Theo đó công ty tài chính đã được định nghĩa đầy đủ: “Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Mã Số SV: 5075272 Lớp: Luật Thương Mại 3_Khóa 33
Cần Thơ _ 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Cần Thơ, em đã được các quý thầy cô trong trường, các quý thầy cô trong Khoa Luật đào tạo, truyền đạt kiến thức pháp luật cũng như những kiến thức thực tế xã hội giúp em có thể phục vụ tốt cho công việc sau này Để hoàn thành được khóa học, hoàn thành luận văn tốt
nghiệp của mình, em xin cảm ơn các quý thầy cô đặc biệt là cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt thời gian qua Bên cạnh đó, xin
cảm ơn cha mẹ cùng các bạn bè luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên trong quá trình làm khóa luận
Xin chân thành cảm ơn !
Huỳnh Văn Kil
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Cần thơ, ngày tháng năm 2011
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Cần thơ, ngày tháng năm 2011
Hội đồng phản biện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cấu trúc luận văn 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 4
1.1 Khái niệm về công ty tài chính 4
1.2 Vai trò của công ty tài chính 8
1.3 Các loại hình của công ty tài chính 10
1.3.1 Dựa vào hình thức sở hữu 10
1.3.2 Dựa vào chiến lược kinh doanh 10
1.3.3 Dựa vào quan hệ tổ chức 11
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 12
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động huy động vốn 12
2.1.1 Quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi 12
2.1.1.1 Hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi được ghi nhận bằng hình thức hợp đồng tiền gửi 14
2.1.1.2 Chủ thể của hợp đồng tiền gửi 14
2.1.2 Quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá 15
2.1.2.1 Điều kiện, thủ tục phát hành giấy tờ có giá của công ty tài chính 17
Trang 62.1.3 Quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng cách vay vốn các
tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong và ngoài nước; vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn 20
2.1.3.1 Huy động vốn bằng vay vốn của các tổ chức tín dụng khác 20 2.1.3.2 Hoạt động huy động vốn bằng vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn 23
2.2 Quy định pháp luật về hoạt động cấp tín dụng 24
2.2.1 Quy định pháp luật về hoạt động cho vay 25
2.2.1.1 Quy định pháp luật về chủ thể là công ty tài chính (bên cho vay) 27 2.2.1.2 Quy định pháp luật về chủ thể là bên vay 29
2.2.2 Hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác 32
2.2.2.1 Quy định chung của pháp luật về hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu 32 2.2.2.2 Quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của công ty tài chính 34
2.2.3 Quy định pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng 37
2.2.3.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng 37 2.2.3.2 Quy định pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng của công ty tài chính 39 2.2.3.3 Quy định pháp luật về chủ thể trong giao dịch bảo lãnh 41 2.2.3.4 Quy định pháp luật về phạm vi bảo lãnh ngân hàng của công ty tài chính 45
2.3 Các hoạt động kinh doanh khác 48
2.3.1 Quy định pháp luật về hoạt động đầu tư 48 2.3.2 Quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối 49 2.3.3 Quy định pháp luật về các hoạt động tư vấn tài chính 51
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH. 52
Trang 73.1 Thực trạng về hoạt động của công ty tài chính hiện nay 52
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty tài chính 53
3.2.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty tài chính 53
3.2.2 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty tài chính 55
3.2.2.1 Đối với hoạt động huy động vốn 55
3.2.2.2 Đối với hoạt động cấp tín dụng 57
KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Hệ thống tổ chức tín dụng luôn đóng vai trò to lớn đối với nền kinh tế, đặc biệt
là trong hoàn cảnh hiện nay khi nước ta đang trên đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhu cầu về vốn của tất cả các thành phần kinh tế nước ta đã gia tăng nhanh chóng Hệ thống tổ chức tín dụng trở thành một lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng, hứa hẹn nhiều thời cơ và lợi nhuận, tuy nhiên cũng gặp không ít những khó khăn và thách thức đòi hỏi phải đổi mới và hoàn thiện các loại hình nghiệp vụ kinh doanh Bên cạnh sự hoạt động mạnh mẽ của các tổ chức tín dụng là ngân hàng thì phải kể đến là khả năng kinh doanh của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, đặc biệt là ở loại hình công ty tài chính Công ty tài chính là một chế định tài chính được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng Sự ra đời và hoạt động của công ty tài chính trong lĩnh vực hoạt động có đối tượng kinh doanh là tiền tệ Trong quá trình hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của mình công ty tài chính đã đạt được nhiều kết quả đáng kể góp phần tích cực vào sự phát triển nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực tài chính nói riêng đã khẳng định chỗ đứng và vị trí của công ty trong nền kinh tế thị trường So với ngân hàng thì công ty tài chính ra đời và phát triển muộn hơn nên trong quá trình hoạt động nghiệp vụ của mình công ty tài chính vẫn còn là một chế định mới đối với pháp luật, đối với chủ thể kimh doanh Để có cái nhìn tổng quan và toàn diện trên khuôn khổ nền tản pháp lý và hiểu rõ thêm khả năng cạnh tranh kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động của mình mà chủ yếu là những quy định của pháp luật đối với hoạt động của công ty tài chính Xuất phát từ những thực tiễn hoạt động kinh doanh và những
quy định mới của pháp luật nên người viết quyết định chọn đề tài: “pháp luật về hoạt động của công ty tài chính – thực trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản, thực trạng hoạt động của công ty tài chính theo quy định của pháp luật hiện hành Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hoạt động, đề tài nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực hoạt động của công ty tài chính
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phân tích khái quát những quy định của pháp luật hiện hành về thực trạng hoạt động của công ty tài chính, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện của pháp luật đối với hoạt động của công ty tài chính
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, đề tài được người viết nghiên cứu trong phạm vi những quy định pháp luật về hoạt động của công ty tài chính, một phần về thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty tài chính
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, được người viết kết hợp sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn nhằm đưa ra những đánh giá kiến
giải về đề tài pháp luật về hoạt động của công ty tài chính - thực trạng và giải pháp
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn đưa ra một số vấn đề lý luận và thực trạng về hoạt động của công ty tài chính Luận văn đã phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành trên cơ sở đó đóng góp một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về hoạt động của công ty tài chính ở Việt Nam
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề khái quát chung về công ty tài chính
Ở chương này người viết chủ yếu nêu lên những vấn đề khái quát chung về khái niệm, vai trò cũng như các loại hình của công ty tài chính
Chương 2: Quy định pháp luật về hoạt động của công ty tài chính
Ở chương 2 người viết chủ yếu tập chung phân tích những hoạt động của công
ty tài chính theo quy định của pháp luật hiện hành
Chương 3: Thực trạng và giải pháp về hoạt động của công ty tài chính
Trên cơ sở phân tích những quy định pháp luật về hoạt động của công ty tài chính ở chương 2, người viết nêu lên những thực trạng chung về hoạt động của công ty tài chính từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với hoạt động của công ty tài chính
Trang 10Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình Tuy nhiên, do nguồn tài liệu còn nhiều hạn chế, sự tìm hiểu chưa sâu sắc khoa học cũng như hạn chế về mặt kiến thức và kinh nghiện thực tiễn, chưa tiếp xúc nhiều với thực tế, những phân tích, đánh giá còn mang tính lý thuyết đơn thuần nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, khuyêt điểm nhất định Do đó, người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô của các bạn đọc để giúp người viết sửa chữa, khắc phục những điểm hạn chế nhằm làm cho đề tài được hoàn thiện hơn
Người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Lê Huỳnh Phương Chinh, người đã trực tiếp hướng dẫn người viết thực hiện đề tài, lời cảm ơn đến các bạn bè
đã giúp đỡ đóng góp ý kiến giúp người viết hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 11CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ
CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1 Khái niệm về công ty tài chính
Trong bất cứ nền kinh tế nào luôn xuất hiện tình trạng cùng một thời điểm, xã hội tồn tại người thừa vốn và người thiếu vốn, khi người có vốn nhàn rỗi không có khả năng sản xuất, kinh doanh thì người thiếu vốn lại rất mong muốn được đầu tư kinh doanh mà tình trạng tài chính không cho phép Theo quy luật phát triển khách quan của nền kinh tế hàng hóa, mối quan hệ cung và cầu về vốn nảy sinh giữa người cho vay (người thừa vốn) và người đi vay (người thiếu vốn) Sự dịch chuyển ban đầu có tính chất tự phát diễn ra trực tiếp giữa hai bên do vậy hiệu quả không cao, tốn kém cả về chi phí và thời gian, thêm vào đó là sự thiếu tính chuyên nghiệp dễ dẫn tới rủi ro cho người có vốn cho vay Thực tế đó đòi hỏi một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp đóng vai trò trung gian giữa người có vốn và người đi vay Từ yêu cầu khách quan này các trung gian tài chính đã được sinh ra, hoạt động có tổ chức, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận với các chức năng là luân chuyển và điều tiết lượng vốn từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn Các trung gian tài chính này đã góp phần khơi thông dòng chảy, giúp nền kinh tế vận động nhịp nhàng và có hiệu quả cao hơn Bên cạnh sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng, đã góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế nhanh chóng với khả năng và nhu cầu về tài chính ngày càng tăng, việc sử dụng tài chính và nhu cầu tài chính ngày càng đa dạng hơn, các ngân hàng không thể đáp ứng đủ các nhu đó, do vậy, các công ty tài chính đã xuất hiện và đi vào hoạt động Có thể khẳng định rằng công ty tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường Sự ra đời và phát triển của các công ty tài chính đã làm cho hoạt động trong hệ thống tài chính trở nên phong phú, đa dạng, linh hoạt và hoàn chỉnh hơn
Ở Việt Nam, so với hệ thống ngân hàng thì công ty tài chính là một hình thức trung gian tài chính khá mới mẽ Sự ra đời của hệ ngân hàng tại Việt Nam được đánh dấu bằng sắc lệnh số 15/SL ngày 06/5/1951 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Kể từ khi thành lập, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, tới nay hệ thống ngân hàng đã được phân chia thành ngân hàng Nhà nước với chức năng quản lý điều tiết nền kinh tế tiền tệ và các ngân hàng chuyên doanh khác
Trong khi đó, các công ty tài chính chỉ mới được chính thức thừa nhận thông qua Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính do Hội đồng Nhà
Trang 12nước ban hành ngày 23/5/1990 Theo đó tại Điều 1 của Pháp lệnh quy định: “Công
ty tài chính là công ty quốc doanh hoặc cổ phần, hoạt động chủ yếu là cho vay để mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng nguồn vốn của mình hoặc vay của dân cư” Cũng
giống như các công ty tài chính của các nước trên thế giới, các công ty tài chính ở Việt Nam được hình thành dưới tác động của nền kinh tế thị trường Khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập chung sang nền kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển Từ đó một trong những vấn đề mới nảy sinh là sự gia tăng quá trình điều tiết lượng vốn, tiền tệ từ khu vực phi sản xuất vào khu vực sản xuất cũng như giữa các khu vực sản xuất với nhau Sự lớn mạnh của nền kinh tế, sự biến chuyển của thị trường trong nước và ngoài nước tạo nên một mức độ nhu cầu về vốn của nền kinh
tế Việt Nam Các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô thành phần đều thiếu vốn, nhu cầu điều tiết vốn trên thị trường làm nảy sinh hàng loạt các quỹ tín dụng nhằm huy động tiền gửi trong dân cư và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ Trong quá thực thi Pháp lệnh năm 1990 đã bộc lộ một số điểm hạn chế, trước những yêu cầu mới của quá trình phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, ngày 12/12/1997 Quốc hội đã ban hành Luật Các tổ chức tín dụng quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác ở Việt Nam Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 thì công ty tài chính chưa được định nghĩa đầy đủ, song được xếp vào tổ chức tín dụng phi ngân hàng Tại Điều 20 của Luật Các tổ chức tín dụng 1997 quy định:
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác
Để cụ thể hóa cách thức tổ chức và phạm vi hoạt động của công ty tài chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2002/NĐ - CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 quy định về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính Theo đó công ty tài chính
đã được định nghĩa đầy đủ: “Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch
Trang 13vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 01 năm” 1 Có thể thấy, so với Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990, công ty tài chính không còn bị bó hẹp trong hai hình thức là công ty quốc dân và công ty cổ phần Các hoạt động nghiệp vụ cũng được mở rộng hơn, đó là một bước tiến đáng
kể trong quá trình hoàn thiện pháp luật về các tổ chức tín dụng nói chung và công ty tài chính nói riêng Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 ra đời đã có những tác động tích cực trong đời sống kinh tế xã hội tạo cơ sở pháp lý cao hơn cho các hoạt động của công ty tài chính trong hệ thống các tổ chức tín dụng
Trước yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay, để củng
cố và nâng cao hoạt động của tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác, ngày 15/6/2004 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và đến ngày 29/07/2008 Chính phủ cũng
đã ban hành Nghị định số 81/2008/NĐ - CP về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2002/NĐ - CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính Tuy nhiên, với xu thế phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và ổn định Việc hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đáp ứng yêu cầu khách quan sự đa dạng hóa, tính năng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh và để nhằm theo kịp với công cuộc đổi mới, hội nhập, tiếp tục hoàn thiện để tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội mới của đất nước Chính vì vậy, ngày 16 tháng 6 năm
2010 Quốc hội đã ban hành Luật Các tổ chức tín dụng thay thế Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi bổ sung 2004) Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2011
Như vậy, công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng với chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư: cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm2 Công ty tài chính được mở chi nhánh, văn phòng đại diện sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
Trang 14Khi thành lập công ty tài chính phải đảm bảo mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong tỏa không được hưởng lãi tại Ngân hàng Nhà nước trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày, số vốn này chỉ được giải tỏa sau khi công ty tài chính khai trương hoạt động3
Về phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh, công ty tài chính được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng như huy động vốn, cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, v.v và những hoạt động khác có liên quan trong phạm vi pháp luật các tổ chức tín dụng cho phép như cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền
tệ, môi giới bảo hiểm, chứng khoán4 Tuy nhiên, do thuộc loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, nên có thể thấy rằng công ty tài chính có hai điểm khác biệt so với ngân hàng:
Một là, công ty tài chính không được huy động tiền gửi của cá nhân và cung
ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản Trong khi đó, hoạt động của ngân hàng là được nhận tiền gửi dưới mọi hình thức, được cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản, có nghĩa là ngân hàng thì được quyền huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và thực hiện các dịch vụ thanh toán, còn công ty tài chính thì chỉ được huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi có kỳ hạn
từ một năm trở lên;
Hai là, công ty tài chính có quyền thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân
hàng theo sự lựa chọn của mình, tức là không cần thiết phải đáp ứng đủ các điều kiện để cung cấp toàn bộ các hoạt động ngân hàng như đối với ngân hàng Điều đó cũng có nghĩa, nếu công ty tài chính thấy có đủ điều kiện để tăng thêm hoạt động ngân hàng, thì cần phải xin phép Ngân hàng Nhà nước
So với công ty cho thuê tài chính thì các công ty tài chính cũng có sự khác biệt nhất định Ở loại hình công ty cho thuê tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê5 Như vậy, công ty cho thuê tài chính là một mô hình công ty tài chính đặc thù, với chức năng chính là sử dụng vốn
Trang 15tự có và vốn huy động để cho thuê tài chính Bên cạnh đó, công ty cho thuê tài chính cũng có quyền cung cấp dịch vụ cho thuê vận hành, cho vay bổ sung vốn lưu động cho bên thuê tài chính và các dịch vụ khác nếu được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
Với khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, đặc biệt là doanh nghiệp, nên trên thực tế, mô hình công ty tài chính thường được các nhóm công ty (tập đoàn, công ty mẹ - công ty con, v.v…) thành lập Các nhóm công ty sẽ thông qua công ty tài chính để huy động và sử dụng vốn hiệu quả hơn Mặt khác, công ty tài chính cũng là kênh giúp các nhóm công ty huy động vốn từ các tổ chức bên ngoài để phục vụ cho nhu cầu vốn của mình
1.2 Vai trò của công ty tài chính
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, công ty tài chính là một chế định tài chính không thể thiếu và ngày càng có vai trò to lớn Đó là một hoạt động huy động vốn có tính chất chuyên nghiệp cao và sử dụng vốn hiệu quả, thông qua các công ty tài chính luồng vốn của thị trường được lưu thông thúc đẩy và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế quốc dân Bên cạnh đó công ty tài chính còn
là một kênh dẫn vốn quan trọng từ các nhà đầu tư, với khả năng chuyên nghiệp về kinh doanh vốn công ty tài chính có thể thu hút vốn với các dự án lớn từ những nhà đầu tư trong và ngoài nước
Ở nước ta, công ty tài chính là một hình thức trung gian tài chính khá mới mẽ
và chỉ thực sự phát triển mạnh trong khoảng những năm gần đây nhưng các công ty tài chính đã sớm khẳng định được vai trò quan trọng trong việc tạo lập thêm một kênh tài trợ tín dụng mới, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Sự ra đời của các công ty tài chính ở Việt Nam chủ yếu nhằm mục tiêu ban đầu là huy động và điều hành nguồn vốn thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn
Sự tồn tại của công ty tài chính trong hệ thống tài chính đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các chủ thể trong thị trường tài chính, mang lại động lực phát triển trong thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung
Một là, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo vốn cho nền kinh tế Các công ty
tài chính này sử dụng triệt để các nguồn vốn mà các công ty tài chính đang nắm giữ Đồng thời còn huy động thêm một lượng vốn quan trọng trong nền kinh tế vào quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế, cùng với các định chế khác hoạt động kinh doanh tiền tệ của các định chế phi tài chính này làm phong phú thêm thị
Trang 16trường tài chính, làm sôi động thị trường tài chính tạo ra nguồn vốn lớn cho các doanh nghiệp để mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh
Hai là, thúc đẩy hoạt động các ngân hàng thương mại mở rộng và hiện đại hóa
hệ thống ngân hàng Hoạt động của các công ty tài chính này sẽ góp phần làm đa dạng hóa thêm các dịch vụ tài chính - ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường bởi một khi có nhiều định chế khác nhau cùng hoạt động kinh doanh tiền tệ, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ mở rộng các dịch vụ thanh toán cho các định chế đó (vì đây là hoạt động độc quyền của ngân hàng thương mại) Hoạt động thanh toán phát triển là điều kiện tiền đề để hiện đại hóa hệ thống ngân hàng
Ba là, tạo điều kiện cho việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung
ương Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương luôn hướng về việc làm thế nào tạo ra một thị trường tiền tệ hoàn hảo hơn, trong đó có nhiều chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế trên cơ sở khai thác các nguồn vốn có sẵn trong nền kinh tế, để cuối cùng có được một chính sách lãi suất hợp lý nhất (Lãi suất hợp lý là lãi suất ở đó,
cung cầu gặp nhau ở mức độ hoàn hảo nhất quyết định, không có độc quyền, hoặc
cạnh tranh thiếu hoàn hảo)
Bốn là, đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất Các công ty
tài chính tham gia hoạt động trong thị trường tài chính góp phần giảm bớt những chi phí, thông tin và giao dịch lớn cho mỗi cá nhân, tổ chức và toàn bộ nền kinh tế Do chuyên môn hoá và thành thạo trong nghề nghiệp, các công ty tài chính đã đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu giữa người cần vốn và người có vốn Do cạnh tranh đan xen và đa năng hóa hoạt động, các công ty tài chính thường xuyên thay đổi lãi suất một cách hợp lý, làm cho nguồn vốn thực tế được tài trợ cho đầu tư tăng lên mức cao nhất cũng như các dịch vụ tư vấn, môi giới, tài trợ, trợ cấp được thực hiện hợp lý và có hiệu quả hơn
Năm là, khai thác được mọi nguồn vốn phục vụ cho đầu tư phát triển kinh
doanh Các công ty tài chính hoạt động nhằm thu hút các nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh và thúc đẩy đầu tư trên cơ sở đó tạo ra các quan hệ kinh tế chuyển biến tích cực làm cho hệ thống tài chính trở nên rộng lớn và bao quát hơn
Như vậy, có thể thấy khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì vai trò của trung gian tài chính ngày càng quan trọng Bên cạnh các trung gian tài chính khác, công
ty tài chính đã góp phần tạo thêm một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu vay vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
Trang 17nghiệp vừa và nhỏ, phục vụ kịp thời nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân - một
lĩnh vực mà các tổ chức tín dụng vừa qua chưa đáp ứng được
1.3 Các loại hình của công ty tài chính
1.3.1 Dựa vào hình thức sở hữu
Công ty tài chính Nhà nước: Là công ty tài chính do Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh Công ty tài chính Nhà nước được thành lập và hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ
Công ty tài chính cổ phần: Là công ty tài chính được thành lập trên cơ sở vốn
góp của các cổ đông theo quy định của pháp luật, cổ đông có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc Nhà nước
Công ty tài chính liên doanh: Là công ty tài chính được thành lập bằng vốn
góp giữa một bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức dụng nước ngoài, trên cơ
sở hợp đồng liên doanh Công ty tài chính liên doanh được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài: Là công ty tài chính được thành lập
bằng vốn của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.3.2 Dựa vào chiến lược kinh doanh
Căn cứ vào hoạt động kinh doanh, công ty tài chính được phân loại thành ba loại hình chủ yếu6:
Công ty tài chính tiêu dùng: Cung ứng phần lớn vốn cho các gia đình và cá
nhân hoặc để giúp doanh nghiệp những món nợ nhỏ, phục vụ mục đích mua sắm tiêu dùng Các công ty tài chính tiêu dùng là các công ty riêng biệt hoặc do các ngân hàng sở hữu Hầu hết các khoản cho vay đều được trả góp theo định kỳ Loại cho vay này thường là các món nhỏ với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường để giảm rủi
ro
Công ty tài chính bán hàng: Cung cấp tín dụng gián tiếp cho người tiêu dùng
để mua sắm các loại hàng do công ty mẹ hay một nhà sản xuất nào đó bán ra Các
6
PGS.TS Phan Thị Cúc - ThS Đoàn Văn Huy, Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ, Nxb Thống kê, 2010, Tr321, 322
Trang 18công ty tài chính này mua lại khoản nợ của người mua hàng, từ người bán hàng và thu nợ từ người mua hàng Các công ty tài chính bán hàng trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng về cho vay tiêu dùng và được người tiêu dùng sử dụng bởi vì các món cho vay thường được thực hiện nhanh và tiện lợi hơn tại nơi mua hàng
Công ty tài chính kinh doanh: Các công ty này mua những khoản tiền phải thu
hoặc chiết khấu các khoản phải thu của doanh nghiệp Các khoản phải thu này là vốn lưu động phí dịch vụ chưa thu tiền Ngoài cách này, các công ty tài chính còn cung cấp các loại hình như: cho thuê tín dụng, thuê thiết bị…
Như vậy, mỗi loại hình công ty tài chính có những khách hàng riêng biệt của mình và đi đôi với nó là một phạm vi cung ứng dịch vụ riêng Tuy nhiên thời gian gần đây, sự phân biệt trên đã dần mờ nhạt dần
1.3.3 Dựa vào quan hệ tổ chức
Công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng: Là công ty tài chính do một tổ
chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, hoạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân
Công ty tài chính thuộc tập đoàn kinh doanh: Là công ty tài chính được thành lập bởi các tập đoàn kinh tế theo cơ chế trong mô hình công ty mẹ - công ty con
Các công ty tài chính này chịu sự quản lý của tổng công ty về chiến lược phát triển,
về tổ chức và nhân sự, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Ở nội dung chương 1, những vấn đề khái quát chung về công ty tài chính được
đề cập đến Khái niệm công ty tài chính được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam và các văn bản dưới luật, theo đó công ty tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng, là một hình thức trung gian tài chính khá mới mẽ nhưng các công ty tài chính đã có vai trò quan trọng trong việc tạo lập một kênh dẫn vốn góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Theo quy định công ty tài chính là doanh nghiệp được tổ chức theo loại hình công
ty tài chính cổ phần và công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn
Trang 19CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY TÀI CHÍNH
Công ty tài chính là doanh nghiệp được thành lập để hoạt động ngân hàng Do
đó, hoạt động ngân hàng bao giờ cũng là hoạt động kinh doanh chính của công ty tài chính Hoạt động ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cao và liên quan đến lĩnh vực tiền tệ nên trong quá trình phát triển hoạt động của mình, công ty tài chính phải đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, hệ thống bảo mật và chế
độ đảm bảo an toàn cho hệ thống tín dụng Chính vì vậy, pháp luật đã có những quy định chặt chẽ và cụ thể về hoạt động của công ty tài chính
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng bậc nhất của tổ chức tín dụng, thông qua hoạt động này, tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng khác như cấp tín dụng, đầu tư, tư vấn và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật Ở loại hình công ty tài chính cũng vậy, vốn kinh doanh của công ty tài chính chủ yếu từ nguồn vốn huy động Vì vậy, hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng trong các nghiệp
vụ kinh doanh của công ty tài chính Theo quy định của pháp luật hiện hành, công
ty tài chính được phép huy động vốn dưới các hình thức sau: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác và vay Ngân hàng Nhà nước
2.1.1 Quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi
Trên thế giới, khái niệm về “tiền gửi” được quy định có thể khác biệt ở mỗi nước nhưng nhìn chung về bản chất thì không có sự khác biệt Theo đạo luật 372 của Malaixia có tên gọi là luật các tổ chức tài chính và ngân hàng (năm 1989) quy
định: “Tiền gửi có nghĩa là một khoản tiền đã nhận hay được hoàn trả theo các điều kiện mà theo đó khoản tiền sẽ được hoàn trả, có hoặc không có lãi, có cộng thêm phí hoặc chiết khấu”; Luật về ngành tín dụng của cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại được huy động tiền
Ở Việt Nam, theo quy định trước đây tại khoản 9, Điều 20, Luật Các tổ chức
tín dụng năm 1997 ghi nhận: “Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín
7
Trần Vũ Hải, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010, Tr77
Trang 20dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức tiền gửi khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải hoàn trả cho người gửi tiền” Hiện nay Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín hiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc
Đối với hoạt động nhận tiền gửi của công ty tài chính được quy định tại Nghị định số 79/2002/NĐ – CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động
của công ty tài chính như sau: “Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ
4, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng…” Vì công ty tài chính
thuộc loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, do đó công ty tài chính chỉ được phép nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền mà người gửi cam kết chỉ rút khỏi tài khoản khi đến hạn Đây là loại tiền gửi mang tính ổn định hơn so tiền gửi không kỳ hạn nên công ty tài chính có thể sử dụng chúng vào hoạt động kinh doanh của mình hiệu quả hơn Tiền gửi có kỳ hạn được chia thành: tiền gửi ngắn hạn (dưới 01 năm), tiền gửi trung hạn (từ 01 năm đến 05 năm), tiền gửi dài hạn (trên 05 năm trở lên) Trong đó, như đã nêu, phạm vi tiền gửi mà công ty tài chính có thể thực hiện hoạt động huy động vốn không bao gồm tiền gửi ngắn hạn
Ngoài ra, theo khoản 2, Điều 4 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành theo Quyết định số 1160/2004/QĐ - NHNN ngày 13/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước (Quy chế về tiền gửi tiết kiệm 2004) quy định: “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ một năm trở lên của mọi cá nhân” Tuy nhiên, theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì hình
thức huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm của công ty tài chính không còn nữa
Trang 212.1.1.1 Hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi được ghi nhận bằng hình thức hợp đồng tiền gửi
Hợp đồng tiền gửi là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (được Ngân hàng Nhà nước quy định cho phép nhận tiền gửi) với một bên là người gửi tiền nhằm thiết lập quan hệ gửi giữ, quan hệ cho vay hoặc ủy nhiệm quan
hệ thanh toán Tiền gửi có thể được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền Hợp đồng tiền gửi được ký kết dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật hiện hành Hai bên của hợp đồng là công ty tài chính và khách hàng gửi tiền thỏa thuận ký kết hợp đồng tiền gửi có thời hạn theo mẫu in sẵn, trong đó các điều khoản chủ yếu và các điều khoản thường lệ như: điều khoản số tiền gửi và lãi suất; thời hạn thanh toán gốc và lãi; quyền và nghĩa vụ các bên; sửa đổi, gia hạn và chấm dứt hợp đồng; bồi thường thiệt hại; điều khoản thi hành và thời hạn hiệu lực của hợp đồng…
Ở đây, thủ tục nhận tiền gửi tại các công ty tài chính được tiến hành đơn giản, nhanh chóng Bằng việc ban hành Quy chế nhận tiền gửi và niêm yết công khai trước trụ sở văn phòng giao dịch của công ty tài chính để mọi khách hàng đều có thể biết được, có thể coi như là một đề nghị giao kết hợp đồng vì bản quy chế này mang đầy đủ nội dung cam kết nhận tiền gửi của công ty tài chính hướng tới khách hàng Chấp nhận các điều khoản của bản quy chế này đồng nghĩa với việc mở tài khoản tiền gửi, khi hợp đồng được hình thành Về bản chất hợp đồng tiền gửi là hợp đồng vay tài sản của công ty tài chính đối với khách hàng vì nó được thực hiện trên
cơ sở thỏa thuận, tự nguyện, bình đẳng, theo đó người gửi tiền sẽ chuyển giao một lượng tiền nhất định cho công ty tài chính quản lý, sử dụng và công ty tài chính sẽ hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn
2.1.1.2 Chủ thể của hợp đồng tiền gửi
Bên nhận tiền gửi: Tổ chức nhận tiền gửi là các tổ chức tín dụng được thành
lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng Các tổ chức nhận tiền gửi này được phép tiến hành huy động vốn bằng nhận tiền gửi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, cụ thể là công ty tài chính
Quyền và nghĩa vụ của công ty tài chính trong việc quản lý và sử dụng tiền gửi: Công ty tài chính được quyền yêu cầu khách hàng gửi tiền phải chuyển tiền
vào tài khoản theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng; công ty tài chính phải có nghĩa
vụ thanh toán đầy đủ, đúng hạn số tiền gửi (cả gốc và lãi phát sinh) khi đến hạn, lãi phạt và lãi quá hạn (nếu có); tạo điều kiện cho khách hàng có thể sử dụng hợp đồng này làm tài sản đảm bảo; công ty tài chính có trách nhiệm đảm bảo bí mật thông tin,
Trang 22từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tài khoản tiền gửi mà không
có sự đồng ý của chủ sở hữu tài khoản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; thông báo công khai mức lãi suất tiền gửi, công ty tài chính phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư không thấp hơn mức dự trữ bắt
buộc do Ngân hàng Nhà nước quy định
Bên gửi tiền: Là các tổ chức, cá nhân trong nước và các tổ chức, cá nhân nước
ngoài sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam Theo quy định hiện hành của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chủ thể bên gửi tiền trong hợp đồng gửi tiền của công ty tài chính là tổ chức10
Quyền và nghĩa vụ của bên gửi tiền: Yêu cầu cung cấp các thông tin, tài liệu
chứng minh việc thành lập, hoạt động kinh doanh của công ty tài chính; bên gửi tiền
có quyền yêu cầu công ty tài chính trả nợ đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi theo thỏa thuận; có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật khi công ty tài chính vi phạm nghĩa vụ cam kết; bên gửi tiền có nghĩa vụ chuyển giao tiền theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng
Hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi là hoạt động quan trọng trong quá trình tạo lập vốn của công ty tài chính Huy động vốn bằng nhận tiền gửi là hình thức huy động dễ dàng, nhanh chóng, được phép tiến hành thường xuyên, liên tục với mọi khách hàng (khách hàng là tổ chức) ngay cả khi công ty tài chính thừa vốn kinh doanh, công ty tài chính cũng không từ chối nhận tiền gửi của khách hàng trong khi đó các hình thức huy động vốn khác chỉ tiến hành khi thiếu vốn
2.1.2 Quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá được phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền
tệ, thị trường vốn của các tổ chức tín dụng Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác11
- Căn cứ vào thời hạn phát hành, giấy tờ có giá bao gồm giấy tờ có giá ngắn
hạn và giấy tờ có giá dài hạn
Trang 23+ Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm bao gồm
kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác12
+ Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao
gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác13
- Căn cứ vào chủ sở hữu, giấy tờ có giá bao gồm giấy tờ có giá có ghi danh và
giấy tờ có giá vô danh
+ Giấy tờ có giá có ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng
chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu14
+ Giấy tờ có giá vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ
không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá15
Theo Nghị định số 81/2008/NĐ - CP ngày 29/07/2008 về sửa đổ, bổ sung một
số điều của Nghị định số 79/2002/NĐ - CP ngày 04/10/2002 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính quy định công ty tài chính được phép phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn từ một năm trở lên để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam16 Tuy nhiên, tại điểm b Khoản 1, Điều 108, Luật
Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định công ty tài chính được phép phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ chức Như vậy, so với những quy định trước đây của pháp luật thì Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có những điểm khác biệt nhất định Theo quy định của luật hiện hành, công ty tài chính được phép phát hành các giấy tờ có giá là chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu và chỉ được huy động vốn của tổ chức
Trang 24Như đã phân tích, tại Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, công ty tài chính không được phép nhận tiền gửi có thời hạn dưới một năm, song lại được phép phát hành các giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm (như kỳ phiếu, tín phiếu) Điều này đã làm giảm bớt hạn chế trong hoạt động huy động vốn của công ty tài chính
Tuy nhiên, công ty tài chính muốn được huy động vốn bằng phương thức phát hành giấy tờ có giá thì công ty tài chính phải đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định, đó là: được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; tuân thủ theo quy định về hạn chế để đảm bảo an toàn hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước; có tình hình tài chính lành mạnh theo đánh giá của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
2.1.2.1 Điều kiện, thủ tục phát hành giấy tờ có giá của công ty tài chính
Phát hành giấy tờ có giá là việc công ty tài chính vay vốn của các tổ chức thông qua việc phát hành các loại giấy tờ có giá theo quy định của pháp luật
Về hình thức giao dịch, việc công ty tài chính phát hành các loại giấy tờ có giá
bán cho các tổ chức là một hợp đồng mua bán Nhưng xét về bản chất của việc phát hành các loại giấy tờ có giá là hợp đồng vay nợ giữa công ty tài chính với bên mua giấy tờ có giá vì nó được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận giữa công ty tài chính với khách hàng, theo đó công ty tài chính phát hành giấy tờ có giá bán cho khách hàng, khi đến hạn thanh toán công ty tài chính sẽ thanh toán cho khách hàng theo thỏa thuận
Về chủ thể giao dịch, một bên giao dịch là công ty tài chính được thành lập và
hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đang có nhu cầu về vốn tiền mặt để thực hiện hoạt động kinh doanh, còn một bên là tổ chức trong nước hoặc nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu mua giấy tờ có giá17
Về phương thức phát hành giấy tờ có giá, công ty tài chính có thể thực hiện
phát hành giấy tờ có giá theo phương thức: trực tiếp phát hành giấy tờ có giá, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành và đấu thầu giấy tờ có giá18
Về hình thức phát hành, công ty tài chính phát hành giấy tờ có giá theo hình
thức chứng chỉ ghi danh, chứng chỉ vô danh và ghi sổ19
Trang 25Về mục đích tham gia giao dịch, các công ty tài chính khi phát hành các giấy
tờ có giá bán cho khách hàng là được quyền sử dụng số tiền nhận được từ phát hành giấy tờ có giá và phải hoàn trả lại số tiền, lãi suất khi đến hạn Cũng như các tài sản khác, giấy tờ có giá được chuyển nhượng quyền sở hữu dưới các hình thức: mua, bán, tặng, cho, thừa kế, trao đổi theo quy định của pháp luật; được đem cầm cố vay vốn tại các tổ chức tín dụng để đảm bảo vay tiền; chiết khấu, tái chiết khấu theo quy định của pháp luật về chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá
- Đối với giấy tờ có giá ngắn hạn:
Công ty tài chính được phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn khi tuân thủ đầy đủ các hạn chế an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Đối với giấy tờ có giá dài hạn:
Công ty tài chính được phát hành giấy tờ có giá dài hạn khi tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày công ty tài chính chính thức đi vào hoạt động; kết quả hoạt động, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành và tính đến thời điểm gần nhất phải có lãi; được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của công ty tài chính20
- Đối với phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn
Công ty tài chính sẽ chủ động tổ chức các đợt phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm Trước thời hạn phát hành từng đợt, ít nhất là 03 ngày làm việc công
ty tài chính phải gửi thông báo phát hành của từng đợt phát hành dự kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ chính sách tiền tệ) Thông báo phát hành bao gồm các nội dung sau: tên công ty tài chính phát hành; tên gọi giấy tờ có giá; tổng mệnh giá của đợt phát hành; phương thức phát hành; hình thức phát hành; địa điểm phát hành; thời hạn giấy tờ có giá; thời hạn phát hành; lãi suất, phương thức trả lãi, thời điểm, địa
19
Điều 7, Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định
số 07/2008/QĐ – NHNN ngày 24/03/2008
20
Điều 22, Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định
số 07/2008/QĐ – NHNN ngày 24/03/2008
Trang 26điểm trả lãi; địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá; các nội dung thông báo cho khách hàng của công ty tài chính phát hành
Công ty tài chính phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn với mệnh giá của giấy tờ
có giá ngắn hạn được in sẵn hoặc theo thỏa thuận của công ty tài chính phát hành đối với người mua
- Đối với phát hành giấy tờ có giá dài hạn 21
Công ty tài chính chủ động tổ chức các đợt phát hành giấy tờ có giá dài hạn trong phạm vi kế hoạch của năm tài chính đã được xét duyệt Trường hợp công ty tài chính đã được chấp thuận kế hoạch phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính nhưng không tổ chức phát hành phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ) Trước thời điểm phát hành ít nhất 03 ngày làm việc, công ty tài chính phải gửi thông báo phát hành giấy tờ có giá dài hạn của đợt phát hành dự kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ) Thông báo phát hành giấy tờ có giá dài hạn bao gồm các nội dung sau: tên công ty tài chính phát hành; tên gọi giấy tờ
có giá (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn…); tổng mệnh giá của đợt phát hành; phương thúc phát hành; hình thức phát hành; địa điểm phát hành; thời hạn giấy tờ
có giá; thời hạn phát hành; lãi suất, phương thức trả lãi, thời điểm, địa điểm trả lãi; địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá; các nội dung thông báo khác của công
ty tài chính phát hành
Đối với mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn bằng đồng Việt Nam phát hành theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là một trăm ngàn đồng Các mệnh giá lớn hơn mệnh giá tối thiểu phải là bội số của mệnh giá tối thiểu; mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn bằng ngoại tệ phát hành theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là một trăm đô la
Mỹ hoặc ngoại tệ khác tương đương Các mệnh giá lớn hơn mệnh giá tối thiểu phải
là bội số của mệnh giá tối thiểu; mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn là trái phiếu phát hành theo hình thức chứng chỉ được in sẵn trên giấy tờ có giá; mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn là chứng chỉ tiền gửi dài hạn phát hành theo hình thức chứng chỉ được in sẵn hoặc theo thỏa thuận của công ty tài chính phát hành với người mua; mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn phát hành theo hình thức ghi sổ do công ty tài chính phát hành thỏa thuận với người mua
21
Điều 20, 25, Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ – NHNN ngày 24/03/2008
Trang 272.1.3 Quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng cách vay vốn các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong và ngoài nước; vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn
2.1.3.1 Huy động vốn bằng cách vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
Ngoài việc huy động vốn của các tổ chức kinh tế - xã hội, công ty tài chính còn được vay vốn từ các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật Việc vay vốn giữa công ty tài chính với các tổ chức tín dụng khác nhằm điều hòa, phân phối nguồn vốn, đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo an toàn và hoạt động có hiệu quả của công ty tài chính Do nhu cầu vốn của khách hàng và khả năng đáp ứng nhu cầu đó của công ty tài chính không phải lúc nào cũng cân bằng nên dẫn đến tình trạng công ty tài chính thiếu hụt tạm thời, trong khi đó, các tổ chức tín dụng khác lại thừa vốn vì vậy việc vay vốn với nhau là cần thiết để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn trong hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung và công ty tài chính nói riêng
Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng là việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của tổ chức tín dụng (bên cho vay) cho một tổ chức tín dụng khác (bên vay) theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng22 Theo Nghị định số 79/2002/NĐ - CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính quy định công ty tài chính được huy động vốn vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế23 Luật Các tổ chức tín dụng
năm 2010 quy định công ty tài chính được phép huy động: “vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” (điểm c, khoản 1, Điều 108 Luật Các tổ chức tín dụng năm
2010)
Về bản chất, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng cũng không khác nhiều so với việc khách hàng thông thường vay vốn tại các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, sự tín nhiệm mà các tổ chức dụng dành cho nhau là cao hơn, bên cạnh đó, điều kiện kỹ thuật cũng cho phép các bên tiến hành thủ tục vay vốn nhanh gọn hơn so với việc tổ chức tín dụng cho khách hàng thông thường vay vốn
Trang 28- Đối tượng vay vốn của công ty tài chính
Bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng nhân, tổ chức tài chính vi mô
- Nguyên tắc cho vay và đi vay
+ Bên vay phải hoàn trả nợ gốc, tiền vay và các loại phí (nếu có) đúng hạn cho bên cho vay
+ Việc đi vay và cho vay giữa các bên phải đảm bảo an toàn, phù hợp với quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế
+ Các bên thỏa thuận việc áp dụng hay không áp dụng hình thức bảo đảm đối với khoản vay trong từng trường hợp cụ thể Hình thức bảo đảm tiền vay bao gồm bảo đảm bằng tài sản, bảo lãnh của một tổ chức tín dụng khác Việc áp dụng hình thức bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay thực hiện theo quy định của pháp luật
+ Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật Các bên có thể thỏa thuận áp dụng lãi suất quá hạn đối với tiền vay không hoàn trả đúng hạn và không được bên cho vay gia hạn Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay
Các tổ chức tín dụng được thực hiện cho vay, đi vay lẫn nhau bằng Đồng Việt Nam Tổ chức tín dụng được cho vay bằng ngoại tệ hoặc đi vay bằng ngoại tệ hoặc được thực hiện cả cho vay và đi vay bằng ngoại tệ, trên cơ sở phạm vi hoạt động ngoại hối được Ngân hàng Nhà nước cho phép
- Phương thức vay, các bên thỏa thuận áp dụng phương thức cho vay từng lần,
theo hạn mức tín dụng hoặc các phương thức khác phù hợp với các quy định của pháp luật
Thời hạn vay ngắn hạn tối đa 12 tháng, trung hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, dài hạn trên 60 tháng
- Hình thức hợp đồng vay, hợp đồng vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
bao giờ cũng được thực hiện bằng văn bản là hợp đồng tín dụng
Trang 29- Quyền và nghĩa vụ của các bên 24
+ Quyền và nghĩa vụ của bên vay (công ty tài chính)
Trả nợ đầy đủ và đúng hạn cả gốc, lãi và các loại phí (nếu có) theo
thỏa thuận;
Cung cấp trung thực các thông tin, tài liệu có liên quan theo yêu cầu
của bên cho vay;
Có quyền trả nợ trước hạn nếu hai bên có thỏa thuận hoặc khi được
bên cho vay chấp thuận;
Thực hiện các cam kết khác đã thỏa thuận với bên cho vay;
Khởi kiện bên cho vay theo quy định của pháp luật nếu bên cho vay vi
phạm các cam kết đã thỏa thuận
+ Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
Yêu cầu bên vay cung cấp các tài liệu cần thiết liên quan đến khoản vay; từ chối yêu cầu xin vay của bên vay nếu thấy không đủ điều kiện cho vay;
Có quyền yêu cầu bên vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khoản cho vay;
Gia hạn khoản vay, điều chỉnh các kỳ hạn trả nợ; giảm lãi suất cho vay, chuyển nợ quá hạn;
Yêu cầu bên vay trả nợ trước hạn nếu các bên có thỏa thuận về việc trả nợ trước hạn, các điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ trước hạn của bên vay và bên vay vi phạm một trong các điều kiện đó;
Khi đến hạn trả nợ mà bên vay, bên bảo lãnh không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, nếu các bên không có thỏa thuận nào khác, thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay hoặc khởi kiện bên vay, bên bảo lãnh theo quy định của pháp luật;
Thực hiện các cam kết đã thỏa thuận với bên vay
2.1.3.2 Hoạt động huy động vốn bằng vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn
24
Điều 10, Quy chế vay vốn giữa các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1310/2001/QĐ - NHNN ngày 15/10/2001
Trang 30Vay vốn Ngân hàng Nhà nước vừa là một hình thức huy động vốn của công ty tài chính vừa là một công cụ để Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thông qua công cụ tái cấp vốn
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng25
- Các hình thức tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau26:
+ Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;
+ Chiết khấu giấy tờ có giá;
+ Các hình thức tái cấp vốn khác
- Chủ thể được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
Theo quy định trước đây, chủ thể được vay vốn Ngân hàng Nhà nước là các tổ chức tín dụng là ngân hàng, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung
2004) quy định: “Tổ chức tín dụng là ngân hàng được vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại Điều 30 của Luật Ngân
chức tín dụng năm 2010, ngoài các tổ chức tín dụng là ngân hàng được vay vốn Ngân hàng Nhà nước thì công ty tài chính được phép vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam28
Ngoài ra, công ty tài chính được Ngân hàng Nhà nước cho vay khoản vay đặc biệt trong các trường hợp sau: công ty tài chính lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống của các tổ chức tín dụng; công ty tài chính có nguy cơ mất khả năng chi trả do các sự cố nghiêm trọng khác29
2.2 Quy định pháp luật về hoạt động cấp tín dụng
Trang 31Hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng là việc chuyển nhượng quyền sở hữu vốn của tổ chức tín dụng cho các tổ chức, cá nhân với điều kiện hoàn trả lại một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị được chuyển nhượng sau một thời gian được thỏa thuận trước 30
Hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng là hoạt động kinh doanh tiềm ẩn rủi
ro cao do tính chất kéo dài của các quan hệ kinh doanh Chính vì vây, so với các hoạt động kinh doanh khác thì hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng chịu sự điều
chỉnh chi tiết và chặt chẽ của pháp luật Pháp luật hiện hành quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các
2010 công ty tài chính được hoạt động cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây32:
- Cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng;
- Bảo lãnh ngân hàng;
- Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác;
- Phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
2.2.1 Quy định pháp luật về hoạt động cho vay
Trong hoạt động dân sự, giao dịch vay tài sản là một quan hệ hợp đồng trong
đó, tổ chức, cá nhân này chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho tổ chức, cá nhân khác trên cơ sở có hoàn trả sau một thời gian nhất định Cùng với sự hình thành của hoạt động ngân hàng, hoạt động cho vay trở thành một nghiệp vụ kinh doanh phổ biến của các tổ chức tín dụng Mặc dù, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và ngành công nghiệp ngân hàng, nhiều hình thức cấp tín dụng khác ra đời, nhưng cho vay vẫn được biết đến như là một hình thức cấp tín dụng phổ biến và thông dụng nhất Theo quy định của pháp luật hiện hành về cho vay, khái niệm cho vay được
hiểu như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và
Trang 32lãi” 33 Hoạt động cho vay được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật ngân hàng
Với bản chất và hoạt động ngân hàng nên quan hệ về pháp luật về cho vay giữa tổ chức tín và khách hàng chịu sự điều chỉnh trước tiên và trên hết bởi các quy định của pháp luật ngân hàng Luật Các tổ chức tín dụng có nhiều quy định về lĩnh vực cho vay như điều kiện vay vốn, nội dung hợp đồng tín dụng, các biện pháp bảo đảm tiền vay, quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng tín dụng, v.v Để cụ thể hóa các quy định này Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế cho vay của các
tổ chức tín dụng đối với khách hàng như: Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN
ngày 31/12/2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng Quyết định số 127/2005/QĐ - NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Quyết định số 783/2005/QĐ - NHNN ngày 31/05/2005
về việc sửa đổi, bổ sung Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐ - NHNN ngày 3/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, v.v
Theo quy định của pháp luật hiện hành, công ty tài chính được cho vay bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng34
Cho vay trả góp là hình thức công ty cho phép người vay trả nợ gốc và lãi suất
theo từng thời kỳ theo sự thỏa thuận giữa các bên
Cho vay tiêu dùng là loại cho vay mà nguồn vốn vay được bên vay sử dụng
vào mục đích tiêu dùng Cho vay tiêu dùng thông thường là những món vay nhỏ nhằm tạo thu nhập cho người vay
Về thời hạn cho vay, công ty tài chính được cho vay dưới các hình thức cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước35
Cho vay ngắn hạn là cho vay với thời hạn sử dụng vốn vay dưới 12 tháng,
khoản vay này thường được đáp ứng những mục đích sử dụng ngắn hạn
Khoản 1, Điều 18, Nghị định số 79/2002/NĐ – CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tổ chức
và hoạt động của công ty tài chính
Trang 33Cho vay trung hạn và dài hạn là cho vay với thời hạn sử dụng vốn vay từ 12
tháng trở lên
Để đảm bảo khả năng chi trả của công ty tài chính, pháp luật có quy định công
ty tài chính không được dành quá nhiều nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn Theo quy định đối với hoạt động cho vay của công ty tài chính không được sử dụng quá 30% vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn36
Cho vay là một trong những nghiệp vụ tín dụng quan trọng hàng đầu của các
tổ chức tín dụng đối với khách hàng, nghiệp vụ này được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng tín dụng Từ quan niệm chung về hợp đồng, căn cứ vào bản chất hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, có thể định nghĩa hợp đồng tín dụng như sau:
Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với một bên là tổ chức, cá nhân (bên đi vay) nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình chuyển giao, sử dụng tiền vay và thanh toán tiền nợ gốc và lãi vay 37
Trong hoạt động cho vay của công ty tài chính, chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng bao gồm công ty tài chính (bên cho vay) và tổ chức, cá nhân (bên đi vay)
2.2.1.1 Quy định pháp luật về chủ thể là công ty tài chính (bên cho vay)
Bên cho vay trong hợp đồng tín dụng là công ty tài chính, để trở thành chủ thể trong hợp đồng tín dụng công ty tài chính phải được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, phải thỏa mãn các điều kiện quy định của pháp luật38
Việc pháp luật quy định những điều kiện này nhằm hạn chế rủi ro cho nền kinh tế và làm lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng Ngoài ra, còn là căn cứ để xác định hiệu lực pháp lý của hợp đồng tín dụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên trong hợp đồng
- Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng tín dụng với tư cách là bên cho vay, công
ty tài chính có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
Trang 34+ Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm vay cho khách hàng sử dụng (nghĩa vụ giải ngân)
Nghĩa vụ này phát sinh do việc bên cho vay đã cam kết để khách hàng được sử dụng số tiền của mình trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả Trong thực tế, người vay chỉ có thể thực hiện được quyền sử dụng vốn vay và cũng chỉ có nghĩa vụ hoàn trả tiền vay khi nào có bằng cớ chứng minh rằng họ đã nhận được tiền vay chuyển đúng thời hạn đã thỏa thuận
Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của công ty tài chính; tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng và người có liên quan vượt quá giới hạn cấp tín dụng thì công ty tài chính được cấp tín dụng hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Trong trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà khả năng hợp vốn của công ty tài chính chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của một khách hàng thì Thủ tướng Chính phủ quyết định mức cấp tín dụng tối đa vượt quá các giới hạn quy định đối với từng trường hợp cụ thể nhưng không được vượt quá bốn lần vốn tự có của công ty tài chính
+ Quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay của bên vay xem có đảm bảo
Quyền kiểm tra, giám sát trong quá trình sử dụng vốn vay thuộc về bên cho vay, đồng thời bên vay có nghĩa vụ phải chịu sự kiểm tra, giám sát đó trên cơ sở các bên thỏa thuận chứ không phải do pháp luật quy định trước Lý do để bên cho vay được quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay là khi ký kết hợp đồng tín dụng, chính bên vay đã thỏa thuận rằng họ sẽ sử dụng tiền vay đúng mục đích Tuy nhiên, bên cho vay chỉ được quyền kiểm tra, giám sát chứ không được bắt buộc người vay phải hoạt động theo ý mình; cũng không được lạm dụng quyền này để cản trở hoạt động kinh doanh, can thiệp vào công việc nội bộ… của bên vay
+ Quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, điều chỉnh lãi suất