SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN TRƯỜNG T.H.P.T VĂN GIANG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA DÂN GIAN Người viết: TÔ THỊ HỒNG VÂN Giáo
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG T.H.P.T VĂN GIANG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA DÂN GIAN
Người viết: TÔ THỊ HỒNG VÂN
Giáo viên trường T.H.P.T Văn Giang
Trang 22 Văn học dân gian mang đặc trưng nguyên hợp, là một bộ phận củavăn hóa dân gian Đặc trưng này khiến văn học dân gian là một bộ phậnkhông thể tách rời với văn hóa dân gian Vì thế, để hiểu văn học dân gian,không thể không đặt nó trong mối quan hệ với văn hóa dân gian.
3 Tuy nhiên, hiểu biết về vốn văn hóa trong học sinh còn nhiều hạnchế, dẫn đến việc các em khó tiếp cận tác phẩm văn học dân gian trong nhàtrường T.H.P.T, nhất là đối với những tác phẩm văn học dân gian ra đời từnhiều thế kỉ trước Điều đó khiến chúng tôi đi sâu vào đề tài này nghiên cứu,
từ đó đúc rút được một số kinh nghiệm trong việc giảng dạy văn học dângian ở lớp 10 T.H.P.T
II Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác phẩm văn học dân gianđược dạy trong chương trình văn học lớp 10
III Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm nghiên cứu một cách dạy tác phẩm dân gian trong mốiquan hệ với văn hóa dân gian, từ đó giúp học sinh học tốt hơn các tác phẩmvăn học dân gian Việt Nam được học trong chương trình Ngữ văn lớp 10T.H.P.T
IV Nội dung nghiên cứu:
Đề tài của chúng tôi nhằm đạt tới những mục đích sau đây:
Trang 3Thứ nhất: Xác lập cơ sở lí thuyết của việc giảng dạy những tác phẩmvăn học dân gian dưới góc độ văn hóa dân gian
Thứ hai: Đưa ra các góc độ văn hóa để lí giải một tác phẩm văn họcdân gian
Thứ ba: Chỉ ra một cách cụ thể những góc độ văn hóa dân gian cầnkhai thác trong một số tác phẩm văn học dân gian được giảng dạy ở chươngtrình lớp 10 T.H.P.T Từ đó đúc kết cách giảng dạy một tác phẩm văn họcdân gian trong mối quan hệ với văn hóa dân gian
Trang 4Chương I: Cơ sở lí thuyết của việc giảng dạy tác phẩm văn học dân gian dưới góc độ văn hóa dân gian
I Khái niệm văn học dân gian:
Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học dân gian và vănhọc viết Trong đó văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặngđầu của nền văn học dân tộc Khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Namchỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học Việt Nam mới bao gồmhai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết
Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay Ba thuật ngữ sau đây được xem là tương đương khi nghiên cứu văn học dân gian: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ (folklore văn học).
II Cơ sở lí thuyết của việc giảng dạy tác phẩm văn học dân gian trong mối quan hệ với văn hóa dân gian:
Ra đời từ buổi ấu thơ của nhân loại, văn học dân gian có những đặctrưng khác biệt với văn học viết Những đặc trưng giúp phân biệt văn họcdân gian và văn học viết thường được các nhà nghiên cứu nhắc đến nhiều là:tính nguyên hợp, tính tập thể, tính truyền miệng và tính dị bản Các đặctrưng trên có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo ra nét đặc trưng của văn họcdân gian so với văn học viết Trong bốn đặc trưng trên, tính nguyên hợp làđặc trưng quan trọng hàng đầu và nó cũng chính là cơ sở lí thuyết của việcgiảng dạy tác phẩm văn học dân gian dưới góc độ văn hóa dân gian
Tính nguyên hợp trong văn học dân gian là một vấn đề từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian quan tâm đến.
Là người đặt nền móng cho khoa học nghiên cứu văn hóa dân gian,
Giáo sư Đinh Gia Khánh trong công trình “Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian” đã đề ra phương pháp luận cho ngành nghiên cứu văn hóa dân
gian Vai trò kiến tạo nổi bật của ông được thể hiện trong việc xác định tínhtổng thể nguyên hợp của văn học dân gian nói riêng và văn hóa dân gian nóichung Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm tính nguyên hợp và đưa vàothực tiễn nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam
Trang 5Khi bàn về tính nguyên hợp của văn hóa dân gian( bao gồm cả văn học
dân gian), Giáo sư Đinh Gia Khánh đã cho rằng: “Nói rằng đặc điểm cơ bản của văn hóa dân gian là tính nguyên hợp tức là nói rằng qua nghệ thuật ấy, người ta nhận thức về hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt” Và: “ Khi chúng ta nói rằng văn hóa dân gian có tính nguyên hợp, chúng ta hiểu rằng văn hóa dân gian trong khi phản ánh thế giới, luôn luôn là một nhận thức nguyên hợp về tổng thể vốn có của thế giới”
Theo PGS.TS Khoa học Vũ Anh Tuấn, trong bốn đặc trưng trên, tínhnguyên hợp là dấu hiệu phân biệt rõ ràng nhất để phân biệt sự khác biệt giữa
văn học dân gian và văn học viết Tính nguyên hợp của văn học dân gian thể hiện ở chỗ: tác phẩm văn học dân gian chính là sự tổng hợp nguyên
sơ của nhiều lĩnh vực nghệ thuật, kiến thức trong mình nó Vì thế, khi tìm
hiểu tác phẩm văn học dân gian, chúng ta không thể bỏ qua đặc trưng này.Đây chính là nguyên nhân vì sao phải giảng dạy tác phẩm văn học dân giantrong mối quan hệ với văn hóa dân gian
Tính nguyên hợp về nội dung của văn học dân gian phản ánh tìnhtrạng nguyên hợp về ý thức xã hội thời nguyên thuỷ, khi mà các lĩnh vực sảnxuất tinh thần chưa được chuyên môn hóa Trong các xã hội thời kỳ sau,mặc dù các lĩnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng vănhọc dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung Bởi vì đại bộ phậnnhân dân- tác giả sáng tác văn học dân gian không có điều kiện tham giavào các lĩnh vực sáng tạo tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm,tri thức, tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian- một loại nghệthuật không chuyên
Biểu hiện rõ ràng nhất của đặc trưng nguyên hợp là ở chỗ: Văn học dân gian là kết tinh trí tuệ, tâm hồn của nhân dân nhiều địa phương trong nhiều thời đại, là sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực văn hóa: lịch sử, tín ngưỡng , tôn giáo, phong tục…
Khác với văn học viết là thành tựu sáng tạo của một cá nhân, văn họcdân gian là sáng tạo của cả tập thể Vì thế, cũng giống như tính nguyên hợptrong văn hóa dân gian, khi tìm hiểu tính nguyên hợp trong văn học dângian, phải xét đến vai trò sáng tạo của những thời đại khác nhau và giữa cácđịa phương khác nhau trong quá trình sáng tạo tác phẩm văn học
Trang 6Đầu tiên khi ra đời, sáng tác văn học dân gian có thể do một cá nhân,thường là một nghệ nhân sáng tạo ra Trong quá trình truyền miệng theokhông gian và thời gian, văn học dân gian trở thành sản phẩm sáng tạo của
cả tập thể Mỗi thành viên trong cộng đồng có thể thêm bớt, thay đổi một vàichi tiết trong một cốt truyện, một vài từ ngữ trong một bài ca dao, gọt giũacho nó trở nên đẹp hơn, trong sáng hơn Theo thời gian, những sáng tácmang tính sáng tạo cao trở thành giá trị nghệ thuật đích thực được cộng đồnglưu giữ Như vậy, những sáng tác dân gian kết tinh trong nó tinh hoa trí tuệ,tâm hồn của cả tập thể nhân dân lao động
Vì thế, trong văn học dân gian, người ta gặp nhận thức nguyên hợp.
Giáo sư Đinh Gia Khánh khi phân tích truyện “ Sơn Tinh- Thủy Tinh” đã chỉ
ra được nhiều tầng văn hóa của các thời đại khác nhau: tục thờ núi, thờ sôngcủa người nguyên thủy, cuộc đấu tranh chống thủy tai của người Việt cổ khi
họ từ ven đồi núi trung du kéo xuống khai thác đồng bằng sông Hồng, vấn
đề trị thủy ở lưu vực sông Hồng trong mùa nước lũ khi người Việt cổ đã biếtđến đắp đê, vấn đề sính lễ, thách cưới liên quan đến phong tục của ngườiViệt về việc cưới hỏi …
Tương tự như vậy, trong nhiều tác phẩm văn học dân gian, người tacũng bắt gặp nhiều tầng văn hóa cùng lắng đọng Truyền thuyết về Lạc LongQuân và Âu Cơ là một ví dụ khá rõ nét về sự nguyên hợp trong nhận thứccủa văn học dân gian Trong truyện vừa có những dấu vết của tín ngưỡngthờ vật tổ (thờ trứng) vốn là những tín ngưỡng nguyên thủy, ra đời từ rất xaxưa vừa có dấu vết của tín ngưỡng thờ tổ tiên ra đời muộn hơn, khi conngười đã có ý thức về cộng đồng, làng xã, gia đình, dòng tộc Bên cạnh đó,truyện cũng ghi lại được cả những tri thức lịch sử về thời đại Hùng Vương:triều đình có quan văn, quan võ, con trai vua thì gọi là quan lang, con gái thìgọi là mệ nàng, mười tám đời cha truyền con nối đều lấy hiệu là HùngVương không hề thay đổi
Truyện “Thánh Gióng” cũng là một ví dụ tương tự Trong truyện có cả
những nhận thức nguyên sơ của đời trước đồng thời có cả những nhận thứcgià dặn hơn ra đời ở thời kì sau Sự ra đời kì lạ của Gióng là sự kết hợp củamột bà mẹ với một lực lượng tự nhiên có liên quan đến nghề trồng cà ở làngPhù Đổng, đó là giông bão, sấm sét Lực lượng tự nhiên này được nhân hóa
Trang 7thành người khổng lồ Trong dịp về hái cà làng Phù Đổng, ông đã để lại mộtdấu chân lớn, mẹ Gióng ướm và từ đó mà có mang Theo nhà nghiên cứu
Cao Huy Đỉnh thì:'' Cái quan niệm con người là con của tự nhiên( trời) và một bà mẹ bắt nguồn từ trong thị tộc mẫu hệ, lúc con người chỉ biết mẹ mà không biết cha…Bà mẹ lúc đầu đại diện cho tinh thần huyết thống và đạo đức của bộ lạc, là nguồn gốc sức mạnh và anh hùng''.
