1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Pháp luật quản lý về hộ tịch - từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

96 212 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 782 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một nội dung trong quản lý hành chính nhà nước về Hành chính – Tư pháp, quản lý về hộ tịch có thể hiểu là một hình thức hoạt động của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HẠNH

PHÁP LUẬT QUẢN LÝ VỀ HỘ TỊCH -

TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60380102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:TS NGUYỄN MINH SẢN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

Tiến sĩ Nguyễn Minh Sản, người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT QUẢN LÝ VỀ HỘ TỊCH 7

1.1 Hộ tịch và quản lý về hộ tịch 7

1.1.1 Khái niệm hộ tịch 7

1.1.2.Quản lý về hộ tịch 11

1.2 Pháp luật quản lý về hộ tịch 14

1.2.1 Khái niệm pháp luật quản lý về hộ tịch 14

1.2.2 Đặc điểm pháp luật quản lý về hộ tịch 16

1.2.3 Nội dung pháp luật quản lý về hộ tịch 17

1.2.4 Thẩm quyền quản lý về hộ tịch 20

1.2.5 Vai trò pháp luật quản lý về hộ tịch 23

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý về hộ tịch 30

1.3.1 Ý thức pháp luật 30

1.3.2 Chất lượng của văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch 31

1.3.3 Công tác tổ chức bộ máy và công chức thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch 32

1.3.4 Kinh phí và cở sở vật chất 33

Tiểu kết Chương 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35

2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật quản lý về hộ tịch 35

Trang 6

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1945 35

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 36

2.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 38

2.2 Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 41

2.2.1 Tổng quan về quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 41

2.2.2 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật quản lý về hộ tịch 43

2.2.3 Pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 45

2.2.4 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 48

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 50

2.3.1 Những kết quả đạt được 50

2.3.2 Những hạn chế 52

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 55

Tiểu kết Chương 2 58

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60

3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 60

3.1.1 Thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch phải quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân 61

Trang 7

3.1.2 Thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch phải đề cao quyền con

người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân 63

3.1.3 Thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch phải bảo đảm phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan 65

3.2 Giải pháp chung bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch 66

3.2.1 Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật phù hợp với Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành 66

3.2.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành với nội dung và hình thức phù hợp, nâng cao nhận thức, hiểu biết của nhân dân 70

3.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch 72

3.2.4 Kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác Hộ tịch bảo đảm đủ tiêu chuẩn được quy định trong Luật Hộ tịch 73

3.2.5 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch 75

3.2.6 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong pháp luật quản lý về hộ tịch 77

3.2.7 Đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong pháp luật quản lý về hộ tịch 78

3.3 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 80

Tiểu kết Chương 3 84

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện Hoạt động này còn là cơ sở để Nhà nước công nhận

và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước Tại hầu hết các nước, các sự kiện hộ tịch của con người từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, khai tử… đều được đăng ký và được quản lý chặt chẽ

Ở Việt Nam, quản lý hộ khẩu, hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư Với những giá trị tiềm tàng như vậy, công tác quản lý hộ tịch đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của nó trong tiến trình phát triển của xã hội Nhận thức được vấn đề này, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về quản lý hộ tịch bước đầu tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này Đặc biệt ngày 20/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Hộ tịch Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/2016 đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta

Thực tiễn cho thấy, thời gian qua công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta đã có những bước phát triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng Công tác xây dựng thể chế được tăng cường; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày càng được coi trọng Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch cũng từng bước được đơn giản hóa, ngày càng tạo thuận lợi cho người dân Với những kết quả đã đạt được, công tác hộ tịch ngày càng khẳng định

Trang 9

vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với quản lý nhà nước và xã hội, góp phần bảo đảm ngày một tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý hộ tịch còn có nhiều hạn chế như: Thủ tục quản lý hộ tịch chưa khoa học, chưa phù hợp thực tế, trình

độ, năng lực của đội ngũ công chức làm công tác quản lý hộ tịch; việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa được quan tâm đúng mức…Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân xuất phát từ chính các quy định của pháp luật về đăng ký, quản lý hộ tịch

Là một Quận trung tâm của thành phố Hà Nội, trong những năm qua, quận Hai Bà Trưng đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận.Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội từng bước được thực hiện nghiêm túc đầy đủ, chính xác Tuy nhiên, thực trạng quản lý hộ tịch trên địa bànquận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cho thấy những bất cập của quản lý hộ tịch về hành lang pháp lý Với thực trạng đó và những đòi hỏi của tình hình mới, để luận giải những vấn đề lý luận và thực

tiễn về hộ tịch, tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật quản lý về hộ tịch - từ thực tiễn

quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí

đề cập đến hộ tịch và các chính sách thực hiện hộ tịch, trong thời gian qua:

Bài “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch

tư pháp của công dân” tác giả Vũ Đình Tuấn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2005;

Trang 10

Bài “Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch” tác giả Phạm Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;

Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch trong giai đoạn hiện nay”Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng

Bài báo “Hộ tịch và pháp luật về hộ tịch” tác giả Trần Duy Rô Nin, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2008;

Bài “Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp- Hộ tịch và yêu cầu chuẩn hóa” của tác giả Trần Thị Lệ Hoa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề pháp luật Hộ tịch năm 2013;

Bộ Tư pháp (2006) “Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch”, NXB Tư pháp, Hà Nội;

Bộ Tư pháp (2007), “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch”, NXB Tư pháp, Hà Nội; Sách chuyên khảo “Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch” của tác giả Phạm Trọng Cường, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007;

