1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại xã phú linh, huyện vị xuyên, tỉnh hà giang

13 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 99,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, chỉ ra thực trang sử dụng đất củ vùng, ưu nhược điểm về việc sử dụng đất và từ đó nghiên cứ một số giải pháp để sử dụng đất có hiệu quả tốt nhất

Trang 1

Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại xã Phú

Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là một tài nguyên đặc biệt quan trọng, là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Do đó, việc sử dụng đất đai có hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai hiệu quả và bền vững là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, con người vẫn chưa biết tận dụng khai thác hết khả năng sử dụng của đất đai, đôi khi vẫn còn sử dụng bừa bãi, hoang phí, sai mục đích đã làm cho chất lượng đất đai ngày càng giảm sút Ngoài ra, tình trạng phá rừng vẫn còn xảy ra, kéo theo những hậu quả nặng nề như: lũ lụt, hạn hán, huỷ hoại môi trường sinh thái Mặt khác dân số gia tăng kéo theo hàng loạt các nhu cầu về đất để xây dựng cơ sở sản xuất, hạ tầng xã hội, an ninh quốc phòng trong khi đó đất đai lại có hạn, nên

đã dẫn đến tình trạng diện tích đất dùng để sản xuất ngày càng bị thu hẹp, nhất

là đối với đất nông lâm nghiệp Đòi hỏi các ngành, các cấp, các lĩnh vực có liên quan phải có biện pháp quản lý và sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý, có hiệu quả và sử dụng tối đa quỹ đất quốc gia để phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và xã hội dựa trên nguyên tắc ưu tiên đất đai cho mục đích sản xuất nông lâm nghiệp, chú ý bảo vệ và cải tạo độ màu mỡ của đất, bảo vệ môi trường, tận dụng hết tiềm năng mà đất đai mang lại Để làm được những điều

đó, cần phải lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cụ thể ở tất cả các ngành và các cấp từ Trung ương đến địa phương Thông qua công tác quan trọng hàng đầu cần được triển khai đó là nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất, để từ

đó có phương hướng sử dụng và quản lý đất đai trong tương lai có hiệu quả xã Phú Linh diện tích đất chủ yếu được người dân sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhưng hiệu quả sử dụng đất ở đây vẫn chưa hợp lý

Mặt khác,Phú Linh là một xã miền núi nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp nên đời sống người dân nơi đây còn nhiều khó khăn Nhằm có được các sản phẩm cây trồng nông nghiệp, lâm nghiệp năng suất cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sử dụng đất bền vững, tôi tiến hành nghiên cứu

chuyên đề: “Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp

sử dụng đất hiệu quả tại xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.”

Trang 3

PHẦN I TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Khoa học về đất đai đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu về phân loại đất đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả

Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 6 tỷ người, theo tài liệu của FAO thì trên thế giới đang sử dụng khoảng 1.5tỷ (ha) đất nông nghiệp, trong đó đất đồi núi là 937 triệu (ha) (chiếm 65.9%) Trong quá trình sử dụng nhân loại đã làm

hư hại khoảng 1.4ha đất The Norman Myers, (Gaian atlas ò planet management, London, 1993) ước lượng hàng năm toàn cầu mất khoảng 11triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xói mòn, xa mạc hóa, nhiễm độc hoặc bị chuyển hóa sang các dạng khác

Tiếp theo những thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học đất, công tác đánh giá đất đai đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm Các phương pháp đánh giá đất mới đã dần dần phát triển thành lĩnh vực nghiên cứu liên ngành mang tính hệ thống tài nguyên kinh tế xã hội nhằm kết hợp các kiến thức khoa học về tài nguyên đất và sử dụng đất

Ở Đức, tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “ khái niệm” về sử dụng đất khác nhau, đây được coi là lý thuyết sinh thái về quy hoạch sử dụng đất dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giũa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh Từ năm

1967 Hội đồng nông nghiệp châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăm sóc, chế biến nhỏ, Cũng như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên quy hoạch sử dụng đất đai Năm 1971 và năm 1975, các chuyên gia tư vấn họp tại Roma (Italia) và Geneve (Thụy sĩ) để thảo luận về phương pháp luận về quy hoạch nông thôn

Trang 4

Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập các phương pháp cùng tham gia các quy hoạch cấp vĩ mô

Những kết quả phân tích hệ thống canh tác tại châu Á, châu Phi và Nam

Mỹ đã xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ quy hoạch, lập

kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp địa phương Năm 1990, Luning đã nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất

Ở Ấn Độ và các vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi thường áp dụng phương pháp tham biến, biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng phương trình toán học Kết quả phân hạng đất đai cũng được thể hiện ở dạng % hoặc cho điểm

Sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt cho nhu cầu của con người, cũng như có thể giúp bảo vệ tài nguyên mà trong tương lai công tác nghiên cứu về đất và đánh giá đất đã thực hiện từ khá lâu và được xem như là những nỗ lực ban đầu và quan trọng của nền khoa

học-kỹ thuật loài người Những nghiên cứu này khởi đầu trên phạm vi quốc gia, trên toàn thế giới Hiện nay những kết quả và những thành tựu về nghiên cứu đất và đánh giá đất đai đã được cộng đồng của các tổ chức liên hiệp quốc (FAO, UNESCO…) như tài sản tri thức chung của nhân loại, [9]

Những kiến thức về đất được tích lũy từ khi nghề nông bắt đầu phát triển, tức là từ lúc con người chuyển từ thu lượm thực vật hoang dại sang trồng trọt ở đồng ruộng và bắt đầu canh tác đất, trong sản xuất họ không ngừng quan sát đất, ghi nhớ các tính chất đất Những kiến thức đó được tích lũy từ đời này qua đời khác cùng với sự phát triển của khoa học, chúng được đúc kết lại và nâng cao,

đó là nguồn sinh ra khoa học thổ nhưỡng

Những kinh nghiệm đầu tiên về đất được tích lũy từ thời cổ Hy-lạp.”Sự phân loại đất” độc đáo thấy trong các tuyển tập của những nhà triết học cổ đại Hy-lạp Aritos, Teoflast Các ông lúc bấy giờ đã chia ra đất tốt, đất phì nhiêu và đất cằn cối, không phì nhiêu Tuy vậy, thổ nhưỡng phát triển thành một khoa học muộn hơn nhiều

Trang 5

Webb và Tracey (1969) trong rừng Nula nhiệt đới ở Úc sinh trưởng của thực vật phục thuộc vào đá mẹ, độ ẩm của đất, trong rừng thứ sinh một số nhân

tố quan trọng là độ dày tầng đất, thành phần cấp hạt, CaCO3, hàm lượng mùn và đạm (dẫn theo Ngô Đình Quế, 2008) [8]

Ormand và Will khi nghiên cứu sau khai thác rừng P Radiata với chu kỳ ngắn đã cho thấy đất rừng bị thoái hóa khá rõ Năm 1978 Turvey cũng cho biết

khi thay thế rừng tự nhiên bằng P.radiata với chu kỳ 15 - 20 năm sản lượng 400

m3/ha đã làm giảm độ phì đất do khai thác Hơn nữa do thảm thực mục rừng thông khó phân giải nên làm chậm quay vòng các chất khoáng ở các dạng lập địa này (dẫn theo Phạm Văn Điển), [4]

Độ phì của đất đóng vai trò cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất cây trồng Ngược lại các loài cây khác nhau cũng có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì đất Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề này và mới chỉ nghiên cứu cho từng đối tượng

cây trồng cụ thể Mối quan hệ giữa sinh trưởng của Tếch (Tectona grandis) và

một số yếu tố đất được xây dựng thông qua phương trình: R = 1/3 (P x S) (Week, 1970) [16], trong đó R là lượng tăng trưởng hàng năm (m3/ha); P là độ dày của tầng đất (cm) và S là độ no bazơ (mg/100 đất)

Chakraborty R N và Chakraborty D (1989) đã nghiên cứu về sự thay đổi tính chất đất dưới rừng Keo lá tràm ở các tuổi 2, 3 và 4, các tác giả cho rằng rừng trồng Keo lá tràm cải thiện đáng kể một số tính chất độ phì đất như độ chua của đất biến đổi 5,9 - 7,6; khả năng giữ nước của đất tăng từ 22,9% lên 32,7%, chất hữu cơ tăng

từ 0,81% lên 2,70%, đạm tăng từ 0,36 lên 0,50% và đặc biệt màu sắc của đất cũng biến đổi một cách rõ rệt từ màu nâu vàng sang màu nâu, [6]

1.2 Ở Việt Nam

Khái niệm công việc đánh giá đất, phân hạng đất cũng có từ lâu

Trong thời kỳ phong kiến, thực dân để tiến hành thu thuế đất đai, đã có sự phân chia “ Tứ hạng điền – Lục hạng thổ”

Sau hòa bình lập lại năm 1954 ở phía bắc, vụ quản lý ruộng đất và Viện nông hóa thổ nhưỡng rồi sau đó là Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã có

Trang 6

những công trình nghiên cứu và quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý độ màu mỡ của đất và xếp hạng thuế đất nông nghiệp dựa vào các chỉ tiêu chính về điều kiện sinh thái và tính chất đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp Đất đã được phân thành 5-7 hạng theo phương pháp xếp điểm Nhiều tỉnh đã xây dựng các bản đồ phân hạng đất đai đến cấp xã, góp phần đáng kể cho công tác quản lý đất đai trong giai đoan kế hoạch hóa sản xuất

Những năm gần đây, công tác quản lý đất đai trên toàn quốc đã đang được đẩy mạnh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển KT – XH từ cấp quốc gia đến vùng và tỉnh, huyện, đòi hỏi ngành quản lý đất đai có những thông tin về dữ liệu về tài nguyên đất và khả năng khai thác, sử dụng đất hợp lý lâu bền đất sản xuất nông lâm nghiệp Công tác đánh giá đất không chỉ dừng lại

ở mức độ phân hạng chất lượng tự nhiên của đất mà phải chỉ ra được các loại hình sử dụng đất phù hợp cho từng hệ thống sử dụng đất khác nhau với nhiều đối tượng cây trồng lâm nghiệp khác nhau

Vì vậy, các nhà khoa học đất cùng với các nhà quy hoạch, quản lý đất đai trong toàn quốc tiếp thu nhanh chóng tài liệu đánh giá đất của FAO, những kinh nghiệm của các chuyên gia đánh giá đất quốc tế ứng dụng từng bước cho công tác đánh giá đất ở Việt Nam Gần 10 năm qua, hàng loạt các dự án nghiên cứu, các chương trình thử nghiệm ứng dụng quy trình đánh giá đất theo FAO được tiến hành ở cấp từ vùng sinh thái đến tỉnh, huyện và tổng hợp thành cấp quốc gia

đã được triển khai từ bắc đến nam và đã thu được kết quả khả quan

Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp cấp xã được thực hiện từ năm 1993 tại: xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình cho dự án đổi mới chiến lược phất triển lâm nghiệp thực hiện Sau đó, dự án đã tổng hợp những bài học kinh nghiệm và rút ra được công tác quy hoạch sử dụng đất được coi là nội dung chính cần được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị làm kế hoạch và giao đất có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản và chính quyền xã Cần phải có kế hoạch chi tiết, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch

Trang 7

Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam- Thụy Điển giai đoạn 1996 -2001 trên phạm vi của 5 tỉnh Lào Cai, Yên Bái , Hà Giang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông, lâm cấp xã trên cơ sở phát triển cấp thôn bản và hộ gia đinh Theo Bùi Đình Toán và Nguyễn Hải Nam năm 1998 tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình PRA để tiến hành quy hoạch sử dụng đất : tỉnh Hà Giang để xây dựng quy hoạch kế hoạch và

sử dụng đất 3 cấp : xã , thôn và hộ gia đình, đến năm 1998 trên toàn vùng dự án

có 78 thôn bản được quy hoạch sử dụng đất theo phươg pháp có người dân tham gia Phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người dân sử đất với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn Tuy nhiên, chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ chủ chương của nhà nước với nhu cầu nguyện vọng của người dân Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra một phương pháp quy hoạch tại địa phương với sự kết hợp hài hòa giữa ưu tiên của chính phủ và nhu cầu của cộng đồng

*Những nghiên cứu về đất rừng

Nghiên cứu đất rừng mang những đặc trưng rõ nét mà các nhà nghiên cứu đều quan tâm chú ý đó là mối quan hệ hữu cơ giữa đất và thảm thực vật rừng, tức ảnh hưởng của đất tới rừng và ngược lại ảnh hưởng của rừng tới đất Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới khí hậu nóng ẩm, bởi vậy sự phân bố của thực vật vô cùng phong phú Trước đây, khi rừng còn chiếm 3/4 diện tích đất nước, hầu hết các loài thực vật nhiệt đới đều có mặt ở các loại đất Việt Nam Hiện nay rừng bị tàn phá, nhiều loài thực vật đã bị suy giảm nghiêm trọng, một số loài có nguy cơ tuyệt chủng Nhất là những loài thực vật quí hiếm, có tác dụng làm thuốc hoặc có giá trị kinh tế cao

Năm 1997, chương trình môi trường liên hợp quốc đã đánh giá tổng thể về thoái hóa đất ở 17 quốc gia Đông Nam á Với sự tham gia của Việt Nam (Thái Phiên, Nguyễn Tử Xiêm, UNEP, 1997) Hai mươi tiêu thức được sử dụng để đánh giá các kiểu thoái hóa và lập bản đồ toàn vùng, trong đó chú trọng đến thoái hóa do con người gây ra về quy mô, tốc độ, nguyên nhân và ảnh hưởng của quá trình này đến sức sản xuất của đất Kết quả cho thấy rằng bên cạnh xói mòn

Trang 8

rửa trôi do nước thì thoái hóa hóa học đất Việt Nam là khá nghiêm trọng so với các nước trong vùng Nhận thức được những đặc điểm quan trọng này, trong nhiều thập kỷ qua khoa học đất đã tạo ra cơ sở khoa học và đề xuất nhiều giải pháp kỹ thuật để khắc phục các mặt hạn chế hóa học của độ phì nhiêu, chuyển hóa độ phì nhiêu hữu hiệu

Độ phì nhiêu của đất đóng vai trò cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của các thảm thực vật rừng và cây trồng Ngược lại các thảm thực vật rừng khác nhau cũng có ảnh hưởng đến độ phì đất rất khác nhau Vì vậy, duy trì và và làm tăng độ phì đất là yếu tố then chốt để làm bền vững tài nguyên đất Nguyễn Ngọc Bình (1970) nghiên cứu sự thay đổi các tính chất và độ phì của đất qua các quá trình diễn thế, thoái hóa và phục hồi rừng của các thảm thực vật ở Miền Bắc Việt Nam cho thấy độ phì đất biến động rất lớn ứng với mỗi thảm thực vật, thảm thực vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì độ phì đất [1]

Sự phát triển nông lâm nghiệp có liên quan chặt chẽ đến vấn đề sử dụng và quản lý đất Việc xác định danh giới giữa đất rừng và đất nông nghiệp là hoàn toàn tương đối, vì trên thực tế không có một loại đất chỉ phù hợp với một loại cơ cấu cây trồng, điều này lại càng đúng với vùng đồi núi Đất rừng và rừng là hai yếu tố tác động qua lại lẫn nhau, do đó phương thức quản lý đất canh tác, đất rừng thích hợp nhất là tăng cường độ phủ xanh bằng hệ canh tác nông lâm kết hợp, hoặc cây nông nghiệp với phương thức xen canh, luân canh Với phương thức đó, không những làm đa dạng hóa sản phẩm cho nông dân, mà còn bảo vệ được đất, hạn chế xói mòn và tạo được lượng phân xanh từ tàn dư cây trồng trả lại cho đất nhằm duy trì và nâng cao độ phì nhiêu của đất

Nếu con người tác động làm thay đổi thảm che từ rừng tự nhiên bằng các rừng trồng cũng làm cho độ phì đất thay đổi Qua nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình (1980), Hoàng Xuân Ý(1973) đã chứng tỏ sự thoái hóa lý tính và chất hữu

cơ ở tầng mặt nếu phá rừng gỗ tự nhiên để trồng rừng luồng và tre [2],[4]

Các phương thức khai thác phục hồi rừng khác nhau đã ảnh hưởng trực tiếp đến độ phì đất, kết quả nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm (1985) cho thấy đối với đất

Trang 9

Badan ở Kon Hà Nừng thì cường độ khai thác mạnh (40 – 50%) thậm chí gần như khai thác kiệt thì độ phì đất có giảm nhưng không lớn và khả năng phục hồi

độ phì cũng khá cao do địa hình bằng phẳng và đất mau chóng được che phủ bởi lớp thực vật tầng dưới Đối với đất có độ phì khá lớn, thành phần cơ giới nhẹ, độ dốc lớn ở Quỳ Châu thì sau 20 năm chặt trắng độ phì đất giảm đi rõ rệt so với đối chứng và sau 20 năm độ phì đất chưa thể khôi phục được mặc dù rừng mới

đã che kín đất Đối với đất có thành phần cơ giới nặng hơn, độ dốc lớn, phát triển trên phiến thạch sét ở Hương Sơn, qua một năm chặt cường độ 40% cho thấy độ phì đất giảm so với đối chứng 15% [11]

Nghiên cứu ảnh hưởng của thảm thực vật rừng đến tính chất hóa sinh của đất ở Bắc Sơn của Nguyễn Trường và Vũ Văn Hiển (1997) đã chứng minh rằng tính chất hóa học đất thay đổi phụ thuộc vào đọ che phủ của thảm thực vật Ở những nơi có độ che phủ thấp tính chất của đất biến đổi theo xu hướng xấu Đất

bị chua hóa, tỷ lệ mùn, hàm lượng các chất dễ tiêu NH4, P2O5 đều thấp hơn rất nhiều so với đất bị che phủ tốt [12]

Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều 18, chương II) đã quy định : “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo pháp luật , đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả ” điều đó khẳng định tính pháp

lý cao của Nhà nước ta trong việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất

Kết quả đanh giá tài nguyên đất đai, hiện trang sử dụng đất đai được sử dụng trong quy hoạch để xác định tiềm năng đất đai

Như vậy, nghiên cứu đặc tính lý, hóa học dưới tác dụng các trạng thái thực

bì khác nhau đã được nhiều nhà chuyên gia trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu rất công phu, bao gồm thảm che là rừng tự nhiên, rừng nhân tạo, hoặc trảng cỏ, đây là các công trình rất có giá trị về khoa học, cung cấp nhiều thông tin cần thiết trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về đất rừng, để chọn trạng thái che phủ tốt trong khi sử dụng đất, tạo cho đất có độ phì ngày càng tăng và bền vững

Sở khoa học cho việc đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tế

Trang 10

PHẦN II MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất của xã nhằm góp phần đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được những điều kiện thuận lợi, khó khăn trong tình hình sử dụng đất trên địa bàn xã

- Bước đầu đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đai có hiệu quả

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Kết quả nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

2.2.2 Kết quả đánh giá hiện trạng sử dụng đất

- Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng

- Những điều kiện thuận lợi và khó khăn của xã

- Hiện trạng quản lý sử dụng đất trên địa bàn xã

2.2.3 Đề xuất các giải pháp sử dụng đất theo hướng bền vững

- Giải pháp vễ kỹ thuật và công nghệ

- Giải pháp về vốn đầu tư

- Giải pháp về tổ chức và quản lý

- Giải pháp về thể chế chính sách

2.2.4 Hiệu quả dự đoán của phương án đề xuất

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu sẵn có

2.3.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu có sẵn

* Phương pháp kế thừa số liệu có sẵn

Thu thập tài liệu sẵn có bằng phương pháp kế thừa có chọn lọc, điều tra khảo sát thực địa kết hợp với phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)

Những tài liệu cần thu thập gồm :

Ngày đăng: 28/07/2018, 06:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w