1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở từ thực tiễn các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông hồng

188 141 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của chế định hoà giải ở cơ sở, một mặt vừa đáp đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong điều kiện m

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHI LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOÀ GIẢI CƠ SỞ

TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH THUỘC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 9 38 01 02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Minh Đoan

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN PHI LONG

Trang 3

BẢNG VIẾT TẮT

- HGCS: Hoà giải ở cơ sở

- THPL: Thực hiện pháp luật

- UBND: Uỷ ban nhân dân

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- MTTQ: Mặt trận Tổ quốc

- ĐBSH: Đồng bằng Sông Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 9

1.1 Tình hình nghiên cứu về hoà giải cơ sở, pháp luật hoà giải cơ sở 9

1.2 Tình hình nghiên cứu về thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật hoà giải cơ sở 17

1.3 Tình hình nghiên cứu về thực hiện pháp luật hoà giải cơ sở ở các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng 22

1.4 Đánh giá về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 24

1.5 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 26

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI CƠ SỞ 30

2.1 Hòa giải cơ sở và pháp luật hòa giải cơ sở 30

2.2 Khái niệm, vai trò, nội dung, hình thức, chủ thể thực hiện pháp luật về hoà giải ở cơ sở 45

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật hòa giải cơ sở 64

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH THUỘC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 70

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở ở các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng 70

3.2 Tình hình thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở ở các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng trong những năm qua 78

3.3 Đánh giá chung: 102

Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH THUỘC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 120

4.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở 120

4.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở 127

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hòa giải là một truyền thống, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Công tác HGCS góp phần giữ ổn định trật tự xã hội, giữ gìn tình làng nghĩa xóm, tình đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng, tập thể, hàn gắn, vun đắp

sự hòa thuận, hạnh phúc cho từng gia đình Nhiều vụ việc mâu thuẫn giữa hàng xóm, láng giềng, giữa những người thân trong gia đình, dòng họ nhờ được kịp thời can thiệp, dàn xếp của những cán bộ hòa giải mà giải tỏa được những bức xúc, giữ được "tình làng, nghĩa xóm" và sự bình yên trong mỗi mái ấm gia đình Hơn nữa việc thực hiện tốt công tác HGCS sẽ có tác dụng tích cực trong việc xây dựng xã hội bình yên, giàu mạnh, tăng cường tình đoàn kết trong nhân dân và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn mới ở nước ta HGCS thể hiện tính dân chủ trong giải quyết tranh chấp; thông qua HGCS, nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình Với phương châm giải quyết "thấu tình, đạt lý", HGCS là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý và tình, giữa đạo đức và pháp luật, là phương thức thể hiện dân chủ và

sự thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc"

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Xét xử đúng là tốt, nhưng không phải xét xử thì càng tốt hơn" Lời dạy của Người đã cho thấy công tác HGCS có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội Hòa giải giúp các bên có tranh chấp tìm được hướng giải quyết tích cực, biến những vấn đề phức tạp thành đơn giản, trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện với tinh thần "chín bỏ làm mười", nhằm hướng tới sự đoàn kết gắn bó bền vững, lâu dài trong mỗi cộng đồng dân cư và toàn xã hội

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác hoà giải Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám (khóa VII)

đã chỉ rõ: "Coi trọng vai trò hòa giải của chính quyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở" Hiến pháp năm 1980, tại điều 128, Hiến pháp

Trang 6

2

1992, tại Điều 127, chương X, phần Toà án nhân dân đều quy định: "Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật"

Cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), trên cơ

sở tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải cơ sở năm 1998, ngày 20/6/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Hoà giải ở cơ sở Đây

là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của chế định hoà giải ở

cơ sở, một mặt vừa đáp đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong điều kiện mới, chứng minh sự tồn tại cần thiết của hoà giải ở cơ

sở trong đời sống xã hội, một mặt vừa thể hiện sự bắt nhịp với xu thế của thế giới khi hoà giải đã và đang được quan tâm nghiên cứu và tổ chức thực hiện như một phương thức hữu hiệu trong giải quyết các tranh chấp ngoài toà án Phương thức giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn và xung đột trong xã hội thông qua con đường hoà giải đã và đang có chiều hướng trở thành xu thế của

thời đại Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác HGCS, Đảng

và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về lĩnh vực này Tuy nhiên, nếu pháp luật ban hành mà không được thực thi trong cuộc sống thì vai trò, ý nghĩa của nó sẽ không được phát huy Do đó, việc THPL về HGCS có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập và tạo dựng sự đồng thuận xã hội thông qua việc giải quyết những tranh chấp, xích mích trong nhân dân Nghiên cứu THPL về HGCS là một yêu cầu cần thiết, những kết quả nghiên cứu có thể là một nội dung tham vấn cho các cơ qua tư pháp và cơ quan hành chính các cấp trong việc tổ chức và THPL về HGCS, qua đó khẳng định THPL về HGCS là một biện pháp quan trọng góp phần duy trì, đảm bảo giá trị của HGCS trong đời sống xã hội

Là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội đối với cả nước, các tỉnh thuộc vùng vùng đồng bằng

Trang 7

3

sông Hồng bao gồm 11 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương [109] Đây cũng là vùng đất có lịch sử lâu đời của người Việt, nơi khai sinh của các vương triều Đại Việt, đồng thời cũng là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh Việt từ buổi ban đầu và hiện tại cũng là vùng văn hóa bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống Các tỉnh thuộc vùng ĐBSH đang nỗ lực đẩy mạnh các giải pháp để thực

hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội phấn đấu mục tiêu "thực sự là

địa bàn tiên phong của cả nước thực hiện các “đột phá chiến lược”, tái cấu trúc kinh tế, đổi mới thành công mô hình tăng trưởng, trở thành đầu tàu của cả nước về phát triển kinh tế, đảm đương vai trò to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và trật tự an toàn xã hội"[109] Một trong những giải pháp đó là tạo sự ổn

định về tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội để làm cơ sở phát triển kinh tế - xã hội Đẩy mạnh thực hiện các thiết chế dân chủ ở cơ sở trong

đó tập trung vào các hoạt động tăng cường đồng thuận xã hội là một yêu cầu cần thiết HGCS chính là một trong những giải pháp để thực hiện được điều đó

Trong những năm qua, các tỉnh thuộc vùng ĐBSH đã quan tâm, đẩy mạnh THPL về HGCS HGCS đã và đang được các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo, MTTQ, chính quyền và các đoàn thể chính trị, xã hội nỗ lực thực hiện Quá trình tổ chức THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH cho thấy ở những nơi nào làm tốt thì tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân Ngược lại, ở những nơi còn coi nhẹ công tác hòa giải, tình hình mâu thuẫn, tranh chấp có chiều hướng tăng, dẫn đến mất trật tự, trị an xã hội Thông thường, những mâu thuẫn,

va chạm trong cuộc sống, lúc đầu đơn giản, nhưng do không được quan tâm giải quyết kịp thời cho nên đã nhanh chóng trở thành phức tạp, thậm chí là

Trang 8

Cho đến nay, trong phạm vi các tư liệu đã được công bố chưa có một

công trình nghiên cứu độc lập nào về "Thực hiện pháp luật về hoà giải cơ sở từ

thực tiễn các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng" Do vậy, Đề tài đã được

lựa chọn với mục đích nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo hơn dưới góc độ lý luận và thực tiễn việc THPLvề HGCS tại các tỉnh thuộc vùng ĐBSH nhằm đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao nâng cao hiệu quả THPL hòa giải trên phạm vi cả nước, góp phần thực hiện dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, duy trì, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển đất nước thực sự giàu đẹp, dân chủ, văn minh

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 9

5

- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

- Làm rõ những vấn đề lý luận THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH

- Đánh giá thực trạng việc THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH; những kết quả, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng đến THPL về HGCS

- Đề xuất các giải pháp bảo đảm THPL về HGCS trên phạm vi cả nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Về đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở nhiệm vụ nghiên cứu, luận án xác định đối tượng nghiên cứu là việc THPL và những yếu tố ảnh hưởng đến THPL về HGCS trong phạm

- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2009 - 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

- Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được vận dụng để nghiên cứu sự chi phối của các điều kiện kinh tế-xã hội với chế định hòa giải ở cơ sở và thực hiện pháp luật hòa giải ở

cơ sở; về mối liên hệ giữa thực hiện pháp luật về hòa giải với việc thực hiện

Trang 10

6

các quy tắc xã hội khác như các chuẩn mực đạo đức, hương ước, luật tục, giáo lý Nguyên lý về về sự phát triển được vận dụng để làm rõ hơn quá trình phát triển của chế định hòa giải ở cơ sở trước và sau thời kỳ đổi mới, những thay đổi trong nhận thức của xã hội về vai trò của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân Bên cạnh

đó, quy luật mâu thuẫn và đấu tranh giữa các mặt đối lập được vận dụng để xem xét, đánh giá kết quả thực hiện các quy định pháp luật về giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp theo hướng ôn hòa, bền vững, không có bên thắng bên thua Một số phạm trù như nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực, nội dung

và hình thức, cái chung và cái riêng cũng được vận dụng khi xem xét, đánh giá

thực tiễn THPL về HGCS với đặc thù của ĐBSH

Luận án vận dụng các lý thuyết sau:

