1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp Luật Về Người Lao Động Chưa Thành Niên Thực Trạng Và Giải Pháp

90 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Bộ luật Lao động thì quản lí nhà nước về lao động bao gồm bảy nội dung lớn có thể liệt kê thành ba nhóm nội dung sao đây: Nhóm một: bao gồm các nội dung pháp lí chung phục vụ cho nh

Trang 1

Lớp: Luật tư pháp 2 khóa 33

Giảng viên hướng dẫn:

NGUYỄN ÁNH MINH

Bộ môn: Luật Hành Chính

Cần Thơ, tháng 4/2011

Trang 2

Lớp: Luật tư pháp 2 khóa 33

Giảng viên hướng dẫn:

NGUYỄN ÁNH MINH

Bộ môn: Luật Hành Chính

Cần Thơ, tháng 4/2011

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC:

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN CHUNG VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 3

1.1 Khái niệm về người lao động chưa thành niên 3

1.1.1 Khái niệm lao động và quan hệ lao động 3

1.1.2 Khái niệm người lao động chưa thành niên 4

1.2 Nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng người lao động chưa thành niên 6

1.3 Vai trò của người lao động chưa thành niên trong sự phát triển kinh tế đất nước 9

1.4 Vai trò của nhà nước trong việc quản lý và xử lý trong việc sử dụng người lao động chưa thành niên 11

1.4.1 Vai trò của nhà nước trong quản lý lao động 11

1.4.2 Vai trò của nhà nước trong xử lý vi phạm pháp luật việc sử dụng người lao động chưa thành niên 13

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 17

2.1 Điều chỉnh của pháp luật đối với người lao động chưa thành niên 17

2.1.1 Sự cần thiết phải có điều chỉnh của pháp luật đối với người lao động chưa thành niên 17

2.1.2 Đặc điểm của pháp luật đối với việc điều chỉnh người lao động chưa thành niên 20

2.2 Quy định của pháp luật về người lao động chưa thành niên 23

2.2.1 Điều kiện của doanh nghiệp và những công việc không được sử dụng người lao động chưa thành niên 24

2.2.1.1 Điều kiện của doanh nghiệp khi nhận người lao động chưa thành niên và trẻ em dưới 15 tuổi vào làm việc 24

Trang 6

2.2.1.2 Những công việc cấm sử dụng người lao động chưa thành niên và những

công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc 26

2.2.2 Những chế độ mà người lao động chưa thành niên được hưởng khi tham gia vào quan hệ lao động 27

2.2.2.1 Chế độ về tiền lương 27

2.2.2.2 Chế độ về thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi 30

2.2.2.3 Chế độ về bảo hộ lao động 35

2.2.2.4 Chế độ về bảo hiểm xã hội 40

2.2.3 Những vấn đề khác trong quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên 43

2.2.3.1 Về hợp đồng lao động 43

2.2.3.2 Về vấn đề học nghề 48

2.2.3.3 Vấn đề cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc sử dụng người lao động chưa thành viên 51

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 53

3.1 Thực trạng làm việc của người lao động chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay 53

3.1.1 Thực trạng sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi 54

3.1.2 Thực trạng sử dụng lao động trẻ em dưới 15 tuổi 58

3.2 Giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật về người lao động chưa thành niên 69

3.3 Những kiến nghị để góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về người lao động chưa thành niên 71

KẾT LUẬN 77

Danh mục tài liệu tham khảo 78

Phụ lục 1 80

Phụ lục 2……… 84

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình sống, con người luôn có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng tựu chung lại thì lao động vẫn là hoạt động cơ bản nhất của con người Khi tham gia lao động, con người làm phát sinh quan hệ lao động giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Tuy nhiên, không phải bất kì ai cũng tham gia vào quan hệ lao động mà cần phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định Do nhu cầu xã hội, dựa vào tình hình thực tế của đất nước, đặc điểm của người chưa thành niên mà pháp luật thừa nhận các trường hợp tham gia vào quan hệ lao động của nhóm người này

Pháp luật quy định rõ trong Bộ luật Lao động là “người lao động chưa thành niên”

Người lao động chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực, dễ bị ảnh hưởng tác động của môi trường lao động xung quanh nên pháp luật có những quy định nhằm bảo vệ chủ thể đặt biệt này Nhà nước đã tạo điều kiện pháp lý cho người lao động chưa thành niên lao động nhằm giúp ích cho họ, vừa có thể đảm bảo cho bản thân họ phát triển bình thường mà không bị ảnh hưởng của quá trình tham gia vào quan hệ lao động

Ở nước ta, người lao động chưa thành niên được Nhà nước tạo điều kiện cho

họ lao động vừa đảm bảo cho họ được học tập, phát triển đầy đủ về mặt thể lực, trí lực Hiện nay, vấn đề người lao động chưa thành niên còn khá phức tạp Nhà nước đã

có những chính sách, pháp luật tạo điều kiện cho người lao động chưa thành niên tham gia quan hệ lao động trong môi trường lao động an toàn Mặc dù vậy, vẫn còn số lượng lớn người lao động chưa thành niên chưa được pháp luật bảo vệ đúng mức,do xuất pháp từ nhiều nguyên nhân Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, số lượng doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều với nhiều loại hình hoạt động khác nhau Ngoài tuyển người lao động thành niên, nhiều doanh nghiệp còn tuyển người lao động chưa thành niên vào làm việc Doanh nghiệp khi tuyển người lao động chưa thành niên vào làm việc thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho họ học tập, đào tạo nghề nhằm giúp cho sự cạnh tranh của doanh nghiệp sau này Bên cạnh đó, những doanh nghiệp khi nhận người lao động chưa thành niên vào làm việc chỉ bóc lột sức lao động của họ, trả tiền công thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định, thời gian làm việc kéo dài, điều kiện lao động không được đảm bảo

Lao động chưa thành niên là một trong những vấn đề đã và đang tạo ra những

Trang 8

tác động tiêu cực, tiềm ẩn, lâu dài không chỉ đối với cuộc sống và sự phát triển của họ nói riêng mà còn đối với cả gia đình, xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước

nói chung Chính vì vậy, người viết đã chọn đề tài “Pháp luật về người lao động lao động chưa thành niên – thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt

nghiệp của mình

Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài này, người viết muốn người đọc và nhất là người lao động chưa thành niên hiểu rõ các quy định của pháp luật lao động dành cho chủ thể đặc biệt này Đồng thời, người viết đưa ra giải pháp và kiến nghị góp phần tăng cường và phát huy hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế giúp cho công tác bảo vệ người lao động chưa thành niên được tốt hơn

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết đã dùng các phương pháp phân tích luật viết, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Bên cạnh dó, người viết tham khảo các bộ luật, luật, văn bản dưới luật và các tài liệu tham khảo khác

Kết cấu luận văn

Luận văn gồm lời nói đầu, ba chương, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Chương I: Những vấn đề chung về người lao động chưa thành niên

Chương II: Quy định của pháp luật đối với người lao động chưa thành niên

Chương III: Thực trạng và giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về người lao động chưa thành niên

Trang 9

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN

1.1 Khái niệm người lao động chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm lao động và quan hệ lao động

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống của con người Lao động là hoạt động cơ bản của con người, là tiêu thức để phân biệt hoạt động của con người với hoạt động theo bản năng của con vật Lao động giữ vai trò quan trọng trong lịch sử loài người,

Ph Ăngghen đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động

đã tạo ra chính bản thân con người”

Lao động không những tạo ra của cải vật chất mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt trí lực và thể lực Con người nhận thức và hành động theo đúng quy luật khách quan để trở thành con người tự do trong quá trình lao động Trình độ sản xuất vật chất càng tiến bộ thì vai trò nhân tố con người trong hoạt động lao động càng tăng Cuộc cách mạng và khoa học hiện đại, một mặt tạo điều kiện tạo điều kiện để cho con người phát triển lên tầm cao mới của lao động sáng tạo, mặt khác, nó cũng đòi hỏi sự phát triển của con người cả về trí lực và thể lực theo hướng ngày càng tăng vai trò của lao động trí tuệ, trở thành đặc trưng chủ yếu nói lên năng lực của con người trong quan hệ với tự nhiên Lao động tạo ra giá trị vật chất và tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Lao động của con người bao giờ cũng nằm trong một hình thái xã hội nhất định, bởi vì trong quá trình lao động con người không chỉ quan

hệ với thiên nhiên mà còn có quan hệ với nhau Quan hệ giữa con người với con người trong lao động nhằm tạo ra những giá trị vật chất tinh thần phục vụ chính bản thân và xã hội gọi là quan hệ lao động

Quan hệ lao động này là biểu hiện một mặt của quan hệ sản xuất và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu Chính vì thế, trong các chế độ xã hội khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm tính chất của quan hệ sở hữu thống trị mà có những phương thức tổ chức lao động phù hợp Và ở đâu có tổ chức lao động, có hợp tác và phân công lao động, ở đó có tồn tại quan hệ lao động

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần

Trang 10

kinh tế, để đảm bảo sự bình đẳng và tự do cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể Pháp luật quy định và ghi nhận quyền tự do kinh doanh, tự chủ sản xuất trong đó có tự chủ trong lĩnh vực sử dụng lao động theo nhu cầu và tự nguyện của mỗi người Từ đó đã hình thành các quan hệ lao động mới, các quan hệ lao động này ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, đan xen lẫn nhau Nhiệm vụ của nhà nước bằng pháp luật - công cụ quản lý xã hội của mình điều tiết các mối quan hệ xã hội đảm bảo lợi ích của các bên

và lợi ích chung của xã hội

Như vậy, có thể hiểu đối với các quan hệ lao động hình thành trên cơ sở hợp đồng lao động, Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật tạo hành lang pháp

lý để các chủ thể tự do thương lượng với nhau trên nguyên tắc cùng có lợi và không trái với pháp luật

1.1.2 Khái niệm người lao động chưa thành niên

Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Chính sự đổi mới

đã tạo dựng ra một môi trường xã hội thuận lợi để cho người chưa thành niên lớn lên, trưởng thành và phát triển Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể lực và trí lực Độ tuổi cần phải học tập, cần có sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, nhà trường và xã hội Tuy nhiên, hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác người chưa thành niên phải bỏ học bắt đầu đi lao động sớm để phụ giúp gia đình Người chưa thành niên trở thành bộ phận của lao động xã hội