Số chuyên đề “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;

Trang 11

Bộ Tư pháp (2010) “Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường, thị trấn”, NXB Tư pháp;

Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở tỉnh Hòa Bình – Thực trạng và giải pháp” của Sở

Tư pháp tỉnh Hòa Bình, tác giả Trần Việt Hưng chủ nhiệm đề tài, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, 2010;

Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công “Quản lý nhà nước về hộ tịch

ở cấp xã, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”, tác giả Phạm Hồng Hoàn, Học viện Hành chính Quốc gia, 2010

Các công trình khoa học nói trên đã đề cập từng khía cạnh của quản lý

về hộ tịch Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp về pháp luật quản lý về hộ tịch - từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, lịch sử pháp luật quản lý về hộ tịch, thực tiễn pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu của đề tài về không gian được giới hạn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; về thời gian được giới hạn từ năm 2010 đến nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ lý luận về quản lý hộ tịch, pháp luật quản lý về hộ tịch, thực tiễn pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Từ đó đánh giá thực trạng pháp luật quản lý

về hộ tịch cũng như pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Trong thời gian qua, những kết quả đạt được và hạn chế cũng như nguyên nhân của chúng

Trang 12

Trên cơ sở xây dựng lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật quản lý về hộ tịch luận văn hướng tới việc đề xuất những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch nói chung, những giải pháp bảo đảmthực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nói riêng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm

vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận của pháp luật quản lý về hộ tịch thông

qua việc xác định các khái niệm có liên quan như: Khái niệm Hộ tịch; khái niệm quản lý Hộ tịch; khái niệm pháp luật quản lý về Hộ tịch; xác định đặc điểm, nội dung, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến việc pháp luật quản lý về

hộ tịch

Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn

quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đưa ra những đánh giá về kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong pháp luật quản

lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Thứ ba, đề xuất phương hướng, hệ thống giải pháp đủ cơ sở khoa học để

bảo đảm pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học thuyết Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hành chính nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý hộ tịch, xây dựng pháp luật quản lý hộ tịch

Trang 13

Các phương pháp được tác giả sử dụng trong luận văn gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh

6 Đóng góp của Luận văn

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp luật quản lý về hộ tịch; đánh giá thực trạng pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong thời gian qua Từ đó đề xuất những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính quyền ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nghiên cứu, vận dụng vào thực tế quản lý hộ tịch Luận văn cũng có thể là tài liệu nghiên cứu về quản lý

hộ tịch cho các học viên, sinh viên của Học viện Hành chính Quốc gia

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật quản lý về hộ tịch Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Trang 14

Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ

điển:“Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và

tịch quán của từng người”

Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong cuốn Hán - Việt từ điển lại cho rằng: “Hộ

tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”

Tác giả Hoàng Thúc Trâm trong cuốn Hán - Việt tân từ điển viết “Hộ

tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên

họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”;

Tác giả Bửu Kế trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên giải thích

“Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã

phường”

Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân chủ biên viết: "Hộ

tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương”

Nhƣ vậy, xét về góc độ ngôn ngữ nghĩa của từ "Hộ tịch" còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí, có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện

sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu Điều này phản ánh

Trang 15

một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “Hộ tịch” và “Hộ khẩu” trong nhận thức xã hội là khá phổ biến

Về khía cạnh pháp lý Thuật ngữ “Hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau:

Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 như sau:

“Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công

dân trong gia đình và trong xã hội Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử”

Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “Hộ tịch”:

"Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử"

Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn Danh từ pháp luật lược giải - vốn được đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên - không đưa ra định nghĩa về khái niệm “Hộ tịch” mà chỉ định nghĩa khái niệm

“Chứng thư Hộ tịch”:

“Chứng thư Hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh

một cách chính xác thân trạng người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai con gái, con chính thức hay con tư sanh, tư cách vợ chồng tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến khi chết

Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc thay đổi về thân trạng người ta nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hoá con tư sinh, khước từ phụ hệ, ly thân ”

Trang 16

Khái niệm “Hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một cách minh bạch Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên các nhà xây dựng pháp luật đã sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản

Tại Điều 1 Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTG ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ quy định “Bản điều lệ này quy định những nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy” Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ năm 1961

cũng quy định “đăng ký hộ tịch là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở

những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh ”.Tiếp đó, Nghị định số

83/1998/NĐ-CP và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP cũng quy định hộ tịch là

những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh

ra đến khi chết Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ước định Về giá

trị biểu đạt, với cách định nghĩa như vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “Hộ tịch” Bên cạnh đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chưa xác định được rõ ràng

nội hàm của khái niệm nên cùng với khái niệm “Hộ tịch”

Kế thừa khái niệm về hộ tịch trong các văn bản trước đó, Luật Hộ tịch

năm 2014 ra đời quy định: “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều

Trang 17

3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết” (Khoản 1 Điều 2)

Điều 3 của Luật Hộ tịch năm 2014 quy định:

Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch gồm: Khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc,

bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử

Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: thay đổi quốc tịch; xác định cha,

mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật

Như vậy, Luật Hộ tịch đã quy định cụ thể hơn về khái niệm hộ tịch so với Nghị định 158/2005/NĐ-CP Điều này là cần thiết bởi cần phải có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật

Từ quan niệm trên về hộ tịch, có thể thấy, hộ tịch có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con

người, bởi vì, mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết Các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta

Trang 18

phân biệt từng cá nhân con người Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết

Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không chuyển đổi cho

người khác Đặc điểm này là hệ quả của của đặc điểm thứ nhất Do đó, việc thực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (như: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai sinh; khai tử do người thân của người chết đăng ký khai tử)