+ Lý thuyết về dân chủ và quyền con người trong xã hội hiện đại

+ Lý thuyết về vai trò của các thiết chế xã hội

+ Lý thuyết về nhà nước pháp quyền

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về HGCS và dân chủ ở cơ sở

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu:

- Phương pháp lịch sử: Xem xét quá trình hình thành và phát triển của

chế định hoà giải trong lịch sử tại ĐBSH trong mối liên hệ với các hiện tượng văn hoá khác trong xã hội đương đại

(Sử dụng chính trong Chương 2: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về hoà giải cơ sở)

- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh:

+ Phân tích những vấn đề lý luận về HGCS; THPL về HGCS

+ Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan

Trang 11

(Sử dụng chính trong Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài và Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hoà giải cơ sở ở các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng)

- Phương pháp điều tra xã hội học: Xác định các chủ thể tham gia (trực

tiếp, gián tiếp) vào quá trình THPL về HGCS; xây dựng bộ công cụ, cỡ mẫu và tiến hành khảo sát trên một số địa bàn thông qua khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, tổ chức họp nhóm chuyên đề (nếu thấy cần thiết) để xác định vai trò, động cơ hành động và nguyện vọng/mong muốn của các nhóm chủ thể tham gia/cũng có thể để giải quyết/làm sáng tỏ câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra; từ đó củng cố vấn đề nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của luận án

(Sử dụng chính trong Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hoà

giải cơ sở ở các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng)

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án vận dụng lý luận THPL để tiến hành một nghiên cứu chuyên biệt về THPL về HGCS với những đặc thù của vùng ĐBSH

- Luận án đánh giá thực trạng THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH trên cơ sở nội dung của pháp luật về HGCS; nêu rõ những kết quả đạt được; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, những vấn đề đang đặt ra đối với hoạt động THPL về HGCS

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm THPL về HGCS ở các tỉnh nói trên và cả nước đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới

Trang 12

6.2 Về mặt thực tiễn

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên, có hệ thống lý luận và thực tiễn về THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH Những kết quả nghiên cứu của Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy, tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác quản lý và cán bộ trực tiếp làm công tác HGCS, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả THPL về HGCS

Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể là cơ sở để tham vấn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức THPL, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

Luận án cũng mở ra các hướng nghiên cứu chuyên sâu như: THPL về HGCS ở các vùng, địa bàn khác trên cả nước, đảm bảo bình đẳng giới trong THPL về HGCS, những tác động cá nhân tới các quá trình xã hội, vấn đề phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân để thực hiện các mục tiêu xã hội,

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận

án gồm 4 Chương và 13 tiết

Trang 13

9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Tình hình nghiên cứu về hoà giải cơ sở, pháp luật hoà giải cơ sở

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về hoà giải cơ sở

Trên thế giới hiện nay, nghiên cứu về HGCS đã được quan tâm hơn bởi những chứng minh về giá trị bền vững cũng như những hiệu quả mà nó mang lại Xu hướng chung của thế giới hiện nay là muốn định chế hoà giải phải được tăng cường hơn nữa, thâm nhập sâu hơn nữa vào đời sống, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, xã hội thể hiện ở việc ngày càng (đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XXI) có nhiều nghiên cứu về phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án - giải quyết tranh chấp thay thế (Alternative Dispute Resolution- ADR) trong đó hoà giải được nhìn nhận là một phương thức hữu hiệu Những nghiên cứu đã tập trung theo ba hướng sau: Thứ nhất, nghiên cứu về phương thức hoà giải trong giải quyết tranh chấp nói chung; Thứ hai, nghiên cứu về các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án; Thứ ba, nghiên cứu so sánh về hoà giải

và xu hướng phát triển của hoà giải trên thế giới [149]

Nhóm nghiên cứu thứ nhất về phương thức hoà giải trong giải quyết tranh chấp nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản như Mediation: Principles and Practice (Hoà giải: Các nguyên lý và thực tiễn) của tác giả Kimberlee Kovach (NXB West, tháng 5/2004), Mediation: Theory and Practice (Hoà giải: Lý thuyết và thực tiễn) của tác giả Suzanne McCorkle và Melanie J.Reese (NXB Allyn & Bacon, tháng 5/2004), Nhóm nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu về các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án có các công trình đã công bố như: Quyển ADR: Law and Practice (ADR: Pháp luật và thực tiễn) tác giả Edward A.Dauer (NXB Juris Net, LLC tháng 8/2003), Quyển Alternative Dispute Resolution in a nushell (Sơ lược về giải quyết tranh chấp ngoài toà án) tác giả Jacqueline M.Nolan - Haley (NXB Thomson West, tháng 4/2008), Nhóm nghiên cứu thứ 3, so sánh về hoà giải và xu hướng phát triển của hoà giải trên thế giới có một số nghiên cứu của GS Nadja Alexander - thành viên Hội đồng cố vấn quốc gia về giải quyết tranh chấp

Trang 14

10

ngoài Toà án Ôxtraylia: "Mediation on Practice: Common law and Civil law Perspectives Compared", "What's law got to do with it? Mapping Modern Mediation movement), Mediation and the Art of Regulation, sách chuyên khảo "Global Trends in Mediation" (Các xu hướng toàn cầu về hoà giải) (NXB Kluwer Law International, 2006), [94]

Bên cạnh đó, các học giả phương Tây cũng dành nhiều thời gian cho các hình thức nghiên cứu về hoà giải: Sternberg, Robert J ; Dobson, Diane M (1987) "Giải quyết xung đột giữa các cá nhân: Một phân tích về sự nhất quán trong phong cách", Tạp chí Nhân cách và Tâm lý xã hội (American Psychological Association) [169] Theo đó, tác giả đã thí nghiệm về phương thức giải quyết xung đột trên 3 nhóm chủ thể với 3 loại xung đột khác nhau (từ những xung đột cá nhân với cá nhân đến những xung đột giữa cá nhân với tổ chức và giữa các tổ chức với nhau, theo nội dung xung đột từ đơn giản đến phức tạp), thông qua đó để tìm ra tính chung nhất trong cách giải quyết xung đột của các chủ thể

Các tác giả SB Goldberg; ED Xanh; FEA Sander, trong nghiên cứu của mình ADR (Alternative Dispute Resolution) Problems and Prospects Looking

to the Future (Nghị quyết tranh chấp thay thế - Các vấn đề và triển vọng nhìn

về tương lai) đã phân tích những hình thức của ADR, những ưu điểm, giá trị

tích cực của nó mang lại, đồng thời đưa ra quan điểm "ưu tiên cho đối thủ

thách thức trong bối cảnh đối lập, và luật sư quen với các bên tranh chấp và

ưu đãi cho các quá trình tòa án" Theo nhóm tác giả, nội dung nghiên cứu về

các hình thức giải quyết tranh chấp thay thế: ADR, trong đó tập trung chủ yếu vào hình thức hòa giải, nghiên cứu nhu cầu phát triển một mạng lưới ADR, chẳng hạn như một trung tâm giải quyết tranh chấp, mà sẽ hướng dẫn các bên trong việc lựa chọn phương thức/cách thức giải quyết tranh chấp phù hợp với tranh chấp của họ Con đường sự nghiệp phải được phát triển cho những người quan tâm đến dịch vụ ADR, trong đó hàm ý sự phát triển của các bộ luật và tiêu chuẩn, chứng nhận và đào tạo [168] Tania Sourdin, Giáo sư luật và giải quyết tranh chấp, Đại học Monash, Oxtraylia, một chuyên gia về giải quyết

Trang 15

11

tranh chấp thay thế đã công bố hàng chục công trình nghiên cứu về vấn đề ADR, hoà giải Trong các công trình của mình, Tania Sourdin đã từng đưa ra những quan điểm khẳng định vị trí, vai trò của hòa giải với tư cách là một hình thức chủ đạo, độc đáo trong các hình thức ADR cần nghiên cứu và phát triển [170] Jonh J.Wilkinson từng viết về hoà giải: "Trước tiên và trên hết, các phương pháp này tiết kiệm đáng kể chi phí của các bên tranh chấp Rõ ràng là chi phí kiện tụng có thể giảm đi đáng kể nếu như các bên có thể giải quyết những bất đồng của mình trong vòng 6 tháng thay vì kiện tụng kéo dài hàng năm" [160]

Trong nghiên cứu về những hình thức giải quyết tranh chấp thay thế - ADR, theo tác giả Robert Mnookin, Trường Luật Harvard, ADR bao gồm: hòa giải, trọng tài và một hoạt động có tính "lai" giữa hoà giải và trọng tài, hoạt động

hỗ trợ giải quyết các tranh chấp pháp lý mà không cần xét xử chính thức Theo tác giả, lợi ích tiềm năng của hoạt động này được cho là bao gồm việc giảm các chi phí giao dịch, quy trình ADR có thể rẻ hơn và nhanh hơn so với thủ tục tố tụng bình thường; việc tạo ra các nghị quyết đó là phù hợp hơn với lợi ích cơ bản và nhu cầu của các bên; và cải thiện sự tuân thủ tự nguyện với các điều khoản của nghị quyết Tập trung nghiên cứu về hoà giải trong giải quyết tranh chấp, xích mích giữa các cá nhân trong xã hội, tác giả cho rằng hoà giải cùng những hình thức khác sẽ tạo ra những điều kiện cho sự ổn định xã hội [164]