Những nhà lập pháp và quản lý xã hội thường dùng chữ ”Người chưa thành niên” để nhấn mạnh tới những giới hạn về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với

đối tượng đặc thù này, phân biệt với những đối tượng khác Với tính chất như vậy, người chưa thành niên có thể bao gồm tất cả các nhóm nhân khẩu xã hội có độ tuổi dưới mười tám tuổi Nhóm tuổi về cơ bản chưa phải chịu trách nhiệm về mặt pháp luật đối với hành vi của mình

Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên 1 ” Như vậy, điều

khẳng định chắc chắn rằng người chưa thành niên là người dưới mười tám tuổi Bộ luật Dân sự 2005 còn quy định người dưới mười tám tuổi chia thành nhiều cấp độ tuổi

khác nhau:“Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định

1 Điều 18 Bộ luật Dân sự 2005

Trang 11

khác Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác 2 ”

Như vậy, người từ đủ mười lăm tuổi dưới chưa đủ mười tám tuổi nếu họ có tài sản riêng thì có quyền xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Do đó, với một người

đủ tư cách như vậy, họ có quyền tham gia vào quan hệ lao động với đầy đủ các quyền

và nghĩa vụ Bộ luật Lao động quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới mười tám tuổi Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người lao động chưa thành niên 3 ”

Do đó, có thể đưa ra định nghĩa về người lao động chưa thành niên như sau:

người lao động chưa thành là lao động tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho xã hội

do người có độ tuổi từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi thực hiện

Khi nhận người lao động chưa thành niên vào làm việc, người sử dụng lao động phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật để đảm bảo sức khỏe và cho người chưa thành niên có điều kiện học tập Không phải độ tuổi nào, người sử dụng lao động cũng được nhận người chưa thành niên vào làm việc Bộ luật lao động quy

định: “Cấm nhận trẻ em chưa đủ mười lăm tuổi vào làm việc,trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định Đối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ mười lăm tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề thì việc nhận và sử dụng những trẻ em này phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu 4 ” Mặc khác, Bộ luật lao động còn quy định: “Người lao động là người ít nhất đủ mười lăm tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động 5

” Như vậy có thể khẳng định, người lao động chưa thành niên được quy định

trong Bộ luật lao động là người đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có khả năng lao động và giao kết hợp đồng lao động

2 Điều 20 Bộ luật Dân sự 2005

3 Điều 119 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

4 Điều 120 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

5 Điều 6 Bộ luật Lao động 1994 ( sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

Trang 12

1.2 Nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng người lao động chưa thành niên

Dân số Việt Nam là dân số trẻ, người lao động chưa thành niên chiếm một tỉ lệ đáng kể Đây là độ tuổi học tập cần có sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, nhà trường và xã hội Không phải lúc nào người chưa thành niên cũng được học tập, được phát triển đầy đủ về mặt về mặt thể lực và trí lực Những người không có đủ điều kiện

để học tập, họ phải đi lao động để tiếp tục học tập hay họ bỏ học hẳn để đi lao động

Hiện nay, người lao động chưa thành niên ở nước ta còn tương đối nhiều Có nhiều nguyên nhân dẫn đến người chưa thành thành niên phải đi lao động:

Thứ nhất, xuất phát từ hoàn cảnh gia đình Gia đình là yếu tố quan trọng dẫn

đến người chưa thành niên phải đi lao động Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi nương tựa để người chưa thành niên phát triển đầy đủ về nhân cách, thể chất và tinh thần Hiện nay, đất nước ta đang trong thời ki hội nhập, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng trong cả nước Những gia đình ngày càng giàu lên đầy đủ vật chất để nuôi dạy con cái Bên cạnh đó, nhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn, con cái họ không được học hành đầy đủ, phải đi lao động sớm để phụ giúp gia đình Ở nông thôn hiện nay, nhiều gia đình mong muốn con mình đến các thành phố lớn để kiếm sống Đây là tình hình thực tế ở nhiều địa phương hiện nay Ở nông thôn, họ làm những công việc vất

vả mà không đủ sống, họ ý thức rằng có lên những thành phố lớn lao động mới mong

có cuộc sống tốt hơn Cũng từ đó mà con họ phải đi lao động ở những thành phố lớn Mặc khác, những gia đình mà cha mẹ người chưa thành niên li hôn Cha mẹ là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người chưa thành niên, là nơi người chưa thành niên nương tựa Khi cha mẹ họ ly hôn, người chưa thành niên trở nên hụt hẫng trong cuộc sống, trong nhiều trường hợp họ phải từ bỏ gia đình để đi lao động

Thứ hai, nguyên nhân xuất phát từ nhà trường Nhà trường là nơi người chưa

thành niên học tập, là nơi giáo dục nhân cách của các em Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng đổi mới Vì thế, tốc độ học tập của các em ngày càng tăng, cường độ học tập ngày càng cao Những em không đủ năng lực, không theo kịp tốc độ học tập Các em mặc cảm, tự tuy và nhiều em phải nghỉ học và dẫn đến trình trạng các em phải đi lao động sớm Hiện nay, trong nhà trường phổ thông môn giáo dục công dân không được chú trọng và giảng dạy tận tâm Môn này được xem là môn phụ, giáo viên giảng dạy một cách qua loa, sơ sài Do đó, các em không nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc học tập, xem nhẹ việc học tập dẫn đến các em bỏ học nữa chừng và phải đi lao động sớm

Trang 13

Thứ ba, nguyên nhân xuất phát từ việc quản lí của nhà nước

Nhà nước ngày càng có những chính sách chăm lo, giáo dục người chưa thành niên, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và người chưa thành niên ngày càng được nâng cao Công tác bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên đòi hỏi các cán bộ phải có kĩ năng, kiến thức và được đào tạo, làm việc theo các quy trình bài bản, chuyên môn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong thời đại thông tin, toàn cầu hóa và kinh tế thị trường Tại cơ sở, những người trực tiếp và đang tham gia vào các hoạt động bảo

vệ, chăm sóc người chưa thành niên Tuy họ có chức năng rõ ràng nhưng đều thuộc nhóm cán bộ không chuyên trách, phụ cấp rất thấp Chế độ đối với cán bộ làm công tác cấp xã không thu hút, khuyến khích và đảm bảo công việc lâu dài, trong khi đó công việc lại quá tải Công tác bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên cho thấy nhiệm vụ này lâu nay vẫn được coi là một hoạt động xã hội, mang tính chất phong trào chưa được coi là hoạt động chuyên môn Công tác với người chưa thành niên ở

cơ sở hiện thường gồm những việc sau: thăm hỏi và tặng quà cho người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt nhân các ngày lễ tết; trợ cấp người chưa thành niên nghèo

và vận động quyên góp, huy động cộng đồng để hỗ trợ nguồn lực quan tâm, chăm sóc người chưa thành niên mồ côi, khuyết tật; người chưa thành niên lang thang, bị lạm dụng; người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Mặc khác, hệ thống tổ chức, bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên chậm được cũng cố, kiện toàn

Về hệ thống tổ chức và cán bộ: trong những năm qua, hệ thống quản lý nhà về

bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên liên tục được điều chỉnh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Trong giai đoạn quá độ, đội ngũ cán bộ bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên từ Trung ương tới cơ sở, đặc biệt mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bảo vệ chăm sóc người chưa thành niên ở địa bàn thôn, bản, khu, ấp chậm được kiện toàn, chưa đủ số lượng và chất lượng để bảo vệ người chưa thành niên có hiệu quả Trước năm 2007, cả nước có khoảng 160.000 cộng tác viên cấp thôn bản, hiện nay, chỉ còn trên 7000 người Ở cấp xã trước đây nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ người chưa thành niên do cán bộ dân số gia đình và trẻ em đảm nhận, hiện nay, do cán bộ Lao động – Thương binh và xã hội kiêm nhiệm, song công việc vừa mới mẻ vừa quá tải Cấp huyện trước đó có ủy ban Dân số gia đình và trẻ em với số lượng từ 7 – 9 cán bộ, trong đó có ít nhất hai cán bộ làm công tác bảo vệ và chăm sóc người chưa thành niên nhưng khi chuyển về ngành Lao động – Thương binh

và Xã hội thì chưa có đến một cán bộ chuyên trách và thường phải kiêm nhiệm Cấp

Trang 14

tỉnh trước 2007 có từ 5 – 7 cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên thì nay chỉ còn 3 – 4 người Hiện nay, công tác bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên vẫn đang thiếu đội ngũ cán bộ xã hội có tính chuyên nghiệp có đủ năng lực thực hiện các hoạt động can thiệp, trợ giúp người chưa thành niên có nguy cơ bị tổn thương6

Về cơ chế phối hợp hoạt động: Việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan tổ

chức chưa hiệu quả do có sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ và do năng lực chuyên môn hạn chế Việc phân loại quản lý và theo dõi các nhóm đối tượng chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt, người chưa thành niên có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt không chặt chẽ Việc phát hiện sớm can thiệp và trợ giúp các trường hợp người chưa thành niên bị bạo lực, bị xâm hại tình dục và vi phạm pháp luật chưa kịp thời, nhiều trường hợp để lại hậu quả nghiêm trọng đối với người chưa thành niên

và gia đình, để lại sự thù hận trong lòng người chưa thành niên

Ngân sách phân bổ cho hoat động sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc người chưa

thành niên quá thấp: các kết quả nghiên cứu và báo cáo của các địa phương trong một

số năm gần đây cho thấy ngân sách dành cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ người chưa thành niên chưa xứng đáng với tăng trưởng kinh tế và đầu tư cho các lĩnh vực khác ở Trung ương và địa phương Theo báo cáo của các địa phương năm 2008, ngân sách nhà nước dành cho hoạt động bảo vệ người chưa thành niên chỉ đạt mức bình quân là 3.700 đồng một người một năm, nếu tính cả huy động từ cộng đồng và các tổ chức quốc tế thì đạt mức 8.300 đồng một người một năm7

