1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN DUY vật BIỆN CHỨNG CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG HIỆN NAY – THỰC TRẠNG và NHỮNG vấn đề đặt RA

39 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 43,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN DUY vật BIỆN CHỨNG CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG HIỆN NAY – THỰC TRẠNG và NHỮNG vấn đề đặt RA, Từ đó, giúp cán bộ quản lý, giáo viên và các bộ phận có liên quan ở các trường có cơ sở nhìn nhận, đánh giá vấn đề ở góc độ cần thiết, nhất là bộ phận cán bộ, giáo viên đánh giá thấp tầm quan trọng của vấn đề nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay.

Trang 1

BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG HIỆN

NAY – THỰC TRẠNG VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Trang 2

- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh trung học phổ thông

ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay

- Yếu tố khách quan

- Điều kiện kinh tế xã hội

Thành phố Long Xuyên là đô thị loại II, là trung tâmchính trị, kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật của tỉnh An Giang,

có diện tích tự nhiên 115,34km2, có 13 đơn vị hành chính (11phường, 2 xã) Có đường biên giới giáp Campuchia

Tình hình kinh tế - xã hội trong thời gian qua với vị trí làcửa ngỏ giao thương buôn bán trong tỉnh và quốc tế nên thànhphố Long Xuyên luôn thuận lợi về sự tăng trưởng kinh tế nhưngbên cạnh cũng tồn tại những tệ nạn xã hội như ma tuý, buônlậu, rượu chè, cờ bạc, gây nhiều khổ luỵ trong đời sống ngườidân và tác động lớn đến nhận thức của HS Nhưng nhìn chung,thành phố Long Xuyên luôn phát triển ổn định, quốc phòng anninh được giữ vững, hệ thống chính trị được củng cố, kiện toànđáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương…

Phát huy mọi nguồn lực của xã hội chăm lo cho sự nghiệpgiáo dục và đào tạo địa phương, tỉnh tiếp tục đầu tư nguồn lựccho giáo dục nhằm thực hiện chủ trương giáo dục là quốc sách

Trang 3

hàng đầu, trong đó tập trung kiên cố hóa trường lớp và xây dựngtrường chuẩn quốc gia gắn với Chương trình mục tiêu quốc giaxây dựng nông thôn mới Hệ thống trường, lớp các cấp, ngànhhọc từ mầm non đến phổ thông đã phủ khắp 156 xã, phường, thịtrấn bước đầu đáp ứng được nhu cầu dạy và học Đến nay, toàntỉnh có 744 cơ sở giáo dục và đào tạo: 202 trường mầm non, 334trường tiểu học, 157 trường trung học cơ sở, 51 trường THPT, 1trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trường đại học Trong số đó,

có 110 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 14,78% (22 trường mầmmon, 51 trường tiểu học, 23 trường trung học cơ sở và 12 trườngTHPT) Riêng thành phố Long Xuyên năm học 2017-2018 có sốlượng HS THPT là 5440 em ở 3 khối 10, 11, 12 của cáctrường.Trong đó HS của trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu

là có trình độ nhận thức cao nhất, khả năng học tập tốt hơn so vớicác trường khác Thế nhưng các em lại thiếu về kĩ năng, ứng xửtrong cuộc sống so với HS các trường trong thành phố.Do đó vềkhả năng hình thành TGQ của HS các trường cũng khác nhau phụthuộc vào nhiều yếu tố

Các cơ sở giáo dục trong toàn tỉnh không ngừng đổi mớimạnh mẽ các phương pháp dạy và học; phát huy được tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của HS và vận dụng những kiến thức, kỹnăng của người học; khắc phục lối dạy truyền thống áp đặt một

Trang 4

chiều; đẩy mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thứcsang giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất, phát triển toàn diện năng

lực người học Phương châm giáo dục toàn diện cho HS là “Dạy chữ, dạy người, dạy nghề”; điều quan trọng là đội ngũ thầy, cô

giáo quan tâm dạy HS sống thật thà, tử tế và vị tha; đẩy mạnhứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy vàhọc… Nhờ vậy, đã tạo được bước chuyển mạnh mẽ về chấtlượng giáo dục của các ngành học, cấp học Kết quả kỳ thiTHPT quốc gia năm 2017, có 13.253 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt98,66%; trong đó, hệ phổ thông đạt 99,53%, hệ giáo dục thườngxuyên và thí sinh tự do đạt 77,12%

-Truyền thống văn hoá, tôn giáo

An Giang là tỉnh có đa bản sắc văn hoá dân tộc Kinh,Hoa, Chăm, Khmer nên có nhiều truyền thống văn hoá nhưngười Khmer có nghệ thuật Dù Kê, múa Lâm Thol, LâmLêu, Các lễ hội truyền thống như đua bò Bảy Núi được tổchức trong Tết Sen-Dolta (Đây là lễ hội tưởng nhớ về ông bà,

tổ tiên), Tết Chol Chnam Thmay (Tết cổ truyền của dân tộcKhmer), lễ hội Dâng Y, lễ hội Ok om bok (cúng trăng), ;Người Hoa tại thành phố Long Xuyên có di tích Bắc Đế miếucòn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị, thể hiện sự tôn sùng tínngưỡng của dân tộc Hoa; Người Chăm tại An Giang còn lưu

Trang 5

giữ truyền thống văn hoá dân tộc mình qua 16 tiểu thánh đường

và 12 thánh đường, sinh sống chủ yếu bằng nghề thủ công nhưdệt may, cũng là nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Chăm; NgườiKinh An Giang cũng nổi tiếng với Lễ hội quốc gia Vía Bà Chúa

Xứ Núi Sam vừa thể hiện nét văn hoá đặc sắc vừa thể hiện vănhoá tâm linh của dân tộc Điều đáng quý tác động không nhỏđến TGQ của người dân nơi đây là các lễ hội truyền thống từ béđến lớn khi tổ chức đều được đông đảo người dân tham gia cáchoạt động và cũng ảnh hưởng ít nhiều đến TGQ của HS

Dân số toàn thành phố có trên 285.900 người, có nhiềutôn giáo như Phật giáo Việt Nam, Cao Đài, Công giáo, Tinlành, Hồi giáo các nhà chức sắc tôn giáo, tu hành luôn theo tônchỉ “Tốt đời, đẹp đạo”, bên cạnh sự tín ngưỡng tôn giáo vẫnluôn tuyên truyền để người theo đạo trong đó có HS chấp hànhtốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội, dẫn dắt nhữngtín đồ sống có ích cho đời

- Yếu tố chủ quan

Về đặc điểm tâm lý và nhận thức của HS THPT ở An Gianghầu như không khác mấy so với HS ở những nơi khác Đây lànhững thanh thiếu niên ở tuổi mới lớn luôn muốn thể hiện bản

Trang 6

thân trong những hoạt động trong trường và ngoài xã hội vàthường có những hành động thiếu kiểm soát do TGQ của các emchưa thật vững chắc Một số HS thể hiện bằng cách phát biểu ýkiến của mình trong tiết học và vui vẻ khi được khen ngợi, tự áikhi bạn bè châm chọc ý kiến Đa số học sinh chưa có thói quen tựhọc, chưa tự chủ trong học tập, chưa có phương pháp học tậpthích hợp; thường lấy học thêm bên ngoài để nâng cao kết quảhọc tập Một số HS gia đình có điều kiện kinh tế được đáp ứngđầy đủ, thậm chí là dư dả về vật chất dẫn đến chi tiêu không hợp

lý, bị lôi kéo làm việc xấu hoặc sinh thói ỷ lại, dựa dẫm hoàn toànvào gia đình Bên cạnh đó vẫn có HS có ý thức học tập tốt, cókhát vọng để thi vào các trường đại học trong và ngoài nước HS

ở Long Xuyên, tỉnh An Giang có thể không giỏi về lý luận tronghọc tập so với HS các nơi khác nhưng giỏi trong các hoạt độngthực tiễn, kĩ năng sống Các em thích tham gia vào các hoạt độnghọc tập mới mẻ, sẵn sàng thi đua với nhau để đạt được mục đíchhọc tập

Cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan đều có ảnhhưởng lớn đến việc BDTGQDVBC cho HS ở trường THPT Do

đó người làm giáo dục phải xác định rõ và đầy đủ các yếu tốnày để đảm bảo hiệu quả trong việc BDTGQDVBC cho HS

Trang 7

Trường THPT Thoại Ngọc Hầu, THPT Long Xuyên,THPT Nguyễn Hiền và THPT Nguyễn Công Trứ tọa lạc ngaytrung tâm thành phố Long Xuyên, đây là điều kiện thuận lợi đểchúng tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu thực trạng.

- Thực trạng bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh trung học phổ thông ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay

Để phân tích, đánh giá thực trạng TGQ của HS THPT ởthành phố Long Xuyên, tác giả chọn 4 trường với số lượngkhách thể khảo sát có 480 người, cụ thể như sau:

- Các trường khảo sát trên địa bàn Tp Long

GV CBQ

L

Lớp 10

Lớp 11

Lớp 12

Trang 8

- Khảo sát thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáoviên, HS, về TGQDVBC.

- Khảo sát nội dung BDTGQDVBC trong các trườngTHPT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Khi xác định xong nội dung khảo sát, tôi tiến hành cácphương pháp khảo sát:

Sau khi thiết kế các phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cácnhóm đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên và HS các khốiTHPT Tôi đến liên hệ các trường THPT, thông tin với BanGiám hiệu về ý nghĩa của công tác khảo sát ý kiến, cách thức

Trang 9

thực hiện phiếu nhằm đạt kết quả khảo sát khách quan, chínhxác phục vụ cho việc nghiên cứu thực tế.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn, trao đổitrực tiếp với các khách thể khảo sát để có thông tin đầy đủ hơn

về các nội dung có liên quan đến việc BDTGQDVBC trong cáctrường THPT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Cụ thể, có thể khái quát như sau:

- Phương pháp điều tra: Bằng phiếu trưng cầu ý kiến gửiđến các đồng nghiệp phụ trách giảng dạy môn GDCD, học sinhcác khối lớp 10-11-12 và các cán bộ quản lý trường được lựachọn nghiên cứu

- Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi thu thập đủ thông tin số liệu cần thiết của đề tàinghiên cứu, chúng tôi tiến hành chọn lọc thông tin, phân loạitheo đối tượng được khảo sát, phân tích thông tin bằng các phầnmềm hợp lý theo mục tiêu: định tính, định lượng, chọn lựa kếtquả khảo sát, theo đó, phân ra ba loại kết quả khảo sát theobảng thống kê và biểu đồ như sau:

- Kết quả của việc khảo sát theo số lượng: lập bảng biểutính theo phần trăm (%) nhu cầu

Trang 10

- Kết quả của việc khảo sát theo chất lượng và nhu cầu:lập biểu đồ thực trạng.

- Kết quả của việc khảo sát theo nhu cầu: tổng hợp cả 3hình thức thống kê theo số lượng, chất lượng và ý kiến cụ thể

- Thực trạng nhận thức của học sinh về việc bồi dưỡng thế giới quan qua môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

Vấn đề BDTGQDVBC cho HS THPT được thực hiện chủyếu qua môn GDCD Qua đó cho thấy, môn GDCD có tầmquan trọng với việc giáo dục BDTGQDVBC cho HS THPT.Khi chúng tôi khảo sát trên 3 nhóm đối tượng là HS, giáo viên

và cán bộ quản lý về vấn đề này, kết quả như các bảng1.2; 1.3;1.4 – Phụ lục 4

Trong quá trình tiếp cận với những khái niệm mới mangtính khái quát, trừu tượng cao, đòi hỏi giáo viên phải am hiểu,nắm chắc vấn đề và có một phương pháp truyền đạt đơn giản,

dễ hiểu để HS tiếp cận dễ dàng, nhất là những vấn đề về triếthọc vốn trừu tượng, khó tiếp cận Tuy nhiên, qua khảo sát, kếtquả đánh giá là rất khả quan Thể hiện qua bảng sau:

Trang 11

Bảng: đánh giá nhận thức TGQDVBC của HS khi họclớp 10 (Bảng 1.5 – Phụ lục 4)

Trong quá trình giảng dạy, BDTGQDVBC cho HS THPT,giáo viên giảng dạy môn GDCD thường dùng phong phú cáccách thức, phương pháp nhằm phát huy năng lực của HS như:giao bài tập trên lớp, đưa tình huống để tìm cách giải quyết,dùng tranh ảnh minh họa, giao bài tập về nhà,…

Minh hoạ một bài giảng trong sách giáo khoa GDCD 11,bài 14-“Chính sách quốc phòng-an ninh” Giáo viên hướng dẫn

HS tìm hiểu phương hướng cơ bản để tăng cường quốc

phòng-an ninh và trách nhiệm của công dân đối với quốc phòng-phòng-anninh qua các hoạt động cụ thể sau:

Giáo viên đặt câu hỏi thảo luận lớp để tìm hiểu khái niệm:

Em hiểu chính sách quốc phòng-an ninh như thế nào? Giáo viêndùng tranh sơ đồ các phương hướng cho HS xem, sau đó đặtcâu hỏi gợi mở tìm hiểu các khái niệm trong phương hướng:sức mạnh toàn dân, sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, kinh

tế với quốc phòng, sự lãnh đạo của Đảng Đến phần tráchnhiệm công dân, giáo viên phát mỗi tổ một phiếu học tập, mỗi

HS sẽ viết lên phiếu học tập đó và cuối cùng một HS đại diện

Trang 12

đọc các nhiệm vụ của tổ mình Tổ nào ghi nhiều và đúng nhất

sẽ được tuyên dương Sau đó các em tự tổng hợp các ý ghi vào

Qua khảo sát, việc làm đó của giáo viên mang lại hiệu quảthiết thực Tuy nhiên, trong các cách trên, học sinh có sự hứngthú khác nhau với các hoạt động Cụ thể qua bảng khảo sát sau:

Bảng đánh giá hiệu quả tác động đến HS qua các cách tổchức hoạt động của giáo viên (Bảng 1.6 – Phụ lục 4) cho thấy:

HS THPT hứng thú nhiều nhất với tranh ảnh minh họa cho cácnội dung mà giáo viên thực hiện Điều này hoàn toàn phù hợpvới lý thuyết giảng dạy bằng hình thức trực quan hiện nay Tuyvậy, hoạt động ít gây hứng thú cho HS trong tiếp cận vấn đề màgiáo viên thực hiện là giao bài tập về nhà Do vậy, đểBDTGQDVBC cho HS THPT, giáo viên cần sử dụng nhiềutranh ảnh minh họa cho nội dung giáo dục

Kế đó cần nghiên cứu, đánh giá thái độ của HS khi tiếpcận vấn đề cũng là một nội dung không kém phần quan trọng.Đặc biệt, đối với HS lớp 10, tiếp cận những vấn đề thuộc vềkhoa học chính trị như triết học là một điều có ý nghĩa lớn đốivới sự nhận thức của HS Khảo sát thái độ của HS lớp 10 khihọc phần TGQDVBC, tôi có được kết quả như sau:

Trang 13

Bảng thái độ HS khi học TGQDVBC (Bảng 1.7 – Phụ lục4) chúng ta thấy, thông qua các phương pháp mà giáo viên thựchiện, một bộ phận lớn HS có thái độ nghiêm túc khi học tập,được BDTGQDVBC Cụ thể là 237/420 (chiếm 56,4%) họcnghiêm túc, 163/420 (chiếm 38,8%) học bình thường, chỉ có4,8% HS không tập trung khi học tập

Mặt khác, khảo sát về nhận thức chủ quan của HS sau khiđược BDTGQDVBC cho thấy có 74% học sinh tự nhận thấymình có hiểu biết sâu rộng hơn; có 21,2% cho rằng bản thânkhông hiểu biết gì thêm và vẫn còn 4,8% cho rằng mình khônghiểu khi tiếp cận TGQDVBC

Vận dụng vào cuộc sống kiến thức đã học là một yêu cầucao đối với HS THPT Tuy vậy, khảo sát vấn đề này chúng tôi

có được kết quả rất khả quan về việc HS vận dụng những kiếnthức đã học về TGQDVBC trong môn GDCD lớp 10 ở các mức

độ khác nhau Điều đó được thể hiện qua bảng sau:

Bảng mức độ vận dụng của HS về kiến thức đã học vềTGQDVBC trong môn GDCD lớp 10 (Bàng 1.8 – Phụ lục4)cho thấy: mức độ vận dụng của HS khá cao, chiếm 67,6%,mức độ vận dụng bình thường và không tốt chiếm 32,4% Điềunày cho thấy: vẫn còn một số HS vận dụng không tốt kiến thức

Trang 14

vào cuộc sống Do đó, cán bộ quản lý, giáo viên cần có biệnpháp, cách thức hiệu quả hơn giúp HS có thể hiểu và vận dụngtốt các nội dung giáo dục Từ đó tạo sự say mê, hứng thú cho

HS khi học tập

Thiết nghĩ, vấn đề trên có nhiều nguyên nhân, từ nhiềuphía Nhưng qua khảo sát, tôi thấy được các nguyên nhân cơbản như sau:

Nội dung giáo dục TGQDVBC trong chương trình GDCDlớp 10 có nhiều nội dung khó hiểu Qua khảo sát, có 18,8% HScho rằng nội dung BDTGQDVBC cho HS lớp 10 là khó hiểu

Số lượng HS trong một lớp học cũng ảnh hưởng nhiềuđến mức độ tiếp thu của HS khi tiếp cận nội dung Phần lớn HScho rằng: lớp học thích hợp nhất nên có khoảng 35 HS, khảo sátcho thấy có 83,8% đồng tình với số lượng này đối với một lớp.Tuy nhiên, hiện nay lớp học thường có số lượng HS cao hơn 35

HS trong một lớp Điều này cũng ảnh hưởng nhất định đến hiệuquả giáo dục nói chung và BDTGQDVBC cho HS nói riêng

Dù vậy, khi khảo sát về vấn đề giáo dục, BDTGQDVBCcho HS, tôi thấy được phần lớn các em biết giá trị của việc họctập TGQDVBC và giải quyết vấn đề rất biện chứng khi đượchỏi: “Theo bạn, nội dung TGQDVBC phần triết học nên dạy ở

Trang 15

khối lớp nào?” Kết quả khảo sát, có 43,1% HS cho rằng nênhọc ở lớp 10 và 51,2% cho rằng nên học ở cả 3 khối lớp Chínhviệc cho rằng cần học ở cả 3 khối cho thấy các em nhìn nhận vàgiải quyết vấn đề rất biện chứng.

Một kết quả khác đáng lưu ý hơn là sau khi học xongTGQDVBC các em đều theo lập trường duy vật Kết quả đượcthể hiện qua (Bảng 1.9 – Phụ lục 4)cho thấy, một phần lớn HSnhìn nhận phân biệt được các vấn đề theo lập trường duy vật,

tỷ lệ này chiếm 90,4% Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HSkhông phân biệt được duy tâm, duy vật và phân vân Bộ phậnnày chiếm 4,8%

- Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc bồi dưỡng thế giới quan qua môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

Trong giáo dục TGQDVBC cho HS, giáo viên đóng vaitrò quan trọng, đặc biệt là giáo viên giảng dạy môn GDCD Dovậy, tôi tiến hành khảo sát, trưng cầu ý kiến của 30 giáo viêncủa 4 trường trong khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh AnGiang theo Bảng 2.2:

- Số lượng giáo viên và các trường khảo sát

Trang 16

T TRƯỜNG THPT

SỐ LƯỢNG GIÁO VIÊN KHẢO SÁT

GIỚI TÍNH

1 THOẠI NGỌC HẦU 8

17 (Nữ) 13 (Nam)

10 THPT, tỷ lệ này chiếm đến 50%, bằng hai nội dung kia gộplại

Trang 17

Đặc biệt hơn là có 83,3% giáo viên hiểu việcBDTGQDVBC có vai trò như thế nào đối với HS THPT là :quan trọng và rất quan trọng Điều này thể hiện qua Biểu đồ vaitrò BDTGQDVBC cho HS.(Biểu đồ 1.1 – Phụ lục 4)

Trong hoạt động giảng dạy, BDTGQDVBC cho HS, giáoviên sử dụng đủ các phương pháp như: thuyết trình, nêu vấn đề,thảo luận nhóm, trực quan, vấn đáp, dự án và các phương phápkhác Tuy nhiên, mức độ áp dụng các phương pháp là khácnhau đối với từng giáo viên Cụ thể qua bảng khảo sát theobảng thống kê về mức độ áp dụng các phương pháp của giáoviên(Bảng 1.11– Phụ lục 4)

Mặt khác, yêu cầu đổi mới các hoạt động dạy – học cũngtác động lớn đến việc bồi dưỡng, phát triển TGQDVBC ở HSTHPT Giáo viên đã đổi mới thông qua sinh hoạt tập thể kết hợptrò chơi; tích hợp vào các môn học; lồng ghép và hoạt động cáccâu lạc bộ; tổ chức các hội thi, diễn đàn, giao lưu; …Đánh giá vềtần suất thực hiện như: rất thường xuyên, thường xuyên, thỉnhthoảng và chưa bao giờ, chúng tôi có được kết quả qua bảng(Bảng 1.12– Phụ lục 4)

Thông qua các hoạt động đổi mới trong dạy học, giáo viên

đã hướng đến các mục tiêu như:

Trang 18

- Giáo dục nhân cách sống cho HS;

- Phát triển tư duy và thái độ học tập tích cực của HS;

- Nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề, có khả năngnhận định thực tế ở HS;

- Phát huy năng lực tự rèn luyện, kiểm tra, đánh giá.;

- Giúp HS xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với nhữngngười xung quanh;

- Tạo môi trường học tập thân thiện, tích cực, lành mạnh;

- Tạo dựng mối quan hệ gắn kết giữa Nhà trường, gia đình

và xã hội, giáo viên có thêm kinh nghiệm đổi mới trong giảngdạy

Với 3 thang đo: Cao, trung bình và thấp Qua trưng cầu ýkiến, tôi có được kết quả (theo Bảng 1.13– Phụ lục 4)

Trong khảo sát tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởngđến chất lượng học tập của HS đối với việc giáo dụcTGQDVBC ở lớp 10 với các nguyên nhân gợi ý.Từ kếtquả(Bảng 1.14– Phụ lục 4)tìm hiểu nguyên nhân từ các giáoviên, tôi có thể thể hiện thành (Biểu đồ 1.2– Phụ lục 4)

Với các nguyên nhân cơ bản sau:

Trang 19

Nguyên nhân 1: Nội dung của TGQDVBC khó hiểu, trừutượng

Nguyên nhân 2: Chỉ có sách giáo khoa, không có tài liệutham khảo

Nguyên nhân 3: Phương pháp giảng dạy chưa được đổimới

Nguyên nhân 4: Chưa thay đổi hình thức kiểm tra, đánhgiá

Nguyên nhân 5: Lớp quá đông

Nguyên nhân khác

Từ biểu đồ cho thấy:

Để BDTGQDVBC cho HS, các giáo viên thường xuyên

tự học tập, nâng cao trình độ bằng nhiều cách Trong đó, cónhiều hình thức được thực hiện (Bảng 1.15– Phụ lục 4)

Qua trưng cầu ý kiến của 30 giáo viên của 4 trường, tôinhận thấy: Có 100% giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng, tậphuấn chuyên môn do Sở tổ chức; 100% giáo viên có tham giatập huấn đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học;100% giáo viên tham gia bồi dưỡng thông qua sinh hoạt tổ

Ngày đăng: 02/12/2018, 21:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w