Trong cuốn "Party-Directed mediation: Facilitating dialogue between individuals" (Hòa giải theo định hướng của Đảng: Tạo thuận lợi cho đối thoại giữa các cá nhân) của tác giả Gregorio BillikoPF, Đại học California đã tiến hành nghiên cứu hoà giải dưới góc độ các phương pháp tiến hành để đạt được mục đích của hoà giải: họp riêng - "họp kín", họp chung, lắng nghe - đồng cảm, Theo tác giả, hoà giải để đạt được mục đích đặt ra cần có phương pháp, biện pháp làm giảm những áp lực tâm lý của các bên xung đột thông qua các trung gian hoà giải - hoà giải viên, việc đưa hình ảnh kênh đào Panama - một

ẩn dụ cho hình ảnh một hoà giải viên với vai trò trung gian làm giảm áp lực của dòng nước - sự cáu giận, bực tức của các bên tranh chấp bằng việc lắng

Trang 16

12

nghe, đồng cảm để từ đó thiết kế các cuộc "họp kín" trước hoà giải sẽ đạt được mục đích của hoà giải Tác giả cũng nhận định, hoà giải - một hình thức của ADR sẽ ngày càng phát triển bởi những giá trị tích cực của nó [158]

Đối với các nước châu Á, đặc biệt là những nước ASEAN, do ảnh hưởng của văn hoá Phương Đông, hình thức hoà giải ra đời, phát triển và được thể chế hoá thành những quy định pháp luật sớm hơn ở những nơi khác trên thế giới Ở Trung Quốc, chế độ hòa giải nhân dân của Trung Quốc bắt đầu hình thành trong cuộc chiến cách mạng ruộng đất, đến năm 1921, Ủy ban hòa giải nhân dân đầu tiên được hình thành, sau đó, hơn 2 vạn tổ chức hòa giải được thành lập ở khắp cả nước Đây là hình thức hoà giải những mâu thuẫn, tranh chấp giữa nhân dân với nhau, do các Uỷ ban hoà giải tiến hành Năm 2010, Trung Quốc đã ban hành Luật Hoà giải nhân dân và cho đến nay lực lượng hoà giải viên ở nước này đã phát triển mạnh mẽ (82.4 vạn tổ chức hòa giải nhân dân với

494 vạn hòa giải viên) đã đóng góp quan trọng trong việc giữ vững ổn định xã hội của Trung Quốc Tương tự như ở Trung Quốc, tại Nhật Bản, Lào, Thái Lan, Xingapo đều phát triển những hình thức hoà giải kiểu này để giải quyết những mâu thuẫn, xích mích trong nội bộ nhân dân dưới những phương pháp, hình thức khác nhau nhưng cùng trên một nền quan điểm, đó là: đây là một hình thức phi toà án, có thể và do những công dân có uy tín, năng lực, hiểu biết đảm nhiệm

Chính sự quan tâm, tập trung nghiên cứu về hoà giải đã đã cho thấy phương thức giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn và xung đột trong xã hội

thông qua con đường hoà giải có chiều hướng trở thành xu thế của thời đại

Với những ưu điểm so với những phán quyết của Toà án, tính hiệu quả, tiết kiệm thời gian, kinh tế, tạo lập các giá trị bền vững và tạo điều kiện để giảm tải công việc cho cơ quan Toà án đã tạo cho hoà giải - với tư cách là một hình thức ADR hữu hiệu, ngày càng phát triển và đi sâu vào đời sống xã hội dù ở bất kỳ quốc gia, châu lục nào

- Trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về hoà giải, cụ thể:

Trang 17

13

+ Trong khuôn khổ dự án Phát triển Tư pháp và sự tham gia từ cơ sở (JUDGE) do Cơ quan Phát triển quốc tế Canada (CIDA) tài trợ, Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp đã phối hợp với một số cơ quan liên quan tiến

hành dự án "Khảo sát xã hội học về hoạt động hoà giải cấp cơ sở" trên phạm vi

toàn quốc từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2009 nhằm tìm hiểu, đánh giá hiệu quả của công tác hoà giải tại cấp cơ sở, từ đó đưa ra những khuyến nghị mang tính định hướng cho việc kiện toàn pháp luật về HGCS

+ PGS TS Bùi Quang Dũng với các bài viết "Giải quyết xích mích trong

nhóm gia đình: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính", "Giải quyết xích mích trong nội bộ nhân dân: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính" - đăng trên Tạp chí Xã hội học số 1 và số 3 năm 2002; "Hòa giải ở nông thôn miền Bắc Việt Nam (giả thuyết dành cho một cuộc nghiên cứu)" đăng trên

Tạp chí Xã hội học, số 4 năm 2001 Thông qua việc nghiên cứu tại 3 tỉnh đặc trưng (Sóc Trăng, Quảng Ngãi, Hải Dương) và nghiên cứu sơ bộ tại 01 xã

thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, tác giả nhận định "Hoà giải đã có thể coi là một xu

hướng trong giải quyết mâu thuẫn, xích mích" và đưa những quan điểm nhận

diện về những mâu thuẫn phát sinh, xu hướng giải quyết, người giải quyết, vai trò của người đàn ông trong gia đình, xã hội ở nông thôn miền Bắc Việt Nam

- Ngoài ra, còn có nhiều sách chuyên khảo viết về HGCS:

+ Tài liệu "Đánh giá năng lực cán bộ tư pháp cấp tỉnh về quản lý,

hướng dẫn công tác hoà giải cơ sở", trong khuôn khổ Dự án VIE/02/015 "Hỗ trợ thực thi Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010",

Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2005

- Tài liệu "Hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật" do Nhà

xuất bản Tư pháp, Hà Nội xuất bản năm 2006

- "Công tác Hoà giải cơ sở" - Bộ tài liệu tập huấn thống nhất về công tác

HGCS dành cho cán bộ tư pháp và các hòa giải viên do Bộ Tư pháp xây dựng

trong khuôn khổ Dự án VIE/02/015 "Hỗ trợ thực thi Chiến lược phát triển hệ

thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010" do Chương trình phát triển của Liên

hợp quốc (UNDP), cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế của Chính phủ Thụy

Trang 18

- Tác giả Nguyễn Thị Lan với bài viết: "Xây dựng sự đồng thuận xã hội

ở nước ta hiện nay", Tạp chí Cộng sản số 23 năm 2007 Trong bài viết của

mình, tác giả cho rằng "Về cơ sở lý luận, xây dựng sự đồng thuận xã hội chính

là giải quyết mâu thuẫn giữa những mặt đối lập, giữa những sự bất đồng, khác biệt Nhưng đấu tranh ở đây không phải là bằng bạo lực, mà bằng hiệp thương, thảo luận để đi đến sự thống nhất, tạo điều kiện cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước thu được nhiều thắng lợi' Trong một số bài viết sau

này về đồng thuận xã hội, tác giả tiếp tục đề cập đến việc giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập lập thông qua thoả thuận, hiệp thương là một biện pháp tạo sự đồng thuận Ở đây, thoả thuận, hiệp thương để đi đến thống nhất bản chất chính là thương lượng, hoà giải

- Tác giả Phạm Văn Đức với bài viết "Vai trò và cơ sở của đoàn kết xã

hội ở Việt Nam hiện nay", Tạp chí Triết học số 1 năm 2008 thì cho rằng: "Nếu quan niệm giải quyết mâu thuẫn mới chính là động lực của sự phát triển xã hội thì việc sớm phát hiện và giải quyết mâu thuẫn đóng vai trò quan trọng tạo ra

sự đoàn kết và đồng thuận xã hội Để tạo ra sự đồng thuận xã hội, đoàn kết hay thống nhất xã hội, chúng ta phải kịp thời phát hiện những mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó"

- Tiến sĩ Chu Văn Tuấn, Viện Khoa học xã hội có bài viết "Đồng thuận

xã hội: một số vấn đề lý luận" đăng trên tạp chí Triết học số 7 năm 2009 Trong

bài viết của mình, tác giả Chu Văn Tuấn đã đề cập đến một trong những con

đường để tạo sự đồng thuận xã hội đó chính là "giải quyết mâu thuẫn giữa các

mặt đối lập" mà "không thể giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập ấy, bằng bạo lực, mà phải thông qua sự thương lượng, thoả thuận để đi đến sự đồng tình, nhất trí" Ở đây, tác giả gián tiếp nhắc đến hoà giải như một con đường tạo sự

Trang 19

15

đồng thuận xã hội - mà đồng thuận xã hội là một mục đích hướng đến của xã hội dân sự hiện đại, do vậy hoà giải là một xu thế trong tình hình mới

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về pháp luật hoà giải cơ sở

- Các công trình nghiên cứu:

+ Tác giả Nadfa Alexander, Giáo sư Bộ môn Giải quyết xung đột, Trung tâm Nghiên cứu Xung đột và Hoà bình Australia, Trường Đại học Queensland

Brisbane, Australia có công trình nghiên cứu với chủ đề "Tiến tới một hệ thống

quy định cho hoạt động hoà giải cơ sở tại Việt Nam" [15] Trong nội dung

nghiên cứu, thông qua việc nghiên cứu điển hình tại 5 quốc gia (Papua New Guinea, Sri Lanka, Trung Quốc, Hồng Kông và Singapore) và giới thiệu khung

lý thuyết cho việc so sánh, phân tích thực tiễn quy định điều chỉnh hoạt động hoà giải ở các hệ thống tài phán khác nhau, tác giả đã gợi mở nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về HGCS ở Việt Nam

+ Đề tài khoa học cấp Bộ "Công tác Hoà giải cơ sở - những vấn đề lý

luận và thực tiễn" [104] do Trung tâm công tác lý luận, Uỷ ban Trung ương

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Đề tài đã hệ thống những vấn đề lý luận

về HGCS, những quy định của pháp luật về HGCS đến thời điểm nghiên cứu, qua đó đánh giá thực trạng công tác HGCS, những vấn đề đặt và và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng HGCS

+ Đề tài "Hòa giải tranh chấp đất đai tại Việt Nam: Phân tích pháp luật

hiện hành, các thực tiễn và khuyến nghị cho cải cách" [141] do Viện Nghiên

cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển (PLD) thực hiện Đề tài đã tập trung nghiên cứu về hoạt động hoà giải (trong đó có HGCS) đối với những tranh chấp đất đai; trên cơ sở tổng quan các nguyên tắc và pháp luật liên quan đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Việt Nam, đề tài đã đưa ra

những khuyến nghị để giúp cho hoạt động này có hiệu quả

+ Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Thể chế hòa giải ở Việt Nam –

Những vấn đề lịch sử và đương đại” [150] do PGS.TS Nguyễn Tất Viễn làm

Chủ nhiệm Nội dung Đề tài đã tập trung nghiên cứu: Cơ sở lý luận về hoà giải, làm rõ những giá trị xã hội nhân văn và vai trò của hoà giải trong giải quyết

Trang 20

16

tranh chấp, mâu thuẫn xã hội ở Việt Nam; vai trò của thể chế hòa giải trong điều chỉnh tổ chức và hoạt động hòa giải; Lịch sử hình thành và phát triển của định chế hoà giải ở Việt Nam trước năm 1945; Thực trạng tổ chức và hoạt động của các định chế hoà giải ở Việt Nam từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945) đến thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước (năm

1986 đến nay); Dự báo xu hướng vận động và phát triển của thể chế hòa giải ở Việt Nam trong bối cảnh xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; Những tiền đề, đặc trưng, nhu cầu hoàn thiện thể chế về hoà giải của Việt Nam và tác động của nó đến đời sống xã hội; Nghiên cứu mô hình lý luận của đạo luật về hoà giải của Việt Nam, điểm nhấn

là Luật HGCS; Nghiên cứu về hòa giải và thể chế hòa giải ở một số nước và khả năng vận dụng kinh nghiệm của các nước đó trong điều kiện Việt Nam

- Các bài báo khoa học viết về pháp luật HGCS như:

+ Tác giả Trương Thế Côn với bài viết "Pháp luật về hòa giải cơ sở thực

trạng và giải pháp hoàn thiện", Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 10/2008

(trang 17-22) Tác giả Phạm Thái Quý có bài viết "Việc ly hôn có bắt buộc phải

qua hoà giải cơ sở trước khi khởi kiện tại toà án?", Tạp chí Dân chủ và pháp

luật số 10/2009 (trang 48-50) Tác giả Trần Huy Liệu, Lưu Tiến Minh có bài

viết "Những nội dung cần điều chỉnh của dự án Luật Hoà giải cơ sở" đăng trên

tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16/2011

+ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề năm 2012 có nhiều bài viết

về HGCS, cụ thể: PGS.TS Hà Hùng Cường có bài viết "Hoà giải cơ sở và vấn

đề hoàn thiện pháp luật về hoà giải cơ sở ở Việt Nam"; TS Nguyễn Thuý Hiền

có bài viết "Quan điểm xây dựng Luật Hoà giải cơ sở - các nguyên tắc của hoà

giải cơ sở"; tác giả Nguyễn Duy Lãm với bài viết "Tổ chức và hoạt động hoà giải cơ sở theo quy định của Pháp lệnh năm 1998 - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện"; tác giả Nguyễn Văn Lâm có bài viết "Công tác hoà giải cơ sở ở tỉnh Long An" Ngoài ra, trên trang điện tử "duthaoonline.com" còn có rất

nhiều bài viết có nội dung phân tích, tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật Hoà giải ở cơ sở

Trang 21

17

+ Tháng 6 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành "Đặc san tuyên truyền pháp

luật số 06/2014 - Chủ đề Luật Hoà giải ở cơ sở" Với mục đích cung cấp cho

những người quan tâm đến công tác hoà giải đặc biệt là những người làm công tác HGCS có một cái nhìn toàn diện, tổng thể về công tác HGCS ở Việt Nam, Đặc san đã được Bộ Tư pháp biên soạn công phu với nhiều nội dung về HGCS,

cụ thể: i) Hoà giải và vai trò của HGCS trong đời sống xã hội; ii) Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật HGCS ở Việt Nam; iii) Giới thiệu Luật Hoà giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành; iv) Giới thiệu Luật Hoà giải nhân dân ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Luật về các trung tâm hoà giải cộng đồng của Singapore Đặc san cũng tổng hợp tình hình THPL về HGCS trên phạm vi cả nước (những ưu điểm, hạn chế, tồn tại, vướng mắc, ), phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc ban hành Luật Hoà giải ở cơ sở

+ Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9 năm 2014 về Thể chế hòa giải ở Việt Nam, có nhiều bài viết về HGCS, cụ thể: TS Nguyễn Văn

Sáu với bài viết "Một số vấn đề chính sách và pháp luật về hòa giải trong thời

kỳ đổi mới"; GS.TSKH.VS Nguyễn Duy Quý với bài viết "Bàn về một số yếu

tố tác động và chi phối thể chế hòa giải ở Việt Nam"; PGS.TS Nguyễn Tất

Viễn "Vai trò của hòa giải trong giải quyết xung đột xã hội"

1.2 Tình hình nghiên cứu về thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật hoà giải cơ sở

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về thực hiện pháp luật

Vấn đề THPL đã được nhiều nhà khoa học, nhà luật học trên thế giới nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Đối với các nhà khoa học pháp lý Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây, thường nghiên cứu về THPL dưới 2 góc độ: một mặt, tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về THPL: khái niệm, đặc điểm, hình thức, vai trò, …mặt khác, nghiên cứu THPL dưới góc độ

bộ phận cấu thành của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quan hệ với xây dựng

và bảo vệ pháp luật, tăng cường pháp chế

Theo tác giả Đỗ Xuân Lân, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về

THPL, cụ thể: PGS.TS Gorshunov D.N, trong nghiên cứu của mình “Những

Trang 22

18

yếu tố tâm lý xã hội trong thực thi pháp luật”, đã làm rõ những yếu tố tâm lý

xã hội trong thực thi pháp luật, đó là: i) Tâm lý và lợi ích cá nhân; ii) Nhận thức cá nhân và sự trợ giúp; iii) mục tiêu đồng thuận với mục đích cá nhân; iv) nền tảng và truyền thống Ngoài ra, nghiên cứu về hệ quả THPL, Becker”s đã phân tích mối liên hệ giữa nhận thức của chủ thể về hành vi có thể vi phạm pháp luật với hậu quả đưa đến là bị phạt và tính tới giá trị xã hội của thi lợi bất chính do vi phạm pháp luật đem lại Ông đưa ra kết luận hình phạt tối đa và thực thi tối thiểu là phương pháp tối ưu S.Shavell, Đại học Harvard đã vận dụng mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng để phân tích mối liên hệ giữa THPL chung và THPL chuyên ngành AM Polinskyn phân tích vai trò của cơ quan nhà nước và các thiết chế khác trong thi hành pháp luật Eric Ostrov đã phân tích mối quan hệ giữa tâm lý với thi hành pháp luật của cảnh sát Mỹ Kulcsar Kalman trong công trình: “Cơ sở xã hội học pháp luật” đã dành 01/05 chương để nghiên cứu về tuân theo pháp luật; chính trị và sự áp dụng pháp luật, chuẩn mực pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật; nhân tố chủ quan trong quyết định áp dụng pháp luật, ra quyết định và tính hiệu quả của pháp luật; I.Ehrlich đã phân tích mối quan hệ giữa công lý với THPL tối ưu, còn Heidenson đã bàn về vai trò của phụ nữ trong THPL [72]

Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu về THPL, so sánh giữa các nước, các vùng, các hệ thống luật khác nhau - nghiên cứu của N.Garoupa trình bày trong Hội thảo Báo cáo nghiên cứu xây dựng đề án triển khai nhiệm vụ theo dõi chung về thi hành pháp luật (Hạ Long, Quảng Ninh, Việt Nam ngày 28-30/5/2009)