Thứ ba,hộ tịch là những sự kiện nhân thân không lượng hoá được thành

tiền Chính vì vậy, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường

1.1.2.Quản lý về hộ tịch

Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động

có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước

Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do nhà nước quản lý Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ

Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục

Trang 19

tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước

Là một nội dung trong quản lý hành chính nhà nước về Hành chính –

Tư pháp, quản lý về hộ tịch có thể hiểu là một hình thức hoạt động của nhà

nước, do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế- xã hội

Quản lý về hộ tịch ở nước ta có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, quản lý về hộ tịch là hoạt động mang quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước trong quản lý về hộ tịch trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng

là văn bản quản lý hộ tịch Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hộ tịch thể hiện ý chí của mình dưới dạng các hoạt động áp dụng pháp luật; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn người dân để thực hiện việc đăng ký hộ tịch thông qua hệ thống của bộ máy quản lý hộ tịch của Nhà nước Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện

ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền giáo dục, thuyết

Trang 20

phục, hòa giải… Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hộ tịch được bảo đảm thực hiện

Thứ hai, quản lý về hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi những chủ

thể có quyền năng hành pháp là các công chức trong bộ máy nhà nước

Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý về hộ tịch là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, đội ngũ công chức làm công tác Tư pháp - Hộ tịch)

Thứ ba, quản lý về hộ tịch là hoạt động có tính thống nhất, được tổ

chức chặt chẽ

Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hộ tịch, bộ máy các cơ quan

hộ tịch được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được

sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế

- xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo

sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy quản lý hộ tịch còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương

Thứ tư, quản lý về hộ tịch có tính chấp hành và điều hành

Tính chấp hành và điều hành của quản lý về hộ tịch thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp

Trang 21

dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật

Tính điều hành của quản lý về hộ tịch thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Trong quá trình

đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn

cả chúng đảm nhận chức năng chi đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý

Thứ năm, quản lý về hộ tịch là hoạt động mang tính liên tục

Quản lý về hộ tịch luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức của bộ máy quản lý hộ tịch; tạo ra bộ máy quản

lý hộ tịch gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức quản

lý hộ tịch năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình

1.2 Pháp luật quản lý về hộ tịch

1.2.1 Khái niệm pháp luật quản lý về hộ tịch

Quản lý về hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý Nhà nước, thông qua việc quản lý về hộ tịch Nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư và sự biến động của xã hội, giúp Nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự

an toàn xã hội

Trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con

Trang 22

người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn Để tạo cơ sơ pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho công tác đăng

ký, quản lý hộ tịch, nhất là trong việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác quản lý, đăng ký

hộ tịch theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới cần có hệ thống các quy định pháp luật tạo thành cơ sở pháp lý vững chắc cho quản lý về hộ tịch

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật và các tài liệu, sách báo pháp lý, thuật ngữ “pháp luật về hộ tịch” được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, việc

sử dụng thuật ngữ này trong các nghiên cứu chỉ mang tính ước định và tuỳ từng trường hợp, nội hàm của nó được xác định theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp có sự khác nhau cơ bản Theo những cách hiểu khác nhau đó, việc xác định các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp luật về hộ tịch cũng có sự khác nhau

Hiểu theo nghĩa rộng thì pháp luật về hộ tịch bao gồm toàn bộ hệ thống

quy phạm điều chỉnh các vấn đề về hộ tịch, theo đó, nguồn chủ đạo của pháp

luật về hộ tịch bao gồm Luật Hộ tịch 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Cũng trong cách hiểu này, các quan hệ pháp luật về

hộ tịch được phân thành hai nhóm cơ bản, đó là nhóm quan hệ mang tính chất dân sự và nhóm quan hệ về quản lý Cách hiểu này đã làm nổi bật điểm đặc trưng cơ bản của sự điều chỉnh pháp luật về hộ tịch, đó là các quan hệ pháp luật về hộ tịch cùng lúc được điều chỉnh bởi hai nhóm quy phạm pháp luật cơ bản, đó là quy phạm luật dân sự và quy phạm luật hành chính Hai nhóm quy phạm này có mối liên hệ hết sức mật thiết, trong đó, nhóm quy phạm về hộ tịch do luật dân sự điều chỉnh luôn đóng vai trò là tiền đề để xây dựng các quy phạm hành chính về hộ tịch

Trang 23

Hiểu theo nghĩa hẹp thì pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quy phạm

hành chính về quản lý hộ tịch Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng điều chỉnh

của pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quan hệ mang tính chất chấp hành - điều hành phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch Mặc dù hai quan niệm trên đây có sự khác nhau cơ bản những cần thấy rằng chúng không mâu thuẫn và loại trừ nhau Về mặt khoa học, điều đó cho phép có thể sử dụng thuật ngữ này với sự ước định về nội hàm của nó Trong mục đích nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi xin được hiểu thuật ngữ “pháp luật về hộ tịch” theo nghĩa hẹp

Như vậy, pháp luật quản lý về hộ tịch là hệ thống các quy tắc xử sự do

cơ quan có thẩm quyền ban hành điều chỉnh quản hệ xã hội phát sinh trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân

1.2.2 Đặc điểm pháp luật quản lý về hộ tịch

Thứ nhất, pháp luật quản lý về hộ tịch điều chỉnh các quan hệ phát sinh

trong quản lý về hộ tịch bao gồm: Quy định về hộ tịch; quyền, nghĩa vụ, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; Cơ sở dữ liệu hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch

Thứ hai, pháp luật quản lý về hộ tịch là cơ sở pháp lý trực tiếp và quan

trọng trong việc bảo đảm quyền con người về nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết

Thứ ba, pháp luật quản lý về hộ tịch quy định chủ thể quản lý nhà nước

về hộ tịch là các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân các cấp như: Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ ngoại giao, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã

Thứ tư, pháp luật quản lý về hộ tịch quy định trách nhiệm của công

chức làm công tác hộ tịch Công chức làm công tác hộ tịch bao gồm công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã; công chức làm công tác Hộ tịch ở Phòng Tư

Trang 24

pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác Hộ tịch tại Cơ quan đại diện

Thứ năm, nhà nước bảo đảm pháp luật quản lý về hộ tịch bằng việc

quy định rõ quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ đăng ký và quản lý các sự kiện

hộ tịch phát sinh

1.2.3 Nội dung pháp luật quản lý về hộ tịch

Nội dung pháp luật quản lý về hộ tịch là các quy định về đăng ký hộ tịch; cơ sở dữ liệu hộ tịch và trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch

1.2.3.1 Đăng ký hộ tịch

Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân

cư Bao gồm các nội dung cụ thể sau:

Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch

Khai sinh:Đăng ký khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch Thông qua quản lý hành chính trong lĩnh vực đăng ký khai sinh đã giúp cho Nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiên của dân số, từ đó, đề ra các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương; mặt khác đăng ký khai sinh một cách đầy đủ, chính xác là bảo vệ quyền của trẻ em được đăng

ký khai sinh ngay từ khi sinh ra theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế

Kết hôn: Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của mỗi con người Từ đó phát sinh ra những quan

hệ pháp lý giữa vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông bà nội, ngoại và cháu.Từ xưa đến nay, quan hệ hôn nhân thường chỉ phát sinh trong phạm vi làng xã hoặc quận, huyện liền kề hoặc trong phạm vi của một quốc gia Ngày nay, do

Trang 25

nhu cầu giao lưu kinh tế, xã hội nên các quan hệ hôn nhân đã vượt ra ngoài phạm vi địa hạt của một xã, huyện, tỉnh, thậm chí là quốc gia Do vậy, nếu nghiên cứu đầy đủ về chế độ hôn nhân, phải nghiên cứu các mối quan hệ hôn nhân không những phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn phải nghiên cứu cả những quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Giám hộ: Là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Nhận cha, mẹ, con Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch: thay đổi đổi hộ tịch là việc thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh nhưng cá nhân

có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo yêu cầu của cá nhân đó khi

có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự

Khai tử: Đăng ký khai tử là một trong những lĩnh vực quản lý của nhà nước ta về đăng ký hộ tịch nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số Đăng

ký khai tử là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người và ghi vào Sổ đăng ký khai tử Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết.Mục đích của việc đăng ký khai tử là nhằm giúp nhà nước theo dõi sự biến động tự nhiên về dân số, tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình

Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền các sự kiện:Thay đổi quốc tịch;

Trang 26

Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính;Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;

Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi

hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

1.2.3.2 Cơ sở dữ liệu hộ tịch

Cơ sở dữ liệu hộ tịch là tài sản quốc gia, lưu giữ toàn bộ thông tin hộ tịch của mọi cá nhân, làm cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, phục vụ yêu cầu tra cứu thông tin, quản lý, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cơ sở dữ liệu hộ tịch bao gồm Sổ hộ tịch

và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là căn cứ để cấp bản sao trích lục hộ tịch

Sổ hộ tịch là căn cứ pháp lý để lập, cập nhật, điều chỉnh thông tin hộ tịch của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

Mỗi loại việc hộ tịch phải được ghi vào 01 quyển sổ, các trang phải đóng dấu giáp lai; Sổ hộ tịch được lưu giữ vĩnh viễn theo quy định của pháp luật

Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được lập để lưu giữ, cập nhật, quản lý, tra cứu thông tin hộ tịch, phục vụ yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến; được kết nối để cung cấp, trao đổi thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Chính phủ quy định sự phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc quản lý, sử dụng Cơ sở

dữ liệu hộ tịch điện tử; thủ tục, trình tự đăng ký hộ tịch trực tuyến; việc kết nối, cung cấp, trao đổi thông tin giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở

dữ liệu quốc gia về dân cư

Trang 27

1.2.3.3 Trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch

Việc quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước, pháp luật về hộ tịch quy định về trách nhiệm của các cơ quan đó trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch gắn với nhiệm vụ quyền hạn riêng biệt của mỗi cơ quan Theo đó:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch

Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch

Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về

hộ tịch tại Cơ quan đại diện

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các

bộ, ngành liên quan thực hiện bảo đảm kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân

cư với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định của pháp luật; Bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý về hộ tịch trên địa bàn địa phương theo phân cấp

1.2.4 Thẩm quyền quản lý về hộ tịch

Căn cứ vào chức năng cơ bản của từng hệ thống cơ quan trong tổ chức

bộ máy nhà nước, sát với tình hình thực tế hiện nay, có tính đến yêu cầu cải cách hành chính, Luật hộ tịch 2014 đã phân cấp thẩm quyền quản lý về hộ tịch theo hướng:

Một là, phân biệt giữa nhiệm vụ quản lý nhà nước và nhiệm vụ đăng ký

các sự kiện hộ tịch Theo đó, các nhiệm vụ quản lý như: xây dựng pháp luật,

tổ chức thực hiện pháp luật, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác hộ tịch,

xử lý vi phạm thuộc nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; nhiệm vụ đăng ký các sự kiện hộ tịch tập trung cho chính quyền cơ sở như Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trang 28

