1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)

114 109 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)Pháp luật về quản lý viên chức, từ thực tiễn các trưởng trung cấp luật Bộ Tư Pháp (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC - TỪ THỰC TIỄN CÁC

TRƯỜNG TRUNG CẤP LUẬT THUỘC BỘ TƯ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC - TỪ THỰC TIỄN CÁC

TRƯỜNG TRUNG CẤP LUẬT THUỘC BỘ TƯ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN VĂN HÙNG

ĐẮK LẮK, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi; các thông tin, số liệu đảm bảo trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chưa được công

bố trong bất cứ công trình khoa học khác

Người cam đoan

Trần Thị Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn Thạc sĩ được hoàn thành bằng sự nỗ lực và nghiêm túc của tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và luôn nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn khoa học, bạn bè và đồng nghiệp thuộc 05 Trường Trung cấp Luật của Bộ Tư pháp, Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Tư pháp và gia đình tôi

Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn khoa học là Tiến sĩ Phan Văn Hùng, công tác tại Bộ Nội vụ đã luôn dành thời gian, tâm huyết, nhiệt tình chỉ bảo và định hướng cho tôi ngay từ những ngày đầu trong quá trình nghiên cứu, tìm tài liệu và viết Luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Trung cấp Luật Buôn

Ma Thuột đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp, Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Tư pháp đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra, thu thập thông tin để nghiên cứu hoàn thành Luận văn

Xin dành tình cảm và sự biết ơn đến ba mẹ, các anh, chị, em của tôi đã động viên, hỗ trợ, tạo điều kiện cao nhất cho tôi trong cuộc sống, học tập và nghiên cứu để có kết quả này

Xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả

Trần Thị Hường

Trang 5

1.4 Một số văn bản điều chỉnh pháp luật về quản lý viên chức

1.5 Đánh giá chung về pháp luật quản lý viên chức 46

Chương 2: Thực trạng quản lý viên chức tại các Trường Trung

2.1 Hoạt động của các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp 49 2.2 Thực tiễn hoạt động quản lý viên chức tại các Trường Trung

2.3 Cơ chế chính sách thực hiện quản lý viên chức 72 2.4 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân 77

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công

tác quản lý viên chức tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1 Số lượng biên chế công chức, viên chức của các Trường được Bộ Tư pháp giao 56

2 Bảng 2.2 Cơ cấu công chức viên chức của các Trường

3 Bảng 2.3 Cơ cấu viên chức của các Trường theo vị trí công

4 Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn của công chức, viên chức

5 Bảng 2.5 Trình độ tin học ngoại ngữ

58

6 Bảng 2.6 Viên chức đang học tập nâng cao trình độ 69

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 ĐTBD Đào tạo, bồi dưỡng

2 TCL Trung cấp Luật

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang từng bước đổi mới, hoàn thiện, nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế Đặc biệt là sau những thành tựu đạt được của 30 năm công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và khởi xướng; Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016 - 2021), hoạt động của Quốc hội, Chính phủ khóa XIV (2016 - 2021)

Quốc Hội đã thông qua nhiều văn bản luật điều chỉnh về cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 (ngày 13/11/2008), Luật Viên chức số 58/2010/QH12 (ngày 15/11/2010) Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy định về công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên Các cấp, các ngành đã tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về quản lý cán bộ, công chức, viên chức và đảng viên

Có khoảng hơn 11 triệu cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam, đội ngũ này có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế

- chính trị - văn hóa - xã hội Hơn nữa, đất nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, yêu cầu xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đòi hỏi công tác quản lý phải được quan tâm một cách đúng mực Một quốc gia muốn có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mạnh, chuyên nghiệp thì không thể thiếu công tác quản lý khoa học, hiện đại và thống nhất Đặc biệt là công tác quản

Trang 9

thiết phải có sự nghiên cứu về pháp luật quản lý viên chức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

Các văn bản pháp luật về quản lý cán bộ, công chức, viên chức và công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức đã có nhiều đổi mới: công tác tuyển dụng được thực hiện thông qua kỳ thi, theo nguyên tắc cạnh tranh, khách quan, công khai; thi nâng ngạch; thi tuyển lãnh đạo; công tác đánh giá công chức, viên chức dựa trên kết quả công việc và gắn với thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu; thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật và các quy định khác về quy trình trong công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được coi trọng Qua đó, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã từng bước được nâng cao, có phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp được thành lập trong giai đoạn chuyển tiếp pháp luật về quản lý viên chức từ Pháp lệnh cán bộ công chức sang Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Vì lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý viên chức - Từ thực tiễn các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp” làm đề tài

nghiên cứu của luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Với tầm quan trọng của mình, nên cán bộ, công chức, viên chức và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là đề tài luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý và là đề tài được tổ chức nhiều tại các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế Các tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều bài viết trao đổi về đề tài này Tuy nhiên, về đối

Trang 10

cứu về số lượng; chất lượng; hoạt động chuyên môn; những bất hợp lý trong pháp luật điều chỉnh về viên chức; các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức Có thể kể ra các bài viết, công trình nghiên cứu như:

- Nội dung cần có của Luật Viên chức qua bài viết: Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức, GS.TS Phạm Hồng Thái;