Ở nước ta, những nghiên cứu về THPL rất phong phú, đa dạng và được tiến hành ở nhiều lĩnh vực Có nhiều công trình nghiên cứu về THPL, cụ thể:

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp):

“Luận cứ khoa học và thực tiễn triển khai nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành Pháp luật” do PGS.TS Hà Hùng Cường làm chủ nhiệm [139]

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Điều tra cơ bản tình hình thực

hiện pháp luật ở nước ta hiện nay" do Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật

Trang 23

19

thực hiện từ năm 1998 đến năm 2000; chủ nhiệm đề tài PGS.TS Đào Trí

Úc Đề tài xác định cơ sở khoa học và tiêu thức điều tra cơ bản; Điều tra việc thực hiện Hiến pháp, các bộ luật, các đạo luật quan trọng và các văn bản dưới luật quan trọng được ban hành trong những năm gần đây, cụ thể là kể từ khi Hiến pháp 1992 được ban hành; Phân tích, tổng hợp đánh giá thực trạng THPL trên cơ sở kết quả điều tra; Kiến nghị về cơ chế THPL, xây dựng chính sách pháp luật trong chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2020

- Về sách nghiên cứu:

+ Chuyên khảo “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề

lý luận và thực tiễn” do TS Nguyễn Thị Hồi (Chủ biên) [63] đã đề cập đến

những vấn đề lý luận về THPL và áp dụng pháp luật; thực tiễn áp dụng pháp luật trong những lĩnh vực cụ thể ở nước ta hiện nay và những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trong từng lĩnh vực cụ thể

đó nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

+ Chuyên khảo "Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam" của

PGS.TS Nguyễn Minh Đoan [50] đã làm rõ khái niệm, mục đích, ý nghĩa, hình thức, quy trình, các bảo đảm và tiêu chí đánh giá hiệu quả THPL ở Việt Nam, thực trạng và đề xuất các giải pháp; làm rõ về áp dụng pháp luật (khái niệm, đặc điểm, các trường hợp nguyên tắc, quá trình và quyết định áp dụng); áp dụng pháp luật tương tự, giải thích pháp luật…

+ Chuyên khảo: "Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu

xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" của TS Nguyễn Hồng

Chuyên [35] đã chỉ rõ thực trạng THPL về dân chủ ở cấp xã ở Việt Nam (khảo sát thực tiễn bằng Phiếu thu thập ý kiến đối với 1000 cán bộ công chức cấp xã

và 1.500 người dân ở các địa bàn trong cả nước), trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất quan điểm, giải pháp bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* Một số công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật cụ thể:

+ Luận án “Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt

Nam” của Lê Thanh Bình, bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Trang 24

20

Hồ Chí Minh năm 2012 [5] nghiên cứu tình hình THPL bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở một số nước trên thế giới và rút ra kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam; nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam, phân tích, luận chứng các quan điểm và giải pháp chủ yếu đảm bảo THPL bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay

+ Luận án "Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam" của Trần

Thị Quốc Khánh, bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012 [69] nghiên cứu xây dựng những cơ sở lý luận và thực tiễn về THPL bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay; Phân tích những đặc điểm của THPL về bình đẳng giới ở Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng; đưa ra một số quan điểm, giải pháp THPL về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

+ Luận án " Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện xây

dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Huỳnh Huyện,

bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012 [66] đã trình bày cơ sở lý luận THPL về trợ giúp pháp lý trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, nghiên cứu thực trạng cùng các quan điểm và giải pháp bảo đảm THPL về trợ giúp pháp lý trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

+ Luận án " Thực hiện pháp luật đối với người nghèo trong nhà nước

pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay" của Đỗ Xuân Lân, bảo vệ tại Học viện

Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012 [72] đã trình bày cơ

sở lý luận, thực trạng, quan điểm, giải pháp bảo đảm THPL đối với người nghèo trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Một số luận văn thạc sĩ luật học có nội dung nghiên cứu về THPL ở

những lĩnh vực, nội dung cụ thể, đó là: “Thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi

phía Bắc nước ta hiện nay – thực trạng và các phương hướng, giải pháp” của Lê

Thanh Bình, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2002 [4]; “Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn về Thực hiện pháp luật ở thành phố Hà Nội hiện nay” của Trần

Thị Xuân, , bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2004 [152]; “Nâng cao hiệu

Trang 25

21

quả thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay – từ thực tiễn của thành phố Hải Phòng” của Đào Thị Mai, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2005 [82];

“Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

ở Hà Nam hiện nay” của Đinh Thị Huê, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm

2011 [64],

1.2.2 Các công trình nghiên cứu thực hiện pháp luật hòa giải cơ sở

- Năm 2012, Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội Với mong muốn cung cấp những thông tin từ thực tiễn THPL về HGCS cho Quốc hội, đại biểu Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan nghiên cứu, tham khảo trong quá trình xem xét, thảo luận về dự án Luật Hòa giải cơ sở, Trung tâm Nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tổ chức điều tra dư

luận xã hội về “Thực trạng thi hành Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà

giải cơ sở và việc xây dựng Luật Hòa giải cơ sở” [143] Dự án điều tra được

tiến hành trên địa bàn 7 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Bắc Ninh) với các nhóm đối tượng điều tra là các cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia trong lĩnh vực xã hội và pháp lý liên quan đến hòa giải cơ sở và các hòa giải viên, người dân tại một số tỉnh, thành phố thực thuộc trung ương và địa phương trên phạm

vi toàn quốc Kết thúc dự án, đơn vị thực hiện đã cung cấp kết quả điều tra có tính thực tiễn cao và đưa ra một số khuyến nghị có giá trị tham khảo quan trọng trong quá trình xây dựng dự Luật Hòa giải ở cơ sở

- Năm 2016, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình tiến hành Đề tài nghiên cứu

cấp tỉnh “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở từ thực tiễn

thi hành ở Quảng Bình” [101] Trên cơ sở khảo sát các đối tượng liên quan đến

hoạt động HGCS (800 phiếu), đơn vị thực hiện đề tài đã có những đánh giá khách quan về thực trạng THPL về HGCS trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và đề xuất 08 giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động HGCS

- Luận án "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế

đối với các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta" của

Trang 26

22

Dương Quỳnh Hoa, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam năm 2012 [57] Luận án đã trình bày những vấn đề lý luận chung về cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại, thực trạng, phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại ở Việt Nam Mặc dù tác giả Dương Quỳnh Hoa không trực tiếp đề cập đến HGCS nhưng trong phần trình bày của tác giả đã đề cập đến khía cạnh lý luận của hoà giải

- Luận án "Thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở ở các tỉnh đồng bằng

sông Cửu Long" của Đồng Việt Phương, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội,

Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam năm 2016 [94] đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về THPL về HGCS, trong đó, tác giả đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học, nét đặc thù tâm lý, văn hoá, phong tục, tập quán, ý thức pháp luật về HGCS của người dân đồng bằng sông Cửu Long; phân tích, khái quát sự tác động của các nhân tố đối với hoà giải, khái quát những đặc điểm của HGCS ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (những ưu điểm, hạn chế, những khó khăn đang đặt ra cần phải giải quyết) và đề xuất các phương hướng

và giải pháp tăng cường THPL về HGCS ở đồng bằng sông Cửu Long

- Luận văn thạc sĩ Luật:“Thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở trên địa

bàn tỉnh An Giang hiện nay” của Phan Hoàng Mai bảo vệ tại Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011 [83] Trong phạm vi luận văn, tác giả đã đưa ra một số quan điểm khoa học về HGCS và THPL về HGCS, đánh giá thực trạng hoạt động THPL trên địa bàn tỉnh Anh Giang và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả THPL về HGCS trên địa bàn nghiên cứu

1.3 Tình hình nghiên cứu về thực hiện pháp luật hoà giải cơ sở ở các tỉnh thuộc

vùng đồng bằng sông Hồng

Hiện chưa có một công trình nghiên cứu độc lập về THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH, mà chí có số ít công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những địa bàn một huyện, tỉnh, thành phố, thuộc ĐBSH), cụ thể:

- Đề tài “Hoà giải cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện

hiện nay” do Học viện Tư pháp tiến hành (Chủ nhiệm: PGS.TS Phan Hữu Thư

Trang 27

23

[110] Đề tài đã tập trung chủ yếu vào các vấn đề: i) Những vấn đề lý luận về HGCS (làm rõ khái niệm và phạm vi của HGCS; ý nghĩa, vai trò của hòa giải trong đời sống kinh tế xã hội ); ii) Đánh giá thực trạng hoạt động HGCS trên địa bàn thành phố cả về chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước; công tác

tổ chức hoạt động và công tác quản lý; đánh giá thực trạng tình hình mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trên địa bàn thủ đô; những mâu thuẫn, tranh chấp được hòa giải, những mâu thuẫn, tranh chấp không được hòa giải; đánh giá thực trạng đội ngũ hòa giải viên; quy trình tổ chức hoạt động hòa giải, quy trình hòa giải; thực trạng hoạt động đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho hòa giải viên iii) Kiến nghị những giải pháp để

nâng cao chất lượng hoạt động HGCS của thành phố Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ Luật "Pháp luật về tổ chức hoạt động hoà giải cơ sở

và phương hướng hoàn thiện" của Ngô Thị Thu Huyền bảo vệ tại Đại học

Quốc gia Hà Nội năm 2007 [68] Trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn đã bước đầu làm rõ cơ sở lý luận về hòa giải ở cơ sở, vai trò của hoạt động hòa giải đối với đời sống xã hội và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác hòa giải ở cơ sở; nêu, phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở; đề xuất 05 phương hướng và 05 giải

pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

- Luận văn thạc sĩ Luật "Hoà giải cơ sở - Qua thực tiễn tỉnh Hải Dương"

của Đặng Thị Lan Phương bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 [93] Trong khuôn khổ luận văn, tác giả đã có những nghiên cứu ban đầu về cơ sở lý luận về HGCS, vai trò của hoạt động HGCS đối với xã hội và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác HGCS; nêu và phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hải Dương; đề xuất 3 quan điểm và 06 giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động HGCS trên địa bàn nghiên cứu

- Luận văn thạc sĩ Luật "Hoà giải cơ sở từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình" của

Phạm Thị Hoa Mai bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2016 [84] Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đã có những nghiên cứu lý luận về HGCS, đặc biệt

Trang 28

24

đã bước đầu chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động HGCS (tuy nhiên, đây mới chỉ là những phát hiện chấm phá, chưa đi vào nghiên cứu sâu); nghiên cứu thực trạng hoạt động HGCS trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và đề xuất những

quan điểm và giải pháp tăng cường hoà giải cơ sở từ thực tiễn nghiên cứu trên

1.4 Đánh giá về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và những vấn

đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.4.1 Những vấn đề có liên quan đến đề tài đã được làm sáng tỏ

- Dưới góc độ lý luận

+ Các nghiên cứu về HGCS đã phần nào đã làm rõ về mặt lý luận về hoà giải nói chung và HGCS nói riêng: đưa ra được một số khái niệm có tính khoa học về HGCS; khái quát thể chế hoà giải qua các thời kỳ lịch sử khá đầy đủ và sâu sắc - trong đó nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những minh chứng rõ nét về sự phát triển của hoà giải thể hiện trong những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng; đưa ra những dấu hiệu nhận diện để phân biệt HGCS với những loại hình hoà giải khác Một số nghiên cứu đã có những luận chứng về sự cần thiết/vai trò của hoạt động HGCS Một số nghiên cứu đã có sự so sánh, phân tích những mô hình hoà giải của các quốc gia trên thế giới, tìm ra điểm tương đồng với thể chế hoà giải trong lịch sử của Việt Nam để gợi mở những vấn đề liên quan; đặc biệt là những nghiên cứu về sự lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR)

Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu được tiến hành trong bối cảnh cụ thể,

chưa xem xét chế định HGCS trong sự vận động và sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, nhất là tác động của kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ cao Các công trình này cũng chưa vận dụng một số lý thuyết mới khi xem xét, nghiên cứu về HGCS (ví dụ: lý thuyết về quyền con người, lý thuyết về dân chủ, ) do đó các kết quả nghiên cứu còn hạn chế

+ Các nghiên cứu về THPL đã khái quát một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về THPL: đã đưa ra được những khái niệm khá thống nhất, có tính khoa học và phản ánh vào bản chất của hoạt động THPL; đề cập đến những hình thức THPL; phân tích mối quan hệ giữa THPL và các yếu tố

Trang 29

25

liên quan (pháp luật, ý thức pháp luật, ) Một số nghiên cứu THPL ở những lĩnh vực pháp luật cụ thể khác đã có sự nghiên cứu kết nối với những vấn đề lý luận khác (lý luận về bình đẳng giới, lý luận về dân chủ cơ sở, ) làm phong phú và sinh động hơn những vấn đề lý luận về THPL Tuy nhiên, chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về THPL

về HGCS trong phạm vi các tỉnh thuộc vùng ĐBSH

Tuy nhiên, hiện tại, nhiều lý thuyết nghiên cứu mới đã được bổ sung, nhiều

vấn đề lý luận đang được nghiên cứu, bổ sung để phù hợp với tình hình mới; do

đó, nghiên cứu về THPL và THPL về HGCS cần phải phải đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI,

- Dưới góc độ thực tiễn

Những nghiên cứu đã đánh giá thực trạng hoạt động HGCS, THPL, THPL

về HGCS trong phạm vi nghiên cứu một cách khác sâu sắc, cụ thể Nêu được những kết quả đạt được cũng như chỉ ra những tồn tại hạn chế để làm cơ sở đề xuất các giải pháp liên quan đến mục đích nghiên cứu Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra được những điểm đặc thù trong THPL về HGCS ở các địa bàn nghiên cứu (từ chính sách, những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện)

Một số nghiên cứu đã đề xuất được những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả THPL về HGCS trên địa bàn nghiên cứu (từ đề xuất về chính sách, pháp luật đến cơ chế và cách thức tổ chức, tiến hành)

Tuy nhiên, các giải pháp mà các nghiên cứu đề xuất mới chỉ là giải pháp

của địa phương nghiên cứu; chưa phải giải pháp mang tính toàn quốc Đến thời điểm hiện tại, một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THPL về HGCS mà các nghiên cứu đề xuất đã được hiện thực hoá (đề xuất ban hành Luật Hòa giải cơ sở/hoặc một số đề xuất liên quan đến chế độ chính sách) hoặc

đã lạc hậu do có những sự thay đổi về quan điểm, chủ trương và cơ chế, chính sách Mặt khác, một số đề xuất giải pháp chưa có chiều sâu, mới chỉ gọi tên nhưng chưa chỉ được cụ thể các vấn đề cần phải thực hiện như thế nào (ví dụ: giải pháp hoàn thiện pháp luật về HGCS: hoàn thiện như thế nào, lý do phải hoàn thiện, ) Ngoài ra, đến thời điểm hiện tại, các cấp, các ngành đã triển

Trang 30

26

khai tổ chức thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở được 4 năm Quá trình tổ chức THPL về HGCS đang tiến hành trong những bối cảnh xã hội ngày càng thay đổi, nhiều vấn đề mới phát sinh (vấn đề đô thị hoá, vấn đề di dân, vấn đề CNH-HĐH nông nghiệp, nông dân và nông thôn, ), do đó cần phải tiếp tục nghiên cứu để đề xuất những giải pháp cho phù hợp với tình hình mới

1.4.2 Những vẫn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Kế thừa những kết quả những nghiên cứu liên quan đến nội dung luận

án, trên cơ sở những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về HGCS, Luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu việc THPL về HGCS qua thực tiễn ĐBSH để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả THPL trên phạm vi cả nước với những nội dung chính sau:

- Về mặt lý luận: làm sáng tỏ bản chất, vai trò của HGCS trong đời sống

xã hội; xây dựng các khái niệm: THPL về HGCS và những khái niệm liên quan; xác định đặc điểm, nội dung THPL về HGCS; phân tích những yếu tố đảm bảo THPL về HGCS

- Về mặt thực tiễn: phân tích, đánh giá một cách có hệ thống thực trạng

pháp luật về HGCS và tình hình THPL về HGCS, những yếu tố ảnh hưởng đến việc THPL về HGCS, nêu rõ những kết quả, tồn tại hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân trong THPL về HGCS ở ĐBSH để từ đó đề xuất những giải pháp bảo đảm THPL về HGCS

1.5 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Để làm rõ mục đích nghiên cứu, luận án được triển khai với hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu như sau:

Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: THPL về HGCS được thực hiện dựa trên

cơ sở lý luận nào?

Giả thuyết nghiên cứu: HGCS có lịch sử từ lâu đời gắn liền với văn hoá làng, xã của Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những mâu thuẫn, xích mích trong cộng đồng dân cư Chính vai trò của HGCS nên từ một định chế xã hội, HGCS đã được thể chế hoá thành pháp luật Việc THPL về HGCS là để đưa các quy định pháp luật về HGCS đi vào cuộc sống

Trang 31

Kết quả nghiên cứu (dự kiến): Trên cơ sở lý luận về THPL về HGCS, xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến việc THPL về HGCS; phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó

Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Thực trạng pháp luật HGCS hiện nay và

thực tiễn THPL về HGCS trong thời gian qua ở ĐBSH như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu: Quá trình tổ chức THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH đã được thực hiện đúng quy định và đạt được những kết quả quan trọng Bên cạnh đó, hoạt động này cũng bộc lộ những tồn tại hạn chế nhất định Những kết quả THPL về HGCS đã và đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả THPL về HGCS ở ĐBSH

Kết quả nghiên cứu (dự kiến): Đánh giá được kết quả THPL về HGCS

ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH một cách đầy đủ và toàn diện theo các nội dung của pháp luật về HGCS (kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân) Nhận diện và chỉ rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình THPL theo yêu cầu của pháp luật HGCS thông qua những kết quả thực hiện

Câu hỏi nghiên cứu thứ tư: Những điểm đặc thù trong THPL về HGCS

ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH là gì?

