Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống bác học và dân gian, văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể” [] Phát huy tru
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nghiêm Đình Vỳ
Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA DÂN GIAN PHÚ THỌ DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO ĐẢNG BỘ TỈNH TRONG 10 NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986 - 1996) 7
1.1 Phú Thọ - nơi hội tụ nhiều di sản văn hóa dân gian đặc sắc 7
1.1.1 Giới thiệu chung về Phú Thọ 7
1.1.2 Di sản văn hóa dân gian đất Tổ - đặc trưng và biểu hiện 11
1.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân gian từ 1986 đến 1996 23
1.2.1 Thực trạng công tác bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân gian đất Tổ trước 1986 23
1.2.2 Chủ trương bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân gian của Đảng bộ Tỉnh từ 1986 đến 1996 25
1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện 30
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA DÂN GIAN TỪ 1997 ĐẾN 2009 35
2.1 Yêu cầu khách quan cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân gian đất Tổ 35
2.1.1 Đặc điểm tình hình Phú Thọ sau khi tách tỉnh 35
2.1.2 Yêu cầu khách quan cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân gian đất Tổ trong điều kiện mới 37
2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân gian từ 1997 đến 2009 42
2.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam 42
2.2.2 Quan điểm của Đảng bộ tỉnh 44
2.2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện 47
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 62
3.1 Nhận xét chung 62
3.1.1 Những thành tựu 62
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
3.2 Kinh nghiệm và đề xuất một số khuyến nghị 79
3.2.1 Kinh nghiệm 79
Trang 53.2.2 Một số khuyến nghị 80
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96
Trang 6QUY ƯỚC VIẾT TẮT
BCH TW: Ban chấp hành Trung ương
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DSVH: Di sản văn hóa
DSVHDG: Di sản văn hóa dân gian
VHDG: Văn hóa dân gian
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp
quốc UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
VH-TT & DL: Văn hóa thể thao và du lịch
KT - XH: Kinh tế, xã hội
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phú Thọ là vùng đất cổ có bề dày truyền thống lịch sử và văn hiến Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, ông cha ta đã cùng nhau đoàn kết để tạo dựng giang sơn và giữ yên bờ cõi Cuộc đấu tranh sinh tồn chống chọi với thiên tai và địch hoạ đã kết tinh những giá trị truyền thống quý báu và hình thành một nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc Mặc dù phải chịu ách thống trị của nhiều kẻ thù xâm lược nhưng những truyền thống đó vẫn được bảo tồn và không ngừng phát triển
Cho đến ngày này, cùng với niềm tự hào về truyền thống cần cù, yêu nước, chống ngoại xâm, dân tộc ta vô cùng vinh dự có đươc những di sản văn hoá (DSVH) mang tầm cỡ thế giới như: Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An…cùng hàng ngàn, hàng vạn di tích, danh thắng quốc gia Đó
là chưa kể những di sản vật thể và phi vật thể nhiều loại hình, nhiều cấp độ đang gắn bó hàng ngày với đời sống người dân các tỉnh, huyện, làng xóm
Di tích, di sản gắn bó như là một phần tất yếu trong cuộc sống của người dân
Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá hiện nay, việc giải quyết ổn thoả mối tương thích giữa bảo tồn và phát triển hiện đang là một vấn đề lớn của sự phát triển nhân loại trên tất cả các lĩnh vực Vấn đề ấy thể hiện rất rõ trong quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá ngày càng mạnh mẽ giữa các quốc gia trên toàn thế giới Sự bùng nổ của hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng, sự hình thành và lan truyền nhiều loại văn hoá, sự xuất hiện và truyền bá nhiều lối sống, cách sống khác nhau đã tạo cơ hội cho sự giao lưu tiếp biến văn hoá, song mặt khác lại đặt ra những thách thức cho việc bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, tộc người trong sự phát triển
Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO với tư cách là thành viên thứ 150,
đã không ít người nhìn nhận những thời cơ, thách thức ở khía cạnh kinh tế
Trang 8mà không quan tâm đến văn hoá - một lĩnh vực rất dễ bị tổn thương và mất mát nhiều nhất trong quá trình hội nhập Nhiều người lo lắng đến sự phá sản của những doanh nghiệp, công ty, tập đoàn kinh tế, mà lại quên rằng những
đổ vỡ, đứt gãy trong truyền thống gia đình, cộng đồng, trong các giá trị văn hoá dân tộc…mới là nguy cơ tiềm tàng và nguy hiểm nhất Không ít quốc gia đã trả giá đắt cho việc quá chú trọng phát triển kinh tế mà coi nhẹ văn hoá, quá quan tâm đáp ứng nhu cầu phát triển hiện đại mà lãng quên truyền thống, di sản, bản sắc văn hoá của mình
Để tận dụng được những thuận lợi, vượt qua được những thách thức, vấn đề đặt ra là phải có được định hướng và giải pháp, nhằm tăng cường mối tương thích giữa bảo tồn và phát triển DSVH dân tộc với phát triển kinh tế - xã hội bền vững Có thể nói, đây không chỉ là một nhiệm vụ cụ thể
mà cũng là định hướng, giải pháp trong việc nghiên cứu xây dựng và phát triển đời sống văn hoá, giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm tới vấn đề giữ gìn các DSVH dân tộc, tạo điều kiện để làm sống dậy mọi tiềm năng như là một nguồn nội sinh mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ xã hội Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII đã nêu rõ khái niệm DSVH và khẳng định nhiệm vụ bảo tồn và phát triển các DSVH trong bối cảnh mới ở nước ta: “DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể” []
Phát huy truyền thống là vùng cội nguồn của nền văn hoá dân tộc, hoà vào không khí chung của cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Phú Thọ đã hăng hái hưởng ứng tham gia, góp phần xứng đáng cùng toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp bảo tồn, phát triển DSVH, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc
Trang 9Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng vị trí của nền văn hoá dân gian đất Tổ trong DSVH Việt Nam, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy di sản văn