Thứ tư, nguyên nhân sâu sa hơn cả, đó là, do một bộ phận không nhỏ các chủ

doanh nghiệp tư nhân vì muốn tiết kiệm chi phí sản xuất đã sử dụng nhiều lao động chưa thành niên với tiền công rẻ mạt Để tiết kiệm chi phí để thu được nhiều lợi nhuận, các doanh nghiệp này thường sử dụng người lao động chưa thành niên làm việc như người lao động bình thường Do đó, tiền lương trả cho họ thấp hơn so với sử dụng những lao động khác

Nhìn chung, đây là những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng người lao động chưa thành niên trong xã hội và đòi hỏi công tác chăm sóc và bảo vệ người chưa thành niên được quan tâm nhiều hơn từ gia đình, nhà trường và xã hội cũng như sự quan tâm của nhà nước

Trang 15

1.3 Vai trò của lao động chưa thành niên trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước

Trong bất kỳ một đất nước nào, để phát triển, bên cạnh có nền khoa học kỹ thuật phát triển thì người lao động giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh

tế đất nước Người lao động chưa thành niên được quy định trong Bộ luật Lao động có

độ tuổi từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi Đây không phải là đội ngũ lao động chính để phát triển nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, không thể phủ định vai trò của người lao động chưa thành niên đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước

Người lao động chưa thành niên tạo ra giá trị vật chất cho xã hội Lao động là điều kiện cơ bản nhất của con người Vì thế, lao động là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người lao động chưa thành niên Người lao động chưa thành niên, đây là lứa tuổi học tập là chính Vì những lí do khác nhau, họ phải đi lao động để kiếm sống Lao động không chỉ giúp cuộc sống của người chưa thành niên được tốt hơn mà góp phần tạo ra giá trị vật chất cho xã hội Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước

Người lao động chưa thành niên là nguồn lao động thay thế cho người lao động làm những công việc nặng nhọc, phức tạp Người lao động chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể lực và trí lực Họ thường làm những công việc giản đơn, nhẹ nhàng và phù hợp với sức khỏe Người lao động chưa thành niên làm việc thường

là người chưa qua đào tạo, chưa có kinh nghiệm về việc đang làm Những người này học nghề tại các cơ sở, trường dạy nghề Khi họ làm công việc thành thạo, có kinh nghiệm và đủ tuổi để làm những công việc phức tạp đòi hỏi tay nghề cao Do đó, những người lao động chưa thành niên này là một bộ phận không nhỏ thay thế cho người lao động lành nghề trước đó

Người lao động chưa thành là nguồn lao động thay thế cho nguồn lao động đã chấm dứt quan hệ lao động Khi quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động chấm dứt, người sử dụng lao động lại đi tìm nguồn lao động mới để thay nguồn lao động đã chấm dứt quan hệ lao động Người lao động chưa thành niên là người đang phát triển về thể lực và trí lực Họ thường làm những công việc đơn giản

để tích lũy kinh nghiệm để làm những công việc phức tạp Vì vậy, đây là nguồn lao động được người sử dụng lao động tuyển vào để thay thế cho nguồn lao động trước đó

Trong những năm gần đầy chương trình quốc gia về phát triển thanh niên Việt Nam được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Độ tuổi được gọi là thanh niên được

Trang 16

quy định trong Luật Thanh niên là công dân Việt Nam có độ tuổi từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi8 Như vậy, độ tuổi từ đủ mười sáu tuổi đến dưới chưa đủ mười tám tuổi, độ tuổi được gọi là người lao động chưa thành niên được quy định trong Bộ luật Lao động, đồng thời cũng là thanh niên

Bác Hồ chỉ rõ “một dân tộc muốn hồi sinh, trước hết phải hồi sinh thanh niên, nếu thanh niên không chịu giác ngộ, không đủ nghị lực, không còn sức sống, không được tổ chức lại, chỉ chìm trong rượu và thuốc phiện thì dân tộc có nguy cơ bị diệt vong” Một đất nước muốn phát triển thì phải phát triển về mọi mặt, trong đó, có về

mặt con người Đặt con người ở vị trí trung tâm cho sự phát triển đó Ở nước ta, thanh niên ngày càng có vì thế quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế đất nước Thanh niên là rường cột của đất nước, là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn đặt thanh niên ở vị trí trung tâm chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người; coi việc chăm lo phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước Vì thế, trước nhu cầu phát triển của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh hội nhập quốc tế, có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể, trở thành công dân tốt của đất nước Cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bảo lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại Hình thành một lớp thanh niên ưu tú trên mỗi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, phấn

đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; góp

phần lớn vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới Đảng, Nhà nước và toàn xã hội chăm lo, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi

để thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; được học tập có việc làm, nâng

8 Điều 1 Luật thanh niên 2005

Trang 17

cao thu nhập, có đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh Bản thân thanh niên phải nổ lực học tâp, rèn luyện, phấn đấu không ngừng9

Nghị quyết Trung ương VII Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định: “Vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người… Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỉ 21

có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, về việc bồi dưỡng và rèn luyện thế hệ thanh niên” Do đó vai trò của

thanh niên trong đó có người lao động chưa thành niên ngày càng có vị thế quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế đất nước, là nhân tố quan trọng đưa đất nước có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế

1.4 Vai trò của nhà nước trong quản lý và xử lý việc sử dụng lao động chưa thành niên

1.4.1 Vai trò của nhà nước trong quản lý lao động

Người lao động là một nguồn tài nguyên quý giá nhất của một quốc gia Chính

vì vậy, mỗi một quốc gia trong hệ thống các chính sách của mình điều quan tâm đến lĩnh vực sử dụng lao động Thông qua những biện pháp khác nhau trực tiếp hoặc gián tiếp can thiệp vào lĩnh vực này, vai trò của nhà nước có một tầm quan trọng đặc biệt Ảnh hưởng của nhà nước và hệ thống các chính sách và pháp luật về lao động đã thực

sự tạo ra sự bình ổn trong quan hệ lao động – xã hội và thúc đẩy quan hệ này phát triển

Quản lí lao động là hoạt động bao gồm cả việc thiết kế các cơ chế, các công cụ quản lí và vận hành cơ chế đó nhằm đạt được mục tiêu phát triển nền kinh tế xã hội Khi nói đến quản lí nhà nước về lao động cần phải xét đến cả hai mặt của nó gồm: các biện pháp quản lí chung và các biện pháp duy trì quản lí của nhà nước Ở đó các biện pháp quản lí chung tạo ra môi trường quản lí lao động, còn các biện pháp bảo đảm sẽ tạo nên hiệu quả của hoạt động quản lí

Quản lí lao động nếu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động quản lí xã hội và quản lí nhà nước về lao động Quản lí nhà nước về lao động khác với quản lí xã hội về lao động ở chỗ nó không dùng quyền lực nhà nước để điều khiển quá trình lao động xã hội và thông thường nó áp dụng các biện pháp xã hội trong quản lí Hoạt động quản lí xã hội vì vậy có tính chất thuần túy và về một mặt nào đó, ở một thời điểm nào

9 Phát biểu của Nguyên Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nông Đức Mạnh tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam lần thứ VI

Trang 18

đó người ta hay sử dụng các biện pháp truyền thống, các quy tắc xã hội phục vụ cho hoạt động quản lí

Quản lí nhà nước về lao động là hình thức quản lí đặc biệt và có hiệu quả to lớn trong thực tiễn Điều này xuất phát từ chức năng của nhà nước cũng như từ sức mạnh vốn có của bản thân nhà nước Hoạt động quản lí nhà nước được thực hiện qua các biện pháp khác nhau, song luôn chứa đựng yếu tố quyền lực Do tính chất đặc biệt của những quy tắc mà nó đưa ra, hoạt động quản lí lao động luôn có tính cưỡng chế

Đặc điểm cơ bản của hoạt động quản lí nhà nước về lao động biểu hiện ở những nét tiêu biểu về chủ thể và tính chất cũng như mục đích của việc quản lí Điều này tạo nên

sự khác biệt giữa quản lí nhà nước về lao động và hoạt động quản lí lao động ở các đơn vị sử dụng lao động, kể cả các đơn vị sử dụng lao động trong khu vực nhà nước

Về chủ thể: nét đặc trưng của quan hệ quản lí này một bên chủ thể bao giờ cũng

là nhà nước, biểu hiện cụ thể là cơ quan nhà nước

Về mặt tính chất: quan hệ quản lí lao động do một bên là nhà nước nên luôn

luôn có tính chất bắt buộc Quản lí nhà nước về lao động là loại quản lí nghiêm khắc nhất Và do tính chất ấy nó dễ dàng tạo ra hậu quả bất lợi cho bên bị quản lí nếu không tuân thủ các mệnh lệnh của nhà nước

Về mục đích: quản lí nhà nước về lao động không phải là quan hệ lao động mà

là quan hệ hành chính Mặc dù nó không tạo ra quan hệ lao động nhưng nó tạo ra các điều kiện xác lập, duy trì và ổn định các quan hệ lao động cụ thể, tức là tạo điều kiện

về môi trường pháp lí cho tương quan lao động Nói một cách hình tượng, quản lí nhà nước về lao động tạo ra một hành lang pháp lí cho quan hệ lao động vận hành, trong

đó các hình thức và phương pháp cũng được thiết kế theo những tiêu chuẩn phù hợp với pháp luật và lợi ích xã hội

Theo Bộ luật Lao động thì quản lí nhà nước về lao động bao gồm bảy nội dung lớn có thể liệt kê thành ba nhóm nội dung sao đây:

Nhóm một: bao gồm các nội dung pháp lí chung phục vụ cho nhu cầu phát triển

lực lượng lao động xã hội như: nắm cung cầu và sự biến động cung cầu làm cơ sở quyết định chính sách quốc gia, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội; ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật lao động; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình quốc gia về việc làm, di dân xây dựng các vùng kinh tế mới, đưa người đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học về lao động, thống kê, thông tin về lao động và thị trường lao động, về mức sống, thu nhập của người lao động; mở rộng quan hệ hợp tác với nước

Trang 19

ngoài và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực lao động

Nhóm hai: bao gồm các nội dung nhằm tạo điều kiện để quan hệ lao động duy

trì và phát triển, ở đó, Chính phủ có quyền quyết định các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chính sách khác về lao động và xã hội, về xây dụng mối quan hệ trong các doanh nghiệp

