Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung hoặc đi sâu tìm hiểu một số nét văn hó
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********
VI THỊ LẠI
KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY Ở LẠNG SƠN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới T.S Vi Thái Lang đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin bày tỏ lời cảm ơn các thầy, cô trong trường Đại học sư phạm
Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy, cô khoa Giáo dục Chính trị đã giảng dạy em trong suốt thời gian qua
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp
đỡ em hoàn thành khóa luận
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy,
cô cũng như các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả khóa luận
Vi Thị Lại
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của T.S
Vi Thái Lang Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên
Vi Thị Lại
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG Chương 1: Lý luận chung về kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.1.1 Văn hóa 8
1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc 13
1.1.3 Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 16
1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn 21
1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay 21
1.2.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn 25
Chương 2: Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay – Thực trạng và nguyên nhân 32
2.1 Thực trạng của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay 32
2.2 Nguyên nhân của thực trạng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay 47
Chương 3: Một số giải pháp nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay 55
3.1 Một số định hướng chung nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay 55
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay 58
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội Con người ra đời cùng với văn hóa, trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Là nhân tố quan trọng trong nền sản xuất tổng hợp, văn hóa như chất keo dính kết các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội… tạo nên hình hài và bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng của mình được kết tinh với hàng ngàn năm văn hiến Cùng với dòng chảy của thời gian và những biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cũng vận động, biến đổi theo những quy luật nhất định, vừa liên tục, vừa đứt đoạn, vừa độc lập, vừa kế thừa, vừa có sự đan xen những yếu tố mới và cũ
để làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi dân tộc và góp phần tạo nên
âm hưởng văn hóa chung của cả cộng đồng người Việt
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa mọi mặt của đời sống xã hội, đã tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc trên thế giới cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và thu nhập, có cơ hội giao lưu và tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc mình Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, vận hội của sự phát triển là nguy cơ phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa Hơn nữa, các thế lực thù địch vẫn tiến hành âm mưu diễn biến hòa bình, đặc biệt là trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Do vậy, khẳng định hệ giá trị văn hóa dân tộc đang là vấn đề cấp thiết vừa có tính thời sự vừa lâu dài đối với đất nước ta Đây là vấn đề không mới, rất nhiều văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước đã đề ra chủ trương, giải pháp
Trang 6cụ thể việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc đặc biệt là vùng văn hóa các dân tộc thiểu số Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương năm, (khóa VIII) Đảng chủ trương: Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Trong cộng đồng đa dân tộc, dân tộc Tày là dân tộc thiểu số đông người nhất ở Việt Nam Cộng đồng người Tày cư trú chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông Bắc và một phần Tây Bắc Việt Nam, bao gồm các tỉnh như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang… Trong đó, Lạng Sơn là tỉnh có nhiều đồng bào Tày cư trú nhất Sự phong phú về cảnh quan, môi trường của Xứ Lạng đã tác động rất lớn đến đời sống văn hóa người Tày ở đây, làm nên một đời sống văn hóa dân gian cổ truyền phong phú, độc đáo và đặc sắc như lễ hội, trang phục, thơ, ca, tín ngưỡng đậm tính triết lý nhân sinh Phần lớn những giá trị đó đến nay vẫn hiện hữu trong cuộc sống thường nhật của cư dân người Tày Chúng còn tương đối nguyên vẹn hoặc đã biến dạng, thay đổi
ít nhiều Thậm chí có những giá trị bị mai một hoàn toàn, chỉ còn lại dưới hình thức bào tàng hoặc nằm sâu trong lớp kí ức của người già ở vào lứa tuổi
“xưa nay hiếm” Điều đó gây nhiều ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển văn hóa dân tộc nói riêng và mục tiêu phát triển tỉnh Lạng Sơn nói chung Do vậy,
kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn là một vấn đề
hết sức cần thiết
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay" làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Triết học
Trang 72 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề này đã được nhiều người nghiên cứu ở những phạm vi và góc
độ khác nhau
Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:
PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Phan Ngọc, "Bản sắc văn hóa Việt
Nam", Nxb Văn học, “2006 Hồ Bá Thâm, Bản sắc văn hóa dân tộc", Nxb Văn
hóa Thông tin, 2003
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:
Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, viện dân tộc học, “Các dân tộc ít
người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)”,Nxb Khoa học xã hội , Hà Nội 1978
Lò Giàng Páo, "Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997 Ngô Văn Lệ, "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam", Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998
Nghiên cứu văn hóa dân tộc Tày có các công trình:
Hà Văn Thư, Lã Văn Lô, “ Văn hóa Tày Nùng”, Nxb Văn Hóa 1984 Viện khoa học xã hội Việt Nam, viện dân tộc học , “Các dân tộc Tày Nùng ở
Việt Nam”, Hà Nội 1992 “Ai lên xứ Lạng”Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội
1994 Hoàng Quyết – Ma Khánh Bằng – Hoàng Huy Phách – Công Văn
Lược – Vương Toàn, “Văn hóa truyền thống Tày Nùng” Nxb Văn hóa dân tộc 1993 Hoàng văn Páo (chủ biên), “Lượn Tày Lạng Sơn” , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2003 La Công Ý, “Đến với người Tày và văn hóa Tày” ,
Nxb khoa học xã hội, Hà Nội 11/2010