hoá dân gian từ 1986 đến 2009” với mong muốn góp phần vào việc đáp
ứng yêu cầu tìm hiểu, nghiên cứu một số vấn đề về tỉnh Phú Thọ, đặc biệt nghiên cứu đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới được Đảng bộ Phú Thọ quán triệt vận dụng trên lĩnh vực văn hoá
2 Tình hình nghiên cứu
Đảng bộ Phú Thọ cũng như các Đảng bộ tỉnh khác là một mắt xích quan trọng trong việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến từng địa phương Vì vậy, đề tài nghiên cứu về Đảng bộ đã được quan tâm và đánh giá đúng trong những năm gần đây
Những đề tài Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chủ yếu đã được khai thác về
lịch sử Đảng bộ qua các giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và lãnh đạo nhân dân những năm đầu đổi mới Nội dung này được thể hiện qua hai cuốn tư liệu của nhà xuất bản Chính trị quốc gia:
- BCH Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử Đảng bộ Phú Thọ, tập I (1939
- 1968), Nxb Chính trị quốc gia
- BCH Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử Đảng bộ Phú Thọ, tập II (1969
- 2000), Nxb Chính trị quốc gia
Trên lĩnh vực văn hoá dân gian nói riêng, đã có nhiều nhà khoa học,
nhà văn hoá quan tâm nghiên cứu văn hoá vùng đất Tổ, tìm ra những nét riêng biệt về tập quán sinh hoạt cộng đồng, ngành nghề thủ công, đời sống vật chất, tinh thần, tín ngưỡng của cư dân vùng Lạc Việt như các tác phẩm:
Trang 10- Phú Thọ, quê hương đất Tổ, Sở Văn hóa thông tin thể thao Phú Thọ…
Những công trình nghiên cứu trên là những nguồn tư liệu quý báu gợi
mở giúp tác giả tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của luận văn Tuy nhiên, đa số các tác phẩm trên đều mới chỉ khai thác VHDG tỉnh gắn liền với văn hoá - nghệ thuật nói chung, chưa thực sự có một công trình khoa
học nào tập trung nghiên cứu về: Đảng bộ Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo
tồn, phát triển VHDG
3 Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích: Đề tài tập trung làm sáng tỏ quan điểm đường lối và các
Nghị quyết của Đảng bộ Phú Thọ về lĩnh vực bảo tồn và phát huy DSVH đất Tổ Quá trình tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác bảo tồn, phát triển DSVHDG trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến 2009) - nền văn hoá dân gian gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước Từ đó rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số khuyến nghị, góp phần nâng cao hiểu biết về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của tỉnh Phú Thọ nói chung và Đảng bộ Tỉnh nói riêng trong sự nghiệp bảo tồn, phát triển DSVH dân gian của cả nước
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết
các nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu cơ sở VHDG địa phương
+ Phân tích chủ trương, đường lối bảo tồn, phát huy DSVHDG của Đảng bộ Phú Thọ qua hai giai đoạn 1986 - 1996 và từ 1997 - 2009
+ Tìm hiểu thực tiễn quá trình chỉ đạo thực hiện việc bảo tồn, phát triển các DSVH dân gian dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh với những thành tựu và kinh nghiệm
+ Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác chỉ đạo bảo tồn và phát triển DSVH dân gian đất Tổ trong giai đoạn tiếp theo
Trang 114 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu đề tài
* Đối tượng: Quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo
tồn, phát huy DSVHDG trong giai đoạn từ 1986 đến 2009
+ Thời gian: từ năm 1986 đến năm 2009
+ Không gian: Tỉnh Phú Thọ
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về VHDG và công tác bảo tồn DSVHDG
- Các phương pháp chung cho tất cả các khoa học xã hội thích ứng với đặc thù và nhiệm vụ của khoa học lịch sử: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic Hai phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 1
và 2, xem xét và trình bày quá trình ra đời, phát triển chủ trương bảo tồn và phát huy DSVHDG của Đảng bộ tỉnh qua hai giai đoạn 1986 - 1996 và 1997
- 2009 cũng như mối liên hệ giữa hai giai đoạn đó
- Những phương pháp riêng của nhận thức lịch sử: phương pháp phân tích - so sánh được sử dụng ở chương 3, phương pháp phân kỳ
Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như khai thác tài liệu, xử lý thông tin, thống kê …
6 Đóng góp của luận văn
- Bổ sung thêm những tư liệu mới về DSVHDG
- Làm rõ vấn đề đang nghiên cứu trên hai phương diện: chủ trương đường lối của Đảng bộ tỉnh về công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG Phú
Trang 12Thọ và thực tiễn lịch sử quá trình thực hiện đường lối, chủ trương đó Từ đó, rút ra những kinh nghiệm bổ ích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG đất Tổ nói riêng và DSVHDG Việt Nam nói chung
- Làm tư liệu hỗ trợ giảng dạy môn Địa phương học, Văn hóa học…
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành
3 chương:
Chương 1: Công tác bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa dân gian Phú
Thọ dưới sự lãnh đạo Đảng bộ tỉnh trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996)
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn và phát
huy Di sản văn hoá dân gian đất Tổ từ 1997 đến 2009
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 13Chương 1 CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA DÂN GIAN PHÚ THỌ DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO ĐẢNG BỘ
TỈNH TRONG 10 NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986 - 1996)
1.1 Phú Thọ - nơi hội tụ nhiều di sản VHDG đặc sắc
1.1.1 Giới thiệu chung về Phú Thọ
* Điều kiện tự nhiên
Phú Thọ là tỉnh miền núi, nằm ở vị trí giữa 21° - 22° vĩ Bắc và 105° kinh Đông, có sông Lô là giới hạn tự nhiên với tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc, còn sông Đà là giới hạn tự nhiên với Hà Nội
Cách đây khoảng mấy nghìn năm, Phú Thọ thuộc trung tâm của nước Văn Lang cổ đại thời các vua Hùng dựng nước Trong quá trình thăng trầm của lịch sử, tên gọi và địa giới thay đổi nhiều lần Đến ngày 6/11/1996, Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ X đã thông qua nghị quyết về “Việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh”, trong đó có tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Từ ngày 1/1/1997, tỉnh Phú Thọ chính thức đi vào hoạt động độc lập Hiện nay tỉnh Phú Thọ có 353.294,93 ha diện tích tự nhiên và 1.313.926 nhân khẩu; gồm 13 huyện, thành, thị (thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11 huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Sông Thao, Tam Nông, Thanh Thủy, Hạ Hòa, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh) và 277 đơn vị hành chính cấp xã
Là tỉnh miền núi nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất miền núi, trung du vừa có tính chất đồng bằng Địa thế và cảnh quan của tỉnh Phú Thọ phong phú, muôn hình muôn vẻ Sự đa dạng về địa giới tự nhiên đã tạo cho mảnh đất này một cảnh quan địa mạo đa dạng, nơi hội tụ của nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú, hấp dẫn, nhiều danh lam thắng cảnh có giá trị như: Suối Tiên, khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn, vùng nước khoáng nóng
Trang 14Thanh Thuỷ Không chỉ vậy, là vùng đất cổ, kinh đô xưa của nhà nước Văn Lang, Phú Thọ nổi tiếng là nơi có nhiều di tích lịch sử, văn hoá đặc sắc từ thời đại Hùng Vương Ở Phú Thọ có rất nhiều tên làng, tên núi, tên sông đã
đi vào lịch sử Phải khẳng định rằng, ở vùng đất này, ven theo các con sông Thao, sông Đà, sông Lô, chúng ta có thể thấy các sinh hoạt VHDG, các sản phẩm và tác phẩm VHDG bảo lưu được rất nhiều giá trị cổ xưa Từng tấc đất đều in bóng dáng cha ông, mỗi bước đi là một bước gặp di tích lịch sử
Không chỉ nhiều di tích lịch sử cổ xưa mang đậm dấu ấn quá trình dựng nước và giữ nước từ thời Hùng Vương, Phú Thọ còn có các di tích kháng chiến như: chiến khu Vần - Hiền Lương (Hạ Hoà), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết (Tam Nông), Chu Hoá (Lâm Thao)… Là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của tổ tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn: lễ hội Đền Hùng, hội Phết (xã Hiền Quang), hội Đào Xá ; nhiều trò diễn, truyền thuyết - huyền thoại về dựng nước, truyện cười giàu tính nhân văn, mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc trưng Văn hoá Lạc Hồng
Tất cả tạo điều kiện thuận lợi cho Phú Thọ nảy sinh và phát triển một nền VHDG vô cùng phong phú, bao gồm nhiều thể loại: Ca dao, tục ngữ, truyện kể truyền miệng, trò diễn, phong tục tập quán, lễ hội… thể loại nào cũng đậm đà tính dân tộc, giàu màu sắc đại phương, vừa bảo lưu nhiều yếu
tố thô sơ cổ truyền, vừa tiếp thu có sáng tạo những tinh hoa văn hoá láng giềng
Bên cạnh điều kiện tự nhiên thuận lợi, những tiền đề về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội cũng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo tồn, phát triển nền VHDG nơi đây
* Vài nét về kinh tế - văn hóa- xã hội
Sau hơn 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc thắng lợi, Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng CNXH trên phạm
vi cả nước Trong không khí hết sức phấn khởi, hoà vào niềm vui chung của dân tộc, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Vĩnh Phú bắt tay vào sự nghiệp khôi
Trang 15phục, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội với tinh thần “Tất cả để xây dựng CNXH, tất cả vì tổ quốc giàu mạnh và hạnh phúc của nhân dân” Bằng những chủ trương, biện pháp cụ thể, tích cực, phù hợp với tình hình ở địa phương, đặc biệt từ sau khi đường lối đổi mới của Đảng (1986) được quán triệt và triển khai sâu rộng trong đời sống nhân dân, toàn tỉnh đã ra sức phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội bước đầu đạt được những kết quả quan trọng
Về kinh tế: Cơ cấu công - nông - lâm nghiệp trên địa bàn từng huyện
trong tỉnh đã cơ bản hình thành Từ đó, đã tạo ra được vùng sản xuất tương đối tập trung, từng bước đưa nền nông nghiệp tỉnh từ thế độc canh đến phát triển toàn diện Diện tích và sản lượng không ngừng tăng lên: Năm 1986, tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh đạt 38,7 vạn tấn, năm 1995 là 57,8 vạn tấn Phú Thọ từ một tỉnh miền núi thiếu lương thực, ny đã trở thành một tỉnh đảm bảo được an ninh lương thực và đang từng bước phát triển bền vững
Sản xuất công nghiệp thời kỳ này có nhiều cố gắng, các địa phương, đơn vị đã vượt qua những khó khăn, thiếu thốn về nguyên liệu, năng lượng, vật tư, thiết bị, chủ động nắm nguồn hàng, thực hiện liên doanh, liên kết với các xí nghiệp trung ương đóng trên địa bàn Giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp đều tăng hơn so với năm trước, trong đó, sản xuất công nghiệp trung ương tăng 10%, công nghiệp địa phương vượt 9% kế hoạch Một số ngành mũi nhọn như hoá chất, giấy, dệt, chế biến chè… cơ bản đã phục hồi, giữ vững và từng bước phát triển, đưa tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp chiếm 50% giá trị Nông - lâm - công nghiệp của tỉnh
Hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất nhập khẩu thời gian này cũng được cấp uỷ và chính quyền chỉ đạo củng cố và mở rộng Trong 4 năm (1997 - 2000), giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 70%, giá trị nhập khẩu tăng 10% so với năm 1996 Bước đầu có tích lũy nội bộ nền kinh tế
Về xã hội: Mặc dù trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng
tình hình giáo dục y tế thời kỳ này cũng thu được những thành quả nhất định, đáng tự hào Công tác giáo dục được duy trì về số lượng và chú trọng
Trang 16chất lượng mũi nhọn Điểm nổi bật trong hoạt động giáo dục của tỉnh thời
kỳ này là gắn học tập với lao động sản xuất, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội Tính đến năm 1985, tất cả các huyện, thành phố, thị xã trong toàn tỉnh có ít nhất một trường THPT, bình quân 1/4 người dân đi học,
tỷ lệ học sinh đến tuổi đi học đạt 45,3% Năm 1992, Vĩnh Phú là một trong
6 tỉnh trên cả nước được Bộ Giáo dục công nhận đã hoàn thành việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, nhân dân được quan tâm Ý thức phục vụ bệnh nhân của bác sỹ, y tá đã có bước tiến
bộ Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở từng bước được củng cố, 100% trạm y
tế xã, phường, thị trấn có bác sỹ điều trị, các thôn bản đều có nhân viên y tế hoạt động Công tác dân số KHHGĐ có chuyển biến tốt, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh giảm từ 2,5% (1985) xuống dưới 1,1% (2005) Công tác xóa đói giảm nghèo được quan tâm, tích cực giải quyết, đưa tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh giảm từ 23% (1996) xuống 11% (2000) và còn 5% (2005)
Về văn hoá: Các hoạt động văn hoá của tỉnh cũng được triển khai tích
cực Thực hiện nếp sống mới theo tinh thần Chỉ thị 211, chỉ thị 54 của Ban
bí thư TW Đảng “Về việc tăng cường lãnh đạo cuộc vận động thực hiện nếp sống mới, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, xoá bỏ tệ nạn xã hội, quét sạch văn hoá phản động, đồi trụy” Đến năm 1985, hầu hết các cơ quan, đơn vị, xã, phường trong toàn tỉnh đã xây dựng được quy ước thực hiện nếp sống văn hoá đối với việc cưới, tang, bài trừ mê tín dị đoan Trên 70% số gia đình trong toàn tỉnh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hoá” Phong trào văn nghệ quần chúng tiếp tục được phát động trong các cơ quan xí nghiệp và địa phương Hệ thống câu lạc bộ, nhà văn hoá, hoạt động triển lãm được tổ chức, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân
Hệ thống đài phát thanh và truyền thanh mở rộng đến từng địa phương trong tỉnh, thường xuyên thông tin, truyên truyền đến với nhân dân
Trang 17Trong những thành tựu văn hoá Đảng bộ và nhân dân tỉnh đạt được thời kỳ đổi mới không thể không kể đến những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn, phát huy di sản VHDG đất Tổ
Với đặc điểm vị thế là “vùng đất cội nguồn” của dân tộc Việt Nam, Phú Thọ ẩn chứa trong mình nhiều loại hình VHDG đặc sắc, phong phú về chủng loại, đa dạng về nội dung, màu sắc Chính vì vậy, việc bảo tồn, phát huy di sản VHDG luôn giành được sự quan tâm và chú trọng của đảng bộ tỉnh nói riêng và Đảng, Nhà nước ta nói chung, bởi đây là những “chứng cứ lịch sử” quan trọng để khẳng định Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người
Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn về công tác bảo tồn và phát huy di sản VHDG đất Tổ, trước hết chúng ta phải tìm hiểu khái quát đặc điểm, vị trí những di sản VHDG đất Tổ trong nền VHDG Việt Nam nói chung và trong sự nghiệp bảo tồn bản sắc dân tộc Việt Nam
1.1.2 Di sản VHDG đất Tổ - đặc trưng và biểu hiện
* Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về “Bảo tồn và phát huy DSVH”, VHDG xuất hiện khá nhiều và quen thuộc trong những năm gần đây Trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu lịch sử, nhà khoa học về những khái niệm này Thậm chí tổ chức UNESSCO cũng đã đưa ra một loạt khái niệm
cơ bản về DSVH, những vấn đề xoay quanh DSVH như: quy định, tiêu chuẩn để xác định một di vật có phải là DSVH hay không… Tuy nhiên, xét trong phạm vi nghiên cứu hẹp của đề tài, tác giả xin được đưa ra những khái niệm được trích dẫn từ Luật Di sản Văn hóa Việt Nam (năm 2001)
Tại Chương I - Luật Di sản Văn hóa (2001) khẳng định: “Di sản văn
hóa (bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể) là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.”(Điều 1)
Trang 18“Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội,
bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.” (Mục 1, Điều 4)
“Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử-văn hoá, danh lam-thắng cảnh và di vật.” (Mục 2, Điều 4)
Đến kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII thông qua ngày 18/6/2009, Luật
Di sản văn hóa Việt Nam có sửa đổi, bổ sung một số điều, trong đó quan niệm về DSVH phi vật thể được diễn giải ngắn gọn hơn: “ Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.” (Mục 1, Điều 4)
Khái niệm "bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá" Khái niệm
"bảo vệ" được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động tổ chức quản lý, giữ gìn, đặc biệt là việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực bảo vệ của các di sản Mặt khác, khái niệm này cũng bao hàm các hoạt động khác như tu sửa, tôn tạo, bảo quản, gia cố nhằm duy trì tính nguyên gốc
và sự toàn vẹn của các di sản văn hoá
"Phát huy" trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản văn hoá trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm; đồng thời, khái niệm "phát huy" cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác, tuy nhiên, nếu
Trang 19sử dụng từ "khai thác" thay cho "phát huy" di sản văn hoá thì sẽ bị hiểu là quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng
Văn hoá dân gian (VHDG) là một bộ phận của văn hoá dân tộc, là sản
phẩm sáng tạo của người lao động để phục vụ cuộc sống sản xuất, sinh hoạt
và chiến đấu VHDG là di sản văn hoá quý giá thuộc hệ thống di sản văn hoá Việt Nam nói chung Hay nói cách khác, đây là nền văn hóa của người lao động sáng tạo, nhằm phản ánh ước mơ nguyện vọng và cuộc sống của
họ Vì thế VHDG luôn gắn chặt với mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt xã hội của người dân Ðó là văn hóa giữa cuộc đời và vì cuộc đời thường, chứ không phải thứ văn hóa để trình diễn trên sân khấu như ngày nay
Văn hoá dân gian đất Tổ: Với vị thế của một vùng đất giàu tiềm năng
văn hoá và lịch sử, nơi ra đời nhà nước Văn Lang đầu tiên của dân tộc Việt Nam, Phú Thọ ẩn chứa trong mình vốn tài nguyên VHDG đậm đặc, phản ánh cuộc sống sinh hoạt, lao động và chiến đấu của người Việt cổ trong quá trình khai khẩn, mở mang bờ cõi, thống lĩnh tự nhiên Tài nguyên VHDG ấy
là hệ thống kho tàng truyền thuyết, truyện kể dân gian, hò vè, ẩm thực, lễ hội truyền thống và diễn xướng của 21 dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất Phú Thọ
* Đặc trưng di sản VHDG đất Tổ
Di sản VHDG tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, những vùng miền, những tộc người khác nhau Sự đa dạng giàu có của di sản VHDG Việt Nam không chỉ dân tộc ta đã có hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước
và nước ta hội tụ sự đặc sắc văn hoá của 54 tộc người… mà còn mỗi vùng miền, mỗi tộc người đều đang cố gắng bảo tồn những sắc thái văn hoá, những truyền thống văn hoá lâu đời của riêng mình để góp chung vào kho tàng di sản VHDG của dân tộc và nhân loại
Trên nền cảnh địa lý tự nhiên phác ra như trên, chúng ta có thể thấy nền VHDG Phong Châu cổ trên địa bàn Phú Thọ chính là nơi phát tích của những giá trị VHDG truyền thống Việt Nam Có thể khái quát nền VHDG đất Tổ trong những đặc trưng sau:
Trang 20Thứ nhất, nền VHDG đất Tổ là một nền VHDG còn mang đậm dấu
ấn nguyên thuỷ