Giả thuyết nghiên cứu: ĐBSH là một khái niệm chỉ một vùng lãnh thổ được kết cấu bởi các yếu tố tự nhiên, xã hội, lịch sử và văn hoá; có những khác biệt so với các vùng khác THPL về HGCS là một hoạt động mang tính văn hoá

- pháp lý bị tác động bởi nhiều yếu tố cho nên THPL về HGCS ở đồng bằng có những điểm khác biệt, đặc thù không giống bất cứ vùng nào trên cả nước

Trang 32

28

Kết quả nghiên cứu (dự kiến): Chỉ rõ và phân tích được những đặc điểm khác biệt, đặc thù trong THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH so với các vùng khác trên đất nước

Câu hỏi nghiên cứu thứ năm: Từ thực trạng THPL về HGCS ở ĐBSH,

để nâng cao hiệu quả THPL về HGCS trong phạm vi cả nước cần những giải pháp gì?

Giả thuyết nghiên cứu: ĐBSH là một phần của cả nước, những giải pháp nâng cao hiệu quả THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH sẽ là những kinh nghiệm tốt để nâng cao hiệu quả THPL về HGCS ở các địa phương khác và trên phạm vi cả nước nói chung

Kết quả nghiên cứu (dự kiến): Đề xuất được các giải pháp bảo đảm THPL về HGCS ở các tỉnh thuộc vùng ĐBSH nói riêng và cả nước nói chung

* Về hướng tiếp cận của luận án:

Tiếp cận hệ thống: Trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất các

công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, luận án tiến hành phân tích, đánh giá và kế thừa có chọn lọc để đưa ra những quan điểm của mình về những vấn đề nghiên cứu

Tiếp cận chuyên ngành kết hợp với đa ngành, liên ngành: Có sự phối

hợp của nhiều ngành khoa học xã hội như khoa học lịch sử, xã hội học, chính trị học Trong đó, trục chính về hướng tiếp cận xuyên suốt của luận án là lý luận về chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Tiếp cận lịch sử: Đánh giá, nhận xét vấn đề dựa trên quan điểm lịch sử

cụ thể: phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể và tiến trình phát triển của chế định hòa giải ở cơ sở

Trang 33

29

Kết luận Chương 1

Hoà giải nói chung và HGCS là nội dung đã được quan tâm nghiên cứu không chỉ ở riêng Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới Ở nhiều quốc gia, việc nghiên cứu về hoà giải với xu hướng là một biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) ngoài toà án không chỉ với đối tượng là những tranh chấp, xích mích nhỏ trong nhân dân, mà còn rộng ra ở các lĩnh vực khác vì tính hiệu quả và bền vững của nó Hiện nay, song song với việc đẩy mạnh các hình thức nghiên cứu, xu thế của thế giới là đẩy mạnh và phát triển các hình thức giải quyết tranh chấp thay thế ngoài toà án (hoà giải, thương lượng, trọng tài, ) để đảm bảo giảm tải cho các cơ quan tư pháp, toà án Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về thể chế hòa giải ở cơ sở được chú ý từ đầu những năm 1990, khi nền kinh tế thị trường dần hình thành đã làm thay đổi nội dung và diện mạo của các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội Đặc biệt, với chủ trương phát huy dân chủ

ở cơ sở, Đảng ta đã có sự chỉ đạo kịp thời để công tác hòa giải đáp ứng yêu cầu mới của xã hội Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, các chế độ chính sách liên quan đến THPL về HGCS, thì yêu cầu phát huy dân chủ, tạo đồng thuận xã hội

đã thu hút các cá nhân, tổ chức lựa chọn nội dung nghiên cứu về HGCS và THPL về HGCS với mong muốn phản biện, tham vấn, khuyến nghị, đóng góp cho các cơ quan nhà nước trong quá trình hoàn thiện pháp luật và chính sách về HGCS Đây là một hướng nghiên cứu cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra ở nước ta Đồng thời cũng phù hợp với xu hướng của thế giới, góp phần

để Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế, phấn đấu vì mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và

những giá trị nhân văn mà chúng ta đang duy trì, xây dựng, phát triển

Trang 34

30

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI

CƠ SỞ

2.1 Hòa giải cơ sở và pháp luật hòa giải cơ sở

2.1.1 Nhu cầu về giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân bằng hoà giải

Trong xã hội luôn tồn tại những mặt đối lập và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, đó là động lực của sự phát triển Con người là tổng hòa của các quan

hệ xã hội, gắn kết với nhau bởi những mối quan hệ đa dạng, phức tạp, nhiều chiều cạnh Bên cạnh xu hướng đồng thuận trong xã hội thì có một xu hướng khác là sự hiện diện của những xung đột xã hội diễn ra theo chiều "âm bản", là một trong trong những hệ quả của sự đa dạng phức tạp đó Theo lý thuyết về

xung đột thì xung đột xã hội là sự biểu hiện của những mâu thuẫn xã hội khách

quan hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập giữa những người đại diện (các bên) của chúng [152, tr29]

Khi những xung đột xã hội diễn ra dưới dạng các mâu thuẫn, tranh chấp, cần có phương thức điều hòa, giải quyết để xã hội trở lại một trật tự nhất định Về nguyên lý, cơ chế giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn có thể được phân thành hai loại: a) cơ chế tự giải quyết (do chính các bên tranh chấp, mâu thuẫn thực hiện); b) cơ chế giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn xã hội có sự can thiệp của bên thứ ba

Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, không thể tránh được những tranh chấp, mâu thuẫn nhưng yêu cầu quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội đặt ra là phải tránh được những hệ quả xấu mà các tranh chấp, mâu thuẫn

xã hội có thể mang lại do không được kiểm soát

Có nhiều cách tiếp cập giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp như:

- Cách tiếp cận căn cứ vào các quy định pháp luật Theo cách tiếp cận

này, cần phải có các cơ chế tiến hành các cuộc tư vấn, các cuộc thương lượng tìm kiếm các quyết định có lợi cho tất cả các bên có tranh chấp, mâu thuẫn

Trang 35

31

- Cách tiếp cận giải quyết xung đột bằng sự đồng thuận Theo cách tiếp

cận này, khi có sự bất đồng giữa các bên về một vấn đề nào đó cần được giải quyết theo sự chấp nhận của các bên Các tranh chấp, mâu thuẫnở mức độ cao hay thấp đều có thể điều chỉnh và giải quyết được một khi cả hai bên đều có hệ thống các giá trị chung Việc tìm kiếm một quyết định mà cả hai bên đều chấp nhận có khả năng trở thành hiện thực trên thực tế

- Cách tiếp cận tâm lý Có rất nhiều điều phụ thuộc vào những đặc

điểm nhân thân của những người tham gia vào việc đưa ra một quyết định trong thời gian xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn Đối với các chủ thể củatranh chấp, mâu thuẫn, nếu nhận thức được việc mình thực hiện là không có triển vọng hoặc thiếu kinh nghiệm (thiếu hiểu biết), họ điều chỉnh hành vi của mình chủ yếu theo hướng làm giảm sự căng thẳng xã hội do tình huống có tranh chấp, mâu thuẫn gây ra

Hiện ở nước ta có nhiều hình thức hòa giải khác nhau: HGCS, hòa giải tại Tòa án, hòa giải lao động, hòa giải thương mại, kể cả thỏa thuận trong tố tụng hành chính và tố tụng hình sự cũng được coi là một biểu hiện của hòa giải, trong đó, HGCS là một hình thức hoà giải có từ lịch sử lâu đời và gần gũi với

người dân

Sở dĩ HGCS có quá trình tồn tại lâu đời và phát triển như hiện tại bởi lẽ:

Thứ nhất: Xét từ góc độ lịch sử - truyền thống và tâm lý xã hội, đối với

Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, hòa giải là một hiện tượng văn

hóa Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [86,tr 431]

Lịch sử cho thấy xã hội cổ truyền Việt Nam được mở rộng theo công thức Nhà - Làng - Nước Làng là đơn vị cơ sở cấu thành nên quốc gia, mang tính khép kín, tự quản rất cao Trong một cộng đồng làng - xã khép kín, "phép vua thua lệ làng", người Việt xưa có thói quen ứng xử nặng về tình cảm, ít khi dùng đến pháp luật Cách sống duy tình hơn duy lý đã làm cho họ rất ngại kiện

Trang 36

32

tụng, coi việc phải đến chốn công đường là một điều bất đắc dĩ Vì vậy, trong nhiều trường hợp, người ta thường dĩ hòa vi quý, hòa giải được xem là phương

án tối ưu Trong lịch sử nước có thời mất nhưng làng - xã và truyền thống làng

- xã, trong đó có truyền thống hòa giải không bao giờ mất Đó là tiền đề lịch sử rất quan trọng của việc tồn tại ý thức hòa giải trong tâm lý người Việt

Thứ hai: Hòa giải "là một nhu cầu của xã hội tự quản, hòa giải dễ được chấp nhận vì không có người thắng người thua" [89], nếu có "thua thiệt" thì

cũng là thua ít nhất, nhưng lại chính là thắng nhiều nhất Hòa giải giúp cho việc giải quyết các tranh chấp, xích mích, vi phạm pháp luật ổn thỏa mà không tốn kém, vừa tiết kiệm thời gian, chi phí xã hội