Nhóm ba: là các nội dung đảm bảo cho sự duy trì ổn định và làm lành mạnh môi trường lao động, quan hệ lao động như: “thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động và xử lí các vi phạm pháp luật lao động, giải quyết các tranh chấp lao động 10 ”

Như vậy, quản lí nhà nước có một hệ thống các nội dung lớn và phức tạp Song nếu xét trên bình diện chung nhất, hoạt động quản lí lao động chủ yếu tập trung vào hai nội dung cơ bản đó là:

Xây dựng các chính sách, các văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật và xã hội như: chính sách về việc làm và thị trường lao động; chính sách

về thu nhập và tiền lương; chính sách về bảo hộ lao động; chính sách về bảo hiểm xã hội; chính sách về sử dụng lao động; các quy định về mối quan hệ lao động; chính sách hợp tác quốc tế về lao động; các chính sách khác về lao động và xã hội

Thực hiện sự điều hành, thanh tra, kiểm tra việc thi hành các chính sách và pháp luật lao động, xử lí các vi phạm pháp luật lao động, giải quyết các tranh chấp lao động và các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực lao động

Thông qua việc xây dựng và ban hành các chính sách và pháp luật về lao động cũng như việc kiểm soát việc thực hiện các chính sách và pháp luật Nhà nước thật sự

đã thâu tóm toàn bộ hoạt động quản lí lao động ở tầm vĩ mô cũng như vi mô Và để thực hiện được việc đó Nhà nước phải dựa vào một hệ thống các cơ quan của mình với các hình thức, phương pháp nhất định trong quá trình quản lí để đạt được mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài

1.4.2 Vai trò của nhà nước trong xử lý vi phạm pháp luật việc sử dụng người lao động chưa thành niên

Người chưa thành niên là thế hệ tương lai của đất nước Do đó, việc quản lí của nhà nước đối với lao động chưa thành niên là điều rất quan trọng Bởi vì, khi được nhà nước quản lí người chưa thành niên được an tâm lao động Nhà nước trong quan hệ ba

bên không đứng “ bên trong” để can thiệp quá sâu vào quá trính sản xuất – kinh doanh

và quá trình thỏa thuận đi đến tổ chức và sử dụng người chưa thành niên lao động của

10 Điều 180 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

Trang 20

doanh nghiệp, nhưng nhà nước với tư cách là người đứng “bên trên” có vai trò định

hướng, có trách nhiệm hỗ trợ cho quan hệ hai bên và có nhiệm vụ thanh tra, xử lí các

vi phạm pháp luật lao động

Bộ luật Lao động quy định “Nhà nước thống nhất quản lí nguồn nhân lực và quản lí lao động bằng pháp luật và có chính sách để phát triển, phân bố nguồn nhân lực, phát triển đa dạng các hình thức sử dụng lao động và giới thiệu việc làm

Nhà nước hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động xây dựng mối quan

hệ lao động hài hòa và ổn định cùng nhau hợp tác vì sự phát triển của doanh nghiệp 11 ”

Nhà nước ban hành những chính sách, những văn bản pháp luật dành riêng cho người lao động chưa thành niên Nhà nước có những quy định riêng biệt khi doanh nghiệp sử dụng lao động chưa thành niên Nhà nước đưa ra những tiêu chí nhằm đảm bảo tốt nhất người lao động chưa thành niên, để họ không bị người sử dụng lao động

bóc lột Bộ luật Lao động quy định “ Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động Cấm sử dụng lao động chưa thành niên vào những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục do Bộ lao động – Thương binh xã hội

lao động và thỏa ước lao động tập thể giữa người sử dụng lao động và người lao dộng chưa thành niên

Vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ thanh tra nhà nước về lao động và xử lí các vi phạm pháp luật lao động Người lao động nói chung và người lao động chưa

11 Điều 10 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

12 Điều 121 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

13 Điều 122 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổ, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

Trang 21

thành niên nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì việc thanh tra nhà nước về lao động và sử lí các

vi phạm pháp luật lao động là điều cần thiết

Xét về mặt lí luận, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động là một mặt của hoạt động quản lí lao động và biểu hiện là một trong những phương pháp quản lí của Nhà nước Song xét về tính thực tiễn của nó thanh tra và xử phạt vi phạm pháp luật lao động có tính đặc thù, đồng thời nó tạo ra những điều kiện giúp cho hoạt động quản lí lao động có hiệu quả

Hoạt động thanh tra nhà nước về lao động là lĩnh vực thực hiện việc thanh tra của một hệ thống các cơ quan thanh tra trong bộ máy nhà nước Hoạt động thanh tra vì vậy phải tuân theo các quy định về tổ chức, hoạt động trong Luật Thanh tra

Phạm vi thanh tra lao động tương đối rộng lớn Hoạt động thanh tra lao động được tiến hành ở tất cả các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân, thuộc mọi thành phần kinh tế Mặt khác về mặt đối tượng, tất cả các đơn vị sử dụng lao động, nhất là các doanh nghiệp điều là đối tượng của thanh tra lao động

Nội dung của thanh tra nhà nước về lao động

Thanh tra lao động tại các cơ sở, các đơn vị sử dụng lao động hoạt động này nhằm duy trì việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động như việc ký kết và thực hiện các thỏa ước lao động tập thể, giao kết và thực hiện các hợp đồng lao động, việc trả lương, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội Như vậy, mục đích của việc thanh tra lao động là nhằm thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật trong lĩnh vực lao động, tiền lương, bảo đảm lợi ích của nhà nước và các bên quan hệ lao động

Thanh tra an toàn lao động là một trong những hoạt động chuyên ngành của thanh tra Nhà nước về lao động Lĩnh vực lao động của thanh tra an toàn lao động là

sự an toàn trong lao động Về phương diện khoa học - kỹ thuật trong các đơn vị sử dụng lao động, việc thanh tra về an toàn lao động nhằm cam kết, đánh giá mức độ an toàn trong các dây chuyền sản xuất, các phương tiện lao động, hệ thống máy móc nhà xưởng và các điều kiện kỹ thuật chi phối liên quan tới quá trình lao động Hoạt động thanh tra do vậy sẽ khắc phục tình trạng mất an toàn để hạn chế việc xảy ra các tai nạn lao động Mặt khác, thanh tra an toàn lao động còn có trách nhiệm điều tra các tai nạn lao động, các sự cố kỹ thuật trong lao động để đảm bảo tính đúng đắn khi quy định các trách nhiệm pháp lí, góp phần bảo đảm sự nghiêm minh trong quá trình áp dụng pháp luật

Thanh tra vệ sinh lao động: an toàn và vệ sinh lao động là hai yếu cực kỳ quan

Trang 22

trọng bởi chúng có ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng và hiệu quả của quá trình lao động Tình trạng mất an toàn lao động và vệ sinh lao động nếu tồn tại lâu dài sẽ ảnh hưởng đến việc duy trì tâm – sinh lý bình thường của người lao động, do vậy làm giảm xúc khả năng sản xuất và vì thế làm giảm xúc hiệu quả lao động

Ngoài chức năng quản lí Nhà nước về lao động Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc xử phạt quy phạm pháp luật lao động Vi phạm pháp luật lao động là một hiện tượng xã hội trong quá trình lao động và được hiểu là những vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình lao động Sự vi phạm này có thể là do không thực hiện, thực hiện không đúng những quy định của Bộ lao động và các văn bản pháp luật

do nhà nước ban hành trong lĩnh vực lao động xã hội Biểu hiện của những vi phạm pháp luật lao động có nhiều loại khác nhau song chung quy lại chủ yếu là sự vi phạm các quy định về quan hệ lao động, về an toàn lao động và những quy định trong lĩnh vực quản lí lao động

Vi phạm pháp luật lao động là một vi phạm đặc biệt, nó không hoàn toàn là những vi phạm về mặt quản lí mà bản chất là vi phạm những điều kiện đảm bảo cho quá trình lao động và xâm phạm đến những quyền và lợi ích của người lao động mà pháp luật đã quy định như một chuẩn mực Vi phạm pháp luật trong lao động không chỉ bị truy cứu trách nhiệm hành chính, kỉ luật mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm dân sự và cao hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Đối với người lao động chưa thành niên, Nhà nước quy định về mức xử phạt hành chính khi người sử dụng lao động sử dụng người lao động chưa thành niên làm việc không đúng các quy định pháp luật khi: không lập sổ theo dõi, kiểm tra sức khỏe định kỳ, lạm dụng sức lao động chưa thành niên; sử dụng lao động chưa thành niên quá bảy giờ một ngày hoặc quá bốn mươi hai giờ một tuần14

Ngoài ra, pháp luật còn quy định mức phạt khi người sử dụng lao động sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của người lao động chưa thành niên theo danh mục do Bộ lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành15

Trang 23

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN

2.1 Điều chỉnh của pháp luật đối với người lao động chưa thành niên

Trong đời sống xã hội, pháp luật giữ vai trò quan trọng nhất Xét trên bình diện chung nhất, pháp luật là phương tiện để thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; phương tiện để Nhà nước quản lí mọi mặt đời sống xã hội; phương tiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Pháp luật với tư cách

là nhân tố điều chỉnh của quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung, cũng như tới tất cả các yếu tố của thượng tầng chính trị – pháp lý nói riêng Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật thể hiện ở nhiều mức

độ khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng và từng loại quan hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật Sự biểu hiện cụ thể của sự tác động đó bao giờ cũng phản ánh trong khuôn mẫu của các hành vi xử sự được xác định mà các chủ thể pháp luật phải tuân thủ, chấp hành hoặc lấy làm cơ sở để sử dụng và áp dụng chúng phù hợp với những điều kiện tương ứng trong hoạt động thực tiễn thường nhật

Sự khác nhau về mức độ điều chỉnh nói lên vai trò của pháp luật được thể hiện

ở các hình thức chính để tổ chức thực hiện các chức năng của Nhà nước là xây dựng pháp luật và bảo vệ pháp luật Để giải quyết nhiệm vụ hết sức phức tạp đòi hỏi nhà nước phải dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc, vì vậy, phải chú trọng công tác xây dựng pháp luật Quá trình xây dựng pháp luật luôn gắn liền với tổ chức thực hiện pháp luật Đồng thời, phải chú trọng tới việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm pháp luật phát huy được vai trò trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm cho nó không bị xâm hại, không bị coi thường