Dấu ấn nguyên thủy thể hiện ở chỗ những nét nguyên sơ, hoang dã của nền văn hóa cổ xưa - thời con người Việt cổ xuất hiện, khai hoang, xây dựng bờ cõi vẫn còn được lưu giữ, hiện hữu khá rõ nét trong kho tàng VHDG Phú Thọ Đơn cử một ví dụ: Với sự phát triển của ngành khảo cổ học, chúng ta đã sớm biết bên cạnh các nền văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn nổi tiếng, trong thời đại kim khí, trên địa bàn Phú Thọ còn phân bổ rộng rãi một nền văn hoá khảo cổ học tiền sử cũng không kém phần nổi tiếng, đó là nền văn hoá Sơn Vi, chủ yếu nằm trên bậc thềm thứ III ở vùng đồng bằng cổ trong lưu vực sông Hồng Các dẫn chứng
về khảo cổ học cho thấy rõ những yếu tố truyền thống tiền sử từ thời Sơn Vi còn sót lại trong một số di chỉ, công cụ rìu mài, mũi tên từ đá… và ảnh hưởng của văn hoá tiền sử này vẫn còn đậm nét qua các nghi lễ phong tục Phú Thọ ngày nay Nhiều lễ hội mang đậm nét tiêu biểu của miền, vùng và không gian văn hóa tâm linh như lễ hội Trò Trám, lễ hội Tùng Dí, lễ hội rước Tiếng hú, lễ hội Cướp kén, Cướp phết, Ném cầu, lễ hội Ông Khưu - bà Khưu cùng các lễ hội Bơi chải, Đâm đuống, Đánh trống đồng
Tín ngưỡng phồn thực và tục thờ sinh thực khí là hình thái tín ngưỡng
cổ xưa ở tầng sâu nguyên thủy văn hóa dân tộc Điển hình như lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã (Lâm Thao), ở xã Hà Lộc, Phú Hộ (Phù Ninh), xã Hà Thạch (thị xã Phú Thọ) Hay “Hội ôm” ở An Đạo (Phù Ninh), Thanh Uyên (Tam Nông), Dữu Lâu (TP Việt Trì)…
Thứ hai, nền VHDG Phú Thọ là nền VHDG của một xã hội có giai cấp và nhà nước ở trình độ sơ khai, nền văn hoá của người dân lao động
Đây là một nét nổi bật, mang giá trị độc đáo của vùng đất Tổ, tạo nên
sự khác biệt so với các vùng văn hóa khác trong cả nước Mặc dù trên thực
tế, Phú Thọ là vùng đất kinh đô đầu tiên của 18 đời vua Hùng, là kinh đô của Nhà nước Văn Lang sớm ra đời Song trên thực tế, mối quan hệ văn hoá
ở đây hoàn toàn không chịu bất kỳ sự chi phối hay ràng buộc về hệ tư tưởng
Trang 21của hệ thống vua quan thời Hùng Vương Nền văn hóa ấy được sản sinh ra
từ mối quan hệ trong sản xuất, từ lao động sản xuất và vì lao động sản xuất
Nó là sản phẩm sáng tạo chủ yếu của nhân dân lao động trong quá trình sinh hoạt lao động Sự ra đời của nền VHDG là nhằm phục vụ cho đời sống tinh thần của người dân lao động nơi đây Đặc điểm này đem lại một giá trị dân chủ to lớn cho sắc thái VHDG Phú Thọ nói riêng và VHDG Việt Nam nói chung trong suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của nó
Thứ ba, nền VHDG Phú Thọ biểu hiện của tinh thần tổ gốc, cội nguồn văn hoá dân tộc
Đặc trưng này xuất phát từ thực tế lịch sử, Phú Thọ vốn là vùng đất cội nguồn của dân tộc Việt Nơi đây, cách đây hơn 2000 năm đã sớm xuất hiện các nền văn minh cổ đại rực rỡ, sớm xuất hiện hình thức Nhà nước đầu tiên của dân tộc - Nhà nước tuy còn ở trình độ sơ khai nhưng thực sự đã thiết lập được một thể chế chính trị vững chắc với mối quan hệ vua - tôi, vua
- “con dân” thân thiện, thể hiện tính dân chủ sâu sắc Chính trên nền chính trị ấy, nền văn hóa của sự cố kết cộng đồng, của trí tuệ văn minh và sức mạnh của một quốc gia có nguồn cội, có nền văn hoá lâu đời đã sớm ra đời Nền VHDG đất Tổ là nền văn hóa của sự tương trợ, đoàn kết gắn bó của toàn thể dân tộc dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả những thử thách ghê gớm nhất Nó tạo thành sức mạnh, niềm tin và lòng tự hào của nhân dân Việt Nam về lịch sử dựng nước và giữ nước
Nhìn chung, trong tiến trình phát triển của dân tộc ta, mỗi vùng đất với những tinh hoa riêng, những sắc thái phong phú riêng đã góp phần làm nên một nền văn hoá dân tộc rực rỡ, đa dạng màu sắc VHDG Phú Thọ với những nét đặc trưng mang tính khái quát, khó có thể tránh khỏi sự trùng lặp với các giá trị văn hoá của những vùng khác Nhưng dù sao, Phú Thọ vẫn là cái nôi nảy mầm và phát triển của đa số các giá trị đó, là nơi phát tích, cội nguồn của văn hoá dân tộc Việt trong suốt chiều dài lịch sử 2000 năm dựng nước và giữ nước
Trang 23* Một số loại hình VHDG đất Tổ tiêu biểu
Phú Thọ là tỉnh có lịch sử lâu đời Vùng hợp lưu của ba con sông: sông Thao - sông Đà - sông Lô, nằm giữa dải núi Ba Vì và Tam Đảo, là trung tâm sinh tụ của người Việt cổ thời các vua Hùng dựng nước Phú Thọ
tự hào là cội nguồn dân tộc, tại đó những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc ta thời cổ đại, trải qua bao nhiêu biến đổi của lịch sử vẫn để lại dấu ấn đậm nét trong tự nhiên, trong sinh hoạt xã hội, trong tính cách con người và đặc biệt trong nền VHDG đặc sắc và rực rỡ của vùng đất này Nền VHDG đặc sắc ấy được biểu hiện sinh động mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội - con người nơi đây, biểu hiện trong các lễ hội dân gian, trong những câu ca dao, tục ngữ, những câu truyện truyền thuyết, cổ tích, trong từng làn điệu dân ca Xoan - Ghẹo của vùng, các lăng đình miếu… Đó
là những di sản văn hoá vô cùng quý giá góp phần tạo cho mảnh đất nên thơ này một nền văn hoá bản địa đặc sắc mang đậm nét văn hoá dân tộc Việt thời dựng nước Theo giáo sư Trần Quốc Vượng: “Huyền thoại và lịch sử trên mảnh đất này đan quyện khó có thể biết đâu là thực, đâu là mơ khiến cho nơi đây càng thêm hấp dẫn…” [34, tr.27]
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu nhỏ, luận văn chỉ tập trung giới thiệu những nét khái quát nhất một số loại hình di sản VHDG đất Tổ hiện vẫn còn lưu giữ và hiện hữu trong đời sống văn hoá truyền thống của nhân dân Phú Thọ hôm nay
Các di chỉ, cổ vật
Theo UNESSCO, Di chỉ, cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, đặc biệt đối với cổ vật phải đảm
bảo điều kiện có thời gian từ 100 năm tuổi trở lên
Căn cứ theo tiêu chí của UNESSCO, có thể khẳng định ở Phú Thọ, di chỉ, cổ vật dày đặc Với sự phát triển của khoa học lịch sử, đặc biệt ngành khảo cổ học, chúng ta đã từng bước làm sáng tỏ sự ra đời và phát triển của người Việt cổ Những chứng tích thám sát ở Thu Cúc (Thanh Sơn), Sơn Vi (Lâm Thao)…, đã từng bước cho xuất lộ những tầng văn hóa của thời kỳ đồ
Trang 24đá, tương ứng với thời kỳ con người nguyên thủy sinh sống trên những vùng đất này Đặc biệt ở Phú Thọ, sau Văn hóa Sơn Vi, ngành khảo cổ học đã từng bước phát hiện Văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun với những
di tích nổi bật như: làng Cả, Gò De… Đặc biệt, qua các đợt khai quật, những