Cũng trong truyện “Thánh Gióng”, chúng ta còn hiểu thêm một nhận
thức mới mẻ nữa của người xưa qua một loạt các chi tiết về sắt: roi sắt, giápsắt, ngựa sắt, nón sắt Chắc chắn những chi tiết này phản ánh một nhận thức
ra đời muộn hơn, khi con người đã biết đến sắt và sức mạnh của sắt trong laođộng sản xuất và trong chiến đấu
Có thể nói sự nguyên hợp về nhận thức đã đặt các tác phẩm văn họcdân gian trong mối quan hệ khăng khít, gắn bó với văn hóa dân gian- baogồm nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lí, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôngiáo, thói quen sinh hoạt vật chất và tinh thần… Để hiểu một tác phẩm vănhọc dân gian, không thể không đặt nó trong môi trường văn hóa dân gian mà
nó ra đời, không thể không xuất phát từ những yếu tố văn hóa dân gian khác
mà tìm hiểu nó Dạy một tác phẩm văn học dân gian cần bồi đắp cho họcsinh về vốn văn hóa dân gian, từ đó bồi dưỡng tinh thần yêu nước và lòng tựhào dân tộc, khiến các em ruát ra được những bài học quí báu từ đạo làmngười Thiết nghĩ, đó mới chính là mục đích cuối cùng của việc học văn
Chương II: Các góc độ văn hóa giúp cho việc hiểu một
tác phẩm văn học dân gian:
I Khái niệm văn hóa:
Trang 8Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánhmột cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Trong tiếng Việt, văn hóa đượcdùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyênbiệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Theo nghĩa rộng, văn hóabao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng,
phong tục, lối sống Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ
và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên,
NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy,văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội nhưngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo,các phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó
là một phần của văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triểntrong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại thamgia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Vănhóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hộihóa Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểuhiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của conngười cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
II Các góc độ văn hóa giúp cho việc hiểu một tác phẩm văn học dân gian:
Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đãcho rằng văn hóa là một tổng thể : văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa
rộng trong dân tộc học “là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”.
Có thể nói văn hóa là một khái niệm lớn bao gồm nhiều lĩnh vực khácnhau của đời sống vật chất và tinh thần của con người Trong văn hóa có cảphong tục, đạo đức, tín ngưỡng, lễ hội, luật pháp…cùng hiện diện Vì vậy,
để hiểu và giảng dạy tác phẩm văn học dân gian, người dạy cũng phải xuất
Trang 9phát từ nhiều phương diện của văn hóa mới thấy hết được cái hay cái đẹpcủa nó Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số số phương diện cơ bản củavăn hóa:
1 Phong tục:
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình
thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừanhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cốđịnh, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạtđộng sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bềnvững và tương đối thống nhất
Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậmchỉ một dòng họ, gia tộc Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thểchia thành nhiều loại: hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của conngười, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lênlão; hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳthời tiết trong năm; hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động củacon người
Là một quốc gia có nền văn hóa lâu đời, Việt Nam có nhiều phong tục, có những phong tục thực sự đã trở thành thuần phong mĩ tục của ngườiViệt Nam Nhiều phong tục đẹp của người Việt đã được soi bóng trong cadao, truyện cổ, mang một ý nghĩa văn hóa, thẩm mĩ đẹp đẽ
2 Cách ứng xử:
Cách ứng xử giữa người với người là một nét văn hóa quan trọng của
các dân tộc
Là một dân tộc có văn hóa, người Việt Nam có cách ứng xử riêng của
mình Trong đối nhân xử thế của người Việt, chữ tâm, chữ đức, chữ tình được đề cao: trong gia đình thì “ trên kính, dưới nhường”, trong quan hệ họ hàng thì “ một giọt máu đào hơn ao nước lã”, trong quan hệ láng giềng thì “ tắt lửa tối đèn có nhau”, trong quan hệ đồng bào thì:
“ Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng”
Bên cạnh tình, người bình dân xưa còn nói nhiều về nghĩa Với quanniệm truyền thống, giàu sang, của cải không phải là cái đích cuối cùng của
Trang 10cuộc sống Điều quan trọng nhất là người ta phải sống với nhau cho trọnnghĩa, vẹn tình Những quan niệm sống đẹp đẽ đó của con người Việt Nam
in đậm dấu ấn trong văn học dân gian, đặc biệt là trong ca dao, truyện cổ
3 Tín ngưỡng, tôn giáo:
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thíchthế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tín ngưỡngđôi khi được hiểu là tôn giáo Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ởchỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức
không chặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nóiđến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểmchung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc Tín ngưỡng không có một
hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ
tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thểthành tôn giáo
Cũng như các dân tộc khác ở Đông Nam Á, người Việt có đời sống
tâm linh của mình Phạm Đức Dương trong cuốn “Việt Nam trong bối cảnh
Đông Nam Á” đã khẳng định: “Trong tâm thức của cư dân Đông Nam Á, với phương pháp tư duy âm dương, con người đã phân chia thế giới thành hai: thực và ảo, vật chất và tinh thần…, trong đó cái mà họ quan tâm chính
là đời sống tâm linh” (13, 95) Và “Thế giới tâm linh của cư dân Đông Nam
Á được xây dựng trên quan niệm “Vạn vật hữu linh” (mọi vật đều có linh hồn như con người) Những linh hồn này tạo thành thế giới thần linh Đây
là thế giới vô hình nhưng lại có vô vàn năng lực siêu việt và thường xuyên tác động đến con người theo hai chiều: thuận- nghịch, lành- dữ Do đó con người thần thánh hóa những ma lực đó dưới hình thức các biểu tượng và thờ phụng các thần linh để được che chở” (13, 96)
Những tín ngưỡng dân gian của người Việt ra đời trên cơ sở niềm tin
ấy Người Việt có nhiều tín ngưỡng như tín ngưỡng thờ nhiên thần( thờnước, trứng, thờ đá), tín ngưỡng phồn thực thờ hành vi giao phối, tín ngưỡngthờ tổ tiên, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Bên cạnh những tín ngưỡngtrên, sau này, trong quá trình giao lưu văn hóa, do địa bàn sinh sống củangười Việt ở vào vị trí cửa ngõ của Đông Nam Á nên họ đã tiếp nhận và
Trang 11chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo ngoại lai, trong đó đậm nét là Phật giáo,Nho giáo và Đạo giáo
Phật giáo được người Việt biết đến từ rất sớm, ngay từ giai đoạn đầucông nguyên Thời nhà Lí, nhà Trần, đạo Phật phát triển cực thịnh và đượccoi là quốc giáo, ảnh đến mọi việc của đời sống Đạo giáo đến Việt Namcũng từ rất sớm (khoảng cuối thế kỉ thứ hai) Trước khi biết đến Đạo giáo,người Việt đã từng sùng bái ma thuật, phù phép…Đạo giáo có rất nhiềuđiểm tương đồng với những tín ngưỡng ma thuật của người dân bản địa nênnhanh chóng tìm được chỗ đứng trong tâm linh người Việt Nếu Phật giáothờ Phật tổ và các đức Phật thì Đạo giáo thờ các vị thần: Ngọc HoàngThượng Đế (Ngọc Hoàng), Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử), Quan Thánh
Đế (Quan Công) Với Đạo giáo, người Việt còn thờ các vị thánh riêng củamình: Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo), bà Chúa Liễu (Liễu Hạnh côngchúa) cùng các vị thần khác như Tam Bành, Độc Cước, Huyền Đàn, ÔngNăm Dinh, Quan lớn Tuần Tranh…Theo tín ngưỡng, tôn giáo của ngườiViệt, Đức Phật được thờ trong chùa còn các vị thần thánh được thờ trongđền
Văn hóa Việt Nam mang đậm dấu ấn từ các tôn giáo, tín ngưỡng dângian Kiến trúc đình, chùa, đền là những kiến trúc khá quen thuộc trong địa
bàn sinh sống của người Việt Trần Quốc Vượng đã khẳng định: “…nói tới văn hóa châu thổ Bắc Bộ là nói tới một vùng văn hóa có một bề dày lịch sử cũng như mật độ dày đặc các di tích văn hóa” (68, 254) Cũng như vậy, văn
học dân gian người Việt, nhất là thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tíchmang khá đậm nét dấu ấn của tín ngưỡng dân gian và những tôn giáo ở ViệtNam Vì thế, để hiểu sâu sắc những thể loại này, không thể không tìm hiểunhững tư tưởng, ý nghĩa tôn giáo trong đó
4 Lễ hội:
Lễ hội là tên gọi mới của một số nhà nghiên cứu nhìn nhận hội làngtheo tư duy duy lý của phương Tây, trong đó theo họ, phần lễ thì nghiêmtrang, còn phần hội thì vui vẻ giải trí Trong ngày Hội chúng ta “mời” các vịthần linh, anh linh núi sông trời đất, các vị thành hoàng làng là vị thần chechở cho làng xóm, mời anh linh các vị anh hùng dân tộc, mời tổ tiên các
Trang 12dòng họ về dự với chúng ta Như vậy hội làng hội tụ sức mạnh thiêng liêngcủả cả trời đất, non sông, tổ tiên và con cháu
Có thể nói gọn lại hội là một không gian và thời gian chứa đựng đậmđặc năng lượng thiêng của cả vũ trụ và thời gian Với người Kinh khônggian thiêng ấy được đặt vào cái sân đình Với các tộc thiểu số, nó baoquanh cây nêu Còn thời gian thiêng chung là các thời điểm của mùa xuân.Cho nên, kẻ giàu, người nghèo nô nức đến hội trước hết để được đắmmình trong không gian thiêng và thời gian thiêng đó, để được tiếp nhậnnăng lượng thiêng của cả trời đất, quá khứ, hiện tại và để được trải nghiệm
sự thăng hoa trong không-thời gian thiêng liêng ấy Mùa xuân - mùa khởiđầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây Giữa tiết trời
ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn,vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc
Lễ hội ở nước ta thật đa dạng và phong phú Theo thống kê của cácnhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyềnlớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Mỗi lễhội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tớimột một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùngchống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiêntai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế
Trong các tác phẩm văn học dân gian Việt Nam, lễ hội được nhắc đến
khá nhiều, thậm chí còn được miêu tả khá tỉ mỉ Vì thế, khi dạy những tácphẩm có liên quan, giáo viên không thể không giải thích những ý nghĩa văn
hóa được tái hiện trong đó
Chương III: Giải pháp khi dạy các tác phẩm văn học dângian trong mối quan hệ với văn hóa dân gian
I Giải pháp:
Sau một thời gian dài nghiên cứu và nhiều năm thử nghiệm, tôi đã rút
ra một số giải pháp dạy văn học dân gian trong mối quan hệ với văn hóa dângian như sau:
Trang 131 Trước hết, người dạy phải có phần chuẩn bị kĩ càng, phần chuẩn bịcủa giáo viên càng kĩ thì giờ dạy càng thành công Bản thân giáo viên khôngthể biết hết những vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa, vì vậy, giáo viên phải tựđọc sách, tra cứu tài liệu để tìm hiểu về những vấn đề văn hóa mà mình chưanắm rõ hoặc để mở rộng vốn văn hóa của bản thân mình Mục chú thích củasách giáo khoa, tài liệu tham khảo và internet sẽ là những công cụ đắc lựccho người dạy trong việc mở rộng vốn kiến thức văn hóa có liên quan đếntác phẩm văn học Sau khi thu nhập và mở rộng vốn kiến thức văn hóa cầnthiết, giáo viên cần cân nhắc kĩ sẽ sử dụng nó như thế nào trong bài dạy đểvừa khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh, vừa cho học sinh dễ hiểu bài,vừa nâng cao và mở rộng vốn kiến thức văn hóa cho học sinh Vấn đề thờilượng kiến thức và thời gian là rất quan trọng, nó yêu cầu người dạy phải cócách sắp xếp cho hợp lí, vừa đảm bảo về mặt thời gian, vừa truyến tải đượcnhững kiến thức trọng tâm, cơ bản cho học sinh
2 Định hướng khai thác văn hóa cho học sinh theo thể loại là một điềuquan trọng khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này Trên thực tế, mỗi thểloại văn học dân gian có đặc trưng khác nhau cũng như phản ánh nhữngphương diện khác nhau của văn hóa Truyền thuyết, sử thi, truyện cố tíchthường gắn bó với lịch sử, tín ngưỡng, phong tục Ca dao gắn bó với đờisống tâm hồn, với quan niệm về đối nhân xử thế Vì vậy, khi khai thác cáckhía cạnh văn hóa có liên quan đến bài dạy, giáo viên cần lưu ý phương diệnthể loại Cụ thể:
Đối với Sử thi: khi dạy, cần khai thác tác phẩm trong mối quan hệ vớithời đại lịch sử, quan niệm thời đại, phong tục tập quán
Đối với truyện cổ tích: cần khai thác tác phẩm trong mối quan hệ vớiphong tục, với quan niệm nhân sinh, đấu tranh giai cấp, các phong tục, cácchuẩn mực đạo đức
Đối với truyện thơ: cần khai thác tác phẩm trong mối quan hệ vớiphong tục, với quan niệm nhân sinh, quan niệm đạo đức, quan niệm ứng xử Đối với ca dao: cần khai thác tác phẩm trong mối quan hệ với quanniệm đạo đức, phong tục xã hội, ứng xử
3 Phần chuẩn bị ở nhà của học sinh cũng là một yếu tố quyết định thànhcông của tiết dạy Do khuôn khổ thời gian có hạn nên không phải điều gì
Trang 14giáo viên cũng có thể nói được hết cho học sinh Vì vậy, phần chuẩn bị ởnhà của học sinh là rất quan trọng Giáo viên cần cho học sinh tự tìm hiểuchú thích, tự tìm hiểu những phong tục, tập quán, quan niệm truyền thống cóliên quan đến tác phẩm văn học dân gian được học, từ đó giúp cho việc tiếpthu bài học của học sinh được rõ ràng hơn Phần này có thể được cụ thể hóabằng những câu hỏi cụ thể của giáo viên
4 Khâu dạy học trên lớp là khâu quan trọng nhất Khâu này có thể tiến hànhtheo trình tự như sau:
Trước hết, giáo viên cho học sinh trình bày phần kiến thức đã được tìmhiểu ( có thể nêu kết hợp với phần tiểu dẫn) Sau đó, giáo viên bổ sung vàkhắc sâu kiến thức cho học sinh về những nội dung văn hóa mà học sinh đãtrình bày
Sau đó, trong khi tìm hiểu cụ thể tác phẩm, giáo viên có thể dừng lại ởnhững chi tiết văn hóa đặc sắc để giảng và bình cho học sinh Nếu dạy bằngmáy chiếu, giáo viên có thể trình chiếu cho học sinh một số hình ảnh sinhđộng về sinh hoạt sản xuất, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng hay lễ hội, phongtục để học sinh được sống trong không gian văn hóa của tác phẩm văn họcdân gian
Cuối cùng, trong phần củng cố, sau khi tổng kết về giá trị tác phẩm,giáo viên gắn với giá trị văn hóa để học sinh có thể hiểu sâu hơn về tác phẩm
và hiểu sâu hơn về nền văn hóa dân tộc Thông qua đó, giáo viên có thể giáodục cho học sinh tinh thần tự hào và ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc
II Minh họa cụ thể qua một số tiết dạy:
Sau đây là một số bài dạy tôi đã thực hiện khi dạy tác phẩm văn họcdân gian lớp 10 chương trình, chương trình chuẩn
1 Dạy bài “Chiến thắng Mtao Mxây” ( trích sử thi “Đăm Săn”)
Chiến thắng Mtao Mxây là tác phẩm văn học dân gian thuộc thể loại sử
thi- một thể loại đã ra đời từ rất xa xưa Do khoảng cách thời gian với hiện
Trang 15tại, lại do học sinh còn xa lạ với văn hóa các dân tộc thiểu số nên việc tiếpthu tác phẩm còn nhiều khó khăn Vì vậy, giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu tácphẩm bằng cách đặt nó trong không gian văn hóa của nó
Bài dạy được bố trí trong hai tiết:
Tiết 1: Giới thiệu chung: về sử thi Tây Nguyên và sử thi anh hùng, tómtắt tác phẩm và dạy một ý nhỏ trong phần đọc hiểu văn bản là phẩn Đăm Săngiao chiến với Mtao Mxây
Tiết 2: Tiếp tục đọc hiểu với hai phần: Cảnh dân làng Mtao Mxây theoĐăm Săn trở về và cảnh Đăm Săn cùng dân làng ăn mừng chiến thắng, cuốicùng là tổng kết giá trị của đoạn trích và hướng dẫn học sinh luyện tập Trong quá trình dạy ở tiết 1, ngay ở phần tóm tắt tác phẩm, giáo viên
đã nên cung cấp cho học sinh một số kiến thức về văn hóa Tây nguyên đểgiúp cho học sinh hiểu tác phẩm Sau khi lấy hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhi,Đăm Săn trở thành một tù trưởng Đây là chi tiết mà giáo viên phải dùng vănhóa Tây Nguyên để lí giải Sở dĩ sau hôn nhân, Đăm Săn phải về nhà vợ ở vì
sử thi ra đời trong lòng chế độ mẫu hệ Trong gia đình mẫu hệ, vai trò trụ cột
là người phụ nữ nên người đàn ông sau khi lấy vợ phải trở về ở gia đình nhà
vợ Hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhi thuộc dòng dõi tù trưởng nên Đăm Sănsau khi lấy vợ kế thừa quyền lực của gia đình vợ, trở thành một tù trưởng Trong quá trình tóm tắt đoạn trích, có một số chi tiết mà giáo viêncũng phải sử dụng vốn văn hóa Ê- đê để giải thích như: chi tiết Đăm Sănchặt cây thần, Đăm Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời… Tín ngưỡng thờ vật tổ làtín ngưỡng cổ xưa tồn tại trong nhiều cộng đồng trong đó mỗi bộ lạc lại thờmột vật tổ riêng và đó là những vật thiêng, những cấm kị mà cộng đồngkhông ai được vi phạm Cộng đồng Đăm Săn thờ cây Smuk và nó trở thànhcây thần- vật tổ mà cả cộng đồng tôn thờ Sở dĩ Đăm Săn chặt cây thần vìĐăm Săn muốn chống lại tập tục cổ lạc hậu Hay Đăm Săn muốn đi bắt nữthần Mặt Trời về làm vợ không chỉ vì Đăm Săn muốn cộng đồng mình đượchùng mạnh hơn nữa mà còn vì một lí do khác mà phải đặt trong thời đại sửthi chúng ta mới có thể lí giải được Sử thi Đăm Săn cũng như nhiều sử thicủa người Ê- đê ra đời cuối thời kì mẫu hệ- khi cộng đồng người Ê- đê đangchuẩn bị bước vào thời kì phụ hệ Vì vậy hành động của Đăm Săn muốn đibắt nữ thần Mặt Trời xuống trần gian làm vợ mình( chứ không phải Đăm
Trang 16Săn lên trời ở rể) chính là hành động chống lại tập tục, thể hiện khát vọnglàm chủ của người đàn ông trong thời đại mới Tóm lại, hình tượng Đăm Săn
là hình tượng người anh hùng của thời đại sử thi, không chỉ biểu tượng chonhững chiến công, khát vọng mà còn biểu tượng cho sự đấu tranh chống tậptục cổ của người đàn ông khi chuẩn bị bước vào thời kì phụ hệ
Ở phần đọc hiểu tác phẩm, khi đọc hiểu đoạn Đăm Săn giao chiến vớiMTao Mxây, giáo viên có thể dừng lại ở chi tiết ngôi nhà sàn của MTaoMxây được miêu tả ở đầu tác phẩm Nếu dạy máy chiếu, giáo viên có thểcho học sinh xem hình ảnh ngôi nhà sàn Tây Nguyên Vì nhà làm bằng gỗ
dễ bắt lửa nên khi Đăm Săn dọa sẽ phóng hỏa đốt nhà MTao Mxây thì hắnphải vội vàng đi xuống Trong khi xuống, MTao Mxây sợ Đăm Săn đâm lén
vì bậc thang nhà sàn của Tây Nguyên trống, có khoảng cách, không giốngvới bậc thang nhà gác của người Kinh
Sau khi phân tích xong cuộc giao tranh giữa Đăm Săn và MTaoMxây, giáo viên là hình ảnh người anh hùng Đăm Săn với sức mạnh, chiếncông và lòng dũng cảm Giáo viên cho học sinh biết về thời đại sử thi: thờiđại của chiến tranh thị tộc bộ lạc liên miên nên mẫu người lí tưởng của thờiđại phải là mẫu người anh hùng và phẩm chất lí tưởng của con người thờiđại phải là sức mạnh, lòng dũng cảm, danh dự và khát vọng lập chiến công.Người anh hùng chiến thắng kẻ thù ở đây trước hết để dòi lại vợ, tức là đểbảo về danh dự của người đàn ông, và đó cũng là một điểm tiến bộ Hônnhân của loài người giai đoạn trước là hình thức quần hôn, đến giai đoạn này
đã tiến lên một bước mới, đã có sự xác định rõ hình thức gia đình cá thể Vìvậy, người anh hùng trong sử thi chiến đấu để bảo vệ quan niệm hôn nhânmới tốt đẹp Nhưng không chỉ thế, người anh hùng trong sử thi trước hếtchiến đấu vì lợi ích cộng đồng, chiến công của người anh hùng sẽ lảm chocộng đồng của chàng thêm giàu có và hùng mạnh Đó chính là điều khiếncho người anh hùng thời đại sử thi được cộng đồng yêu mến và tin tưởng
Và đó cũng là lí do khiến sau khi thắng trận, dân làng nguyện đi theoĐăm Săn, không hề căm giận hay phản kháng như cách xử sự của những kẻbại trận Giáo viên nên lấy quan niệm của thời đại sử thi để lí giải cho họcsinh Vì thời đại sử thi là thời đại chiến tranh liên miên nên mỗi cộng đồngngười muốn tồn tại và phát triển thì phải có một người đứng đầu thật sự tài
Trang 17giỏi Người đứng đầu đó phải là những anh hùng Tài năng, mưu trí và sứcmạnh của họ sẽ là sự đảm bảo để cộng đồng của họ sẽ vững vàng trước sựtấn công của những cộng đồng dân cư khác Vì vậy, mọi người, ngay cả ởmột cộng đồng thù địch cũng hết lòng ủng hộ Đăm Săn, đi theo và mang củacải về cho cộng đồng chàng càng trở nên hùng mạnh
Phần Đăm Săn cùng cộng đồng ăn mừng chiến thắng, giáo viên nêncho học sinh biết thêm về một số nét văn hóa Tây Nguyên như lễ hội, tínngưỡng, văn hóa cồng chiêng Người Tây Nguyên tin vào ông trời, lễ hộicủa người Tây Nguyên cũng như lễ hội của một số dân tộc khác gồm có haiphần: phần lễ cử hành những nghi lễ thiêng liêng dành cho thần linh, trờiđất, phần hội là phần vui chơi dành cho những người phàm trần Mở đầuđoạn trích là cảnh Đăm Săn kêu gọi mọi người chuẩn bị trâu, bò, dê để tế lễthần linh, cảm tạ trời đất đã phù trợ cho chàng chiến thắng Mtao Mxây.Không phải ngẫu nhiên mà chi tiết về cồng chiêng, chũm chọe được lặp đilặp lại trong đoạn trích Đây là những chi tiết có liên quan đến văn hóa củangười Tây Nguyên Trong văn hóa Tây Nguyên, di sản văn hóa cồng chiêng
là một di sản văn hóa đặc sắc Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyênđược UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loạivào ngày 15 tháng 11 năm 2005 Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sảnthứ hai của Việt Nam được nhận danh hiệu này Không gian văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, ĐắkLắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Chủ thể của không gian văn hóa này gồmnhiều dân tộc khác nhau: Ê-đê, Ba Na, Mạ, Lặc Không gian văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bảnnhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sửdụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước ), những địa điểm
tổ chức các lễ hội đó như nhà dài, nhà rông, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khurừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên Hiện tại, ở các vùng có cồng chiêngnhư ở Tây Nguyên, lễ hội cồng chiêng được tổ chức hàng năm là một hoạtđộng vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc văn hóa vừa là một sản phẩm du lịchhấp dẫn
Cồng chiêng không chỉ dùng trong tế lễ thần linh, trong ngày hội màcòn là sự thể hiện cho sự giàu có và hùng mạnh Cộng đồng nào có nhiều
Trang 18công chiêng thì cộng đồng đó càng hùng mạnh và giàu có Dàn cồng chiênghoành tráng, lễ tế thần linh linh đình và cảnh ăn mừng thắng trận kéo dàitrong nhiều tháng của cộng đồng Đăm Săn theo văn hóa Tây Nguyên biểutượng cho sự giàu có và hùng mạnh của một cộng đồng đang trên đà lớnmạnh Sau đó, giáo viên trình chiếu cho học sinh một số hình ảnh minh họa
về lễ hội Tây Nguyên, và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Có thể cho họcsinh lắng nghe một chút âm hưởng của giàn cồng chiêng Tây Nguyên để các
em cảm nhận được âm hưởng trầm hùng bi tráng của những trang sử thi TâyNguyên hào hùng Trong quá trình thực hiện các bước như trên, học sinh rấthứng thú và là hiệu quả của tiết học tăng lên rõ rệt
Lễ hội cồng chiêng 2007 tổ chức tại Đăk Lăk
Trang 20CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY
( Trích Đăm Săn – Sử thi Tây Nguyên)
Kỹ năng:
- Đọc (kể) diễn cảm tác phẩm sử thi
- Phân tích văn bản sử thi theo đặc trưng thể loại
B.Phương tiện thực hiện:
- GV: SGK, SGV, chuẩn KTKN văn 10
- HS: SGK, vở soạn, vở ghi
- Máy chiếu
C.Cách thức tiến hành: GV tổ chức giờ học theo cách kết hợp các phương
pháp đọc sáng tạo, gợi tìm kết hợp với các hình thức trao đổi thảo luận, trả
Trang 21lời câu hỏi Đặc biệt GV cần xuất phát từ góc độ văn hóa Ê-đê để giải
thích ý nghĩa của tác phẩm.
D Tiến trình dạy học
1 Ổn định lớp và kiểm tra sĩ số
2 Kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: - Trình bày những đặc trưng cơ bản của VHDG?
- VHDG có những thể loại nào? Kể tên? Dẫn chứng?
3 B i m iài mới ới
đặc điểm của sử thi
- Có mấy loại sử thi? Kể
tên? Tác phẩm tiêu biểu ở
a Khái niệm, đặc điểm
- Sử thi, còn gọi là anh hùng ca, là thể loại tự sự dângian, có quy mô dài (thường là thơ, văn vần), nhằm cangợi sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ýnghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minhcủa lịch sử
- Nhân vật chính của sử thi là các anh hùng, tráng sĩtiêu biểu cho sức mạnh mọi mặt của cộng đồng, đượcmiêu tả khá tỉ mỉ trong vẻ đẹp kì diệu khác thường
- Chủ yếu miêu tả hành động của nhân vật, được bổsung thêm những miêu tả có tính chất tĩnh tại vànhững cuộc đối thoại trang trọng có tính nghi thức
b Phân loại sử thi Việt Nam
Kho tàng sử thi dân gian Việt Nam được chia ra hailoại:
- Sử thi thần thoại như Đẻ đất đẻ nước (Mường), Ẩm
ệt luông (Thái), Cây nêu thần (Mnông)…
Nội dung: kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời củamuôn loài, sự hình thành các dân tộc và các vùng cưtrú cổ đại của họ
- Sử thi anh hùng như Đăm Săn, Đăm Di, Xing Nhã,
Khinh Dú (Êđê), Đăm Noi (Ba Na),…
Nội dung: kể về cuộc đời và sự nghiệp của các tùtrưởng anh hùng
2.Sử thi Đăm Săn
a.Tóm tắt sử thi Đăm Săn: SGK
Trang 22* GV dựa trên văn hóa
Tây Nguyên để giải thích
rõ hơn một số chi tiết
trong tác phẩm vì do khác
biệt văn hóa nên một số
chi tiết khiễn cho học sinh
khó hiểu
- Đăm Săn về làm chồng
hai chị em Hơ Nhị Và Hơ
Bhị ( tục nối dây trong
hôn nhân mẫu hệ của
người Ê-đê, theo tục này,
người đàn ông sau khi
cưới vợ phải về ở gia đình
- Đăm Săn lên trời xin cho
vợ sống lại ( người Ê-đê
tin rằng ông trời là người
có quyền lực tối cao, cai
quản muôn loài, có quyền
hôn nhân thời mẫu hệ:
người đàn ông không phải
về nhà vợ sau khi kết hôn
mà ngược lại, người phụ
nữ phải về nhà chồng)
- Hồn Đăm Săn tái sinh
thông qua người
chị( người Ê-đê tin rằng
Trang 23sau khi chết, hồn người
chết sẽ được đầu thai,
người đó sẽ được sống lại
đó, Đăm Săn còn là người anh hùng đấu tranh chống lại những luật tục cũ của thời đại mẫu hệ, thể hiện vai trò của người đàn ông trong thời đại mới.
->Đăm Săn là tác phẩm tiêu biểu cho loại sử thi anh
- Chủ đề: Miêu tả cuộc đọ sức giữa Đăm Săn với Mtao
Mxây và cảnh dân làng ăn mừng chiến thắng Qua đó
ta thấy được niềm tự hào của dân làng Êđê về ngườianh hùng của họ và khát vọng về một cuộc sống thịnhvượng, giàu có, no đủ, đoàn kết thống nhất và lớnmạnh của cộng đồng tộc người
II Đọc hiểu văn bản
1 Cuộc chiến đấu giữa Đăm Săn và Mtao Mxây
* Đăm Săn khiêu chiến và Mtao Mxây đáp lại
- Lần 1:
+ Đăm Săn đến tận nhà Mtao Mxây thách thức vàkhiêu chiến: “Ơ diêng! ta thách nhà ngươi đọ daovới ta đấy”
Trang 24thái độ 2 bên như thế nào?
+ Cuộc chiến giữa Đăm
Săn và Mtao Mxây diễn ra
như thế nào?
Thái độ và tài năng của hai
bên tham chiến qua từng
hiệp ra sao?
* GV giải thích thêm cho
học sinh hiểu chi tiết có
liên quan đến văn hóa
Ê-đê: Người Ê-đê ở nhà sàn,
sàn nhà trên cao, lối đi lên
là những bậc thang được
nối lại bằng những thanh
gỗ, giữa những bậc thang
này là khoảng trống Vì
vậy, Mtao Mxây sợ Đăm
Săn sẽ đâm hắn qua
học sinh xem hình ảnh cái
khiên của người Ê-đê thời
+ Trước thái độ kiên quyết của Đăm Săn, Mtao Mxâybắt đầu hoảng, đành phải chấp nhận xuống nhà nhậncuộc thách đấu nhưng còn kì kèo, giao hẹn: “Ngươikhông được đâm ta khi ta đang đi xuống đó nghe” và
“Ta sợ ngươi đâm ta đang đi lắm” Đáp lại hai câunói của Mtao Mxây, Đăm Săn cũng có hai câu nói(hai hành động) trùng điệp: “Sao ta lại… không thèmđâm nữa là!”
=> Như vậy ngay ở chặng này, Đăm Săn đã thể hiện
rõ nhân cách đàng hoàng, tính cách thẳng thắn, tinhthần thượng võ của người anh hùng Còn Mtao Mxây
đã tỏ ra run sợ trước thái độ khiêu chiến quyết liệtcủa Đăm Săn (sợ bị đâm lén, mặt mũi dữ tợn, trang bịđầy mình mà còn tỏ rõ tần ngần, do dự, đắn đo).Mtao Mxây phần nào đã tự bộc lộ bản chất hèn nhát,quen đánh lén của hắn
* Diễn biến cuộc chiến đấu giữa Đăm Săn và MtaoMxây
Trang 25Sau khi hướng dẫn HS tìm
hiểu cuộc chiến GV yêu
- Hiệp một: Hai bên lần lượt múa khiên
+ Mtao Mxây vào trận với vẻ mặt dữ tợn của mộthung thần Đăm Săn chủ động nhường đối thủ ra đòntrước Mtao Mxây rung khiên múa vậy, từng đườngkhiên tỏ rõ sự kém cỏi, tiếng khiên “kêu lạch xạchnhư quả mướp khô”, thế nhưng Mtao Mxây vẫn nóinăng rất huyênh hoang
+ Trong khi Mtao Mxây múa khiên trước, Đăm Sănvẫn giữ thái độ bình tĩnh, thản nhiên => bộc lộ bảnlĩnh người anh hùng Đăm Săn nhận xét miếng múacủa Mtao Mxây và đối đáp lại một cách sắc sảo, tựtin, giản dị Đến lượt Đăm Săn múa khiên, từngđường khiên của Đăm Săn tỏ ra tài giỏi hơn hẳnMtao Mxây: “Một lần xốc tới… vun vút qua phíatây” Lập tức Mtao Mxây hoảng hốt “bước cao bướcthấp… bãi đông” vì đã yếu sức Hắn chém Đăm Sănnhưng trượt và vội cầu cứu Hơ Nhị quăng cho miếngtrầu nhưng “Đăm Săn đã đớp được miếng trầu” và
“sức chàng tăng lên gấp bội”
- Hiệp 2
+ Tăng thêm sức mạnh, Đăm Săn lại múa khiên vàđuổi theo Mtao Mxây Chàng múa khiên rất đẹp vàdũng mãnh, còn hơn cả ban đầu: “Chàng múa trêncao… bật rễ bay tung” Hai lần Đăm Săn đâm trúngMtao Mxây mà không thủng Đăm Săn thấm mệt vàchàng cầu cứu ông Trời
+ Đăm Săn được ông Trời mách bảo, “bừng tỉnh,chộp luôn một cái chày mòn,… rơi loảng xoảng”.+ Mtao Mxây tháo chạy quanh chuồng lợn, chuồngtrâu nhưng lại bị ngã lăn ra đất, hắn cầu xin : “Ơdiêng! Ta làm lễ cầu phúc cho diêng…” nhưng ĐămSăn không nghe, chàng kể tội Mtao Mxây và kết liễumạng sống của hắn, trận chiến kết thúc
* Nhận xét
- Hơ Nhị là biểu tượng cho sức mạnh của cộng đồngthị tộc → miếng trầu mang ý nghĩa biểu tượng chosức mạnh của thị tộc tiếp sức cho người anh hùng →