2.1.1 Sự cần thiết phải có điều chỉnh của pháp luật đối với người lao động chưa thành niên

Trên thực tế cho thấy, trong bất cứ chế độ kinh tế nào cũng có sự điều tiết của Nhà nước bằng pháp luật để giải quyết những vấn đề mà tự thân cơ chế kinh tế đó không thể giải quyết được Do đó, điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên là yêu cầu mang tính khách quan Khi điều chỉnh vấn đề người lao động chưa thành niên, pháp luật bảo vệ và định hướng cho sự phát triển của các quan hệ này thông qua ý chí chủ quan của Nhà nước, tạo khung pháp lý để hạn chế những ảnh

Trang 24

hưởng tiêu cực đối với người lao động chưa thành niên

Điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên còn đảm bảo quyền lao động của người chưa thành niên không đi ngược lại lợi ích chung của xã hội

và không trái với xu thế phát triển của các quan hệ lao động Mặt khác, quyền lao động của người lao động chưa thành niên chỉ trở thành hiện thực nếu được Nhà nước đảm bảo về mặt pháp lý trong việc thực hiện Sự can thiệp của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật sẽ góp phần bảo vệ quyền lao động của người lao động chưa thành niên Bởi vì, đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện Pháp luật về người lao động chưa thành niên đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên Trong điều hiện cung cầu lao động mất cân đối, người lao động chưa thành niên bị đẩy vào thế yếu, việc đảm bảo quyền lao động của người lao động chưa thành niên thông qua các quy định cụ thể của pháp luật rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ người lao động chưa thành niên

Pháp luật về người lao động chưa thành niên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên Người lao động chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực, lực lượng lao động này cần có sự quan tâm nhiều của Nhà nước và xã hội Pháp luật có những quy định cụ thể đối với người lao động chưa thành niên như: Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực cũng như nhân cách; người lao động chưa thành niên được nhận tiền lương đầy đủ, đảm bảo sức khỏe, đảm bảo học tập trong quá trình lao động; cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ; thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên cũng ít hơn so với người lao động đã trưởng thành – làm việc không quá bảy giờ một ngày hoặc bốn mươi hai giờ một tuần Những quy định này phù hợp với sức khỏe, tâm sinh lý của người lao động chưa thành niên, phù hợp với bản chất của quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên

Pháp luật về người lao động chưa thành niên còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động Khi người sử dụng lao động nhận người lao động chưa thành niên vào làm việc, pháp luật quy định cụ thể những công việc mà người lao động chưa thành niên được làm và những công việc người lao động chưa thành niên không được làm Người sử dụng lao động thường sử dụng người lao động

Trang 25

chưa thành niên làm những công việc nhẹ, đơn giản và chủ yếu là dạy nghề cho họ Khi người chưa thành niên đã lành nghề và đúng độ tuổi do pháp luật quy định để làm những công việc nguy hiểm, nặng nhọc, đòi hỏi phải có sức khỏe tốt Do đó, đây là nguồn lao động được người sử dụng lao động nhận vào làm việc và bổ sung cho những lao động đã chấm dứt quan hệ lao động Khi người sử dụng lao động đã đào tạo và dạy nghề cho người lao động chưa thành niên, thì họ được ưu tiên được nhận những người này vào làm việc trước so với những người sử dụng lao động khác Đây là quyền và lợi ích của người sử dụng lao động được pháp luật quy định

Pháp luật về người lao động chưa thành niên bảo đảm sự ổn định tương đối của quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên Quan hệ lao động là quan hệ giữa con người với con người trong lao động nhằm tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phục vụ bản thân con người và cho xã hội Người lao động chưa thành niên là những người làm công ăn lương, họ do người sử dụng lao động sử dụng để làm việc Trong đó, quyền lợi của các bên được ấn định ở mức tối thiểu và nghĩa vụ được ấn định ở mức tối đa Vì vậy, Nhà nước bằng những quy định của pháp luật đảm bảo mối quan hệ lao động hoài hòa giữa các bên, để các chủ thể khi tham gia hoàn toàn được tự do, bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận các vấn đề liên quan đến quá trình lao động phù hợp với pháp luật và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Pháp luật về người lao động chưa thành niên còn ”góp phần quan trọng trong việc giải quyết đúng đắng mối quan hệ giữa lợi ích của toàn xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân” Với các quy định nhằm hạn chế và ngăn chặn các hành vi có thể gây

ảnh hưởng tới lới ích chung của xã hội Pháp luật về người lao động chưa thành niên đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích chung của tập thể lao động là người chưa thành niên, bên cạnh việc bảo vệ các lợi ích cá nhân có liên quan Pháp luật về người lao động chưa thành niên định hướng các hành vi của các bên trong quá trình lao động và quá trình sử dụng lao động phù hợp với lợi ích chung của xã hội Những quyền và lợi ích của người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động luôn có mối quan hệ và nằm trong tổng thể các quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội Do đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên góp phần đảm bảo sự phát triển của thế hệ lao động lành nghề tương lai và góp phần phát triển đất nước

Trang 26

2.1.2 Đặc điểm của pháp luật đối với việc điều chỉnh người lao động chưa thành niên

Nghiên cứu về điều chỉnh pháp luật và cơ chế điều chỉnh pháp luật có ý nghĩa rất lớn về mặt phương pháp luận đối với việc tiếp cận các hiện tượng pháp lý từ góc độ hệ thống Nó cho phép nhìn nhận các hiện tượng pháp lý như quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, quan hệ pháp luật trong một thể thống nhất mà mỗi hiện tượng pháp lý đều là một bộ phận cơ chế thống nhất đó Từ đó làm rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò của từng bộ phận trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, tìm ra những ưu điểm, những hạn chế của từng bộ phận, từng khâu có ảnh hưởng tới hiệu quả điều chỉnh pháp luật để kịp thời có những biện pháp khắc phục Cách tiếp cận có hệ thống còn tạo ra điều kiện để xem xét, nghiên cứu các hiện tượng pháp lý ở trạng thái động, tránh được cách nhìn sơ cứng, siêu hình khi xem xét từng hiện tượng pháp lý riêng lẻ

Trong xã hội, pháp luật là một phương tiện quan trọng bậc nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức, quản lý xã hội, bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội, phù hợp với những mục đích mà Nhà nước và xã hội đặt ra Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa16

Quản lý

xã hội bằng pháp luật là dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự, trong đó các quan hệ xã hội theo những hướng xác định nhằm đạt được mục đích đề ra Sự tác động qua lại giữa pháp luật và các quan hệ xã hội rất đa dạng, phức tạp Một mặt, các quan hệ xã hội có vai trò quyết định đối với pháp luật Mặt khác, chính bản thân các quan hệ xã hội là đối tượng tác động có mục đích của pháp luật Sự tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội thường xảy ra theo hai hướng:

Thứ nhất, đối với những quan hệ xã hội phù hợp với tiến trình phát triển xã hội,

đáp ứng lợi ích của nhân dân thì pháp luật bảo vệ, cũng cố và tạo điều cho chúng phát triển Trong một số trường hợp, pháp luật còn tác động để thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển những quan hệ xã hội mới, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thứ hai, đối với những quan hệ xã hội không đáp ứng được lợi ích của nhân

dân, không phù hợp với quy luật phát triển của xã hội thì pháp luật ngăn cản, kìm hãm

sự phát triển của chúng và từng bước loại chúng ra khỏi đời sống xã hội

Pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội bằng những quy định cho các bên tham gia quan hệ đó một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, đồng thời pháp luật cũng xác định cả những điều kiện để đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý được thực

16 Điều 12 Hiếp pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)

Trang 27

hiện Vì vậy, khi tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh, các chủ thể buộc phải tự điều khiển các hành vi của mình sao cho phù hợp với các yêu cầu của

pháp luật Do đó, điều chỉnh pháp luật được hiểu là việc Nhà nước dùng pháp luật, dựa vào pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo lập trật tự xã hội theo ý chí của Nhà nước 17

Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người, nó tồn tại khách quan trong nền kinh tế, đặt biệt trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên cho thấy tính tương đối phức tạp Do đó, cần có sự điều chỉnh của pháp luật để quan hệ lao động này phát huy mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực Nếu không có điều chỉnh kịp thời, quan hệ lao động này sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển của người lao động chưa thành niên, đối với lợi ích chung của cả cộng đồng Để điều chỉnh quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên, bên cạnh việc sử dụng các quy phạm pháp luật, có thể sử dụng nhiều loại quy phạm khác như quy phạm mang tính đạo đức, phong tục, tập quán Tuy nhiên, với những ưu thế hơn hẳn, pháp luật luôn giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh vấn đề người lao động chưa thành niên Với những thuộc tính riêng và những ưu thế mà các quy phạm

xã hội khác không có, pháp luật điều chỉnh vấn đề người lao động chưa thành niên nhằm đảm bảo sự định hướng của Nhà nước nhằm bảo vệ người lao động chưa thành niên được tốt hơn

Khi điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên phải chú ý đến những đặc thù về thể lực và trí lực của họ Một mặt, lao động là quyền của người lao động, với việc sử dụng và có hiệu quả quyền lao động, người lao động chưa thành niên

có khả năng đạt được các yêu sách chính đáng về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động Mặt khác, nếu lao động quá sức, không phù hợp với sức khỏe sẽ để lại những hậu quả tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của người lao động chưa thành niên và sự phát triển của nền kinh tế đất nước Do đó, khi đặt ra các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề người lao động chưa thành niên, Nhà nước cần rất thận trọng, vừa không quy định quá nghiêm khắc, cứng nhắc làm mất đi tính tích cực của quan hệ lao động giữa người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động Đồng thời, pháp luật không quy định quá thông thoáng dẫn đến hiên tượng người sử dụng lao động lạm dụng lao động để bắt người lao động chưa thành niên làm việc quá sức ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của họ sau này

17

Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật – Trường đại học luật Hà Nội (nhà xuất bản công an nhân dân 2005)