cổ vật tìm thấy tại những di chỉ khảo cổ học nói trên như: các đồ trang sức bằng gốm, đá, xương, sừng, nhất là chế tác từ đồng đã phản ánh nên bức tranh về đời sống con người thời kỳ đó từ đá sang đồ đồng và đồ sắt Việc phát hiện ra các di chỉ cổ vật đã giúp các nhà lịch sử Việt Nam giải đáp được một cách chính xác niên đại lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương cách nay khoảng trên dưới 2000 năm Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, mà những hiện vật trên còn là tài sản ghi nhận bước tiến hóa chung của loài người khu vực Đông Nam Á, khẳng định một điều có ý nghĩa quan trọng: Việt Nam là một trong những quê hương của người nguyên thủy
và Phú Thọ là nơi xây dựng nên nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam
Những hiện vật cổ thu được như mũi tên, rìu, giáo, lao, búa liềm, vòng tay, lục lạc… hiện vẫn đang được lưu giữ trong bảo tàng Hùng Vương, bảo tàng Phú Thọ
Ngoài ra, trên khắp núi rừng Phú Thọ chúng ta đã phát hiện ra hàng trăm chiếc trống đồng, có chiếc được tìm thấy ngay dưới chân núi Nghĩa Lĩnh thờ các vua Hùng Ngoài những hiện vật về đồ đá, đồ gốm, đồ đồng được chế tác tinh xảo mà nhân dân Phú Thọ tự hào, chúng ta còn có những công trình kiến trúc nổi tiếng đạt đến trình độ cao của nghệ thuật cả về mỹ thuật tạo dáng, về tính thực dụng và về tư duy biểu tượng bằng những hình
vẽ, đường nét trang trí, cách điệu rất cao như: Đình Hữu Bổ thế kỷ XVII, đình Lâu Thượng, đình Đào Xá có bức chạm Rồng (rồng mẹ dạy rồng con học chữ), chùa Xuân Lũng có bệ đá hoa sen khắc nổi làm từ thời Trần… Hơn nữa, Phú Thọ còn nhiều vật phẩm mỹ nghệ đồ trang sức tinh xảo, thể hiện nét tài hoa của người nghệ sỹ
Trang 25Truyện kể dân gian Phú Thọ
Phú Thọ là địa bàn tập trung và lưu truyền những thần thoại và truyền thuyết về thời đại Hùng Vương như: Chuyện Hồng Bàng, chuyện Bánh chưng bánh dày, chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh… đã đóng góp một phần vô cùng quan trọng vào việc tìm hiểu và lí giải về thời đại Hùng Vương Thần thoại và truyền thuyết Hùng Vương trên địa bàn đất Tổ Phú Thọ phản ánh buổi bình minh dân tộc, với những nét phong phú và sinh động Qua các câu chuyện kể, chúng ta có thể hình dung khá rõ nét một xã hội có tổ chức, một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước ban đầu, mở ra một thời kỳ mới: Nền văn minh nông nghiệp
Truyền thuyết, truyện kể Phú Thọ ngoài những nét chung giống như nhiều nơi khác, ở địa phương đã mang thêm nhiều tình tiết và in đậm dấu ấn tâm lý và màu sắc Phú Thọ, nhất là thêm những chi tiết để nhân vật thần thoại gần gũi với con người thực, như các chuyện về Âu Cơ, Tản Viên lúc còn bé cũng phải đi phát nương, làm rẫy như mọi người Mẹ Tản Viên cũng chỉ là người trần mắt thịt như ai Đền Lăng Xương ở xã Trung Nghĩa (Thanh Thủy) hiện nay còn một giếng nước, theo tục truyền là nơi mẹ Tản Viên thường tắm, có hòn đá bà dùng để nén bụng, lại có hòn đá khác in vết chân
và đầu gối của bà Hay như truyện các thần giúp vua Hùng đánh Thục như thần Đại Hải Công thờ ở Giếng Đá, thần Đinh Công Toản thờ ở đình Hữu Bổ…
Bên cạnh các truyền thuyết, thần thoại cổ đại có quan hệ với lịch sử, phản ánh chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng Việt Nam trong lao động sản xuất và tinh thần kiên cường, bất khuất, tự lực tự cường trong công cuộc chiến đấu chống thiên tai và quân xâm lược, kho tàng truyện kể dân gian Phú Thọ còn là nơi hội tụ của nhiều loại hình tự sự dân gian với sự đa dạng về nội dung và đậm chất địa phương, nêu lên được sắc thái và đặc điểm địa lý cảnh quan, sinh hoạt của một vùng trung du các vua Hùng dựng nước như cổ tích, truyện làng, truyện kể thế sự, truyện cười… Các câu chuyện này đều toát lên những ước mơ, ý nghĩa tình cảm của tổ tiên ta ngày
Trang 26trước, phản ánh được những truyền thống dân tộc “Có giá trị hiện thực lịch
sử ở bên trong các vẻ hoang đường”
Tục ngữ, ca dao Phú Thọ
Tục ngữ, ca dao dân gian Phú Thọ cũng mang sắc thái địa phương rõ rệt Đa số tục ngữ thơ ca Phú Thọ thường nói về đặc điểm địa lý, vẻ đẹp độc đáo của phong cảnh đất Tổ Hùng Vương, về cái giàu có trù phú của Phú Thọ thông qua những đặc sản của vùng đất này, trong đó có một đặc sản có giá trị kinh tế cao, đặc biệt điển hình, giàu sản lượng, gần gũi với người dân Phú Thọ là “cây sắn” Hình ảnh cây sắn hiện diện trong những câu ca lao động, tình yêu nam nữ lứa đôi:
Yêu nhau chia củ sắn lùi
Xa nhau nhớ bếp tro vùi hôm nay…
Ca dao, tục ngữ cũng phản ánh muôn màu của đời sống người nông dân Phú Thọ Hoặc phản ánh sự đè nén áp bức, lòng căn thù bọn đế quốc, phong kiến sâu sắc, hoặc về cảnh trí đặc sắc, phong tục của từng nơi trong tỉnh Có thể nói, tục ngữ và thơ ca dân gian Phú Thọ phản ánh rất sinh động những dáng vẻ của một địa phương được vinh dự là đất Tổ với hình thế núi sông hùng vĩ, với một vẻ đẹp riêng của vùng đất trung du có nhiều đặc sản quý, có những nghề thủ công ở từng xóm, từng làng Giá trị của những áng văn chương này đã vượt ra ngoài ý muốn của những người sản sinh ra món quà tinh thần ấy để lại cho hậu thế Chẳng những chúng nói lên niềm tự hào của người dân Phú Thọ về quê hương mình mà còn góp phần làm sáng tỏ thêm đặc điểm kinh tế địa phương, tính truyền thống của cơ cấu kinh tế mà ngày nay chúng ta đã xác định là nền kinh tế đồi rừng
Trang 27ca mang nét độc đáo và tiêu biểu nhất cho âm nhạc dân gian vùng đất Tổ Hát Xoan là hình thức ca hát có tính chất tôn giáo và phong tục, thường gắn với hội mùa, thờ Thành hoàng Hát Ghẹo là hình thức hát đối đáp giao duyên của nam, nữ, là lối hát phổ biến ở nhiều nơi, miền xuôi cũng như miền ngược, thường được tổ chức hát vào những ngày hội mùa xuân, mùa thu, hội được mùa… Xoan và Ghẹo có nhiều làn điệu khác nhau, mỗi làn điệu lại mạng một phong cách riêng tùy theo nội dung tình cảm của từng bài ca, vào đặc điểm riêng biệt của mỗi loại hình Đó là những ca khúc trữ tình mang giai điệu quê hương, ca ngợi những người có công với tổ quốc, thể hiện tình cảm trong sáng, thiết tha đôi lứa yêu nhau Là nét đẹp văn hóa để lưu truyền lại cho con cháu đời sau những phong tục tập quán, lễ nghi của tổ tiên
Bên cạnh hai hình thức dân ca tiêu biểu trên, ở nông thôn Phú Thọ còn nhiều loại dân ca quen thuộc khác như: Hát Ví, hát Ống, hát Trống quân, hát Xẩm và các loại hình ca hát của các dân tộc ít người khác như hát Vang, hát Thờ của các thầy mo, Páodung (dân tộc Dao)…
Nếu dân ca Phú Thọ đã có truyền thống lâu đời và phong phú về thể loại cũng như làn điệu thì dân vũ Phú Thọ cũng là một kho tàng nghệ thuật dân gian với nhiều vũ điệu của các dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất trung du Theo di chỉ của khảo cổ học, chúng ta có thể khẳng định múa ra đời từ rất sớm Trên các trống đồng, đặc biệt là trống đồng Ngọc Lũ
có chạm khắc những cảnh sinh hoạt thời Hùng Vương, trong đó chúng ta thấy được những hình tượng vẽ các nhạc cụ của nước Văn Lang cổ, tục hát đối đáp nam, nữ khi giã gạo chày đôi, vừa hát vừa biểu dễn đánh trống đồng, biểu diễn nhạc Cồng, về trò múa hóa trang đeo lông chim, múa với các nhạc cụ như chuông, phách cầm tay, múa chiến đấu hay khi săn bắt với
vũ khí Những hình khắc họa ấy cho thấy một nền nghệ thuật ca múa đa dạng về hình thức và loại hình đang phát triển mạnh mẽ trong sự phát triển chung của nền văn hóa Văn Lang - Lạc Việt
Trang 28Lễ hội dân gian
Lễ hội truyền thống vùng đất Tổ là nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ truyền của cư dân Phú Thọ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung Đó
là di sản vô cùng quý báu của các thế hệ cha ông truyền lại cho chúng ta hiện nay Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, lễ hội truyền thống đã giữ một vai trò to lớn trong kho tàng văn hóa cổ truyền mang đậm bản sắc văn hóa dân gian, tạo nên sức mạnh tinh thần cho cộng đồng dân tộc để trường tồn và phát triển Lễ hội truyền thống Phú Thọ phần lớn là hội làng, song nhiều lễ hội lại có ảnh hưởng lan tỏa trong một vùng rộng lớn, như lễ hội Đền Hùng mang tính cả nước
Nét độc đáo sâu sắc nhất, phản ánh tính chất nổi bật nhất của các lễ hội truyền thống vùng đất Tổ là hầu hết các lễ hội đều gắn bó với sự tích thời kỳ Hùng Vương dựng nước Mặt khác, các lễ hội còn phản ánh các sự kiện của lịch sử dựng nước và giữ nước của các anh hùng dân tộc đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm như: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thường Kiệt… Nội dung của các lễ hội phản ánh khá rõ nét thông qua các trò diễn, hội thi đấu vật, thi gói bánh chưng hay lễ rước Lúa thần…
Một nét đặc trưng tiêu biểu khác của các lễ hội truyền thống vùng đất này là sự phản ánh nhiều mặt sinh hoạt mang tính cổ sơ nhất được hình thành
và lưu truyền từ thời Hùng Vương dựng nước thông qua hoạt động trò diễn thể hiện những nghi lễ, các tín ngưỡng cổ truyền được phản ánh trong nội dung các lễ hội mang đậm yếu tố dân gian, bản sắc của vùng đất cội nguồn
Đó là các tục lễ cướp cầu, đánh Phết ở Sơn Vi, Hiền Quan, trò diễn cướp kén
ở lễ hội làng Hương Nha, kéo lửa thổi cơm thi ở lễ hội làng Đào Xá…
Có thể nói, các lễ hội truyền thống vùng đất Tổ là một hình thức ghi chép, phản ánh trung thực lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam nói chung và trên quê hương Phú Thọ nói riêng Vai trò và ảnh hưởng của lễ hội trong đời sống văn hóa ở cộng đồng cư dân trên địa bàn Phú Thọ
Trang 29là rất to lớn và có những tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc
Tóm lại, VHDG Phú Thọ có những đặc điểm riêng, một vị trí nhất định, một vai trò quan trọng trong kho tàng VHDG Việt Nam Chúng ta có trách nhiệm trong công cuộc sưu tầm, gìn giữ và phát huy được vốn quý dân tộc mà ông cha ta đã tích lũy qua bao đời truyền lại, đó cũng là để đáp ứng những yêu cầu cần xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc như Nghị quyết Hội nghị TƯ Đảng lần 5 khóa VIII đã chỉ rõ
1.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn, phát triển di sản VHDG từ 1986 đến 1996
1.2.1 Thực trạng công tác bảo tồn, phát triển DSVHDG đất Tổ trước 1986
Là tỉnh được coi là “vùng đất cội nguồn” của dân tộc, nơi có “kinh đô Văn Lang” xưa, thuở các vua Hùng dựng nước, nhận thức rõ ý nghĩa, vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có VHGD trên quê hương mình trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc Đảng bộ Phú Thọ luôn dành những sự quan tâm đặc biệt của mình đối với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản VHDG đất Tổ
Trong thời kỳ có chiến tranh, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng để làm sáng tỏ bề dày lịch sử và phát triển của dân tộc ta, tháng 3 năm 1968, Tỉnh đã phối hợp với trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Ủy ban KHXH Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu và phát hiện văn hóa Sơn Vi Kết quả nghiên cứu khoa học đã góp phần khẳng định vùng đất Lâm Thao - Việt Trì là trung tâm chính trị thời đại các vua Hùng - Nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Cùng với việc tổ chức hội thảo khoa học, phong trào văn nghệ quần chúng luôn được duy trì và củng cố, đặc biệt Ty văn hóa của Tỉnh đã mở lớp học bồi dưỡng hát Chèo nghiệp dư cho các hội viên làm nòng cốt để khai thác các làn điệu dân ca của các dân tộc, các địa phương trong tỉnh Tổ chức các hội diễn mang đậm dấu ấn vùng đất Tổ như Hội diễn chào mừng
Trang 30quốc khánh nước Việt Nam ngày 2 tháng 9 năm 1954 tại Phú Thọ Lần đầu tiên, tiếng Hát Xoan truyền thống cùng một số bài cải biên Hát Xoan được cất cao và được đông đảo công chúng hoan nghênh Những thành công bước đầu ấy đã dấy lên một phong trào bảo tồn, khai thác Xoan, vừa phục
vụ kháng chiến vừa góp phần gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương
Sau năm 1975, hòa với không khí mừng chiến thắng mùa xuân 1975, Phú Thọ cùng cả nước bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh Ngay trong Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ II (1976), Đảng bộ đã đưa ra phương hướng nhiệm vụ của tỉnh trong những năm 1976 - 1980: “Động viên nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống cách mạng… phát triển mạnh mẽ kinh tế và văn hóa địa phương…” [18, tr.17 -21] Để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra, trong những năm 1976 - 1980 tuy điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng tỉnh vẫn dành 1 - 2% vốn đầu tư để xây dựng nhiều cơ sở phục vụ cho công tác tuyên truyền văn hóa nghệ thuật, bảo vệ các di tích, di sản văn hóa đất Tổ