- Bàn luận một số nội dung về khái niệm viên chức, điều kiện, quy trình tuyển dụng viên chức, quyền và nghĩa vụ, đạo đức, văn hoá giao tiếp, những

việc không được làm đối với viên chức: Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật Viên chức, Vũ Khoan - Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ;

- Khái niệm và phân loại viên chức, tính nghề nghiệp của viên chức, đạo đức nghề nghiệp của viên chức, thời giờ làm việc, tuổi tuyển dụng và tuổi

nghỉ hưu của viên chức: Viên chức và những vấn đề cần chú ý khi xây dựng Luật Viên chức, Văn Tất Thu;

- Yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ viên chức hiện nay, quan

điểm và phương hướng đổi mới cơ chế quản lý viên chức: Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, Trần Anh Tuấn;

- Yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về viên

chức: Pháp luật về viên chức và những đổi mới về phương thức, cơ chế quản

lý viên chức, Ngô Tự Nam;

- Các giải pháp thực hiện Luật Viên chức để nâng cao chất lượng phục

vụ của đơn vị sự nghiệp: Thực hiện tốt Luật Viên chức để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ của khu vực sự nghiệp công lập,

Trần Văn Tuấn;

Với mong muốn nghiên cứu sâu về những vấn đề liên quan tới pháp

Trang 11

là trong giai đoạn “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [8] Hi vọng luận văn này sẽ có những đóng góp nhất định trong việc

nghiên cứu về pháp luật quản lý viên chức

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Luận văn tập trung nghiên cứu và đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của pháp luật về quản lý viên chức tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận và thực tiễn pháp luật về quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về quản lý viên chức làm

Trang 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Trong luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ;

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý viên chức, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập và tác động của cơ chế, pháp luật tới thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn có những đóng góp sau:

- Góp phần vào hệ thống hóa lý luận về đội ngũ viên chức và quản lý viên chức;

- Góp phần vào đánh giá thực trạng quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp;

- Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn “Pháp luật về quản lý viên chức - Từ thực tiễn các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp”, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1 Viên chức và quản lý viên chức

Chương 2 Thực trạng quản lý viên chức tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp hiện nay

Chương 3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác

Trang 13

Chương 1 VIÊN CHỨC VÀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC 1.1 Viên chức

1.1.1 Khái niệm viên chức

Pháp luật nước ta trong một thời gian dài đã không có sự phân biệt về

cán bộ, công chức và viên chức Chúng ta thường sử dụng cụm từ “cán bộ, công chức” để xác định trong trường hợp người này được bầu cử, phê chuẩn

để đảm nhiệm chức vụ, chức danh trong bộ máy của Đảng, trong cơ quan nhà nước, trong tổ chức chính trị - xã hội theo nhiệm kỳ, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước là cán bộ; trong trường hợp được tuyển dụng, bổ nhiệm, giao giữ một chức vụ, chức danh gắn với trình độ đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động thường xuyên trong bộ máy của Đảng, trong các cơ quan Nhà nước, trong tổ chức chính trị, xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước là công chức; nhưng họ được tuyển dụng hay giao giữ một công việc thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, của nhà nước, một phần từ nguồn thu của đơn vị sự nghiệp gọi là viên chức Như vậy, có thể thấy pháp luật về viên chức ở nước ta là một bộ phận của pháp luật về cán bộ, công chức Trong thời gian đó, ở nước ta không có sự phân biệt cán bộ, công

chức, viên chức mà được nhập chung vào một nhóm gọi là “cán bộ, công chức, viên chức”

Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 chưa quy định rõ thế nào là

“cán bộ”, “công chức”, “viên chức” Từ khi Luật Viên chức 2010 có hiệu

lực (ngày 01/01/2012), Luật Cán bộ, công chức 2008 có hiệu lực (ngày 01/01/2010) đã quy định cụ thể thế nào là cán bộ, công chức và viên chức

Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính

Trang 14

nghiệp của nhà nước đã đưa ra sự phân biệt giữa viên chức với cán bộ, công chức cùng được điều chỉnh trong Pháp lệnh cán bộ, công chức Theo quy định của Nghị định này thì viên chức được hiểu là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán

bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003

Từ điển Tiếng Việt: “Viên chức là người làm việc trong một cơ quan của nhà nước hay trong một sở tư” [34, tr.1415]

Theo Từ điển Luật học:

Viên chức là người làm việc trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị

sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ đơn

vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật [33, tr.854]

Luật Viên chức 2010 đã đưa ra định nghĩa về viên chức như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [26]

Theo định nghĩa nêu trên, viên chức là công dân Việt Nam tức là người

có quốc tịch Việt Nam; làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; có trình

độ chuyên môn, năng lực phù hợp với vị trí việc làm

Trang 15

Luật Viên chức cũng đã làm rõ khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức, xác định rõ các vấn đề chung nhất trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức: các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; các nguyên tắc quản lý viên chức phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam và tính chất, đặc điểm lao động của viên chức

Luật Viên chức đã làm rõ các khái niệm như vị trí việc làm, tuyển dụng, hợp đồng làm việc, đơn vị sự nghiệp công lập, quy tắc ứng xử, đặc

biệt là “chức danh nghề nghiệp” của viên chức để phân biệt với “ngạch” của

cán bộ, công chức

"Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước" [26]

Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Điều 9 Luật Viên chức

2010 được chia thành hai loại, là đơn vị sự nghiệp công được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công chưa được giao quyền tự chủ Như vậy, đơn vị

sự nghiệp công lập có thể hoạt động như một doanh nghiệp, tự chịu trách nhiệm về dịch vụ do mình cung ứng nhưng không nhằm mục đích lợi nhuận Với xu hướng xã hội hóa các dịch vụ công, các đơn vị sự nghiệp công lập có thể tự tìm kiếm nguồn tài chính để đầu tư cho sự phát triển của mình, bảo đảm cung ứng dịch vụ công ngày một tốt hơn

Theo quy định của Luật Viên chức, vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp là căn cứ xác định chức vụ, trình độ, năng lực của viên chức Để bảo đảm mọi chế độ, chính sách đối với viên chức phải căn cứ vào vị trí việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp của viên chức

Trang 16

Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập [26]

“Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong từng lĩnh vực ngành nghề hoạt động của viên chức” [26]

Trên thực tế, viên chức làm việc trong các lĩnh vực cung cấp các dịch

vụ công thiết yếu cho cộng đồng như y tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, thể dục, thể thao, giao thông công cộng, đều có các chức danh nghề nghiệp như bác sĩ, giáo viên, giảng viên, vận động viên, đạo diễn Việc quy định vị trí làm việc gắn với chức danh nghề nghiệp theo quy định của Luật Viên chức đã thể hiện rõ đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức Việc xác định ai ở

vị trí làm việc nào, thuộc chức danh nghề nghiệp nào sẽ được thể hiện trong

hợp đồng lao động Việc sử dụng khái niệm "chức danh nghề nghiệp" thay cho khái niệm "ngạch" đã thể hiện sự khác nhau giữa viên chức và công chức

trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp

1.1.2 Đặc điểm của viên chức

Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức 2010, viên chức có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Là công dân Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Hiến pháp

2013 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Viêt Nam” [25] Người được xác định có quốc tịch Việt Nam (là công

dân Việt Nam) theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam

- Được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào

Trang 17

động tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển), người trúng tuyển viên chức được đơn vị sự nghiệp công lập ký hợp đồng làm việc Thời hạn, nội dung và hình thức của hợp đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật Công việc hoặc nhiệm vụ được giao phù hợp với vị trí việc làm tuyển dụng, chức danh nghề nghiệp mà viên chức được bổ nhiệm

- Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy

định của pháp luật Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền thành

lập nhằm cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước, nên hoạt động của đơn vị này phải theo quy định của nhà nước Lương, các chế độ chính sách đối với viên chức phải được thực hiện theo quy định chung của nhà nước

Với những đặc điểm nêu trên, Luật Viên chức 2010 đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp và tiền lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.3 Phân loại viên chức

Theo Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức trong các đơn

vị sự nghiệp của nhà nước thì viên chức được phân loại theo trình độ đào tạo, theo ngạch viên chức hoặc vị trí công tác, mỗi loại viên chức có các yêu cầu, tiêu chuẩn riêng Điều 4 của Nghị định đã phân loại viên chức như sau:

- Theo trình độ đào tạo, viên chức có các loại:

+ Viên chức loại A: yêu cầu chuẩn là trình độ giáo dục đại học trở lên thì được bổ nhiệm vào ngạch;

+ Viên chức loại B: yêu cầu chuẩn là trình độ giáo dục nghề nghiệp thì

Trang 18

+ Viên chức loại C: yêu cầu chuẩn là trình độ dưới giáo dục nghề nghiệp thì được bổ nhiệm vào ngạch

- Theo ngạch viên chức, viên chức có các ngạch sau:

+ Tương đương với ngạch chuyên viên cao cấp trở lên;

+ Tương đương ngạch chuyên viên chính;

+ Tương đương ngạch chuyên viên;

- Theo vị trí việc làm, viên chức có 02 loại:

+ Viên chức quản lý là “người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý” [26]

+ Viên chức không giữ chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập

- Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau:

Trang 19

Tùy vào từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của viên chức mà tiêu chuẩn của từng hạng chức danh nghề nghiệp sẽ khác nhau

Ví dụ: Điều 4 Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày

16 tháng 9 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ quy định mã

số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học công lập, đã quy định

về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp Giáo viên tiểu học hạng II gồm những nhiệm vụ phải thực hiện; tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn

về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên

Tại điểm a, khoản 1, Điều 9 Thông tư cũng quy định: “Chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng II được áp dụng hệ số lương viên chức loại A1 (từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98)” [9]

1.1.4 Hoạt động nghề nghiệp của viên chức

Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy

là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ, vì vậy, Luật Viên chức 2010 đã làm rõ hoạt động nghề nghiệp của viên chức như sau:

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan [26]

Từ định nghĩa trên ta thấy, hoạt động nghề nghiệp của viên chức mang tính phục vụ, không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm cung cấp các nhu cầu cơ bản, thiết yếu cho người dân trong các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe, giáo dục, môi trường, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, lao động việc làm,

an sinh xã hội, thông tin và truyền thông, Hoạt động nghề nghiệp của viên

Trang 20

- Là hoạt động phục vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản, thiết yếu

để duy trì và phát triển con người Xã hội càng phát triển, những nhu cầu của con người ngày càng cao, nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo và cung cấp tốt các nhu cầu này để phục vụ người dân Hoạt động nghề nghiệp của viên chức liên quan đến một số lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe,

vệ sinh môi trường, việc làm, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, an sinh xã hội,

- Hoạt động nghề nghiệp của viên chức được thực hiện trong các lĩnh vực có tính chất chuyên môn sâu, theo các tiêu chuẩn nhất định Mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cung cấp một loại nhu cầu cơ bản, thiết yếu Ví dụ: bệnh viện đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh; trường học đáp ứng nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao dân trí; viện nghiên cứu đáp ứng nhu cầu về nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn,

- Là hoạt động vì cộng đồng, cung cấp cho người dân và cộng đồng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, vệ sinh môi trường, văn hóa, nghệ thuật, …

- Là hoạt động mang tính nghề nghiệp cao nên có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp, phù hợp với công việc hoặc nhiệm vụ được giao, viên chức phải trải qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng và được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp có tính năng khiếu như: văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao thì năng khiếu, tố chất và tài năng bẩm sinh là yếu tố cần thiết, văn bằng, chứng chỉ không phải

là yêu cầu quan trọng Còn một số ngành, lĩnh vực như nghiên cứu, đào tạo thì người có trình độ, có kinh nghiệm có thể cống hiến, sáng tạo và đòi hỏi

Trang 21

- Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của viên chức, tinh thần trách

nhiệm và đạo đức nghề nghiệp phải được đề cao vì “hoạt động nghề nghiệp của viên chức tác động đến sự phát triển của thể lực, trí lực và đời sống tinh thần Ví dụ, trong ngành y tế có quy định về y đức; trong ngành giáo dục có quy định về đạo đức nhà giáo, ” [1]

Viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước Vì vậy, các quyền và nghĩa vụ của viên chức được pháp luật quy định Do đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức là hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ, có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng riêng nên Luật Viên chức 2010 đã quy định các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp buộc viên chức phải tuân theo và chịu trách nhiệm trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp; các quyền

và nghĩa vụ của viên chức được quy định theo hướng mở nhằm tạo điều kiện cho viên chức có thể phát huy tài năng, sức sáng tạo, khả năng cống hiến của mình và được hưởng các chế độ, chính sách đặc thù trong các lĩnh vực hoạt động đặc thù theo quy định của pháp luật Ngoài các quyền được quy định chung như cán bộ, công chức (các quyền và các chế độ liên quan đến tiền lương, nghỉ ngơi được đảm bảo thực hiện theo quy định của pháp luật như chế

độ xét nâng bậc lương, hưởng các phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp chức vụ, nghỉ

lễ, tết, nghỉ phép, …), viên chức còn có các quyền như sau:

- Quyền về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định (Điều 14) Với quy định này, viên chức có điều kiện phát huy tài năng, năng khiếu của mình, mặt khác còn tăng thêm kinh nghiệm làm việc, thu nhập, cải thiện cuộc sống

- Các quyền khác của viên chức (Điều 15), viên chức có đóng góp cho

Trang 22

Cùng với việc quy định các quyền của viên chức, Luật Viên chức 2010 cũng đã quy định các nghĩa vụ của viên chức phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức Các nghĩa vụ của viên chức gồm:

- Nghĩa vụ chung của viên chức (Điều 16), cũng giống cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ công vụ hay tham gia nền công vụ cũng có nghĩa

vụ phải thực hiện Viên chức khi thực hiện nhiệm vụ hoặc công việc phải tuân thủ pháp luật, thực hiện nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; thực hiện các quy định về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong ngành, lĩnh vực hoạt động, …

- Trong hoạt động nghề nghiệp, viên chức cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 17) như là đảm bảo thời gian và chất lượng của công việc; sự phối hợp với đồng nghiệp trong việc thực hiện công việc, thái độ khi giao tiếp, làm việc với nhân dân; …

- Ngoài các nghĩa vụ chung, viên chức quản lý còn phải thực hiện các nghĩa vụ theo đúng chức trách, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được giao; giữ gìn sự đoàn kết của đơn vị; … (Điều 18)

- Là cán bộ, công chức hay là viên chức trong quá trình làm việc, thực hiện nhiệm vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật, không được làm những việc mà pháp luật quy định không được làm Điều 19 Luật Viên chức quy định những việc viên chức không được làm, nếu viên chức vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định của pháp luật

1.2 Quản lý viên chức

1.2.1 Khái niệm quản lý

Nói đến quản lý là nói đến sự tác động có ý thức của con người lên một

hệ thống nào đó nhằm đạt được mục đích nhất định Quản lý xuất hiện khi có

Trang 23

người thấy cần thiết phải có sự quản lý để các hoạt động của con người có tổ chức hơn, chặt chẽ hơn, gắn kết với nhau hơn

Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ những góc độ khác nhau và đưa ra định nghĩa riêng về quản lý, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý

- Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) được coi là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, ông cho rằng quản lý là hoàn thành công việc và biết chính xác giá trị của công việc đó

- Theo Henrry Fayol (1841 - 1925), là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình, ông là người có ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản

lý từ thời kỳ cận - hiện đại Ông cho rằng quản lý là một tiến trình, nó bao gồm các khâu như lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát nhằm đạt được mục tiêu đề ra; và ông đã nêu ra 5 chức năng của quản lý là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, phối hợp và kiểm tra Quản lý chính là thực hiện 5 chức năng trên

- Peter Ferdinand Drucker (1909 - 2005), ông được coi là cha đẻ của

ngành Quản trị kinh doanh hiện đại: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích” [19]

- Theo điều khiển học, quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc để cho hệ thống hay quá trình ấy vận hành theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đặt ra

- Theo C Mác, mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động

Trang 24

Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những sự vận động của những khí quan độc lập của

nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [12, tr.480]

- C Mác đã coi “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [13, tr 29 - 30]

Như vậy, ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần có quản lý, bởi

vì hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết lại dưới nhiều hình thức, có thể là tổ chức, nhóm, tổ, hội, đội, …

- Lênin đã viết: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn” [35, tr.473]

Xét về góc độ ngôn ngữ, nghĩa của từ “quản lý” còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau:

- Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [32, tr.15]

- “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” [32, tr.15]

- Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [34, tr.1013]

Trang 25

- Từ điển Luật học: “Quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định” [33, tr.633]

Từ những quan niệm trên cho thấy, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, điều khiển, chỉ đạo hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan Quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết trong một tổ chức để gắn kết con người lại với nhau Đó là quá trình tạo nên sức mạnh của các cá nhân với nhau trong một tổ chức, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức, xã hội Quản lý tốt thì xã hội phát triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội

Quản lý là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng lớn, nội dung và phạm vi quản lý càng phong phú, phức tạp hơn

1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, bởi vì các hoạt động của xã hội đều do nhà nước quản lý Quản lý nhà nước là tổng thể các thể chế, tổ chức bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Nói đến quản

lý nhà nước là nói đến quyền lực nhà nước

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội

và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

tổ quốc xã hội chủ nghĩa [21, tr.407]

Trang 26

- “Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” [31, tr.11]

- “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các

cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi” [33, tr.633]

- “Quản lý nhà nước là tổ chức điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo pháp luật” [34, tr.1013]

Như vậy, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng

và nhiệm vụ của nhà nước

Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động của bộ máy nhà nước

từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp, từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đến việc chỉ đạo và đảm bảo cho văn bản đó được thực hiện trên thực tế, đến việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích của các đối tượng khi

tham gia các hoạt động xã hội “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [25]

1.2.3 Khái niệm quản lý viên chức

Luật viên chức quy định các nội dung quản lý viên chức: Một trong các nguyên tắc được nhấn mạnh để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức là:

“Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên

cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp

Trang 27

chế quản lý viên chức theo chế độ việc làm, nhấn mạnh năng lực, tài năng bên cạnh phẩm chất và trình độ Luật đề cao và gắn thẩm quyền với trách nhiệm người đứng đầu trong v ấn đề xác định số lượng vị trí việc làm , số lượng viên chức và quản lý viên chứ c để phát huy tính tự chủ , tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập , góp phần đẩy mạnh cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công Thống nhất quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức , đồng thời đẩy mạnh phân công , phân cấp quản lý viên chức Ưu tiên người có tài năng trong tuyển dụng viên chức Việc tuyển dụng được thực hiện thông qua các hình thức thi tuyển , xét tuyển hoặc kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển , gắn với thẩm quyền củ a người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công l ập Đặc biệt , người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam , nếu đủ các tiêu chuẩn , điều kiện do Chính phủ quy định cũng được đăng ký

dự tuyển vào viên chức

Để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý viên chức, Luật Viên chức quy định rất rõ ràng vấn đề này Việc quản lý thực hiện theo quy định tại Chương IV của Luật Viên chức về quản lý viên chức: Chính phủ thống nhất quản lý - nghĩa là các quy định cụ thể về tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, đối với những người được xác định là viên chức, đều được thống nhất quản lý và thực hiện theo các quy định của Chính phủ Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về viên chức theo sự phân công, phân cấp

về quản lý viên chức

Quản lý viên chức là quản lý nhà nước về viên chức, phân định nhiệm

vụ, quyền hạn của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp trong thực hiện quản lý nhà nước về viên chức (Điều 47 Luật Viên chức),

Trang 28

Thứ nhất, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về viên

chức Đây là nội dung nhằm bảo đảm về việc xây dựng thể chế quản lý nhà nước về viên chức, là công cụ để nhà nước quản lý về viên chức

Thứ hai, xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức Thực hiện theo dõi,

thống kê, cung cấp thông tin về viên chức; xây dựng kế hoạch, quy hoạch về đội ngũ viên chức, đào tạo, bồi dưỡng viên chức; ban hành quy định danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghề nghiệp viên chức; quản lý hồ sơ viên chức

Thứ ba, nhằm đảm bảo ổn định và duy trì hoạt động lao động của viên

chức, phải tiến hành công tác kiểm tra, thanh tra việc quản lý nhà nước về viên chức, báo cáo về đội ngũ viên chức

1.3 Pháp luật về quản lý viên chức

1.3.1 Khái niệm pháp luật

Qua quá trình lao động, con người sáng tạo ra ngôn ngữ Trong đời sống hàng ngày, con người giao tiếp với nhau sẽ hình thành thói quen, các thói quen dần hình thành các quy tắc, các chuẩn mực trong ứng xử của cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và các thành viên trong cộng đồng phải tuân thủ, pháp luật được hình thành Pháp luật là công cụ được nhà nước sử dụng

để điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của con người khi tham gia vào các quan hệ xã hội nhất định

Nhà nước và pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó chặt chẽ

và ràng buộc lẫn nhau Nhà nước cần có pháp luật để thể hiện ý chí của mình,

để tổ chức bộ máy và quản lý xã hội Còn pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, được nhà nước bảo đảm thực hiện, tồn tại cùng với nhà nước thì pháp luật mới phát huy được vai trò của mình

Trang 29

Montesquieu quan niệm: “Luật, theo nghĩa rộng nhất là những quan hệ tất yếu từ trong bản chất của sự vật Với nghĩa này thì mọi vật đều có luật của

nó Thế giới thần linh, thế giới vật chất, những trí tuệ siêu việt, cho đến các loài vật và loài người đều có luật của mình” [23, tr.39]

Theo Heghen (1770 - 1831): “Pháp luật là ở chỗ tồn tại hiện có của ý chí tự do, do vậy pháp luật là tự do nói chung như ý niệm” [20, tr.35]

Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778): “chỉ có một đạo luật duy nhất đòi hỏi phải được sự đồng ý của tất cả mọi người, đó là công ước xã hội”

[22, tr.51]

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội (của giai cấp thống trị trong các nhà nước bóc lột [33, tr.606] Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về pháp luật, nhưng tựu chung lại pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể

Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước, nhà nước có thể trao quyền cho các tập thể, cá nhân tiến hành hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật

1.3.2 Khái niệm pháp luật về quản lý viên chức

Quản lý nhà nước về viên chức là một trong những hoạt động quản lý của nhà nước, thông qua việc quản lý về viên chức, nhà nước nắm được tình hình biến động, chất lượng, số lượng của đội ngũ viên chức

Trang 30

Pháp luật về quản lý viên chức là tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm hoạt động như: xây dựng vị trí việc làm, tuyển dụng,

sử dụng, quản lý, quyền, nghĩa vụ của viên chức, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức, đào tạo bồi dưỡng, thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức, … trong đơn vị sự nghiệp công lập

Pháp luật về quản lý viên chức là lĩnh vực pháp luật có tính chất liên ngành được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Hiến pháp, luật, bộ luật, nghị định, … điều chỉnh nhiều nhóm hoạt động của viên chức, nhưng các nhóm hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng bổ trợ cho nhau, có khi đan xen lẫn nhau Mỗi nhóm lại được quy định theo một trình tự nhất định nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc trong quản lý viên chức

1.3.3 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về viên chức

Như đã đề cập ở trên, pháp luật về quản lý viên chức tuy được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau quy định về các hoạt động như: xây dựng vị trí việc làm, tuyển dụng, sử dụng, quản lý, quyền, nghĩa vụ của viên chức, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức, đào tạo bồi dưỡng, thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức, … trong đơn vị sự nghiệp công lập Nhưng các nhóm hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng bổ trợ cho nhau, có khi đan xen lẫn nhau

Hình thành đơn vị sự nghiệp công lập, đồng hành với việc xây dựng bộ máy nhân sự để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập, là việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ cung cấp dịch vụ công, quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và nhiều vấn

đề khác liên quan đến hoạt động của viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập

Trang 31

Dựa vào các quan hệ được điều chỉnh bởi pháp luật về quản lý viên chức, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của pháp luật có thể xác định nội dung của pháp luật về quản lý viên chức gồm những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, về xác lập dịch vụ công ở các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy

nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Thứ hai, các quy định liên quan đến điều kiện, thẩm quyền tuyển dụng;

nội dung, hình thức tuyển dụng; trình tự, thủ tục tuyển dụng để lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập

Thứ ba, liên quan đến quản lý, sử dụng viên chức là việc phân công

nhiệm vụ, biệt phái, bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức; thay đổi chức danh nghề nghiệp viên chức, …

Thứ tư, các quyền và nghĩa vụ của viên chức về hoạt động nghề nghiệp,

chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách liên quan,…

Thứ năm, liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá viên chức với các

nội dung liên quan đến đánh giá viên chức làm căn cứ tiếp tục bố trí, sử dụng,

bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức

Thứ sáu, liên quan đến kỷ luật viên chức, viên chức vi phạm các quy

định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu hình thức kỷ luật theo quy định của pháp luật, ngoài ra còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan

Trang 32

Thứ bảy, liên quan đến việc khen thưởng viên chức, viên chức có công

trạng, thành tích và cống hiến trong công tác, hoạt động nghề nghiệp thì được khen thưởng, tôn vinh theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và được xét nâng lương trước thời hạn, nâng lương vượt bậc theo quy định

Thứ tám, liên quan đến hợp đồng làm việc của viên chức, tập sự viên

chức gồm các quy định liên quan đến quá trình người được tuyển dụng vào viên chức làm quen với môi trường công tác và tập làm những công việc của

vị trí việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp sẽ được bổ nhiệm được quy định trong hợp đồng làm việc,

1.4 Một số văn bản điều chỉnh pháp luật về quản lý viên chức hiện nay

Như phần trên đã phân tích, pháp luật về quản lý viên chức là tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm hoạt động như: xây dựng vị trí việc làm, tuyển dụng, sử dụng, quản lý, quyền, nghĩa vụ của viên chức, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức, đào tạo bồi dưỡng, thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức, … trong đơn vị sự nghiệp công lập

Văn bản đầu tiên, có giá trị pháp lý tối cao là Hiến pháp, là cơ sở cho việc hình thành pháp luật về quản lý viên chức Hiến pháp 2013 đã quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, quyền của công dân, Đây được xem như là

bộ quy tắc ứng xử, quy định tiêu chuẩn, trách nhiệm của cán bộ, công chức,

viên chức “phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” [25]

Trang 33

Luật Viên chức được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 ngày 15/11/2010 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 Luật gồm 11

chương, 62 điều “quy định về viên chức; quyền, nghĩa vụ của viên chức; tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” [25] Luật Viên chức được coi là văn bản trực tiếp và quan trọng nhất liên

quan đến mọi mặt của viên chức: xác định phạm vi điều chỉnh; các quyền, nghĩa vụ của viên chức; quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức, …

Nghị định của Chính phủ điều chỉnh các mặt cụ thể của hoạt động viên chức như: tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp, … Bộ Nội vụ là cơ quan trực thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viên chức, ban hành các văn bản quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm, bậc lương, …

Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý viên chức phải đảm bảo 4 nguyên tắc trong quản lý viên chức:

1 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự thống nhất quản lý của Nhà nước

2 Bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập

3 Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc

4 Thực hiện bình đẳng giới, các chính sách ưu đãi của Nhà nước

Trang 34

giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước đối với viên chức [26]

Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý viên chức gồm:

- Luật Viên chức năm 2010;

- Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức;

- Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;

- Thông tư 12/2012/TT-BNV ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội

vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức;

- Thông tư 19/2014/TT-BNV ngày 04 tháng 12 năm 2014 của Bộ Nội

vụ hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức;

- Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập;

- Thông tư số 11/2010/TTLT-BTP-BNV ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Liên Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, quản lý và sử dụng viên chức đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp;

- Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15 tháng 4 năm 2009 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện

Trang 35

quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo;

- Thông tư số 22/2014/TT-BGDĐT ngày 09 tháng 7 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo trung cấp chuyên nghiệp;

- Thông tư số 16/2010/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về chương trình khung trung cấp chuyên nghiệp;

- Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức;

- Thông tư 04/2015/TT-BNV ngày 31 tháng 8 năm 2015 của Bộ Nội vụ ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức;

- Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ ban hành quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức;

- Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị nghiệp công lập;

- Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức;

- Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế

Trang 36

Các văn bản quy phạm pháp luật bước đầu đã đáp ứng và tạo nền tảng pháp lý đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước mang lại hiệu quả, tạo tiền đề cho sự phát triển của công tác đào tạo, bồi dưỡng ở các đơn vị sự nghiệp công lập, là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức Qua việc xem xét một cách khái quát các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức cho thấy pháp luật về quản lý viên chức

có các đặc điểm sau:

- Là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, ngoài việc được quy định trong Hiến pháp, Luật Viên chức và các nghị định về viên chức, ta còn thấy sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau như trong Bộ Luật lao động (hợp đồng làm việc, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, …), Luật bảo hiểm xã hội (quy định về việc đóng bảo hiểm, chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, …), Luật Hình sự, …

- Luôn có sự thay đổi, có sự phân biệt giữa các nhóm viên chức

- Kịp thời xây dựng các quy định điều chỉnh phù hợp với hoạt động nghề nghiệp của viên chức: tiêu chuẩn vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp

- Công tác tổ chức đội ngũ viên chức có chất lượng, tính chuyên nghiệp cao, đảm bảo các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức và quản lý viên chức

Theo quy định tại Điều 2, Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức nếu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này

Trang 37

Theo đó, những người trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại khoản 1, khoản 4, khoản 5, Điều 11 Nghị định nêu trên là công chức Vì vậy, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường trung cấp luật là công chức vì các trường trung cấp luật là đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc Bộ Tư pháp

1.4.1 Những quy định về tuyển dụng viên chức

Với ý nghĩa là lựa chọn người để làm việc, đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực của một tổ chức nên hoạt động tuyển dụng mang tính cạnh tranh cao, không chỉ có sự cạnh tranh giữa những người tham gia tuyển dụng mà còn có

sự cạnh tranh giữa các tổ chức trong việc tuyển dụng người làm việc Chất lượng nguồn nhân lực có tính chất quyết định đến hiệu quả hoạt động của một

tổ chức Vì vậy, các đơn vị tuyển dụng sẽ đưa ra các yêu cầu để lựa chọn được những người có trình độ chuyên môn, có năng lực làm việc, phẩm chất đạo đức phù hợp với vị trí việc làm