Hai là, trong hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có sự điều chỉnh

nhiệm vụ giữa các cấp, tránh sự trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ quản lý giữa các cấp Theo đó, thẩm quyền quản lý về hộ tịch được quy định như sau:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch Nội dung quản lý

nhà nước về hộ tịch bao gồm: ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về hộ tịch; ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch; xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; thống kê hộ tịch và hợp tác quốc tế về hộ tịch (Điều 65)

Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hộ tịch và có nhiệm vụ, quyền hạn: quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký, quản lý hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch ở trong nước; ban hành, hướng dẫn sử dụng, quản lý Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục hộ tịch và các biểu mẫu hộ tịch khác; quy định cụ thể điều kiện, trình tự đăng ký khai sinh, kết hôn, khai

tử lưu động; xây dựng và quản lý thống nhất cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; hướng dẫn, chỉ đạo địa phương trong việc quản lý, sử dụng phần mềm đăng

ký và quản lý hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cung cấp thông tin hộ tịch

cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; tổng hợp tình hình, phân tích, đánh giá, thống kê hộ tịch báo cáo Chính phủ (Điều 66)

Bộ Ngoại giao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác đăng ký

hộ tịch tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (khoản 1 Điều 67)

Cơ quan đại diện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch của công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, đăng ký hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú

Trang 29

ở nước ngoài theo quy định; quản lý, sử dụng sổ sách, hồ sơ, biểu mẫu hộ tịch; quản lý, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định Viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch có trách nhiệm giúp Cơ quan đại diện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này (khoản 2 Điều 67)

Bộ Công an: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các bộ ngành liên quan xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư bảo đảm việc kết nối giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến công tác hộ tịch (Điều 68)

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh: Tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà

nước, chịu trách nhiệm tổ chức hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương; bảo đảm nguồn nhân lực và cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động đăng

ký và quản lý hộ tịch; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định; chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch theo thẩm quyền; tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp

vụ cho công chức Tư pháp – Hộ tịch, công chức đảm nhiệm công tác hộ tịch của Phòng Tư pháp Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm

vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch (Điều 69)

Ủy ban nhân dân cấp huyện: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước

trên địa bàn, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về công tác đăng ký hộ tịch tại cấp xã; thực hiện việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo phân cấp; quản

lý, lưu trữ, cập nhật, khai thác Sổ, hồ sơ hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định;Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch theo thẩm quyền; Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch

do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của pháp luật, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật; Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban

Trang 30

nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ; Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch Phòng Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch (Điều 70)

Ủy ban nhân dân cấp xã: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hộ

tịch tại địa bàn xã mình; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật

về hộ tịch, quản lý, lưu trữ, bảo quản sổ sách, hồ sơ hộ tịch, đăng ký các việc

hộ tịch trong nước theo thẩm quyền; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định Công chức Tư pháp – Hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn này (Điều 71)

1.2.5 Vai trò pháp luật quản lý về hộ tịch

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết, nên, đăng ký, quản lý hộ tịch là một vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội Đăng ký hộ tịch thể hiện việc nhà nước công nhận một cá nhân con người tồn tại với tất cả đầy đủ tính pháp

lý của nó Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện Hoạt động này còn là cơ sở để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước

Để công tác quản lý về hộ tịch đạt hiệu quả cần có hệ thống các quy định pháp luật tạo nền tảng pháp lý cho hoạt động của các chủ thể có trách nhiệm quản lý về hộ tịch Pháp luật quản lý về hộ tịch thể hiện vai trò của mình ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, pháp luật quản lý về hộ tịch tạo hành lang pháp lý bảo đảm cho sự quản lý của Nhà nước về công tác hộ tịch

Trang 31

Nếu như hoạt động quản lý dân cư được coi là nội dung quan trọng hàng đầu trong tổng thể hoạt động quản lý xã hội thì quản lý hộ tịch với các giá trị, lợi ích tiềm tang của nó được coi là khâu nằm ở vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư Hoạt động quản lý hộ tịch là lĩnh vực thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước trên ba phương diện cơ bản đó là:

Quản lý hộ tịch là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó Một hệ thống quản lý dữ liệu hộ tịch đầy

đủ, chính xác, được cập nhật kịp thời, thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá luôn sẵn sang hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội

Hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch thể hiện tâp trung nhất, sinhđộng nhất sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân than có bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2015 như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền được kết hôn, quyền được nhận nuôi con nuôi ở phương diện này, đăng ký hộ tịch chính là phương tiện để người dân thực hiện, hưởng thụ các quyền nhân than đó Các dữ liệu về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng thư hộ tịch là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân than của mỗi người, mà qua đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không

Hành vi đăng ký khai sinh của cơ quan đăng ký hộ tịch đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán, quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó

Trang 32

Quản lý nhà nước về hộ tịch có giá trị to lớn đối với việc bảo đảm trậttự

xã hội Hệ thống sổ hộ tịch có thể giúp việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng Các chứng thư hộ tịch do người có thẩm quyền lập theo thủ tục chặt chẽ có giá trị là sự khẳng định chính thức của Nhà nước về

vị thế của mỗi cá nhân trong gia đình và xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tư pháp khi cần đánh giá năng lực chủ thể của mỗi cá nhân các cơ quan tiến hành

tố tụng luôn cần đến giấy khai sinh của cá nhân đó Giấy khai sinh chứa đựng các dữ liệu quốc gia của cá nhân như ngày, tháng, năm, sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, họ tên cha, mẹ… do đó khi được sử dụng với tính cách là chứng cứ, các thông tin thể hiện trên giấy khai sinh giúp cơ quan tiến hành

tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính…Bởi giá trị quan trọng như vậy, nên trong sự phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề xây dựng và khai thác hiệu quả hệ thống quản lý hộ tịch phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước luôn được quan tâm