Trang 28

Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên là quan hệ giữa người sử dụng lao động với người chưa thành niên Vì thế, quan

hệ lao động này là quan hệ mang tính nhạy cảm có thể ảnh hưởng uy tính của một quốc gia, vì trên thế giới hiện nay vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động chưa thành niên được đặt lên hàng đầu Nếu Nhà nước không có sự điều chỉnh hợp lý

và kịp thời thông qua các quy phạm pháp luật phù hợp, quan hệ lao động này có thể các phần tử chống đối lợi dụng biến thành công cụ đấu tranh chính trị Do đó, trong quá trình điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ lao động giữa người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động nên có những quy định cụ thể nhằm hạn chế sự lạm dụng sức lao động của người sử dụng lao động đối với người lao động chưa thành niên nhằm giúp cho sự phát triển của họ sau này Để bảo vệ người lao động chưa thành niên Nhà nước đã thông qua các quy định về người lao động chưa thành niên được thể hiện tương đối rõ nét Đặc biệt, trong Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung) đã dành chương IX có những quy định riêng đối với người lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác Bên cạnh đó, Nhà nước đã phê chuẩn, gia nhập hai công ước Quốc tế 182, 138 về bảo vệ quyền trẻ em và quy định về độ tuổi tối thiểu lao động

Pháp luật điều chỉnh về người lao động chưa thành niên liên quan trực tiếp tới lợi ích của các bên trong quan hệ lao động và lợi ích chung của xã hội Vì vậy, khi điều chỉnh vấn đề này, Nhà nước phải chú ý kết hợp hoài hòa việc bảo vệ lợi ích của người lao động chưa thành niên với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người

sử dụng lao động; bảo vệ lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ lao động song song với việc bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng Đây là bài toán khó đặt ra cho các nhà lập pháp, điều này cho thấy tính chất tương đối phức tạp của việc điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên

Việc điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên cũng có nhiều điểm khác biệt so với việc điều chỉnh pháp luật đối với người lao động khác Mục đích

cơ bản nhất trong mối quan hệ lao động này là giúp người lao động chưa thành niên tránh được sự bóc lột sức lao động của người sử dụng lao động Nhà nước quy định khi người sử dụng lao động nhận người lao động chưa thành niên vào làm việc thì người sử dụng lao động phải đáp ứng những yêu cầu do Nhà nước quy định Nhà nước quy định: nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu; người sử dụng lao động chỉ

Trang 29

được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động; cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ; thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên không quá bảy giờ một ngày hoặc bốn mươi hai giờ một tuần; người

sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên làm thêm giờ, làm ban đêm trong một số nghề và công việc do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Với những quy định như vậy, Nhà nước đã tạo điều kiện tương đối đầy đủ cho người lao động chưa thành niên được lao động phù hợp với sức khỏe của mình và giúp cho họ có điều kiện phát triển về thể lực, trí lực và cả nhân cách của họ sau này

2.2 Quy định của pháp luật về người lao động chưa thành niên

Để tồn tại và phát triển con người buộc phải liên kết với nhau thành những cộng đồng Có thể nói, cộng đồng là môi trường tồn tại của mỗi cá nhân trong xã hội Tính cộng đồng của đời sống loài người xuất hiện nhu cầu cần phải phối hợp, quy tụ hoạt động của những cá nhân riêng lẻ theo những hướng nhất định, để đạt được những mục đích nào đó, nghĩa là, nhu cầu điều chỉnh những mối quan hệ giữa con người với con

người C.Mác đã nhấn mạnh: ”tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng điều cần tới một sự chỉ đạo

để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh

từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó” Vì vậy, quản lý là yếu tố cần thiết của đời sống cộng đồng xã hội Khi

xã hội phát triển, tính chất xã hội hóa của các hoạt động xã hội ngày càng cao, cần phải đề cao vai trò của quản lý, đề cao tính tổ chức và ý thức, tự giác, tinh thần làm chủ của mỗi người Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên là quan hệ giữa người làm công ăn lương với người sử dụng lao động

Do đó, quan hệ này cần phải sự điều chỉnh của pháp luật để bảo đảm quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động này

Trang 30

2.2.1 Điều kiện của doanh nghiệp và những công việc cấm sử dụng người lao động chưa thành niên

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực Do đó, việc sử dụng người lao động chưa thành niên phải hết sức cẩn trọng, tránh lạm dụng sức lao động, để cho họ phát triển đầy đủ về nhân cách sau này

2.2.1.1 Điều kiện của doanh nghiệp khi nhận người lao động chưa thành niên và trẻ em dưới 15 tuổi vào làm việc

Điều kiện doanh nghiệp khi nhận người lao động chưa thành niên

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người lao động là người ít nhất đủ nười lăm tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động18 Nếu dừng ở khái niệm này thì mọi người từ đủ mười lăm tuổi trở lên có quyền ký kết hợp đồng lao động và tham gia thị trường lao động Tuy nhiên, để bảo vệ người lao động chưa thành

niên, pháp luật lao động còn có những quy định riêng “người lao động chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi 19” Như vậy, người lao động chưa thành niên được quy định trong Bộ luật Lao động là người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi

Pháp luật quy định các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sau đây không được sử dụng người lao động chưa thành niên làm các công việc có điều kiện lao động có hại

và các chức danh công việc: doanh nghiệp Nhà nước; các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân có thuê mướn lao động; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp, các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức Quốc tế đóng tại Việt Nam có thuê mướn lao động là người Việt Nam; các đơn vị sự nghiệp, kinh doanh, phục vụ thuộc cơ quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội khác, lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân20 Do đó, các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này trong quá trình sử dụng người lao động chưa thành niên phải đáp ứng những điều kiện: phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu; chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc người lao động chưa thành niên; cấm sử dụng người lao động chưa

18 Điều 6 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

19 Điều 119 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

20 Thông tư liên bộ số 09 ngày 13 tháng 4 năm 1995 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế quy định các điều kiện lao động có hại và các công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên

Trang 31

thành niên làm những công việc năng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng tới nhân cách của họ; thời gian làm việc không quá bảy giờ một ngày hoặc bốn mươi hai giờ một tuần; chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên làm thêm, làm ban đêm trong một số công việc do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định Như vậy, với những quy định này nhằm bảo đảm cho người lao động chưa thành niên không bị lạm dụng sức lao động và đảm bảo sức khỏe cho họ phát triển

Điều kiện và trách nhiệm doanh nghiệp khi nhận trẻ em dưới 15 tuổi

Trẻ em là tương lai của đất nước, là độ tuổi cần được học hành, được quan tâm chăm sóc từ gia đình, nhà trường và xã hội để họ trưởng thành và phát triển Hiện nay,

do điều kiện sống ở những vùng ở nước ta khác nhau, bởi những hoàn cảnh khác nhau

mà nhiều trẻ em phải đi làm việc sớm Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em pháp luật quy định rất chặt chẽ về điều kiện của doanh nghiệp khi nhận trẻ em vào làm việc, những công việc trẻ em được làm và độ tuổi tối thiểu mà trẻ em làm việc

Theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động được nhận trẻ em chưa

đủ mười lăm tuổi vào làm các nghề và công việc phải đảm bảo các điều kiện sau đây: trẻ em phải đủ mười hai tuổi Riêng trẻ em tham gia biểu diễn nghệ thuật phải đủ tám tuổi, đối với một số trường hợp đặc biệt phải sử dụng trẻ em chưa đủ tám tuổi phải do

Bộ Thông tin – Truyền thông quyết định; phải có đủ sức khỏe phù hợp với công việc theo xác nhận của trung tâm y tế cấp huyện hoặc phòng khám bệnh viện đa khoa; phải

có giấy cam kết và đồng ý theo dõi của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp; phải có

sơ yếu lý lịch của trẻ em đã được xác nhận của chính quyền địa phương; môi trường lao động không ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm sinh lý của trẻ em và không vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo quy định hiện hành của Bộ Y tế; thời giờ làm việc không được quá bốn giờ một ngày hoặc hai mươi bốn giờ một tuần, không được sử dụng trẻ em làm thêm giờ và làm việc ban đêm; đảm bảo thời gian học văn hóa cho trẻ em; có hợp đồng lao động21

Ngoài ra, pháp luật còn quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi nhận trẻ em chưa đủ mười lăm tuổi vào làm việc: lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh (kèm theo giấy khai sinh), giới tính, địa chỉ thường trú, trình

độ văn hóa, công việc đang làm, họ tên và địa chỉ của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp

21 Theo quy định tại mục II của thông tư số 21/1999/TT – BLĐTBXH ngày 11 tháng 9 năm 1999 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục nghề, công việc và các điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ

15 tuổi vào làm việc

Trang 32

pháp và những điều kiện lao động áp dụng với trẻ em; đăng ký với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương về việc sử dụng trẻ em chưa đủ mười lăm tuổi làm việc tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, trong đó, phải nêu rõ tên doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, thuộc Bộ, tổng công ty, sở chủ quản, họ và tên, năm sinh, giới tính, trình độ văn hóa, tên công việc, loại hợp đồng lao động của từng trẻ em; phải kiểm tra sức khỏe trẻ em trước khi tuyển dụng và tiến hành kiểm tra sức khỏe định kỳ, ít nhất sáu tháng một lần; chịu trách nhiệm về sự an toàn và sức khỏe của trẻ em trong quá trình làm việc22

2.2.1.2 Những công việc cấm sử dụng người lao động chưa thành niên và những công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc

Những công việc cấm sử dụng người lao động chưa thành niên

Không phải bất cứ ngành nghề nào, công việc nào mà người lao động được làm Đặc biệt là người lao động chưa thành niên Đối với lao động chưa thành niên, người

sử dụng lao động không được sử dụng họ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc tiếp xúc với các chất độc hại Những công việc này cần đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh lao động rất cao Do những yếu tố về sức khỏe, tâm sinh lý

mà người lao động rất khó làm được những việc này, nếu làm được cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của họ