Nhìn chung: Các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc Tày ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Tày (nói
Trang 8chung), người Tày ở Lạng Sơn (nói riêng) nhằm giới thiệu về người Tày; những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Tày Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung hoặc đi sâu tìm hiểu một số nét văn hóa cụ thể; đã đề cập đến thực trạng và một số giải pháp cho sự phát triển văn hóa dân tộc Tày nhưng cũng chỉ là những giải pháp mang tính định hướng chung cho các dân tộc thiểu số; chủ yếu nghiên cứu về văn hóa dân tộc Tày ở góc độ văn hóa, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách
có hệ thống dưới góc độ triết học, chưa bàn nhiều tới vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn một cách khái quát Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề: "Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay"
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Tày và tính tất yếu khách
quan của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày
Hai là, đánh giá thực trạng vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng
Ba là, đề ra một số định hướng và giải pháp cơ bản, nhằm kế thừa và
phát huy bản sắc dân tộc Tày ở Lạng Sơn
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn trên góc độ triết học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa là một vấn đề rất rộng, văn hóa các dân tộc cũng rất đa dạng
và phong phú Khóa luận không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về văn hóa của dân tộc Tày ở Lạng Sơn mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống,
ở khía cạnh triết học những giá trị văn hóa tạo nên "Bản sắc văn hóa" của dân tộc Tày ở Lạng Sơn nhằm kế thừa và phát huy nó trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch, điều tra, so sánh nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt
ra
Trang 106 Đóng góp khoa học của đề tài
Khóa luận góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của tộc Tày ở Lạng Sơn; phân tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dân tộc Tày dưới góc độ triết học Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay
7 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ
lý luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và vấn đề kế thừa nó; đồng thời góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của những giá trị văn hóa của dân tộc Tày ở Lạng Sơn theo hướng: Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy các bộ môn: Triết học, Văn hóa, Dân tộc học ở các nhà trường, làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở Lạng Sơn
8 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Văn hóa - Cho đến nay, không phải tất cả mọi người đều đồng ý với nhau về định nghĩa Từ cổ chí kim, trong lịch sử loài người, xuất phát từ cách tiếp cận và nhận thức khác nhau mà hình thành các định nghĩa về văn hóa Năm 1952, các nhà dân tộc học người Mỹ đã thống kê được hơn 300 định nghĩa mà các tác giả thuộc nhiều nước khác nhau đó phát biểu về văn hóa, các định nghĩa ấy đã khai thác vấn đề văn hóa dưới từng góc độ, từng mặt khác nhau, nhưng ở khía cạnh nào đó cũng có sự thống nhất hoặc bổ sung cho nhau trong sự nhận thức về văn hóa
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhìn nhận văn hóa như là một sản phẩm của lịch sử, là sản phẩm của quá trình lao động cải tạo tự nhiên của các thế hệ người Do vậy, trình độ phát triển của văn hóa phụ thuộc vào trình độ nhận thức và sức sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ Nếu tách văn hóa ra khỏi đời sống của con người và xã hội loài người thì văn hóa chẳng còn ý nghĩa gì cả
Con người được sinh ra và sống trong giới tự nhiên Nhưng con người không bị hòa tan hay lệ thuộc vào giới tự nhiên mà ngày càng tách mình ra khỏi giới tự nhiên và rồi quay lại giới tự nhiên, cải tạo nó, làm cho nó trở thành giới tự nhiên thứ hai, giới tự nhiên của chính mình, đồng thời qua đó cải biến chính bản thân mình - Đó chính là văn hóa C.Mác viết:
“Cố nhiên, con vật cũng sản xuất… Nhưng súc vật sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối
Trang 12bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc, và chỉ khi không bị nhu cầu đó ràng buộc thì con người mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của từ đó; Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [6, tr.137]
“Con người là một thực thể có ý thức, sống, hoạt động trên cơ sở hiểu
rõ bản thân, hiểu rõ đối tượng định tác động, từ đó tự chịu trách nhiệm về mục tiêu, thái độ, hành vi, phương hướng tác động đến đối tượng Sự tự ý thức của con người được thể hiện rõ nột trong đời sống tinh thần, trong sáng tạo nghệ thuật, họ sản xuất và xây dựng theo các quy luật cái đẹp” [7, tr.137], điều đó thể hiện rõ đầu óc chiến lược, năng lực phân tích, tổng kết, dự báo, gắn với tầm nhìn và nhãn quan văn hóa của chủ thể hành động
Trong thế giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với tư cách là chủ thể của bản thân mình, làm chủ giới tự nhiên, hòa vào giới
tự nhiên nguyên sơ, để tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa mãn những nhu cầu, ham muốn chinh phục tự nhiên, xã hội …của bản thân con người - Đó là văn hóa C.Mác cho rằng, xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc
từ lao động Bởi lẽ, mọi hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội đều bắt đầu từ lao động Chính lao động đó sáng tạo ra con người và xã hội loài người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng động vật, tiến dần đến trình độ trưởng thành về nhân cách, trình độ trưởng thành về văn hóa của mỗi cá nhân
Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở
sự hình thành và phát triển con người Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ hình thành và phát triển bản chất người trong quá trình con người chinh phục và biến đổi tự nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, mà bao trùm là quan hệ giữa đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của xã hội loài người Nếu môi trường đầu
Trang 13tiên cho con người sự hình thành và phát triển, quyết định sự tồn tại của con người là sản xuất vật chất, thì môi trường thứ hai cho con người bộc lộ, phát huy những năng lực và bản chất người trong các hoạt động sống, đó chính là sản xuất văn hóa
Quan niệm của V.I.Lênin về văn hóa khá rộng và bao quát Từ cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, V.I.Lênin cho rằng: Sự phát triển của văn hóa gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, mỗi một hình thái kinh tế - xã hội có một nền văn hóa tinh thần đặc trưng (như một giá trị lịch sử), khi hình thái kinh tế - xã hội thay đổi, thì nền văn hóa tương ứng với