Thứ hai, pháp luật quản lý về hộ tịch bảo đảm sự thống nhất trong toàn quốc và các Cơ quan đại diện trong việc thực hiện các văn bản pháp luật về hộ tịch;

Pháp luật và thực hiện pháp luật là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời Pháp luật chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện, các quy định của pháp luật trở thành những hành vi

hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Thực hiện pháp luật là “cầu nối”

để pháp luật đi vào cuộc sống, là sự tiếp tục ý chí của Nhà nước thể hiện trong pháp luật Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, chúng ta cần có một hệ thống pháp luật đầy đủ

và hệ thống pháp luật đó phải được mọi thành viên trong xã hội tôn trọng, được chấp hành nghiêm chỉnh, triệt để Ở góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật

Trang 33

là hành vi hợp pháp, phù hợp với quy định pháp luật, có lợi cho Nhà nước, cho xã hội, cho mọi cá nhân và tổ chức

Thực tế cho thấy, để thực hiện pháp luật hiệu quả thì một trong những yếu tố quan trọng là pháp luật phải được thực hiện một cách thống nhất Việc pháp luật được thực hiện thống nhấtnhằm tạo dựng môi trường pháp lý an toàn, minh bạch là một trong những yêu cầu tất yếu để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Quản lý về hộ tịch là hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước, mỗi cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn giới hạn bởi các quy định pháp luật Tính thống nhất trong thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch đòi hỏi tất cả các chủ thể đó phải được nhận thức thống nhất và thực hiện thống nhất pháp luật quản lý hộ tịch trong phạm vi cả nước Đây là điều kiện quan trọng để thiết lập một trật tự quản lý về hộ tịch Giúp loại trừ tư tưởng cục bộ bản vị địa phương, tự do vô chính phủ Tạo điều kiện để thiết lập trật tự pháp luật và góp phần củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ Đảm bảo cho việc thực hiện các đường lối chính trị của Đảng trong thực tế đạt hiệu quả cao

Thứ ba, pháp luật quản lý về hộ tịch bảo đảm công khai, minh bạch về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch;

Theo từ điển tiếng Việt, công khai “là việc không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết” Minh bạch là “rõ ràng, rành mạch” Trong hoạt động của bộ máy nhà nước, công khai nghĩa là mọi hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có thể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng; minh bạch nghĩa là không những phải công khai mà còn phải trong sáng, không khuất tất, không rắc rối, không gây khó khăn cho công dân trong tiếp cận thông tin

Trang 34

Như vậy, có thể hiểu công khai, minh bạch trong quản lý hộ tịch là việc làm cho mọi người dân có thể biết và hiểu cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ gì, hoạt động như thế nào trong khuôn khổ phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật Với hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, một trong những chức năng chủ yếu là cung cấp dịch vụ hành chính (dịch vụ công) cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp Hoạt động này mang tính chất phục vụ nhân dân nhiều hơn, hiệu quả của hoạt động hành chính xét dưới góc

độ cung cấp dịch vụ công được đánh giá bằng mức độ hài lòng của người dân

và chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ

Ở Việt Nam, quản lý hành chính nhà nước là một quá trình được xác định từ khâu ra quyết định quản lý nhà nước, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện đến khâu thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định đó Trong hoạt động hành chính vẫn mang tính chất xin-cho; đội ngũ cán bộ, công chức trong các

cơ quan hành chính nhà nước còn nhiều biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền Điều này gây khó khăn, phiền hà cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân mỗi khi có công việc cần giải quyết tại các cơ quan hành chính nhà nước Sự quan liêu cùng với những thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo chính là những kẽ hở để một số cán bộ, công chức lợi dụng nhằm mưu lợi ích riêng

Chính vì thế, pháp luật quản lý về hộ tịch đã quy định rõ ràng về thẩm

quyền, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch

Thông qua đó, cá nhân có điều kiện sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Chẳng hạn theo quy định tại Luật Hộ tịch năm 2014, thủ tục đăng ký hộ tịch gồm các bước sau:

Bước 1: Công dân điền vào tờ khai đối với từng việc đăng ký hộ tịch, nộp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 35

Bước 2: Tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính, cán bộ tiếp nhận kiểm tra hồ sơ Hướng dẫn công dân hoàn thiện hồ sơ còn thiếu Trường hợp hồ sơ đầy đủ, đúng theo quy định thì viết phiếu hẹn trả kết quả cho công dân

Bước 3: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính chuyển hồ

sơ tới bộ phận chuyên môn xử lý theo quy định

Bước 4: Bộ phận chuyên môn xử lý hồ sơ, trả kết quả theo đúng thời gian quy định Trường hợp cần xác minh hoặc cần bổ sung hồ sơ, bộ phận chuyên môn thông báo để bộ phận tiếp nhận hồ sơ thông tin cho công dân hoặc hẹn lại thời gian trả kết quả (nếu cần) cho công dân

Bước 5: Sau khi nhận kết quả từ bộ phận chuyên môn, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính trả kết quả cho công dân theo phiếu hẹn

Thứ tư, pháp luật quản lý về hộ tịch tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch;