Pháp luật đã quy định: cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế ban hành Do đó, ngày 13 – 4 – 1995 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành Thông tư Liên bộ số 09 quy định các điều kiện lao động có hại và công việc cấm sử dụng người lao động chưa thành niên Những điều kiện lao động và công việc quy định tại Thông tư Liên bộ này là những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại Người làm những công việc này phải có đủ sức khỏe, đủ lý trí để xử lý các tình huống và đặc biệt có một chuyên môn tốt về công việc đó Người lao động chưa thành niên là người chưa đáp ứng đầy đủ về sức khỏe, chuyên môn kỹ thuật Vì vậy, pháp luật quy định người sử dụng lao động không được sử dụng họ làm những công việc này và người sử dụng lao động thường sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nhẹ nhàng,

22 Điểm 1 mục III thông tư số 21/1999/TT – BLĐTBXH ngày 11 tháng 9 năm 1999 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục nghề, công việc và các điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc

Trang 33

đơn giản Muốn người lao động chưa thành niên làm những công việc nguy hiểm, nặng nhọc hoặc tiếp xúc với các chất độc hại thì người sử dụng lao động phải đào tạo nghề cho họ và để cho họ đến một tuổi nhất định mới sử dụng

Những công việc đƣợc nhận trẻ em chƣa đủ 15 tuổi vào làm việc

Pháp luật quy định những nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ mười

lăm tuổi vào làm việc Bộ luật Lao động quy định: ”cấm nhận trẻ em chưa đủ mười lăm tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội quy định 23 ” Pháp luật quy định những nghề và công việc được nhận trẻ em

chưa đủ 15 tuổi gồm: diễn viên: múa, hát, xiếc, sân khấu (kịch, tuồng, chèo, cải lương, múa rối, điện ảnh); các nghề truyền thống: chấm men gốm, cưa vỏ tre, vẽ tranh sơn mài; các nghề thủ công mỹ nghệ: thêu ren, mộc mỹ thuật; vận động viên năng khiếu: thể dục dung cụ, bơi lội, điền kinh (trừ tạ xích), bóng bàn, cầu lông, bóng rổ, bóng ném, bia, các môn võ, đá cầu, cờ mây, cờ vua, cờ tướng24

Bên cạnh đó, ngày 9 – 12 – 2004 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ

Y tế ban hành thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT – BLĐTBXH – BYT hướng dẫn, quy định danh mục chỗ làm việc, công việc không được sử dụng lao động dưới mười tám tuổi trong cơ sở kinh doanh, dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm

2.2.2 Những chế độ mà người lao động chưa thành niên được hưởng khi tham gia vào quan hệ lao động

2.2.2.1 Chế độ về tiền lương

Tiền lương không chỉ là phạm trù kinh tế mà còn là chính sách hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan trực tiếp tới cuộc sống của người lao động Việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi nhận thức về lý luận trong xây dựng chính sách tiền lương Theo cơ chế mới: thừa nhận người lao động được tự do làm việc theo hợp đồng thỏa thuận, nghĩa là công nhận sự tồn tại khách quan của phạm trù hàng hóa sức lao động và như vậy tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị Chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, ban hành phải xuất phát từ yêu cầu là quan tâm toàn diện tới mục đích, động cơ làm việc, các nhu cầu cũng như lợi ích kinh tế của người lao động; có như vậy mới khơi dậy khả năng tiềm ẩn của người lao động để phát triển sản xuất, phát triển xã hội

23 Điều 120 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

24 Thông tư số 21/1999/TT – BLĐTBXH ngày 11 tháng 9 năm 1999 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục nghề, công việc và các điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc

Trang 34

Lao động của con người là một trong những yếu tố quan trọng và giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất, được biểu hiện ở khả năng tư duy, sáng tạo Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì xã hội nào, Nhà nước nào càng thu hút, sử dụng tốt lao động sáng tạo, chất xám, càng thúc đẩy kinh tế phát triển Do đó, khi hoạch định chính sách tiền lương càng đánh đúng vai trò quyết định của con người Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động Cũng như các thị trường khác thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu Mọi công dân có quyền thuê mướn, sử dụng sức lao động và trả công phù hợp với giá trị sức lao động theo đúng pháp luật Nhà nước

Như vậy, tiền lương được hiểu là số tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động 25

Từ khái niệm cho thấy bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động, thông qua sự thỏa thuận giữa người có sức lao động với người thuê mướn, sử dụng sức lao động, đồng thời, phải chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu Mặt khác, tiền lương phải bao gồm đầy đủ các yếu tố cấu thành để đảm bảo nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của bản thân và gia đình người lao động là điều kiện để người lao động hưởng lương hòa nhập vào đời sống xã hội

Tiền lương của người lao động do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định26 Như vậy, tiền lương (tiền công) của người lao động do người sử dụng lao động trả khi sử dụng họ làm việc Mức tiền lương này do hai bên thỏa thuận dựa vào năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc đang làm Tiền lương do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định Mức lương tối thiểu được áp dụng theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác27

Việc trả lương của người sử dụng lao động cho người lao động nói chung, người

25

Giáo trình Luật lao động Việt Nam – Trường đại học luật Hà Nội (nhà xuất bản công an nhân dân năm 2006)

26 Điều 55 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

27 Điều 56 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

Trang 35

lao động chưa thành niên nói riêng do sự thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng lao động và được trả theo năng xuất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Người lao động chưa thành niên có những đặc điểm riêng biệt: họ là người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về thể lực và trí lực Do đó, họ thường làm công việc tương đối đơn giản, công việc phù hơp với sức khỏe của họ Việc trả lương cho họ có thể thấp hơn người lao động đã thành niên, vì những đặc điểm về sức khỏe mà họ thường làm những công việc đơn giản, nhẹ nhàng so với người lao động thành niên Nhà nước có những quy định không cho phép người sử dụng lao động sử dụng người lao động chưa thành niên làm việc như những người lao động bình thường khác Việc người sử dụng lao động trả lương cho người lao động chưa thành niên thấp hơn người lao động bình thường là tương đối hợp lý phù hợp với quan hệ lao động Tiền lương người sử dụng lao động trả cho người lao động chưa thành niên căn cứ vào năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định Trong trường hợp, người sử dụng lao động sử dụng người lao động chưa thành niên cùng làm việc như người lao động thành niên phù hợp với những quy định của pháp luật thì được trả lương như nhau28 Do đó, khi làm những công việc quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên cũng giống như người lao động thành niên Tức là, họ được trả lương bằng với người lao động thành niên khi cùng làm việc

và người sử dụng lao động không dựa vào độ tuổi mà được trả lương thấp hơn so với người lao động đã thành niên Người lao động chưa thành niên có quyền được biết lý

do mọi khoản khấu trừ vào lương của mình Mọi khoản khấu trừ vào tiền lương của người lao động chưa thành niên phải thông báo cho họ biết cụ thể khoản khấu trừ; trong trường hợp khấu trừ thì cũng không được khấu trừ quá 30% tiền lương hàng tháng29 Quy định này nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động chưa thành niên và tạo điều kiện cho họ thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người sử dụng lao động hoặc Nhà nước Khi người lao động chưa thành niên làm thêm giờ thì trả lương theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm, việc trả lương phải căn cứ vào điều

61 Bộ luật Lao động30 Khi bản thân hoặc gia đình gặp khó khăn, người lao động chưa thành niên được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận Trong

28 Điều 19 Nghị định 114/2002/NĐ – CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương

29 Điều 60 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

30 Điều 61 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007) quy định người lao động làm thêm giờ:

- Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%

- Vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%

- Vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%

Trang 36

trường hợp gặp khó khăn đột xuất ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của bản thân và gia đình, người lao động chưa thành niên có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động

để tạm ứng lương31 Quy định này nhằm giúp người lao động chưa thành niên khả năng khắc phụ khó khăn, ổn định đời sống Ngoài ra, người lao động chưa thành niên cũng được thưởng lương so với người lao động thành niên khác Việc thưởng lương này căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc của người lao động chưa thành niên32

Như vậy, người sử dụng lao động trả lương cho người lao động chưa thành niên

do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng và được trả theo năng suất lao động, chất lượng

và hiệu quả công việc Do những đặc điểm về sức khỏe, thể lực, trí lực và công việc đang làm mà người sử dụng lao động trả lương cho người lao động chưa thành niên thấp hơn lao động thành niên nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định Khi người lao động chưa thành niên làm những công việc như người lao động thành niên thì được người sử dụng lao động trả lương như nhau; do đó họ có quyền và nghĩa vụ tương tự như người lao động thành niên

2.2.2.2 Chế độ về thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi

Thời gian làm việc

Việc quy định thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi trong các văn bản pháp luật lao động không phải chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan của nhà làm luật mà thực

sự xuất phát từ những cơ sở kinh tế – xã hội – sinh học và pháp lý quan trọng Làm việc và nghỉ ngơi là hai khái niệm trái ngược nhau, là hai mặt trong quá trình lao động của người lao động, song có liên quan rất chặt chẽ với nhau và không tách rời nhau

Trong thực tế, không có ai chỉ làm việc mà không có nghỉ ngơi và nếu đã không làm việc thì vấn đề nghỉ ngơi cũng không được đặt ra Chính vì thế, mà các quy phạm pháp luật điều chỉnh thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của người lao động cũng gắn bó chặt chẽ với nhau và hợp thành một chế định không thể thiếu được của luật lao động ở bất cứ một nước nào – chế định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi Các quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của Nhà nước ta là căn cứ pháp lý

để người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động của mình mà Hiếp pháp và pháp luật đã ghi nhận

Có thể đưa ra định nghĩa về thời giờ làm việc như sau: thời giờ làm việc là khoảng thời gian do pháp luật quy định, trong đó người lao động phải có mặt tại địa

31 Điều 67 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

32 Điều 64 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

Trang 37

điểm sản xuất, công tác để thực hiện những nhiệm vụ được giao phù hợp với nội dung, điều lệ doanh nghiêp và hợp đồng lao động 33

Như vậy, việc điều chỉnh bằng pháp luật thời giờ làm việc có ý nghĩa rất quan trọng Một mặt, với việc quy định quỹ thời giờ lao động dựa trên cơ sở định mức lao động, pháp luật lao động bảo hộ cho người lao động có điều kiện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động của mình Trên cơ sở đó, người sử dụng lao động cũng hoàn thành mục tiêu sản xuất, kinh doanh đã đề ra Mặt khác, việc điều chỉnh thời giờ làm việc còn nhằm mục đích bảo hộ người lao động Bằng việc phân phối thời giờ làm việc và thời gian nghỉ ngơi hợp lý, pháp luật tạo điều kiện cho người lao động nghỉ ngơi, khôi phục sức khỏe tham gia học tập hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác nhằm nâng cao chuyên môn, văn hóa

Thời giờ làm việc có thể kéo dài hay rút ngắn phụ thuộc vào năng suất lao động

xã hội Ở giai đoạn đầu Tư bản Chủ nghĩa, khi năng suất lao động thấp, các nhà tư bản muốn thu nhiều lợi nhuận phải bằng cách kéo dài ngày làm việc của người lao động, thậm chí họ không cần biết đến sức khỏe và tuổi tác của người lao động Việc kéo dài

12 – 14 giờ/ngày hơn nữa đã từng là biện pháp bốc lột chủ yếu của các nhà tư bản Song do trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, năng suất lao động xã hội ngày càng cao; hơn nữa do sức ép đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác mà thời giờ làm việc trong ngày được rút ngắn lại Việc quy định thời giờ làm việc dài hay ngắn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đến tái sản xuất sức lao động của người lao động Từ đầu những năm 1919, Hiến chương của tổ chức Lao động

Quốc tế (ILO) đã quy định: “một tiêu chuẩn phải đạt là chấp nhận mỗi ngày làm việc tám giờ hoặc mỗi tuần làm việc bốn mươi tám giờ” Theo định nghĩa của ILO, “thời giờ làm việc là số giờ mà mỗi nước ấn định bằng hoặc theo đạo luật, pháp quy, thỏa ước tập thể hay phán quyết trọng tài, hoặc là ở những nước không có ấn định như vậy, thì số giờ mà nếu bất kỳ thời gian làm việc nào quá số giờ đó sẽ được trả công theo mức cho làm thêm giờ hoặc sẽ là một ngoại lệ so với những quy tắc hay tập quán đã được thừa nhận trong cơ sở hoặc trong một quá trình hữu quan 34 ”

Ở nước ta, quyền làm việc và nghỉ ngơi của người lao động được ghi nhận ngay trong Hiến pháp 1946 Chế độ ngày làm việc tám giờ đã được ghi nhận ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công Hiện nay, do điều kiện kinh tế, năng suất lao động của xã hội chưa cao, việc duy trì ngày làm việc tối đa tám giờ trong một ngày hoặc

33 Giáo trình Luật Lao động Việt Nam – Trường đại học luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an Nhân dân - 2006)

34 Khuyến nghị số 126 năm 1962 của Tổ chức Lao động Quốc tế

Trang 38

bốn mươi tám giờ một tuần vẫn rất cần thiết Việc tiêu chuẩn hóa thời giờ làm việc ở

nước ta do Nhà nước thống nhất thực hiện Bộ luật Lao động quy định: “thời giờ làm việc không quá tám giờ một ngày hoặc bốn mươi tám giờ trong một tuần Người sử dụng lao động có quyền quy định thời gian làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải báo trước cho người lao động Thời gian làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế quy định 35 ”

Người sử dụng lao động có quyền xác định thời điểm bắt đầu ngày làm việc và thời điểm kết thúc ngày làm việc, thời gian nghỉ giữa ca Các thời điểm làm việc đó phải được ghi vào nội quy, điều lệ doanh nghiệp và phải thông báo cho từng người lao động biết để thực hiện Tại thời điểm bắt đầu ngày làm việc người lao động phải có mặt tại địa điểm sản xuất, công tác và bắt tay vào làm việc, thực hiện nghĩa vụ của mình Thời gian làm việc hàng ngày còn bao gồm cả thời gian cần thiết vì nhu cầu cá nhân hoặc công tác xã hội bao gồm: thời gian cần thiết vì nhu cầu tự nhiên của cá nhân; thời gian cho con bú của lao động nữ có con nhỏ dưới mười hai tháng; thời gian làm việc vệ sinh cá nhân của lao động nữ khi làm việc thông ca; thời gian nghỉ giữa ca đối với những xí nghiệp làm việc theo ca, kíp Thời gian làm việc được áp dụng đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế36

Riêng đối với người lao động chưa thành niên, do những đặc điểm về sức khỏe, tinh thần mà pháp luật có những quy định riêng về thời giờ làm việc đối với họ Theo

đó, thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên không được quá bảy giờ một ngày hoặc bốn mươi hai giờ một tuần37 So với các lao động khác thì thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên ít hơn một giờ một ngày hoặc sáu giờ một tuần Với những quy định như vậy, giúp cho người lao động chưa thành niên có điều kiện học tập, giúp họ phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần Điều đó chứng tỏ ngành luật lao động là ngành luật mang tính chất xã hội rất sâu sắc

35 Điều 68 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

36 Khoản 1 điều 1 Nghị định 109/2002/NĐ – CP ngày 27 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định số 195/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

37 Điều 122 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

Trang 39

Thời gian nghỉ ngơi

Dưới góc độ pháp luật, thời gian nghỉ ngơi được hiểu là thời gian trong đó người lao động không phải thực hiện nghĩa vụ lao động và có quyền sử dụng thời gian

đó theo ý muốn của mình Thời gian nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật bao gồm: thời giờ nghỉ giữa ca, nghỉ hàng tuần, các ngày nghỉ lễ, tết, nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng

Thời giờ nghỉ giữa ca

Trong một ngày làm việc, người sử dụng lao động phải bố trí cho người lao động thời giờ nghỉ ngơi hợp lí Tùy theo tính chất của công việc, yêu cầu của sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động thỏa thuận với đại diện tập thể người lao động, trên cơ sở ký kết thỏa ước lao động tập thể thống nhất về thời giờ nghỉ ngơi Theo đó, người lao động làm việc tám giờ liên tục thì được nghỉ ít nhất nửa giờ và được tính vào giờ làm việc; người làm ca đêm được nghỉ giữa ca ít nhất là bốn mươi lăm phút và được tính nào giờ làm việc; người làm việc theo ca được nghỉ ít nhất mười hai giờ trước khi chuyển sang ca khác38 Đối với người lao động chưa thành niên pháp luật quy định ngày làm việc không được quá bảy giờ cũng được nghỉ nữa giờ và tính vào thời giờ làm việc; khi họ làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc do pháp luật quy định thì cũng có thời giờ nghỉ ngơi giống như những lao động khác

Thời gian nghỉ hàng tuần

Pháp luật quy định, mỗi tuần lễ người lao động được nghỉ ít nhất một ngày39(24 giờ liên tục) Tuy nhiên, đối với những cơ quan, xí nghiệp do yêu cầu của sản xuất, công tác hoặc phục vụ nhân dân, đòi hỏi làm việc liên tục cả tuần, kể cả chủ nhật thì người sử dụng lao động có thể sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần vào một ngày khác trong tuần cho từng nhóm người lao động khác nhau Trường hợp do chu kỳ lao động không thể nghỉ hàng tuần, thì người sử dụng lao động phải bảo đảm cho người lao động chế

độ nghỉ bù thỏa đáng Tính bình quân mỗi tháng người lao động được nghỉ ít nhất là bốn ngày40

Các ngày nghỉ lễ, tết

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người lao động được nghỉ các ngày nghỉ lễ, tết trong năm: tết dương lịch: một ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch); tết âm lịch: bốn ngày (một ngày cuối năm, ba ngày đầu năm âm lịch); ngày chiến thắng: một ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch); ngày Quốc tế Lao động: một ngày (ngày 1 tháng 5

38 Điều 71 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

39 Khoản 1 điều 72 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

40 Khoản 3 điều 72 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002; 2006; 2007)

Trang 40

dương lịch); ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: một ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch); ngày Quốc khánh (ngày 2 tháng 9 dương lịch)41

Nếu những ngày nghỉ nói trên trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày tiếp theo Trong những ngày tết, lễ nói trên người lao động thành niên cũng như người lao động chưa thành niên được hưởng nguyên lương

Nghỉ hàng năm

Người lao động được nghỉ hàng năm khi người đó làm việc được ít nhất mười hai tháng liên tục tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động Đối với những loại hợp đồng lao động có thời hạn dưới một năm hoặc đối với loại hợp đồng lao động có thời hạn từ một năm trở lên mà bị chấm dứt khi người lao động đã làm việc được đủ sáu tháng thì được thanh toán bằng tiền số ngày nghỉ hàng năm, theo tỷ

lệ tương ứng với số thời gian làm việc Người lao động thành niên hoặc người lao động chưa thành niên nghỉ việc không được sự đồng ý của người sử dụng lao động thì không được hưởng chế độ nghỉ phép hàng năm trong năm đó Nếu lỗi nhẹ thì người lao động nghỉ ngày nào sẽ bị trừ vào số ngày nghỉ hàng năm ấy Trường hợp lỗi nặng đến mức xử lý hình thức kỉ luật thì năm đó người lao động có thể không được hưởng chế độ nghỉ hàng năm Ngoài ra, nếu người lao động có tổng số ngày nghỉ ốm trong năm cộng lại quá ba tháng thì cũng không được hưởng chế độ nghỉ hàng năm

Công ước 132 năm 1970 của tổ chức ILO quy định số ngày nghỉ có hưởng lương sẽ do các nước thành viên quy định, nhưng không được dưới ba tuần làm việc chỉ một năm làm việc Tuy nhiên, một số nước cũng quy định khác nhau, cụ thể: ở Thụy Điển số ngày nghỉ là năm tuần; ở Nauy và Phần Lan là 24 ngày – 25 ngày; ở Đức, Tây Ban Nha số ngày nghỉ là ba tuần theo quy định của Công ước Còn ở đa số các nước đang phát triển, nhất là ở Đông Nam Á, thời gian nghỉ nhìn chung chỉ trên dưới mười ngày, cụ thể: ở Inđônêxia là mười hai ngày; ở Thái Lan sáu ngày; ở Philippin năm ngày; Singapo được bảy ngày cho ngày đầu năm, những năm tiếp theo mỗi năm nghỉ một ngày, nhưng tối đa là mười bốn ngày42

41 Điều 73 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung: 2002, 2006, 2007)

42 Giáo trình luật Lao động Việt Nam – trường đại học luật Hà Nội (nhà xuất bản Công an Nhân dân – 2006)

Ngày đăng: 12/11/2020, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w