nó cũng có sự thay đổi nhất định Đây không có nghĩa là sự đứt đoạn hay đoạn tuyệt với các giá trị văn hóa truyền thống, mà trong quá trình chuyển hóa, nền văn hóa mới luôn kế thừa những di sản, thành tựu của nền văn hóa trước đó, đồng thời bổ sung những yếu tố mới phù hợp với những đặc điểm
và quan hệ của hình thái kinh tế – xã hội mới V.I.Lênin khẳng định: Ở đâu có hoạt động của con người thì ở đó có văn hóa và văn hóa không chỉ dừng lại ở văn hóa tinh thần mà còn bao hàm cả văn hóa vật chất Người coi văn hóa là phương tiện quan trọng nhất trong tất cả các loại hình hoạt động của con người và là kết quả của quá trình hoạt động đó Vì vậy, trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới, V.I.Lênin nhấn mạnh nguyên tắc tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc, tính nhân loại trong văn hóa, cách mạng văn hóa, trước hết
là cách mạng trong trí tuệ, trong ý thức của quần chúng Lênin khẳng định: hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa phải là “của” nhân dân, chứ không phải “cho” nhân dân Người viết: “Chủ nghĩa xã hội được xây dựng không phải bằng mệnh lệnh từ trên Tinh thần của nó xa lạ với bộ máy nhà nước quan liêu; Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo, tức là sáng tạo của chính quần chúng” [31, tr.464]
Trang 14Theo V.I Lênin, muốn xây dựng một nền văn hóa mới, nền văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực và bản chất người, cần phải kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, đồng thời phát triển nó lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người Người nói rằng:
“Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải
là do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra… văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội Tư bản, địa chủ và của xã hội quan
liêu” [31, tr.402]
Cũng như các bậc tiền bối của chủ nghĩa Mác, quan niệm về văn hóa của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh cũng rất rộng; xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn hiến ngàn đời của dân tộc Việt Nam, với tầm nhìn bao quát, Người đưa ra khái niệm về văn hóa như sau:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc,
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [19, tr.431]
Quan điểm trên của Người đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa Chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất Người cũng chỉ ra nguồn gốc sâu xa của văn hóa đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội Nó biểu hiện
sự thống nhất của yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội trong con người, biểu hiện
Trang 15khả năng và sức sáng tạo của con người Nghĩa văn hóa mà nhà văn hóa lớn
Hồ Chí Minh đề cập được trải rộng trên cả hai lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, nhưng việc phân định hai lĩnh vực văn hóa như trên chỉ có tính chất tương đối, vì trên thực tế mỗi kết quả của hoạt động lao động của con người đều bao hàm trong đó cả hai giá trị vật chất và tinh thần
Người cho rằng: văn hóa là tinh hoa của dân tộc, văn hóa phải góp phần khẳng định vị thế của dân tộc và một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Cho nên:
“Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa
đế quốc Đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc
và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” [18, tr.173]
Thấm nhuần lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng và Nhà nước ta đã có sự đổi mới nhận thức về văn hóa trên mọi phương diện Nghị quyết bốn Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII); và đặc biệt, đến nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) đã đề cập đến toàn bộ các vấn đề văn hóa liên quan đến quốc tế dân sinh, đến xây dựng đời sống tinh thần cho con người Trong năm quan điểm chỉ đạo cơ bản của nghị quyết, quan điểm thứ nhất đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”[10,tr.55]
Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [16, tr.11] Hay “Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật chất và
Trang 16giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử
xã hội của mình.” [15, tr.13-14]
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch
sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi
là văn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần,
là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản xuất tinh thần của con người Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực
cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ
có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ
là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán…
1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc
Theo từ điển Tiếng Việt, bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩm cách đặc biệt của một vật
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa một dân tộc Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với chính điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc Những giá trị văn hóa ấy, cho dù
có trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử nó không những không mất
Trang 17đi, mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phù hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóa dân tộc mình, làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác Khi nói đến một trong những nét đặc trưng văn hóa ấy, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó là dân tộc nào mà không cần phải gọi tên
Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc Nó
là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình:
“Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào
đó có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được tiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc lập” [5, tr 48]
Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng (văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại) Mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào kho tàng văn hóa chung Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá trị của mình, tạo ra sự khác biệt trong cái đồng nhất đó chính là bản sắc văn hóa của một dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một biểu hiện nhất thời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền vững trong lịch sử và đời sống văn hóa dân tộc
Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông qua văn hóa Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn hóa dân tộc: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [34, tr.13]
Trang 18Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ
tư tưởng… trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dân tộc Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ
và rõ nét hơn ở văn hóa Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định
sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy
Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tinh thần bên trong
và biểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩy nhau phát triển Văn hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để
có bản lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ mờ phai Ngược lại, nếu văn hóa tự mình làm mất đi những màu sắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơi chất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa
Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tố như: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thức hoạt động kinh tế Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát
từ những yếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ V khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:
“Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí
Trang 19tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [11, tr.56]
Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nên giá trị to lớn là nền tảng bền vững của bản sắc dân tộc Nguồn nuôi dưỡng vô tận tâm hồn và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Đây là kho của cải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóa Việt Nam Việc nhận diện đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các dân tộc thành viên là việc làm hết sức có ý nghĩa Bởi lẽ, việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải có sự chặt chẽ, hài hòa và thực hiện theo định hướng, đường lối của Đảng, Nhà nước và ý thức dân chủ tự nguyện của nhân dân
1.1.3 Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Kế thừa là một trong những vấn đề có tính quy luật của phủ định biện chứng, là cầu nối giữa cái cũ và cái mới Với ý nghĩa đó tìm hiểu vấn đề kế thừa có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn
Theo từ điển tiếng Việt: Kế thừa là sự thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát triển những cái có giá trị tinh thần [29, tr 509] ‘‘Phát huy’’ là làm cho cái hay, cái tốt có tác dụng
Bách khoa thư triết học xem “Kế thừa là mối liên hệ giữa những giai đoạn hay nấc thang phát triển khác nhau, mà bản chất của mối liên hệ đó là bảo tồn những yếu tố này hay yếu tố khác của chỉnh thể” [1, tr 360]
Đại học bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ) cho rằng: “Kế thừa là mối liên hệ giữa các hiện tượng trong quá trình phát triển trong đó có cái mới lột
bỏ cái cũ, giữ lại trong mình một số yếu tố của cái cũ” [12, tr 360]
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều luôn nằm trong quá trình vận động, biến
Trang 20đổi và phát triển không ngừng theo những quy luật nhất định Một trong những quy luật chung, biểu hiện khuynh hướng của sự phát triển, là quy luật phủ định của phủ định mà kế thừa là một đặc trưng cơ bản Tính kế thừa thực chất chính là “mối liên hệ tất yếu khách quan giữa mới và cũ trong quá trình
phát triển” [28, tr 269] Trong mối quan hệ đó, cái mới luôn ra đời, thay thế
và phủ định cái cũ, nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ khăng khít với nhau,
đó là sự kế thừa của cái mới đối với cái cũ Ăngghen khẳng định: “Phủ định trong phép biện chứng, không phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó” mà “sự phủ định trong đó có sự phát triển” [8, tr 201] Quá trình phủ định diễn ra không phải là sự phủ định siêu hình, phủ định sạch trơn
mà là sự phủ định biện chứng, đó là “quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so
với cái cũ bị phủ định” [14, tr 333] Phủ định biện chứng mang hai đặc trung
cơ bản, đó là: tính khách quan và tính kế thừa
Tính khách quan của phủ định biện chứng thể hiện ở chỗ: phủ định là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật, chứ không phải do sự áp đặt từ bên ngoài Phủ định biện chứng là sự phủ định mang tính
kế thừa Với nghĩa đó, phủ định đồng thời cũng là khẳng định Giá trị của kế thừa biện chứng được quy định bởi vai trò của nó trong sự ra đời của cái mới Không có cái mới nào lại ra đời từ hư vô Nhờ việc giữ lại những nhân tố tích cực của cái bị phủ định - tức là nhờ có kế thừa - mà cái mới có tiền đề cho sự xuất hiện của mình
Phát triển chính là sự vận động theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ lạc hậu đến tiến bộ Kết quả của quá trình vận động đó là sự ra đời của sự vật mới hoàn thiện hơn sự vật
cũ Trong quá trình này, những yếu tố tích cực của cái cũ được giữ lại, cải
Trang 21biến để tham gia vào sự vật Phát triển không phải là bước đi thuần túy mà là một khuynh hướng trải qua nhiều giai đoạn bao hàm trong nó những bước đi quanh co, phức tạp Tuy nhiên, sự phát triển đó không phải diễn ra theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc Đề cập đến vấn đề này, V.I Lênin viết:
“Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể
Kế thừa là một hiện tượng mang tính quy luật đối với sự phát triển nói chung Không có một sự phát triển nào lại được bắt đầu từ con số “0” Mọi sự phát triển luôn luôn là quá trình phủ định có kế thừa Những yếu tố tích cực của cái cũ bao giờ cũng được giữ lại, kế thừa và phát triển trong sự ra đời của cái mới Sự phát triển của những giá trị tạo thành bản sắc văn hóa của một dân tộc cũng không nằm ngoài quy luật đó Bản sắc văn hóa của một dân tộc là di sản vô cùng quý giá; đó là tinh hoa, cốt lõi và là linh hồn của chính dân tộc
đó Tuy nhiên, những giá trị tạo nên bản sắc đó, không phải là bất biến và tuyệt đối như nhau trong mọi thời đại Khi điều kiện lịch sử đã có sự thay đổi thì cần phải có sự chọn lọc, kế thừa, bổ sung và đổi mới đối với những giá trị
đó
Việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và củng cố cộng đồng các dân tộc, vì sự phát triển toàn diện cho mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam (trong đó có dân tộc Tày ở Lạng Sơn),
là phương hướng và nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta hiện nay Đó cũng xuất phát từ quan niệm coi việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, là vấn đề trung tâm của chính sách dân tộc về văn hóa
Văn hóa không phải là một hiện tượng siêu nhiên từ bên ngoài áp đặt
và ban phát cho con người, cũng không phải do ý muốn chủ quan của con