Hộ tịch gắn liền với quyền nhân thân của công dân, nhiệm vụ của các

cơ quan nhà nước là bảo đảm cho quyền đó thành hiện thực Pháp luật quản lý

về hộ tịch đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để công dân thực hiện quyền của mình Đặc biệt sự ra đời của Luật Hộ tịch 2014 có nhiều điểm mới tích cực và được đánh giá là một "cuộc cách mạng” trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng và quản lý dân cư nói chung"

Luật có những quy định cải cách mạnh mẽ về trình tự, thủ tục đăng ký

hộ tịch, tạo thuận lợi tối đa cho người dân (như: đơn giản hóa và cắt giảm nhiều giấy tờ không cần thiết khi đăng ký hộ tịch; cải tiến phương thức nộp

hồ sơ để người dân lựa chọn - nộp trực tiếp, gửi qua bưu chính hoặc qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến khi điều kiện cho phép; giảm thời hạn giải quyết đối với hầu hết các việc hộ tịch) Cùng với đó, Luật hộ tịch cũng đã quy định cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình mà không

Trang 36

phải phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây Theo quy định của Luật thì cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống Đồng thời, Luật quy định khi đăng ký hộ tịch, người dân được cấp trích lục hộ tịch Đối với một số việc hộ tịch quan trọng liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của người dân là khai sinh, kết hôn, Luật Hộ tịch quy định sau khi đăng ký người dân vẫn được cấp bản chính Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn

Đây là điểm mới theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, minh bạch, hiện đại nhằm bảo đảm lợi ích của người dân Thủ tục đăng ký hộ tịch đơn giản, cắt giảm tối đa các giấy tờ không cần thiết và tạo điều kiện thuận lợi cho người có quyền lựa chọn nơi đăng ký và phương thức đăng ký các sự kiện

hộ tịch Theo đó, Luật quy định chỉ cấp 02 loại bản chính Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn, còn các sự kiện hộ tịch khác sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký người yêu cầu đăng ký hộ tịch được cấp Trích lục hộ tịch tương ứng với từng sự kiện hộ tịch đã đăng ký Bản chính trích lục hộ tịch được chứng thực bản sao

Cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình mà không phải phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây Theo quy định của Luật,

cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống và có quyền lựa chọn phương thức đăng

ký như nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc thông qua hệ thống đăng ký trực tuyến trong điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho phép

Luật đề cao vai trò hết sức quan trọng của công tác đăng ký hộ tịch, nhất là đăng ký khai sinh, cấp Giấy khai sinh và Số định danh cá nhân cho người được khai sinh khi đăng ký khai sinh Theo quy định của Luật hộ tịch thì cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình tại nơi

Trang 37

thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống mà không phải phụ thuộc vào nơi

cư trú như trước đây

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý về hộ tịch

Pháp luật quản lý về hộ tịch trong thời gian qua cho thấy, mặc dù pháp luật đã quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và công dân trong việc đăng ký và quản lý hộ tịch, đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác hộ tịch, nhưng trên thực tế hoạt động này còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế Do vậy, cần xác định rõ những yếu tố cơ bản ảnh hướng tới việc thực hiện pháp luật về hộ tịch để xây dựng những giải pháp hiệu quả cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong tình hình hiện nay Đó là các yếu tố:

1.3.1 Ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là “một hình thái ý thức xã hội, gồm những quan

điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người thể hiện thái độ,

sự đánh giá của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, pháp chế,

về tính công bằng, hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, về hành

vi hợp pháp, hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân, các cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế” [12, tr382] Đây là yếu tố quan trọng ảnh

hưởng sâu sắc tới việc thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch Yếu tố này được nhìn nhận từ phía chủ thể có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như ý thức tự giác, chủ động đăng ký hộ tịch của người dân

Cùng với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của kinh tế tri thức, người dân và các cơ quan, tổ chức ngày càng coi trọng hơn những giá trị của các giấy tờ hộ tịch và tầm quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch

Ý thức thực hiện trách nhiệm đăng ký các sự kiện hộ tịch và giữ gìn giấy tờ

hộ tịch được nâng lên rất nhiều Mỗi người dân đã hiểu rõ sự cần thiết của việc đăng ký các sự kiện hộ tịch để được Nhà nước bảo hộ các quyền công

Trang 38

dân cơ bản Các cơ quan nhà nước được giao quyền cũng xác định rõ trách nhiệm của mình trong công tác hộ tịch, coi đó là cơ sở cần thiết để thực hiện quản lý dân cư và xây dựng các chính sách xã hội phù hợp

Mặc dù vậy, hiện nay tình trạng vi phạm pháp luật trong đăng ký và quản

lý hộ tịch vẫn xảy ra, nhất là trong lĩnh vực khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi… Đối tượng vi phạm cũng khá đa dạng, từ cá nhân có trách nhiệm đi đăng ký đến công chức thực hiện việc đăng ký hộ tịch Có nhiều nguyên nhân để

lý giải tình trạng này trong đó có nguyên nhân xuất phát từ ý thức pháp luật của những chủ thể liên quan như do hạn chế về hiểu biết pháp luật, xuất phát từ cách nghĩ đơn giản của người dân không tự giác đi đăng ký khai sinh hoặc khai tử đúng thời hạn quy định vì cho rằng không liên quan đến các chế độ thanh toán nên cũng chẳng cần phải thực hiện đăng ký ngay; hoặc công chức tùy tiện sửa chữa, cải chính làm sai lệch nội dung đăng ký hộ tịch như khai tăng tuổi để đi học sớm, khai giảm tuổi để đủ tuổi được nhận làm con nuôi…