Thứ ba: Hòa giải góp phần khôi phục, duy trì, củng cố sự đồng thuận,

đoàn kết trong xã hội Bởi lẽ hòa giải là một biện pháp giải quyết mâu thẫn, tranh chấp mà mỗi bên đều chấp nhận nhượng bộ một phần quyền lợi của mình

để đạt được thỏa thuận Mặt khác, hòa giải thành là dựa trên sự tự nguyện của các bên, không do ai áp đặt, cưỡng ép nên các bên sẽ tự giác thực hiện cam kết của mình Tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh nếu được giải quyết bằng con đường hòa giải thì kết quả thường mang tính bền vững

Thứ tư: Hòa giải góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các

thành viên trong xã hội Khi hòa giải (dù là hình thức nào) đều phải vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó có xử sự phù hợp với quy định pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp phát sinh do các bên không hiểu biết pháp luật, nên lầm tưởng rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, hoặc cho rằng hành vi của mình là đúng pháp luật Nếu các bên được giải thích pháp luật một cách cặn kẽ, tranh chấp có thể sẽ được giải quyết dứt điểm và nhanh chóng

Thứ năm: Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý truyền thống tốt

đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và trong giai đoạn hiên nay đó là thực hiện cuộc

Trang 37

33

vận động toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới Khi tiến hành hòa giải không chỉ dựa trên các quy định pháp luật, mà còn phải dựa vào những chuẩn mực đạo đức, văn hóa ứng xử, truyền thống để tác động tới các bên tranh chấp Trong lịch sử nước ta, hòa giải được xem như một phương thức giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội, được nhìn nhận như một nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Việt cần được bảo tồn và phát huy Đây là một hiện tượng xã hội - pháp luật - văn hóa đã thấm vào đời sống của nhân dân hàng thế kỷ nay, chi phối và tác động đến nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội

và nhà nước Tìm hiểu về cội nguồn, nhất là các truyền thống tốt đẹp, để từ đó

có cách thức bảo tồn và phát huy, phát triển đã trở thành một nhu cầu tự thân của dân tộc Việt Nam

Ngày nay, dưới tác động của kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, đời sống kinh tế - xã hội của người Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ Các tranh chấp, mâu thuẫn và xung đột xã hội có diện mạo mới, và như vậy đã và đang tạo tạo ra nhiều khả năng và cơ hội cho hòa giải trong điều kiện mới Trong một xã hội dân chủ, nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay ngày càng xuất hiện nhiều loại quan hệ xã hội đan xen, nhiều nhóm lợi ích xã hội (cá nhân, tập thể, giai tầng, ngành nghề, địa phương ) cùng tồn tại Một xã hội phát triển bền vững, nhất thiết phải có sự tham gia và tác động cùng chiều của nhiều loại định chế, thể chế xã hội khác nhau Do đó, nghiên cứu để củng cố, phát triển hoạt động hòa giải với tư cách

là một định chế giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột trong xã hội ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng, đó chính là một trong những lý do cần phải thể chế hoá các quy định về HGCS thành những quy định pháp luật

Bên cạnh đó, trong đời sống quốc tế, xu hướng chung của thế giới hiện nay là muốn định chế hòa giải phải được tăng cường hơn nữa, thâm nhập sâu hơn nữa vào đời sống, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và xã hội Trong khoảng mấy chục năm trở lại đây, nhất là những năm đầu thế kỷ XXI, nhiều học giả trên thế giới rất chú trọng nghiên cứu các phương thức giải quyết tranh

Trang 38

34

chấp ngoài tòa án (ADR) Hòa giải trở thành một hướng nghiên cứu rất cần thiết trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng thể chế kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, trong

đó có Việt Nam Phương thức giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn và xung

đột trong xã hội thông qua con đường hòa giải có chiều hướng trở thành xu thế

của thời đại

2.1.2 Khái niệm hòa giải và hòa giải ở cơ sở

2.1.2.1 Khái niệm hòa giải

Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều quan điểm khác nhau về hòa giải:

- Quan điểm thứ nhất: Hòa giải là một hình thức, một quá trình giải quyết tranh chấp; hòa giải được coi là một chế định pháp luật, coi hòa giải như trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao

động (nghiêng về giới luật gia)

- Quan điểm thứ hai: Hòa giải được coi là hành vi thuyết phục các bên

tranh chấp xóa bỏ những bất đồng, mâu thuẫn (nghiêng về những nhà thực tiễn)

Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Tư pháp, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa và Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp xuất bản năm

2006 thì hòa giải "là thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp

của mình một cách ổn thỏa" [138, tr 365] Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà

xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1995, hòa giải được hiểu là "hành vi

thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa" [145] Theo quan niệm dân gian thông thường thì: hòa giải được coi là

hành vi hàn gắn rạn nứt, mâu thuẫn giữa các bên có mâu thuẫn

Trên thế giới cũng có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải Hòa giải được coi là hành vi của người trung gian giúp hai bên có mâu thuẫn giải quyết

những tranh chấp, bất đồng trên cơ sở tự nguyện Hòa giải là một quá trình,

trong đó bên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ Theo đây, người hòa giải không tham gia, can thiệp vào

Trang 39

35

việc thỏa thuận các giải pháp mà để các bên tranh chấp tự thỏa thuận, chọn lựa giải pháp Từ điển thuật ngữ của ILO/EASMAT về quan hệ lao động và các vấn đề có liên quan thì cho rằng:

Hòa giải là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hòa những ý kiến bất đồng Bên thứ ba đóng vai trò người trung gian hoàn toàn độc lập với hai bên , không có quyền áp đặt , hành động như một người môi giới, giúp hai bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp tới những điểm mà họ có thể thỏa thuận được [6]

Quan niệm khác thì cho rằng: "Mục đích của hòa giải là chuyển cuộc

đấu tranh hai bên thành cuộc khảo cứu ba bên, nhằm kiến tạo một kết quả chung" [6]

Như vậy, trên thế giới cũng như trong nước, về phương diện lý luận cũng như trong thực tiễn có rất nhiều quan niệm về hòa giải Dựa trên những khái niệm về hòa giải ở trên cũng như qua thực tiễn hoạt động hòa giải, có thể khái quát được đặc trưng của hòa giải cụ thể như sau: Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp giữa các bên có mâu thuẫn có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian Bên thứ ba này không áp đặt ý chí của mình lên sự thỏa thuận của hai bên tranh chấp mà chỉ giải thích, thuyết phục, giúp hai bên đạt được sự thỏa thuận, chấm dứt bất đồng, mâu thuẫn Sự thỏa thuận đó của hai bên - chủ thể của tranh chấp, mâu thuẫn là kết quả được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện của mỗi bên, phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội

Với nhiều quan niệm về hòa giải, các luật gia cho rằng rất khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung, thống nhất cho tất cả các loại hình hòa giải do các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hoặc cá nhân tiến hành trong đời sống xã hội Tuy nhiên, từ đặc trưng được rút ra ở trên, có thể đưa ra một

khái niệm về hòa giải như sau: Hòa giải là một quá trình giải quyết những bất

đồng, tranh chấp giữa các bên, quá trình đó có sự tham gia của bên thứ ba với vai trò trung lập, giúp các bên đạt được sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó

Trang 40

36

Hiện nay, ở nước ta có nhiều hình thức hòa giải với những phạm vi, đối tượng, phương pháp, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải khác nhau như: hòa giải tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, hôn nhân và gia đình, hòa giải các tranh chấp lao động, hòa giải bằng trọng tài kinh tế, HGCS - hòa giải các tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân

Theo quy định của pháp luật, đối với các ngành luật như dân sự, kinh

tế, lao động, hôn nhân gia đình , hòa giải đều được coi là một nguyên tắc, một thủ tục bắt buộc khi giải quyết các tranh chấp Ví dụ: đối với luật dân sự, sự bình đẳng, thỏa thuận giữa các bên, quyền tự định đoạt, tự do giao kết hợp đồng dân sự là bản chất của các quan hệ pháp luật dân sự, do đó, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có quyền tự định đoạt và tự do thỏa thuận giải quyết tranh chấp Vì vậy, một mặt hòa giải là nguyên tắc trong quan hệ dân sự, mặt khác, hòa giải vừa là thủ tục bắt buộc của các cấp Tòa án trong quá trình giải quyết phần lớn các tranh chấp dân sự

2.1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải ở cơ sở

HGCS là một hình thức của hòa giải Tuy nhiên, khác với hình thức hòa

giải của tòa án, HGCS không có yếu tố "tư pháp", nghĩa là không có sự tham

gia của Tòa án, mà được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ HGCS Pháp luật không quy định thời hạn tiến hành hòa giải tranh chấp do Tổ hòa giải tiến hành như các loại hình hòa giải khác, vì vậy, việc hòa giải chỉ kết thúc khi các

bên đạt được kết quả hòa giải và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó

Dưới một góc độ tiếp cận khác, từ những văn bản pháp lý cũng có những

quy định về "hòa giải ở cơ sở"

Điều 127 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ

sung năm 2001) ghi nhận: "Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân

dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và những tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật " [56]

Ngày đăng: 07/08/2018, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm