TS Phan Hữu Dật Chủ tịch hội dân tộc học Việt Nam đã viết: “…Nghĩ về Tràng Định,là nghĩ đến trong quá trình lịch sử, vì sao con người các dân tộc ở đây lại xây dựng được cho mình một tru
Trang 1ĐẤT VÀ NGƯỜI TRÀNG ĐỊNH VỚI
VĂN HÓA DÂN GIAN TÀY
Trang 2-Vài nét về đặc điểm địa lí, lịch sử, xã hội và văn hóa huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Nhận xét về huyện Tràng Định, GS TS Phan Hữu Dật
(Chủ tịch hội dân tộc học Việt Nam) đã viết: “…Nghĩ về
Tràng Định,là nghĩ đến trong quá trình lịch sử, vì sao con người các dân tộc ở đây lại xây dựng được cho mình một truyền thống văn hóa thống nhất trong đa dạng, vừa có tâm hồn rộng mở, tiếp thu cái hay cái đẹp của văn hóa các dân tộc khác, đồng thời vẫn gìn giữ được cái cốt lõi của bản sắc văn hóa từng dân tộc Vì sao, trong những điều kiện nào, con người các dân tộc nơi đây lại có tình tình chất phác, trug thực, lại có tâm hồn nhân ái, luôn hướng tới cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ.”.(18,tr7) Là mảnh đất rừng núi giáp biên,
Tràng Định vừa có những đặc điểm của núi rừng, lại có nétriêng về địa lợi, nhân hòa do địa lí, lịch sử xã hội mang lại
Trang 3Tên gọi Tràng Định xưa kia là tên một phủ Năm 1836,vua Minh Mệnh cắt 4 châu phía bắc sông Kì Cùng là châuVăn Uyên, châu Thoát Lãng, huyện Văn Quan, huyện ThấtKhê lập thành một phủ mới gọi là phủ Trường Định Như vậytên gọi Tràng Định hay Trường Định chính thức được gọi từnăm 1836 Tải qua nhiều biến đổi, sau Cách mạng Tháng Tám
1945 phủ Tràng Định được đổi tên thành huyện Tràng Địnhgồm 18 xã, thị trấn Hiện nay huyện Tràng Định có 1 thị trấn,
22 xã, 5 khối phố và 301 thôn
Là huyện vùng cao biên giới, huyện lị (thị trấn ThấtKhê) cách thành phố Lạng Sơn 70 km về phía bắc
Phía Bắc: giáp huyện Thạch An, Cao Bằng
Phía Tây: giáp huyện Na Rĩ, Bắc Kạn
Phía Nam và Tây Nam: giáp huyện Bình Gia và huyệnVăn Lãng (tỉnh Lạng Sơn)
Phía Đông và Đông Bắc: giáp huyện Long Châu, tỉnhQuảng Tây, Trung Quốc Đường biên giới của huyện dài53km
Tràng Định có 18/22 xã là xã vùng cao, có đường biêngiới với Trung Quốc, là hướng phòng thủ quan trọng phía bắccủa tỉnh Lạng Sơn
Đặc điểm tự nhiên
Trang 4Diện tích tự nhiên của huyện khoảng 1,011 km2 Cũngnhư nhiều huyện miền núi khác, rừng và đất rừng chiếm80,7% Địa thế tự nhiên hiểm trở của Tràng Định gắn liền vớinhiều chiến công trong hai cuộc kháng chiến Nổi bật là đèoBông Lau, con đèo thuộc vòng cung Đông Bắc ở vùng núiphía Bắc Việt Nam, nằm trên quốc lộ 4A đoạn giữa hai huyệnTràng Định (Lạng Sơn) và Thạch An (Cao Bằng) Vào cuốinăm 1949, đã diễn ra nhiều trận đánh lịch sử giữa trung đoàn
174 (tức trung đoàn Cao Bắc Lạng, Quân đội Nhân dân ViệtNam) với quân Pháp Đồng thời, con đường nối giữa huyện lịthất Khê với thành phố Lạng Sơn không chỉ nổi tiếng vớinhững đèo cao vực sâu mà cò chính là con đường 4 anh hùngtrong chiến dịch Thu đông lịch sử năm 1950
Tuy nhiên Tràng Định lại là vựa lúa quan trọng của tỉnhLạng Sơn Cùng với những cánh đồng giữa núi nổi tiếng miềnBắc như Mường Thanh, Bắc Sơn, Thất Khê cũng là cánh đồngrộng giữa núi Khu vực trung tâm của cánh đồng - thị Trấn ThấtKhê, từ xa xưa đã được gọi là Cẩu Pung Tên gọi xuất phát từnhững thửa ruộng lớn ở nơi này (thửa ruộng lớn có thể cấy đượcchin pung mạ Mỗi pung mạ là 40 bó lúa mạ lớn gộp lại Chínpung mạ là 360 bó mạ, tức diện tích thửa ruộng đó có thể lên đếnhàng mẫu) Với diện tích lên đến 1300 km2, nơi đây là nơi canh
Trang 5tác trồng cấy lâu đời của các dân tộc ít người từ lâu đã định cưtrên mảnh đất này Lúa nước được trồng từ lâu đời
Dù trải qua nhiều lần đổi tên, đặc điểm địa lí hợp lưu củabẩy con suối vẫn luôn để lại dấu ấn trong tên gọi của mảnhđất này từ xa xưa Sự hợp lưu của 7 dòng chảy (thất khê):Sông Kì Cùng, Sông Văn Mịch, Sông Bắc Khê, Suối Nặm
Ăn, Suối Khuổi Sao, Suối Khuổi Mịt, suối Pác Chác khôngchỉ mang đến cho Thất Khê cánh đồng rộng làm ra gạo trắngnước trong mà còn làm nên những huyền tích đi kèm theo rấtlôi cuốn Đặc biệt dòng sông Kì Cùng là dòng sông chảyngược Chảy tới Tràng Định nó uốn đường cong hình chữ U
để chảy từ đầu đến cuối huyện rồi lại ngược về cuối huyện vàsang Trung Quốc Con sông có nhiều đoạn là biên giới tựnhiên giưa hai nước Việt Nam và Trung Quốc Cánh đồngrộng không chỉ mang lại cho nhân dân nơi này cơm ăn áomặc, mà còn đem lại sự ổn định trong lối sống, có điều kiện
để phát triển về văn hóa tinh thần Những huyền tích đi cùngnhững địa danh cũng cho thấy một mảnh đất giàu truyềnthống văn hóa và tâm hồn giàu cảm xúc con người nơi đây
Văn hóa xã hội
Huyện Tràng Định gồm 6 dân tộc sinh sống ( Tày, Nùng,Dao, Mông, Hoa, Kinh) thuộc 4
Nhóm dân tộc chính là:
Trang 6Nhóm Ngôn ngữ nói tiếng Việt - Mường: Có dân tộcKinh.
Nhóm Ngôn ngữ nói tiếng Tày - Thái: Có 2 dân tộc Tày vàdân tộc Nùng
Nhóm Ngôn ngữ nói tiếng Mông - Dao: Có dân tộc Mông
và dân tộc Dao
Nhóm Ngôn ngữ nói tiếng Hán - Tạng: Có dân tộc HoaCác dân tộc đều có tiếng nói riêng và sử dụng tiếng nói củamình trong giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày Từng dân tộc cưtrú tương đối tập trung theo từng tiểu khu vực, mỗi khu vực cóthể là vài xã, vài thôn bản
Dân tộc Tày sinh sống ở hầu hết các xã trong huyện, dân số
là: 26.257 người chiếm 44,9 % Đa số người Tày là dân bản địa
và một số ít những người dân di cư khai hoang đến sinh sống từlâu đời đã Tày hoá Người Tày thường sống tập trung ở nhữngnơi có cánh đồng, tiện nguồn nước, trình độ phát triển khá cao
Dân tộc Nùng, là dân tộc có số dân đông xếp thứ hai trong
huyện, tổng số dân là: 24.023 người chiếm 41,1 % Nùng TràngĐịnh có ba nhánh là Nùng Cháo, Nùng An và Nùng PhảnSlình…
Dân tộc Dao: là dân tộc chiếm số lượng dân số khá cao,
người Dao sống chủ yếu ở các xã Bắc Ái, Khánh Long, VĩnhTiến, Tân Yên, 2 thôn của xã Cao Minh và Thôn Lũng Slàng xã
Trang 7Tri Phương và một số ít sống ở các xã lân cận Tổng số dân:3.819 người chiếm 6,5 %.
Dân tộc Mông: cư trú nhiều nhất ở xã Cao Minh, 2 thôn
Khuổi Phụ A, Khuổi Phụ B của xã Khánh Long, một vài hộ ở xãTân yên Người Mông có dân số là: 822 người, chiếm 1,4 % ;Người Mông có khoảng 15 họ, đông nhất là họ Vy và các họnhư: Tải, Liễu, Trịnh v.v
Dân tộc Kinh và Hoa sống tập trung ở Thị trấn, ven thị trấn
và một số xã cánh đồng Dân số: 3.442 ( Kinh: 3.235 ngườichiếm 5,5 %; Hoa: 207 người chiếm 0,35 %)
Một số lễ hội dân gian tiêu biểu.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc biệt tổnghợp các mặt của đời sống, phần tinh thần và phần vật chất,văn hóa tâm linh và đời thường…Lễ hội của Tràng Định cũngnhư các lễ hội ở các huyện khác trong tỉnh rất phong phú và
đa dạng Nhưng tựu chung lại nó đều thể hiện hai phần: Phần
Lễ và phần Hội
Phần Lễ: Là hệ thống những hành vi, động tác nhằmbiểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh thể hiệnnhững ước mơ chính đáng của con người trong cuộc sống,con người cầu khấn thân linh phù hộ cho họ một năm “ mưathuận gió hòa, mùa màng bội thu…’’
Phần Hội: Là những nét sinh hoạt văn hóa, tôn giáo nghệthuật gắn với các trò chơi: Múa sư tử, ném còn, đẩy gậy, kéo co,
Trang 8nhảy bao bố… Đây được coi là phần hấp dẫn du khách nhấttrong các lễ hội Tràng Định thu hút du khách bởi nhiều Lễ hộihay và đặc sắc như: Hội Thồng Bủng Kham, hội thồng BáoSlao( Hội Tình yêu), hội Nàng Hai, hội Đền Quan Lãnh Sauđây chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về hai lễ hội đặc sắc nhất củahuyện Tràng Định:
Lễ hội Thồng Bủng Kham:
Lễ hội Thồng Bủng Kham diễn ra tại thôn Nà Phái, xãĐại Đồng được tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàngnăm Lễ hội được tổ chức trang trọng với đầy đủ các nghi lễtín ngưỡng, cầu khấn thần linh phù hộ cho một năm bình an,mưa thuận gió hòa… Hàng năm, 24 thôn trong xã đều chuẩn
bị các mâm cỗ với đầy đủ các sản vật của địa phương để tế lễ
và thi mâm cỗ đặc biệt trong lễ hội còn có nghi thức cấy lúa
về trời Đến khi bị gọi về thì bay vội bay vàng để quên 7 dải
Trang 9lụa Bảy giải lụa thiêng hóa thành 7 con suối Nhưng về trờirồi đến khi nhớ trần gian quá các cô mới xin ngọc hoàng cho
ở lại trần gian luôn Các cô về trần gian chọn suối Nặm Ăn(con suối chảy qua chỗ hội Bủng Kham) làm nơi ăn nghỉ Chỗcái vực nước Bủng Kham chính là nơi các cô ấy tắm Về saucác cô lấy chồng người trần gian Họ rủ nhau khai phá ra khucánh đồng Từ đấy người ta thờ nàng tiên ở chỗ bờ đá BủngKham rồi mở hội vào 12 tháng giêng
Bủng Kham là nơi có phong cảnh hữu tình, trên là bãi đácao, dưới là dòng suối uốn lượn trong màu ngọc bích quanhnăm Vào mùa xuân, vạn vật sinh sôi nảy nở, cây cối đâmchồi nảy lộc, hoa rừng đua nhau khoe sắc, khoe hương NgọcHoàng cho phép các tiên nữ xuống hạ giới vãn cảnh và họchọn nơi này Bị cảnh đẹp mê hồn quyến rũ, các tiên nữ mảingắm hoa đuổi bướm và chơi ô ăn quan mà không trở về đúnghẹn Nổi giận, Ngọc Hoàng đã bắt 7 cô tiên giáng trần, 7 nàngkết duyên cùng 7 chàng trai khỏe mạnh Cùng chồng làm lụngnơi đất lành, biến những gò đồi nhấp nhô thành cánh đồngbằng phẳng phì nhiêu Để có nước tưới cho ruộng đồng, cácnàng lấy tóc mình trải ra hóa thành 7 dòng suối trải đều trên
Trang 10cánh đồng rộng Cái tên Thất Khê (bảy dòng suối) được đặt chocánh đồng rộng nhất của huyện Tràng Định.
Tuy có dị bản, nhưng tựu chung lại đều là những sự tíchhuyền bí ca ngợi vẻ đẹp từ thuở xưa của châu Thất Nguyênxưa kia Ngày 19/2/2016, tại thôn Nà Phái, xã Đại Đồng,UBND huyện Tràng Định long trọng tổ chức Lễ đón nhậnBằng chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia Lễ hộiLồng thồng Bủng Kham xã Đại Đồng huyện Tràng Định tỉnhLạng Sơn
Lễ hội Thồng Báo Slao(Hội Tình yêu):
Đến hẹn lại lên cứ đến ngày 21 tháng giêng hàng năm,nhân dân xã Quốc Khánh và đồng bào các dân tộc nơi đây lại
nô nức đi trẩy hội “Báo Slao” Đây là một lễ hội điển hình của
cư dân Tày-Nùng nổi bật với sắc áo chàm truyền thống, váy
áo đỏ tươi của các cô gái Dao… Lễ hội Báo Slao diễn ra làdịp để nam nữ thanh niên hẹn hò, trao đổi tình cảm kết duyêntrăm năm, là nơi những người bạn xưa tìm gặp lại bạn tình cũ.Trước đây họ không có duyên kết làm vợ chồng bởi những lễgiáo phong kiến, những tập tục lạc hậu
Lễ hội Nàng Hai xã Chí Minh (Lễ hội đón Nàng Tiên ở mặt trăng)
Trang 11Lễ hội Nàng Hai được tổ chức vào ngày 4 thánggiêng( Lễ đón Nàng Hai) và ngày 18 tháng 3 âm lịch( lễ tiễnNàng Hai về trời) Đây là một Lễ hội đậm đà bản sắc văn hóadân tộc “ là sợi dây gắn kết cộng đồng, là cầu nối giữa quákhứ và hiện tại” Lễ hội Nàng Hai thôn Nà Cạo, xã Chí Minh,huyện Tràng Định được tổ chức tại thôn Nà Cạo, xã chí Minh,huyện Tràng Định Truyền thuyết kể rằng xưa kia vùng đất NàCạo hạn hán kéo dài, mất mùa liên miên bà con dân làng bèn
rủ nhau lập lễ cầu trời Trời thương cho 7 Nàng Tiên ở mặttrăng xuống trần gian giúp đỡ dân làng Các nàng tiên hóaphép cho mưa thuận gió hòa Dạy dân làng trồng lúa nước,trồng bông lấy sợi dệt vải,…Dạy dân làng bắt gà rừng về làm
gà nhà, hát lượn trao đổi tâm tình Lễ tiễn Nàng Hai được tổchức trang trọng, thành kính, toàn bộ diễn biến trong lễ hộigắn liền với những bài hát lượn (lượn Nàng Hai) Bài hát nói
về lời mời của dân làng với Nàng Hai, về hành trình Nàng Haitrên mặt trăng xuống trần gian Lời hát nói về Nàng Hai dạydân làng trồng lúa, trồng bông, dệt vải, chăn nuôi gàlợn….Cầu cho mùa màng bội thu, dân làng khỏe mạnh
-Người Tày huyện Tràng Định
Trang 12Người Tày huyện Tràng Định đã có mặt từ rất lâu đời, phầnlớn họ là dân cư bản địa Họ là dân tộc có số dân dông nhất tonghuyện Cũng như nhiều dân tộc hiện có mặt trên lãnh thổ ĐôngBắc Việt Nam có nguồn gốc lịch sử thuộc khối Bách Việt xưakia, tên gọi dân tộc Tày là tên gọi chung của nhiều nhóm ngườicùng ngôn ngữ ở Đông Nam Á, tồn tại từ thời cổ đến bây giờ Sựphát triển của cộng đồng người Tày luôn gắn liền với sựphMinh, Thanh…
Người Tày Tràng Định có hai nguồn gốc chính là ngườiTày bản địa và người Tày lưu quan Tày lưu quan có nguồngốc tổ tiên là người dưới xuôi lên làm quan hoặc lính đồn trúlâu đời bên cạnh người Tày đã thành dân tộc Tày Một số ít cónguồn gốc từ dân tộc Nùng chuyển hóa thành Người Tày nơiđây có những dòng họ lớn như : họ Nguyễn, họ Bế, họ Vi…Nhiều làng bản của họ có lịch sử vài trăm năm với hàng trămnóc nhà như Nà Pục, Nà Cà, Bản Chu… Những tên gọi nàyphần lớn được đặt từ dáng sông, dáng suối, bãi nương, như
Nà Pục (ruộng bưởi), Đoỏng Lìu (rừng quýt), Phiêng Lẹng(đồng cạn)… Họ sống rải rác trong huyện, song tập trung nhất
là ở các xã cánh đồng, quanh các con suối lớn và sông KìCùng
Trang 13Trong cuốn Thổ ty Lạng Sơn trong lịch sử có viết về đến
Lạng Sơn thất tộc Đây là những dòng họ phiên thần, tức những
quý tộc cai quản Lạng Sơn từ thế kỉ XV đến tận cách mạng
Tháng Tám 1945 Nghiên cứu về dòng họ thổ ty lạng Sơn ta thấy
nguồn gốc của họ là những lưu quan, những phiên thần thế tập
có quê quán như Nghệ An, Nam Định… được triều đình cử lên làm phiên thần cai quản dân binh, bảo vệ biên cương , được phong đất lập ấp làm tịch quán.(11, tr 10) Thị Trấn Thất Khê và
các xã khu vực quanh cánh đồng chính là nơi dòng họ NguyễnKhắc - Nguyễn Công (một trong Lạng Sơn thất tộc) được phongtước và sinh sống đời nối đời từ thế kỉ XIV Tổ tiên của dòng họ
là người Thiên Lộc, Nghệ An
Tộc phả nổi dòng mãi có ghi
Nước nguồn cây lá rễ xum xuê
Núi Hồng Lam sử vàng ghi chép
Đất Tú Sơn mạch nước in bia
Cùng với nhân dân các dân tộc trong huyện, các quanphiên thần thế tập của dòng họ Nguyễn Công - Nguyễn Khắc đãlập nên các khu chợ, khai hoang, bảo vệ biên giới Điều này càngcho thấy Thất Khê là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa Sách
Sự tích thổ ty Lạng Sơn có ghi: “ Đầu triều Lê, con út Công Ngân là Công Các, có công đánh giặc được dự vào hàng khai quốc công thần, được hưởng Phiệt diệt công thần trấn biên Đại
Trang 14tư mã thượng tướng Thất Nguyên (sau đổi là Thất Tuyền), cho lấy xá Hoa Sơn làm quê quán Ông khéo vỗ về lập chợ chiêu dân, dạy văn học Châu Thất Khê có văn là nhờ công ông khai hóa.”.(11, tr 278) Đây là một đặc điểm mà không phải một
huyện miền núi xa xôi giáp biên nào cũng có Là những ngườitrực tiếp quản binh, xây dựng cuộc sống về mọi mặt, nhữngphiên thần và thổ ty Thất Khê đã khuyến khích người dân họctập, mở mang kiến thức, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thầnmang những màu sắc riêng Sự giáo dân của một dòng họ caiquản người Kinh, chiêu dân dạy học đã có nhiều dấu ấn lên vănhóa của thị trấn Thất Khê nói riêng, huyện Tràng Định nóichung Giao thoa văn hóa xung quanh cánh đồng Thất Khê giữaTày - Nùng - Việt - Hoa diễn ra từ lâu đời đã in dấu trong cáccông trình kiến trúc cũng như nếp ăn nếp ở của người dân nơiđây
Người Tày Tràng Định sống chủ yếu bằng nghề nông:trồng trọt và chăn nuôi Trong đó lúa nước là cây lương thựcchính Họ có nhiều tập quán sinh hoạt riêng mà dù có ở lẫncộng đồng khác vẫn không bị ảnh hưởng Thậm chí tiếng Tàytrở thành một ngôn ngữ chính trong huyện, có thể thấy rõtrong lời mời ở các chợ phiên trao đổi, người ta dùng tiếngTày đầu tiên
Trang 15Người Tày Tràng Định cũng không theo một tôn giáochính thống nào Tín ngưỡng của người Tày là thờ tổ tiên.Trong ngôi nhà, gian chính trang trọng là nơi đặt bàn thờ.Ngày lễ tết trong năm như Tết Nguyên đán, hội hè, 3/3, 5/5,6/6, rằm tháng bảy, rằm tháng tám, 9/9, 10/10, Đông chí, 23tháng Chạp, cưới xin, ma chay đều soạn lễ dâng hương cúng
tổ tiên trang trọng Trong hệ thống các thần được thờ cúng,nổi bật có:
Thờ thổ công: thổ công của bản làng là một vị nhân thần
có công khai phá, tạo dựng hay bảo vệ thôn bản Hoặc cũng
có khi là thần núi thần sông, …Mỗi thôn bản đều có một miếuthờ thổ công riêng ở gốc cây to nhất đầu làng hoặc cuối làng.Bốn mùa trong năm dân chúng đều tổ chức làm lễ cầu mưathuận gió hòa bình an
Thờ thần bếp: Thường gọi là vua bếp hoặc Nàng Cháomột bà hai ông thì cũng chính là hệ thống thần bếp trong tínngưỡng Tày Tục thờ này thể hiện ở cây hương ở góc bếp Là
vị thần quản mọi việ trong nhà, thưa chuyện với Ngọc hoàngnên có vị trí rất quan trọng trong tâm linh của người Tày
Thờ thần núi, thần sông: thường các làng ven sông thờthần sông, thờ luồng (thuồng luồng), các làng gần núi thờ thầnnúi
Trang 16Thờ bà mụ (mẻ Bioóc): là tục thờ bà mụ, thường ở trongphòng của đứa trẻ nhỏ để cầu mong đứa trẻ không ốm đauquấy khóc.
Ngoài ra người Tày Tràng Định cũng tin vào các loại manhư ma sông, ma suối, ma cây to… Chính vì thế, khi ốm đaurất nhiều người Tày nghĩ đầu tiên là làm lễ then cầu an, giảihạn Thầy tào, thầy mo và bà then giữ vai trò quan trọng trongđời sống của người Tày Họ là sứ giả nối giữa cõi đất với cõitrời, là người chuyển tải thông điệp của nhân gian đến NgọcHoàng và các đấng thần linh Gạt đi yếu tố mê tín dị đoan,then Tày với tiếng đàn, lời ca, điệu múa vẫn là loại hình vănhóa nghi lễ độc đáo
-Khái lược về Then Tràng Định và trường hợp nghiên cứu
GS.TS Ngô Đức Thịnh nhận xét:…kết quả của sự hỗn
dung, pha tạp giữa tín ngưỡng bản địa và tam giáo Đạo- Nho) đã hình thành và tồn tại một số tín ngưỡng đặc thù: Then, Tạo, Pụt, Mo với tư cách là thày cúng Then, Tào, Pụt, Mo tham gia vào hầu hết các nghi lễ của tín ngưỡng người Tày, Nùng, từ thờ cúng tổ tiên trong gia đình tới các hình thức thờ thổ thần, thành hoàng của cộng đồng [27, tr.5].
Trang 17Ngô Đức Thịnh, (2002), Then- Một hình thức shaman của
dân tộc Tày ở Việt Nam, Tạp chí Văn hoá dân gian.
Nhưng nổi trội và tạo nên giá trị thu hút toàn thể cộngđồng là nghệ thuật Then- nhân lõi cốt yếu xuyên suốt quátrình xuất, nhập thần Nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất ý kiến:Then Tày là hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể cótính nguyên hợp , là hình thức nghi lễ diễn xướng nghệ thuậttổng hợp gồm có hát, nhạc, múa, trang phục , hoặc then là mộtnghi lễ tôn giáo được diễn xướng bằng hình thức hát, hát kể
có kèm theo nhạc và nhảy múa, ngoài ra còn có những biểutượng tôn giáo mang tính tượng trưng và nhiều yếu tố sânkhấu dân gian PGS.TS Nguyễn Thuỵ Loan tham chiếu các hệ
thống tín ngưỡng tộc người ở Việt Nam đã khái quát:…tín
ngưỡng tôn giáo là một trong những môi trường quan trọng cho sự sáng tạo và nảy sinh âm nhạc…
Trên đất nước ta hiện nay người Tày cư trú tập trung chủyếu mở khu vực miền núi phía Bắc, và một bộ phận nhỏ di cưvào Tây Nguyên khoảng một hai thập kỉ trước Hát Then làdân ca nghi lễ của người Tày, Nùng, tuy nhiên mỗi vùng miền
có một hình thức diễn xướng khác nhau.như: Then - Lạng Sơndìu dặt tha thiết, Then - Tuyên Quang dồn dập như thúc quân
ra trận, Then Hà Giang lại nhấn nhá từng tiếng một, Then