1.3.2 Chất lượng của văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch

Chất lượng của văn bản pháp luật là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho pháp luật được triển khai có hiệu quả Hiện nay hệ thống văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch đã phát huy hiệu quả, góp phần tích cực cho công tác đăng

Trang 39

Pháp luật quản lý về hộ tịch góp phần định hướng lành mạnh hóa quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, phù hợp thuần phong mỹ tục của dân tộc, góp phần hội nhận quốc tế

Bên cạnh những mặt đạt được đó, pháp luật quản lý về hộ tịch ở nước

ta hiện nay còn nhiều bất cập như: các quy định về quản lý hộ tịch còn tản mát trong nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng để giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân

Cơ chế điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch vẫn mang tính bị động, giải quyết sự vụ, nhiều tình huống phát sinh trên thực tế chưa có quy phạm điều chỉnh,

Bộ Tư pháp phải hướng dẫn các địa phương bằng công văn hướng dẫn nghiệp vụ

Vì vậy, để pháp luật quản lý về hộ tịch được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn thì văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch cần phải có chất lượng cao thể hiện ở tính đồng bộ, thống nhất trong nội dung của văn bản; không mâu thuẫn, chồng chéo, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, đồng thời đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về hộ tịch

1.3.3 Công tác tổ chức bộ máy và công chức thực hiện pháp luật quản lý về

hộ tịch

Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch thể hiện qua các biện pháp, chính sách mà Nhà nước ban hành

để có thể đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác các sự kiện hộ tịch phát sinh

Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, hướng dẫn thực hiện pháp luật về hộ tịch cũng như trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, hệ thống chế tài

xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật quản lý về hộ tịch cũng là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc tới công tác đăng ký và quản lý hộ tịch

Trang 40

Trình độ, năng lực quản lý và phẩm chất chính trị, đạo đức, tinh thần trách nhiệm, tính chủ động của công chức là những yếu tố quyết định đảm bảo việc tổ chức thực hiện pháp luật đúng đắn, có hiệu quả

1.3.4 Kinh phí và cở sở vật chất

Pháp luật nói chung, pháp luật quản lý về hộ tịch nói riêng đòi hỏi những điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí nhất định phục vụ triển khai tổ chức thực hiện từ khâu tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến các hoạt động phục vụ việc triển khai thực hiện pháp luật, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện Việc đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả pháp luật quản lý về hộ tịch ở các địa phương

Tiểu kết Chương 1

Có thể nói, hộ tịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con người Việc quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnnhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số kế hoạch hóa gia đình

Để tạo cơ sơ pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác quản lý, đăng

ký hộ tịch theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới cần có hệ thống các quy định pháp luật tạo thành cơ sở pháp lý vững chắc cho quản lý về hộ tịch

Pháp luật quản lý về hộ tịch là hệ thống các quy tắc xử sự do cơ quan

có thẩm quyền ban hành điều chỉnh quản hệ xã hội phát sinh trong việc quản

Ngày đăng: 02/06/2017, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tư pháp (2006) “Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch”, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
3. Bộ Tƣ pháp (2007), “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch”, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
Năm: 2007
4. Bộ Tư pháp (2010) “Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường, thị trấn”, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường, thị trấn
Nhà XB: NXB Tư pháp
5. Bộ Tƣ pháp (2007), Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, phần 2 hộ tịch và quốc tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chứng, hộ tịch và quốc tịch
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2007
14. Học viện Hành chính Quốc gia (2008), Giáo trình “Quản lý Hành chính-Tƣ pháp”, NXBKhoa học vàKỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Hành chính-Tƣ pháp
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: NXBKhoa học vàKỹ thuật
Năm: 2008
15. Học viện Hành chính Quốc gia (2007), Giáo trình “Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật”, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
19. Quốc hội (1945), Hiến pháp, Hà nội 20. Quốc hội (1959), Hiến pháp, Hà Nội 21. Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp", Hà nội 20. Quốc hội (1959), "Hi"ế"n pháp", Hà Nội 21. Quốc hội (1980), "Hi"ế"n pháp
Tác giả: Quốc hội (1945), Hiến pháp, Hà nội 20. Quốc hội (1959), Hiến pháp, Hà Nội 21. Quốc hội
Năm: 1980
1. Đào Duy Anh (1992), Giản yếu Hán - Việt từ điển, quyển thƣợng, Nxb, Khoa học xã hội Khác
6. Bộ Tƣ pháp (2015), Thông tƣ số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 Quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Khác
7. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
8. Phạm Trọng Cường (2006),Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch,Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 6 Khác
9. Phạm Trọng Cường (2007), Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Quốc Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng (2006), Hướng dẫn về đăng ký và quản lý hộ tịch, Bộ Tư pháp, Hà Nội Khác
11. Chính phủ (2015), Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Khác
12. Đàm Thị Kim Hạnh (2008), Tƣ pháp Hà Nội không vì khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 3 năm 2008 Khác
13. Trần Thị Lệ Hoa (2013), Thực trạng đội ngũ công chức Tƣ pháp- Hộ tịch và yêu cầu chuẩn hóa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề pháp luật hộ tịch năm 2013 Khác
16. Trần Duy Rô Nin (2008), Hộ tịch và pháp luật về hộ tịch, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2008 Khác
17. Vũ Đình Tuấn Phương (2005), Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tƣ pháp của công dân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 6 Khác
18. Trần Văn Quảng, (2006), Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tƣ pháp – Hộ tịch trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 9 Khác
25. Ủy ban nhân dân quận Hai Bà Trƣng (2013), Kết quả đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn huyện Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm