quy định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế,13 thì được hưởng những ưu đãi theo quy định hiện hành Chính phủ là cơ quan ban hành danh mục các địa bàn trong nước được hưởng ưu đãi theo quy định trên Dựa trên điều kiện phát triển kinh tế của vùng miền đó, tùy theo nguồn lực riêng, định hướng phát triển kinh tế…sau cho phù hợp với các địa bàn phát triển khác Hạn chế sự phân hóa đầu tư giữa các vùng miền với nhau, nhằm phát huy toàn bộ tiềm lực kinh tế của cả nước

2.2 Quy định về ưu đãi đầu tư trong luật đầu tư năm 2005

2.2.1 Ưu đãi về thuế

Pháp luật về thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Thuế là nguồn thu chính cho ngân sách nhà nước, pháp luật về thuế có vai trò điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Điều 26 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt nam, pháp luật về thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật về thuế, Nhà nước thể chế hóa và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội

Trong lĩnh vực đầu tư, pháp luật về thuế là trong những yếu tố tác động trực tiếp đến

tư duy đầu tư và hành vi đầu tư Vì thuế sẽ tạo ra môi trường đầu tư tốt, khả năng sinh lợi cao hay không tùy thuộc vào chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp

Để khuyến khích thu hút vốn đầu tư vào nước ta, Nhà nước có những ưu đãi về thuế đối với những nghành nghề, lĩnh vực cần khuyến khích sản xuất kinh doanh hay địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn khi thực hiện dự án đầu tư Chủ yếu là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu và một số ưu đãi thuế khác có liên quan

2.2.1.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những chính sách lớn để thu hút vốn đầu tư ở nước ta Cũng như các nước phát triển khác, chúng ta hy vọng qua chính sách ưu đãi thuế, chúng ta có thể thu hút được nhiều vốn đầu tư trong nước và ngoài nước Qua đó có thể phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác được tài nguyên về con

13

Điều 28 Luật Đầu tư năm 2005

Trang 33

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 33 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

người về sản vật Đồng thời có thể rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền, có thể quy hoạch nền kinh tế theo kết cấu mà Đảng và Nhà nước đã xây dựng trong các chiến lược phát triển đất nước

Các quy định về ưu đãi thuế trong Luật Thu nhập doanh nghiệp 2008 được tổng hợp

từ tất cả các văn bản pháp luật ban hành từ lúc nền kinh tế nước ta mở cửa, môi trường đầu tư kém hấp dẫn, cơ sở hạ tầng còn khó khăn…trên nguyên tắc chọn mức ưu đãi cao nhất, thuận lợi nhất để áp dụng chung

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, theo các quy định về thuế trước đây, giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước có sự phân biệt về thuế suất Trừ trường hợp được khuyến khích đầu tư, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước luôn phải chịu mức thuế này với thuế suất là 32% Tuy nhiên để đẩy mạnh khuyến khích doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Nghị định

số 164/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã khẳng định việc áp dụng chung một mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%, không phân biệt vốn đầu tư Mặc dù chính sách ưu đãi thuế có phần hấp dẫn hơn các nước trong khu vực nhưng môi trường đầu tư tốt cần phải tính đến nhiều lĩnh vực khác như cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ…Vì thế việc Chính phủ giảm thuế suất phổ thông thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 25% trong Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 là điều hợp lý nhằm tăng cường sự hấp dẫn môi trường đầu tư

Một số địa bàn, lĩnh vực đầu tư được coi là địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu tư (Điều 27, 28 Luật đầu tư năm 2005), nếu các chủ đầu tư tiến hành đầu tư vào đó thì sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (điều 17) Cụ thể, việc miễn thuế, giảm thuế cho dự án đầu tư thành lập cơ sở kinh doanh, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm được thực hiện như sau:

Điều kiện được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp:

Theo quy định để được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định và đăng ký, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo kê khai Doanh nghiệp có dự án đầu tư đáp ứng một trong các điều kiện sau đây được hưởng ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:

- Đầu tư vào nghành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư do Chính phủ ban hành theo quy định của Luật Đầu tư

- Đầu tư vào nghành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư

do Chính phủ ban hành theo quy định của Luật Đầu tư

Trang 34

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 34 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

- Đầu tư vào địa bàn thuộc danh mục có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn do

Chính phủ ban hành theo quy định của Luật Đầu tư

- Đầu tư vào địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt

khó khăn do Chính phủ ban hành theo quy định của Luật Đầu tư14

Thuế suất và thời hạn áp dụng thuế suất ưu đãi:

Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 quy định về thuế suất và

thời gian áp dụng Theo đó, thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối

với:

- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã

hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao được thành lập theo Quyết định

của Thủ tướng Chính phủ

- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực: Công nghệ cao

theo quy định của pháp luật; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; đầu tư phát

triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; cầu, đường bộ, đường sắt;

cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; sân bay, nhà ga và công trình cơ sở hạ tầng đặc

biệt quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định; Sản xuất sản phẩm phần

mềm

- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực: Công nghệ cao theo

quy định của pháp luật; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; đầu tư phát triển

nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; cầu, đường bộ, đường sắt; cảng

hàng không, cảng biển, cảng sông; sân bay, nhà ga và công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt

quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định; Sản xuất sản phẩm phần mềm có

quy mô lớn, công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư, thì thời gian áp dụng

thuế suất ưu đãi có thể kéo dài nhưng tổng thời gian áp dụng thuế suất 10% không quá

30 năm Thủ tướng Chính phủ quyết định việc kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất

ưu đãi 10% quy định tại khoản này theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế suất 10% trong suốt thời gian hoạt động áp dụng đối với phần thu nhập của

doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể

thao và môi trường (sau đây gọi chung là lĩnh vực xã hội hóa) Danh mục các hoạt động

trong lĩnh vực xã hội hóa quy định theo quy định này sẽ do Thủ tướng Chính phủ quy

định

Thuế suất ưu đãi 20% áp dụng trong thời gian 10 năm đối với doanh nghiệp thành lập

mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được quy định

trong danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

14

Điều 25 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Trang 35

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 35 SVTH: Huỳnh Minh Nhựt

Thuế suất ưu đãi 20% áp dụng trong suốt thời gian hoạt động đối với hợp tác xã dịch

vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân

Đối với hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân thành lập tại địa bàn

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của Chính phủ, khu kinh tế, khu công nghệ cao được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ sau khi hết thời hạn áp dụng mức thuế suất 10% thì chuyển sang áp dụng mức thuế suất 20%

Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp

có doanh thu từ hoạt động được hưởng ưu đãi thuế15

Miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp:

Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với:

- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã

hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

- Doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn

Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn

Miễn thuế 2 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn16

Thời gian miễn thuế, giảm thuế quy định được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư; trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư

Trong năm tính thuế đầu tiên mà doanh nghiệp có thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh được miễn thuế, giảm thuế dưới 12 tháng, doanh nghiệp được hưởng miễn thuế, giảm thuế ngay năm đó hoặc đăng ký với cơ quan thuế thời gian bắt đầu được miễn thuế, giảm thuế từ năm tính thuế tiếp theo

2.2.1.2 Thuế xuất nhập khẩu:

Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế đánh lên hàng hóa ra vào lãnh thổ hải quan của một quốc gia, một vùng lãnh thổ nhằm bảo hộ sản xuất trong nước hướng dẫn tiêu dùng

và điều tiết một phần thu nhập của người dân vào ngân sách nhà nước

hành một số điều của Thuế Thu nhập doanh nghiệp

16

Điều 16 Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Thuế Thu nhập doanh nghiệp

Ngày đăng: 23/10/2020, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w