Trang 22người, mà nó hình thành dựa trên nhiều những nhân tố khác nhau như kinh tế, chính trị - xã hội…Chính vì lẽ đó mà không phải bất kỳ một giá trị văn hóa nào, hay một nét văn hóa nào cũng đều phù hợp với mọi chế độ xã hội, và đều được con người chấp nhận và tiếp thu Cũng không phải giá trị văn hóa nào cũng có thể phát huy tác dụng để thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội Ngược lại, có những giá trị văn hóa lại làm cản trở sự phát triển vì nó đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời kỳ mới Thậm chí, ngay trong một giá trị văn hóa, có mặt còn là nhân tố thúc đẩy, nhưng mặt khác lại là nhân tố cản trở Vì vậy, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, trong đó có dân tộc Tày ở Lạng Sơn là một việc làm đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, chúng ta không thể kế thừa tất cả những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tày đã có từ xa xưa Chúng ta chỉ nên và cần kế thừa những nét văn hóa thực sự có giá trị, những nét văn hóa còn phù hợp với yêu cầu của xã hội và với giai đoạn hiện tại, nhưng đang đứng trước nguy cơ
Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng sơn là sự thừa hưởng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đã được hình thành từ rất lâu đời cùng với quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Tày hàng ngàn
Trang 23năm nay Với đặc điểm của tự nhiên và môi trường sinh tụ của dân tộc đã tạo cho văn hóa Tày nói chung, văn hóa của dân tộc Tày ở Lạng Sơn nói riêng, những điểm độc đáo tạo nên bản sắc riêng của văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn.Việc giữ gìn một nền văn hóa như nó vốn có đã khó, nhưng tìm những cái hay, cái tốt, cái phù hợp với giai đoạn mới và phát triển nó, làm cho nó phát huy tác dụng mà không làm mất đi bản sắc, cái cốt lõi của nền văn hóa
đó là việc làm còn khó hơn nhiều
Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở Lạng Sơn là kế thừa những nét văn hóa có ý nghĩa tích cực thúc đẩy sự phát triển của cá nhân
và xã hội Vì vậy, nói kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở Lạng sơn hiện nay thì trước hết phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của từng địa phương mà lựa chọn, để có thể đưa ra những phương hướng và giải pháp khả
thi trên thực tế
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để các tỉnh miền núi như Lạng Sơn phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Quá trình vận động, phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH đẩy mạnh của
cả nước cũng như của khu vực miền núi phía Bắc sẽ tác động sâu sắc và toàn
diện đến sinh hoạt văn hóa, đến bản sắc và bản lĩnh văn hóa từng dân tộc
Bản sắc dân tộc luôn mang tính lịch sử cụ thể và luôn tạo lập các giá trị mới, để thích ứng với yêu cầu phát triển chung của thời đại Vì vậy, bản sắc văn hóa dân tộc phải được hiểu trong xu thế phát triển, và phát triển là điều kiện để giữ gìn bản sắc Với chính sách phát triển vùng dân tộc và miền núi của Đảng, chúng ta cần phải bảo lưu, khai thác cả cái cũ và mới trong những vùng dân cư mới để biến Lạng Sơn thành tỉnh giàu mạnh của đất nước với
Trang 24một bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo trong sự thống nhất của nền văn hóa Việt Nam Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đồng bào các dân tộc ở tỉnh Lạng Sơn, trong đó có dân tộc Tày chủ động tham gia vào quá trình CNH, HĐH vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình, vừa khai thác nó tạo động lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, rút ngắn khoảng cách giữa miền núi với miền xuôi và với các vùng khác trong cả nước Để làm được điều đó ngoài việc tạo các tiền đề phát triển kinh tế, xã hội vững chắc thì việc gìn giữ và kế thừa các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa các dân tộc là một vấn đề hết sức cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn mới hiện nay
1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn
1.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn
Lạng Sơn còn gọi là xứ Lạng là một tỉnh ở vùng Đông Bắc Việt Nam;
bao gồm 1 thành phố và 10 huyện; dân số là 831.887 người, có 7 dân tộc anh
em, trong đó số người dân tộc Tày chiếm 35,92%
Tộc người Tày làm ăn sinh sống ở Lạng Sơn đã rất lâu Sự biến đổi về môi sinh, quá trình lịch sử và dân số… đã tác động mạnh đến nếp sống và phong tục tập quán của người Tày ở Lạng Sơn, khiến cho sắc thái văn hóa của
họ vừa có những nét chung của văn hóa Tày, và những nét riêng, độc đáo
- Về vị trí định canh, định cư:
Người dân tộc Tày ở Lạng Sơn cư trú ở hầu hết các địa phương của tỉnh Sự xen kẽ giữa người Tày và người Việt trong các địa phươg này cũng diễn ra theo nhiều cấp độ khác nhau, những xã gần huyện lỵ thì người Tày và người Việt sống xen kẽ nhưng thành từng làng hoặc chòm xóm riêng biệt, ở những nơi vùng sâu, vùng xa thì mức độ xen kẽ là ngay trong cùng một làng nhưng tỷ lệ người Việt ít hơn
Trang 25- Tính đặc thù trong kinh tế:
Người Tày ở Lạng Sơn sống định canh, định cư nên trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu canh tác lúa nước, sản xuất nhỏ theo kiểu tự túc, tự cấp; ngoài việc cấy lúa nước họ còn phát nương trồng lúa Sau năm 1999, với dự
án 135 hỗ trợ phát triển kinh tế cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn, đã tạo
ra những bức đột phá trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của đồng bào Tày, nhờ đó mà mức sống và thu nhập của người dân được cải thiện
Cơ chế thị trường đã tác động rất lớn đến tập quán canh tác và chăn nuôi của cư dân Tày, việc trao đổi, mua bán hàng hóa trong các bản, làng cũng diễn ra phong phú và nhộn nhịp không khác gì các chợ miền xuôi, đây là điều kiện thuận lợi để người dân thoát dần ra khỏi tập quán canh tác cũ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào
Nghề thủ công truyền thống của người Tày chủ yếu là dệt vải, nhuộm chàm, nghề mộc, đan lát Trước đây, gia đình người Tày nào cũng có khung cửi, họ tự trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải, người phụ nữ làm ra những vuông vải cho mình, cho những người trong gia đình và làm của hồi môn đem đến nhà chồng Sự khéo léo thể hiện trong những vuông vải trở thành một trong những tiêu chuẩn về giá trị của người phụ nữ Tày Người Tày
có một câu ca dao với nội dung răn dạy con gái phải chăm chỉ, siêng năng trong việc dệt vải, nhuộm chàm: “Bìm bịp bước đủng đỉnh trên bờ ruộng, đàn
bà lười dệt vải biến thành con hổ” (Nốc côt tuấy cằn nà đoải đoải, mẻ nhình