Tuyển dụng là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý hoạt động có tính quyết định cho sự phát triển của mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị Các đơn vị sự nghiệp công lập cũng vậy, việc tuyển dụng viên chức có tính quyết định cho

sự phát triển của đơn vị Việc tuyển dụng được những viên chức giỏi thì hoạt động của đơn vị sẽ đạt hiệu quả cao Theo quy định của Luật Viên chức, việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế, thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển, theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh Hình thức thi, nội dung thi phải phù hợp với ngành nghề, đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất, có trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng Luật cũng quy định hình thức tuyển dụng qua xét tuyển với các trường hợp đặc biệt

Trang 38

Luật Viên chức 2010, đã đưa ra khái niệm về tuyển dụng viên chức như

sau: “Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập” [26] Để được làm viên chức

trong đơn vị sự nghiệp công lập, người được tuyển dụng phải có phẩm chất đạo đức, có trình độ và năng lực để đảm nhiệm công việc

Việc tuyển dụng viên chức phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện, hình thức, nội dung tuyển dụng nhằm đảm bảo các nguyên tắc trong tuyển dụng, phải thực sự xuất phát từ nhu cầu công việc, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp mà viên chức đảm nhận, quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập Công việc mà viên chức đảm nhận phải phù hợp với vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp của đơn vị Như vậy, giữa việc tuyển dụng viên chức và xây dựng vị trí việc làm có mối liên hệ với nhau, danh mục

vị trí việc làm là bản mô tả công việc của mỗi vị trí chức danh với những nhiệm vụ cụ thể, chi tiết, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, các ứng xử cần thiết cho yêu cầu vị trí việc làm đó Xây dựng danh mục vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp làm cơ sở để tuyển dụng đúng người, đúng việc, đúng số lượng, đảm bảo cơ cấu hợp lý

Ngoài các điều kiện theo quy định của pháp luật, người tham gia dự tuyển viên chức phải đáp ứng thêm những điều kiện mà đơn vị sự nghiệp công lập đặt ra Các điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức được thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Viên chức và Điều 4 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức

Trang 39

Thứ nhất, người được tuyển dụng phải có quốc tịch Việt Nam và cư trú

tại Việt Nam vì hoạt động nghề nghiệp của viên chức là thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập, phục vụ quản lý nhà nước Điều kiện trên nhằm đảm bảo cho hoạt động quản lý của nhà nước: hộ khẩu thường trú, tạm trú, chứng minh nhân dân, giấy khai sinh,

Thứ hai, người được tuyển dụng phải đạt một độ tuổi nhất định (từ 18

tuổi trở lên) Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực hoạt động tuổi dự tuyển có thể thấp hơn: văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, Nhưng phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật Quy định này nhằm đảm bảo khả năng thực hiện công việc và chịu trách nhiệm về hành vi của mình (trách nhiệm pháp lý) Quy định về độ tuổi dự tuyển để tạo mặt bằng chung, bảo đảm khả năng làm việc của viên chức

Thứ ba, có nguyện vọng làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thể

hiện qua đơn đăng ký dự tuyển, mẫu đơn đăng ký dự tuyển theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức

Thứ tư, phải có lý lịch rõ ràng, giúp đơn vị sự nghiệp công lập có thể

biết được những thông tin cơ bản của người đăng ký dự tuyển như: gia đình, quá trình học tập, công tác, Làm cơ sở cho việc quản lý viên chức Lý lịch phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận trong thời hạn 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển

Thứ năm, có trình độ chuyên môn, kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm

vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Mang tính nghề nghiệp cao nên có yêu cầu về trình độ,

Trang 40

viên chức Thể hiện qua các văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề được các cơ sở giáo dục, đào tạo cấp hoặc năng khiếu, kỹ năng đặc biệt phù hợp với vị trí việc làm

Thứ sáu, hoạt động nghề nghiệp của viên chức trong các đơn vị sự

nghiệp công lập nhằm cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước nên yêu cầu đối với người tham gia dự tuyển viên chức phải có đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện công việc, nhiệm vụ Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, không có sức khỏe thì không thể lao động có hiệu quả, vì vậy thể lực

có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động nghề nghiệp cũng như hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức sau này Người đăng ký dự tuyển viên chức phải có giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng theo quy định tại Thông tư số 13/2007/TT-BYT ngày 21/11/2007 của

Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe

Thứ bảy, ngoài ra, đơn vị sự nghiệp công lập có thể đặt ra các điều kiện

khác theo yêu cầu của vị trí việc làm nhưng không được trái với quy định của pháp luật như về ngoại hình, giọng nói,

Thứ tám, để được hưởng quyền lợi ưu tiên trong tuyển dụng viên chức

theo quy định của pháp luật, người tham gia dự tuyển viên chức phải cung cấp giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên (nếu có) do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực

Ngoài ra việc tuyển dụng viên chức phải được thực hiện theo một trình

tự nhất định, theo quy định của pháp luật Hiện nay, công tác tuyển dụng viên chức được thực hiện theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức liên quan đến sức khỏe, văn hóa,

Ngày đăng: 19/12/2017, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w