chạn tắm phải pền slưa) Mặc dù rất khéo léo nhưng nghề mộc của người Tày
chỉ dừng lại ở phạm vi tương trợ, giúp nhau dựng nhà, làm khung cửi, làm đuống, cối giã gạo hoặc phục vụ cho sản xuất vui chơi chứ không chuyên mộc, không làm hàng hóa; việc đóng các đồ gia dụng, làm gạch, xây nhà…chỉ phổ biến trong thời gian gần đây
Trang 26Chính những nét đặc thù trong hoàn cảnh sống và kinh tế đã góp phần làm nên những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể độc đáo của người Tày ở Lạng Sơn Tuy nhiên, nhìn từ góc độ bảo tồn, phát huy những tinh hoa văn hóa cổ truyền thì tốc độ phát triển nhanh và mạnh của kinh tế cũng làm cho các giá trị văn hóa Tày truyền thống bị lãng quên, đặc biệt là các giá trị văn hóa tinh thần; những câu hát then, hát sli, hát lượn, những điệu múa dân gian, những lễ hội cổ truyền của người Tày đang mai một dần, trong số ít các thể loại văn hóa còn tồn tại và được phục hồi hiện nay cũng bị Kinh hóa khá cao
- Về đặc điểm gia đình và hôn nhân:
Gia đình là một tế bào xã hội, là tổ chức phức tạp bao gồm nhiều yếu tố
hợp thành như: sinh học, tâm lý, kinh tế, văn hóa … Do vậy, tổ chức gia đình không giống như bất cứ một tổ chức xã hội nào khác, nó được hình thành bởi quan hệ tình yêu và hôn nhân Cùng với những biến động của lịch sử, gia đình nói chung, gia đình người Tày nói riêng cũng có những thay đổi cơ bản
Gia đình Tày cổ truyền thường tồn tại hai loại cơ bản là gia đình lớn và gia đình nhỏ
Gia đình lớn: Đây là dạng gia đình rất phức tạp về thành phần và cách
tổ chức sinh hoạt Thường trong các gia đình này có nhiều thế hệ như: ông bà,
bố mẹ, các con và các cháu, số lượng người trong kiểu gia đình này có thể lên tới 8, 12 người, họ cùng sống, làm và ăn chung Sự hình thành và tồn tại các
Trang 27gia đình lớn trong tộc người Tày có nhiều nguyên nhân, trong đó rõ nhất là nguyên nhân kinh tế - xã hội Trước đây, kinh tế của người Tày là tự cấp, tự túc, ruộng đất và tài sản không nhiều, công cụ lao động thô sơ và lạc hậu, năng suất lao động thấp… nên đòi hỏi tính tập trung trong từng khâu của quá
trình sản xuất Người Tày vẫn có câu: nhiều người nhiều của (lai khần lai
cúa) Hơn nữa, trong các gia đình người Tày, các thủ tục cúng tế, cưới hỏi,
tang ma rất phức tạp, các gia đình ít thành viên khó có thể làm tròn trách nhiệm với họ hàng, làng xóm
Gia đình nhỏ: Đây là dạng gia đình chỉ gồm có vợ, chồng và con cái
của họ; họ sống, sản xuất và chi tiêu độc lập
Trong giai đoạn hiện nay, các gia đình lớn của người Tày có xu thế tách thành các tiểu gia đình, xu thế ấy trở nên khá phổ biến trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường hiện nay Vấn đề thực hiện kế hoạch hóa gia đình đã phần
nào làm cho quan niệm “nhiều người thì nhiều của” trong chức năng tái sản
xuất ra con người của các cư dân Tày mất dần Chức năng kinh tế được chú ý phát triển, việc làm chủ đồi rừng, phát triển diện tích trồng hồi, vườn cây ăn quả và cả sự trao đổi buôn bán hàng hóa với các vùng đã làm cho cuộc sống vốn khép kín của người Tày xưa được mở rộng Vấn đề nuôi dạy con, hướng dẫn con cách cư xử và phân công công việc theo giới tính vẫn được duy trì Việc đầu tư cho con cái học hành, tạo mọi điều kiện cho con phát triển những năng lực cá nhân (không phân biệt trai, gái) đã phần nào xóa bỏ quan niệm lạc
hậu trọng nam khinh nữ vốn tồn tại trong xã hội Tày cổ truyền
Có thể nói, xu thế độc lập của các tiểu gia đình đã đem lại những tiến
bộ nhất định về kinh tế, về nhận thức, về quan hệ đối xử…trong các gia đình Tày Nhưng cùng với đó các yếu tố văn hóa cổ truyền vốn rất được coi trọng trong các gia đình lớn trước đây cũng mờ dần Vì mục tiêu xây dựng một nền văn hóa mới thì sự đơn giản các thủ tục trong nghi lễ gia đình, trong lễ hội là
Trang 28hết sức cần thiết Nhưng do khả năng và trình độ của người dân không giống nhau nên ngoài sự tinh giản các yếu tố phi văn hóa, các hủ tục đã phần nào làm cho các giá trị văn hóa độc đáo trong cộng đồng người Tày cũng mai một
theo
1.2.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn
Khi nói đến sắc thái văn hóa nói chung, văn hóa của tộc người Tày nói riêng khó có thể phân định một cách rạch ròi đâu là văn hóa vật thể và đâu là văn hóa phi vật thể, bởi đằng sau những hiện tượng, những vật thể cụ thể bao giờ cũng ẩn chứa những yếu tố tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng Những nét văn hóa độc đáo của người Tày được thể hiện một cách tinh tế trong những vật dụng hàng ngày, trong lao động sản xuất, trang phục, kiến trúc, thơ ca, lễ hội, trong sự sinh thành và các mối quan hệ của con người Do vậy, khi đề cập đến những sắc thái văn hóa của dân tộc Tày, khóa luận chỉ đề cập vấn đề ở những nét cơ bản mang tính liệt kê
Người Tày ở Lạng Sơn là một bộ phận của hệ thống dân tộc Tày ở Việt Nam Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 số cư dân người Tày ở Lạng Sơn là 259.532 người, chiếm 35,4 % dân số toàn tỉnh
và 31,5 % tổng số người Tày tại Việt Nam
Ngoài những đặc điểm chung của dân tộc Tày ở Việt Nam, người Tày ở Lạng sơn còn có những đặc trưng riêng, thể hiện bản sắc của người Tày xứ Lạng
Lạng Sơn là một tỉnh nằm ở biên giới phía bắc có đường biên giới với Trung Quốc dài 253km Phía bắc Lạng Sơn giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáp tỉnh Bắc Cạn, phía tây nam Thái nguyên Với vị trí địa lí như trên Lạng Sơn đã trở thành một trong những điểm giao thoa văn hóa giữa các tỉnh thành, khu vực nước ta và giữa nước ta
Trang 29với nước ngoài (Trung Quốc) Điều đó cũng góp phần tạo nên nền văn hóa đặc trưng của người dân xứ Lạng nói chung, người Tày bản địa nói riêng
Đặc điểm kinh tế: cũng như người Tày ở các tỉnh thành, khu vực khác
trong cả nước, người Tày ở Lạng có nền nông nghiệp truyền thống với cây lúa nước làm chủ đạo Ngoài ra cư dân Tày ở xứ Lạng cũng trồng các loại hoa màu, cây ăn quả khác Nhiều giống cây thể hiện đặc trưng của vùng biên giới , chẳng hạn như giống ngô ngọt của Trung Quốc được bà con sử dụng gieo trồng và ngày càng trở nên phổ biến Giống thuốc lá sợi vàng ở Lạng Sơn cũng nổi tiếng là thơm ngon (đặc biệt là khu thuốc lá Bắc Sơn), đem lại hiệu quả kinh tế không nhỏ cho cho người dân nơi đây trong đó có đồng bào người Tày Bên cạnh những cây lâu năm được đồng bào Tày trồng phổ biến ở các địa phương người Tày ở Lạng sơn còn trồng phổ biến một loại cây lâu năm là cây hồi Loại cây này đã trở thành một trong những biểu tượng đặc trưng của Lạng sơn (như người ta vẫn nhắc: hương hồi xứ Lạng) Hồi thường được trồng theo hình thức chuyên canh thành những đồi hồi, rừng hồi Sản phẩm chú yếu được khai thác ở loại cây này là quả hồi, nhằm đem bán qua biên giới cho người Trung Quốc chưng cất dầu hồi Nhiều địa phương đã tìm tòi được giống cây hồi có khả năng sinh trưởng nhanh, cho quả to, chất lượng (ví dụ như huyện Văn Quan và một số xã của huyện Cao Lộc) Ngoài ra, người Tày
ở Lạng Sơn cũng trồng phổ biến các loại cây ăn quả; trong đó những loại cây
đã trở thành thương hiệu trong vùng hoặc cả nước như: quýt Bắc Sơn, mận Mẫu Sơn, hồng Bảo Lâm (Cao Lộc)… Người Tày ở Lạng Sơn đã biết áp dụng phần nào tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, canh tác Họ đã sử dụng khá rộng rãi các loại máy cày, máy bừa, máy tuốt lúa và một số công cụ, máy móc khác phụ vụ tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp phần lớn đó là những loại máy móc đơn giản, thuận tiện cho sử dụng hoặc được nhập từ biên giới Trung Quốc với giá phù hợp với điều kiện kinh tế của người nông dân
Trang 30Trong ăn uống, ẩm thực: người Tày ở Lạng Sơn được biết đến với các
loại bánh đặc biệt, ngon, độc đáo và dường như chỉ có ở xứ Lạng hoặc có ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng hơn cả vẫn phải là xuất xứ ở Lạng Sơn Trong đó
phải kể đến các loại bánh như: bánh chưng đen (pẻng chưng đăm),bánh chưng cẩm (pẻng chưng căắm) , bánh ngải (pẻng nhả ngaái), cơm lam (khẩu lam hay boóc lam)…Ngoài ra người Tày ở Lạng Sơn vẫn có những tục lệ , truyền
thống nhất định trong ăn uống như những cộng đồng Tày ở các tỉnh, thành, khu vực khác
Nhà ở của người Tày xứ Lạng về cơ bản vẫn theo lối kiến trúc của
đồng bào người Tày ở nhiều vùng nói chung Trong đó chủ yếu là nhà kiểu 4 mái, 2 mái chính và 2 mái phụ ở hai đầu hồi để che cho 2 chái, mái lợp bằng ngói máng hay còn gọi là ngói âm dương Nhà ở được che xung quanh, quây buồng ngủ hay ngăn ra thành nhiều ngăn bởi những mảnh ván gỗ ghép lại với nhau hoặc những tấm liếp nứa lồng trong đố tre Sàn nhà bằng gỗ hoặc mai được chẻ đều ngâm bùn trong vài tháng sau đó phơi nắng trước khi sử dụng
để tránh mối, mọt Tường rào quanh nhà (rược) của người Tày ở Lạng Sơn
thường được làm bằng cây xương rồng Đó là điểm khác biệt so với tường rào quanh nhà của người Tày ở các vùng miền khác – thường làm bằng đá xếp chồng lên nhau
Trang phục truyền thống của người Tày tương đối đơn giản so với các
dân tộc khác và có nhiều nét giống với trang phục truyền thống của người
Nùng Ngày thường, đàn ông Tày mặc áo cánh (slửa cỏm) may theo kiểu 4 thân, cổ áo tròn và cao, không có cầu vai Quần (khóa) của đàn ông thuộc loại
đũng chéo hay còn gọi là quần chân què Ống quần rộng, dài tới mắt cá chân,
cạp quần to kiểu lá tọa Giầy (hài) khâu bằng vải, có mũi tròn, cổ cao, dùng dây buộc Guốc (khuc hay khuốc) làm từ gỗ hoặc gốc tre bổ đôi, mỗi mảnh
dùi 3 lỗ bố trí theo hình tam giác và luồn vào đó 2 đoạn dây tết bằng dây rừng
Trang 31hoặc nan tre nứa tạo thành hình chữ V Loại guốc này dùng cho cả nam và nữ Tuy nhiên những năm gần đây giầy và guốc đã ít xuất hiện (thậm chí biến mất hoàn toàn) trong cuộc sống sinh hoạt của người Tày ở Lạng sơn Y phục của phụ nữ Tày (ở Lạng Sơn nói riêng và của đồng bào người Tày nói chung) tương đối phức tạp so với y phục của nam giới cùng dân tộc Nét độc đáo và
đặc sắc nhất trong bộ nữ phục Tày là chiếc áo dài (slửa rì) Áo trùm quá đầu
gối, che đến nửa ống chân, được may theo kiểu 5 thân, xẻ nách, cài cúc bên phải với 5 chiếc cúc tròn theo kiểu nụ vối làm bằng đồng hoặc tết bằng dây vải, thân áo nhỏ và hơi thắt eo, ống tay áo hẹp và liền với thân áo, cổ áo tròn
và cao Áo cánh ngắn (slửa cỏm) là loại áo 4 thân, xẻ ngực cổ tròn, phần dưới vạt trước có 2 cái túi Váy ống (slửn hay xổng) có màu chàm hoặc màu đen tương tự như loại váy của phụ nữ Việt Thắt lưng (rặng) là một mảnh vải hình
chữ nhật, loại khổ hẹp, dài khoảng 2 sải tay, rộng trọn khổ, chừng một gang tay Khi sử dụng, họ gập ba hay gập bốn tấm vải theo chiều dọc, quấn bên ngoài áo dài 2 -3 vòng xung quanh eo rồi thắt mối ở sau lưng cho hai đầu của
nó buông thõng xuống phía dưới Khăn đội đầu (khân) có màu chàm hoặc
màu đen, gồm hai bộ phận khác nhau là khăn trong và khăn ngoài Khăn trong
được gọi là khăn ngang (khân queng), khăn ngoài được gọi là khăn vuông
(khân puồng) Ngoài ra cũng có thêm các phụ kiện như dây xà tích, vòng tay (mijằm)…
Tổ chức bản làng của người Tày ở Lạng Sơn khá đông đúc Tên bản
làng ở nhiều nơi vẫn giữ như cách gọi có từ xa xưa (thường là bằng tiếng Tày) Nhưng ở nhiều nơi, nhất là ở những nơi giáp với các trung tâm huyện, thị, biên giới tên gọi của các bản làng đã được thay đổi theo hướng Kinh hóa với những cái tên mới hơn, lạ hơn, mang tính hình thức hơn so với tên gọi
cũ
Trang 32Cưới xin: ở một số địa phương vẫn còn tục ở rể nhưng là được nhìn
nhận ở góc độ thoáng hơn và có nhiều điểm tích cực Dù là ở rể nhưng con rể thời nay bình đẳng, được gia đình và xã hội thừa nhận như một hiện tượng bình thường Những gia đình người Tày không có con trai sẽ lấy rể vào nhà, con cái sinh ra sau này (cháu) sẽ mang họ nhà gái ( họ của mẹ) Chính vì lẽ
đó nhiều ở nhiều địa phương đồng bào người Tày tự giác thực hiện rất tốt chính sách dân số, dừng lại ở 2 con (kể cả là 2 con gái); không quá coi trọng việc phải bắt buộc có con trai “nối dõi tông đường” Đó cũng là một điều mang ý nghĩa tích cực Tuy nhiên việc cưới gả, dù là lấy rể thì vẫn theo phong tục truyền thống: bên nào gả con (làm dâu, làm rể) thì sẽ nhận được sính lễ,tiền bạc từ nhà bên cưới con (con dâu, con rể sẽ ở nhà đó) Ở nhiều địa phương người Tày đã dứt bỏ hoàn toàn việc mê tín dị đoan, coi tuổi, bói toán trong cưới gả Mà hôn nhân là sự tự nguyện, bình đẳng của nam nữ
Ma chay: đám ma của người Tày ở Lạng Sơn thường diễn ra trong
vòng ba hoặc bốn ngày tùy vào việc chọn được ngày tốt để ra ma Với đặc trưng của đồng bào miền núi, người chết thường được chôn cất ở trên khu rừng hoặc quả đồi của nhà mình Nghi lễ đám ma diễn ra khá cầu kì, phức tạp
Người chết được gia đình thể hiện lòng tưởng nhớ bằng cách lập bàn thờ và tổ chức cúng giỗ Người mất được thờ ở bàn thờ nhỏ, thấp hơn bàn thờ
lớn, thờ tổ tiên (sựa sòi) để chính giữa nhà; sau giỗ ba năm mới được chuyển
lên bàn thờ lớn, nhưng vẫn phải xếp theo trật tự, vai vế trường hợp người mất
là đàn bà khi đã thờ ở bàn thờ nhỏ được ba năm nhưng người chồng vẫn còn sống thì người vợ đã mất cũng chưa được chuyển lên bàn thờ lớn mà vẫn phải được thờ ở bàn thờ nhỏ đến khi nào người người chồng mất, được ba năm cả hai người mới được chuyển lên bàn thờ lớn Đồng bào Tày tổ chức cúng giỗ người chết theo trình tự thời gian là 49 ngày, 100 ngày, một năm, ba năm
Trang 33(mãn tang); sau ba năm là giỗ thường niên vào đúng ngày mất của người quá
cố
Tiếng tày ở Lạng Sơn có sự khác biệt tương đối rõ giữa các địa phương
trong tỉnh Ở một số địa phương như các huyện Văn Lãng, Tràng Định, Văn quan, tiếng Tày nghe nhẹ nhàng, có ngữ điệu mềm mại và hầu như vẫn giữ được những từ trong tiếng Tày cổ xưa Còn ở một số nơi như các huyện Bắc sơn, Chi Lăng, Hữu Lũng tiếng Tày thường có ngữ điệu kém mềm mại hơn và
bị kinh hóa nhiều hơn
Lạng sơn cũng được biết đến với nhiều di tích như hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Bình Gia), cửa ải Chi Lăng, khu du kích Bắc Sơn…đều
là những khu vực có phần đông đồng bào Tày sinh sống Điều đó ít nhiều đã
có tác động góp phần hun đúc nên truyền thống yêu quê hương, đất nước của người xứ Lạng nói chung và của đồng bào người Tày nơi đây nói riêng Trong những năm tháng chiến tranh , đồng bào người Tày đã góp sức cho quê hương, đất nước biết bao sức người, sức của, vật chất, tinh thần Có biết bao anh hùng, liệt sĩ là người Tày đã anh dũng hi sinh góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Trong đó tiêu biểu có chiến sỹ công sản Hoàng Văn Thụ người con kiên trung của dân tộc Tày Lạng Sơn, người có nhiều cống hiến cho cách mạng Việt Nam Ông đã từng giữ đến chức bí thư xứ ủy Bắc Kì Sau nhiều năm hoạt động cách mạng, ông bị bắt, tù đày và bị xử tử hình Ngay cả đến lúc ra pháp trường, ông vẫn hiên ngang giữ vững tinh thần
“ngọc nát còn hơn giữ ngói lành”, không khuất phục kẻ thù và luôn tin tương vào sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tinh thần đó vẫn mãi được các thế
hệ mai sau (trong đó có đồng bào người Tày) học tập và phát huy
Văn nghệ dân gian của người Tày ở Lạng Sơn cũng phong phú với các
điệu hát then, hát lượn, foongsư, Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn
Trang 34then, lượn nàng ới là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở các địa
phương trước đây Nhưng nay đã bị thu hẹp dần
Người Tày ở Lạng Sơn cũng có các lễ hội như hội Lồng Tồng (một số
nơi gọi là Lồng thồng), lễ hội nàng trăng (ngày hai) – một lễ hội cầu mùa diễn
ra với những nghi thức độc đáo và đặc sắc Họ cũng có các trò chơi dân gian như : thi kéo co, thi đi cà kheo (pây mạ điếng), chơi cầu lá (làm từ lá dứa dại
– người Tày gọi là tả khừ), thi bắn nỏ (thi bẳn ná)
Lễ tết của đồng bào người Tày xứ Lạng cũng rất phong phú Tết
nguyên đán (tết cái) là dịp tết lớn nhất trong năm Sau đó là các dịp : tết thanh minh (đắp nhí khẳm tam), mùng 5 tháng năm (so hả bươn hả), mùng 5 tháng mười (so hả bươn sất), mùng 10 tháng mười ( so thíp bươn thíp)… mỗi
dịp lễ tết lại gắn với một loại bánh trái đặc trưng cho từng vụ mùa, từng địa phương
Trang 35CHƯƠNG 2: KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY Ở LẠNG SƠN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ
NGUYÊN NHÂN 2.1 Thực trạng của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện nay
Trong lịch sử hàng ngàn năm của mình, các bộ phận người Tày ở Lạng Sơn phát triển theo mạch vừa tụ cư - định cư vừa di cư - lan tỏa từ khắp các địa bàn rộng lớn Chính điều này đã làm cho họ luôn phải tiếp xúc với mọi loại hình ngôn ngữ, văn hóa của những người thuộc nhóm tộc khác mình Trong bối cảnh đó, người Tày vừa theo mạch vừa bảo lưu những nét cơ bản nhất ngôn ngữ, văn hóa mang tính gốc gác nhóm tiếng Tày Vừa mở rộng vừa tiếp thu, chọn lọc nhuần nhuyễn mọi luồng, làm cho ngôn ngữ, văn hóa của mình luôn đổi mới, khác với những biểu hiện của người Tày xưa Chính điều này, đã hình thành quy luật phổ biến về sự phát triển văn hóa lịch sử của người Tày
Với bản lĩnh của một dân tộc qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Tày ở Lạng Sơn đã khẳng định được vị trí của mình và khẳng định một nền văn hóa Tày với những đặc trưng của một nền văn hóa dân tộc thiểu
số, trên cơ sở đó hình thành một hệ thống các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở Lạng Sơn Tuy nhiên, những năm gần đây do tác động của nhiều nhân tố khác nhau cho nên kinh tế - xã hội của người Tày ở Lạng Sơn có những biến đổi về mọi mặt… Đặc biệt, là xu thế toàn cầu hóa cũng như cơn lốc của cơ chế thị trường đã dần đi vào từng ngõ ngách của đời sống
xã hội, thì đồng bào dân tộc Tày ở Lạng Sơn cũng bắt đầu tiếp cận với xu thế chung này Bên cạnh rất nhiều những ưu thế mà nó đem lại cho đời sống của
họ, thì mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần, cũng như tộc người này đang đứng trước những nguy cơ đe dọa về sự mai một của
Trang 36bản sắc văn hóa dân tộc Đứng trước thực trạng đó, các cấp ngành trực tiếp và liên quan tới văn hóa và các hoạt động văn hóa, cũng như chính quyền địa phương tỉnh Lạng Sơn đã có chủ trương, những chương trình nhằm giữ gìn, phục hồi một số giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số trong tỉnh (trong đó
có dân tộc Tày) Song, trên thực tế việc triển khai thực hiện diễn ra rất chậm chạp, chủ yếu mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao Do đó việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Tày vẫn đứng trước nguy cơ mất dần bản sắc
Trong quá trình sáng tạo ra văn hóa của dân tộc mình, người Tày đã có nhiều thế kỷ sống hòa vào trong sự cân bằng của môi trường tự nhiên, và tạo lập được hệ sinh thái nhân văn của mình Người Tày xưa với mô thức khai thác theo truyền thống cổ truyền hết sức hợp lý, vừa khai thác vừa đảm bảo được sự tái hiện thiên nhiên với dáng vẻ tự nhiên vốn có của nó Tuy nhiên bên cạnh việc trồng lúa nước, người Tày ở Lạng Sơn cũng như người Tày ở nhiều địa phương khác vẫn làm nương rẫy, mô thức văn hóa của họ vì thế luôn biểu hiện tính hai mặt: một mặt, nó đã đem lại cho con người khá nhiều sản phẩm, kể cả nhu cầu về lương thực mà đồng ruộng không đáp ứng được Nhưng mặt tiêu cực của nó lại lớn hơn rất nhiều, đó là sự triệt phá rừng bừa bãi chỉ biết tước bóc tự nhiên, không cho nó có sức hồi sinh vô tận Bên cạnh việc khai thác, do nhu cầu của đời sống con người đã phá vỡ thế luân canh truyền thống, rừng xanh bị san trụi, đã làm cho sự cân bằng hệ sinh thái nhân văn của đứng trước nguy cơ bị phá vỡ Văn hoá của người Tày ở Lạng Sơn cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ nạn bùng nổ dân số theo tự nhiên và cơ học Xưa, “đất rộng người thưa” thì ngày nay “người đông đất chật” Những năm gần đây, tỉ lệ sinh của người Tày tuy đã giảm nhưng chưa đáng kể (năm 1999 người Tày ở Lạng Sơn mới có 252.800 người,chiếm 35,92% dân số của tỉnh
và 17,11% tổng số người Tày ở Việt Nam thì đến năm 2009 số người Tày ở