Bản Chỉ thị 08/CTTW của Đảng đưa ra (1977) đã soi đường chỉ lối cho công tác bảo tồn và phát huy DSVHDG đất Tổ trước thời kỳ đổi mới Nhìn lại chặng đường gần 10 năm (1976 - 1985), tuy ngắn nhưng bằng sự quan tâm đặc biệt và cố gắng không ngừng, về cơ bản Phú Thọ đã thu được một số thành quả trong công tác gìn giữ và phát huy DSVHDG Đó là phối hợp với các viện chuyên ngành về dân tộc học, khảo cổ học, về khoa nghiên cứu lịch sử ở Trung ương tìm ra những chứng tích để đi đến kết luận rằng thời Hùng Vương là có thật trong lịch sử Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh, các cơ quan chuyên ngành về văn hóa thông tin, báo chí đã hợp sức với nhau trong việc nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu vốn văn hóa quý báu của cha ông Nhiều ấn phẩm về vùng đất Phú Thọ - vùng VHDG đặc sắc, đã được giới thiệu đến tay nhân dân trong tỉnh và độc giả nhiều địa phương trong cả nước như: Truyền thuyết Hùng Vương, Bác Hồ với nhân dân Vĩnh Phú, Địa chí văn hóa dân gian đất Tổ…
Trang 31Đây thực sự là những thành quả đáng ghi nhận trong việc bảo tồn, gìn giữ và lưu truyền VHGD đất Tổ mà Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ đạt được trong thời kỳ trước đổi mới
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn vào một thức tế Đất nước mới giành được độc lập, nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, nhanh chóng
ổn định mọi mặt đời sống cho nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu Trong bối cảnh đó, Vĩnh Phú thời kỳ này vẫn chưa thực sự có nhiều quan tâm đến riêng công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG mà chỉ chú trọng đến những vấn
đề về văn hóa - giáo dục nói chung của tỉnh như xóa mù chữ, xây dựng nếp sống văn hóa mới… Công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG vẫn còn được nhận thức khá đơn giản Tỉnh mới chỉ nghiêng về vấn đề bảo tồn DSVHDG Hình thức bảo tồn cũng còn nhiều hạn chế, chỉ đơn giản được nhận thức là sưu tầm, biên soạn lại những tư liệu đã có, hiện có, mà chưa có một hình thức đầu tư tìm tòi, phát hiện những cái mới trừ một số trường hợp có sự liên kết với các Viện nghiên cứu, Khoa lịch sử của TW Công tác giới thiệu, tuyên truyền DSVHDG rộng rãi trong nhân dân địa phương và tỉnh bạn hầu như thời kỳ này không có Đây là một thực trạng đáng tiếc, nhưng đặt trong bối cảnh chung của cả nước thời kỳ này, những hạn chế mà Tỉnh Vĩnh Phú mắc phải cũng chính là những hạn chế chung của Việt Nam lúc bấy giờ, khi
mà vấn đề quan tâm hàng đầu không phải là vấn đề bảo tồn, phát huy DSVHDG mà là vấn đề phát triển kinh tế, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân
1.2.2 Chủ trương bảo tồn, phát triển di sản VHDG của Đảng bộ
Tỉnh từ 1986 đến 1996
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bảo tồn, phát triển di sản VHDG là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực văn hóa Trong những năm qua, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng do khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn còn tiếp diễn, đời sống vật chất của nhân dân chưa được đảm bảo vì vậy
Trang 32công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, đặc biệt VHDG còn mang nhiều thiếu sót và hạn chế hơn nhiều so với ý nghĩa và giá trị tinh thần mà
nó mang lại
Khắc phục những hạn chế trên, các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội X đã có những nhìn nhận đánh giá đúng đắn, khách quan hơn tầm quan trọng đặc biệt của các giá trị văn hóa truyền thống trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng tại Đại hội lần thứ VI đã đề ra nhiệm vụ: Giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch sử, văn hóa; Hoàn thành việc sưu tầm vốn văn hóa và nghệ thuật các dân tộc
Đến Đại hội VII (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong đó chỉ rõ: Xã hội chúng ta xây dựng
có một đặc trưng là có nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đại hội nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [54, tr.289] Đặc biệt nghị quyết Trung Ương 4 khóa VII (1/1993) về vấn đề văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt đã đưa ra chủ trương phải chấn hưng nền nghệ thuật dân tộc
Tiếp sau Đại hội VII, Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng tại Đại hội lần thứ VIII (1996) đã xác định những phương hướng phát triển trên lĩnh vực văn hóa: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa
và danh lam thắng cảnh của đất nước Trong điều kiện kinh tế thị trường và
mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán và lòng tự hào dân tộc… Khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta…” [14, tr.111]
Những quan điểm trên của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự đổi mới trong tư duy, tầm nhìn về giá trị và tầm quan trọng của DSVHDG trong
Trang 33kho tàng văn hóa Việt Nam Đồng thời, thể hiện cái nhìn hoàn toàn mới mẻ
về công tác bảo tồn, phát triển DSVHDG trong những năm đầu đổi mới Đặc biệt, thông qua chủ trương, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra được những nhiệm vụ và phương hướng mang tính chiến lược, có tính định hướng trong công tác bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân tộc nói chung, làm cơ
sở cho các Đảng bộ tỉnh đẩy mạnh công cuộc bảo tồn, phát triển DSVHDG trên quê hương
* Quan điểm của Đảng bộ Tỉnh
Là một mắt xích quan trọng nằm trong hệ thống cơ sở Đảng ở địa phương, Đảng bộ Phú Thọ luôn tiếp thu, quán triệt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và tìm tòi những biện pháp sáng tạo nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng vào trong quá trình lãnh đạo
Trong những năm qua, mặc dù Đảng bộ và UBND cũng như Sở VH -
TT & DL Tỉnh đã dành nhiều sự quan tâm đến việc giữ gìn, tôn tạo và phát triển các DSVH, đặc biệt là DSVHDG đất Tổ, nhưng do đời sống vật chất của nhân dân trong tỉnh còn chưa được đảm bảo, còn gặp nhiều khó khăn Trong tình hình như vậy, nhiệm vụ đầu tiên được Đảng bộ Tỉnh nhấn mạnh
là tập trung toàn bộ nguồn nhân lực của Tỉnh vào việc khôi phục kinh tế nhằm bước đầu ổn định đời sống vật chất tối thiểu cho nhân dân Đây là một yêu cầu mang tính khách quan và đã được Đảng bộ Tỉnh tiến hành có hiệu quả Tuy nhiên, do quá tập trung vào việc khôi phục, phát triển KT - XH nên công tác bảo tồn và phát huy DSVH, đặc biệt là VHDG chưa thực sự nhận được sự quan tâm đúng đắn của Đảng bộ Tỉnh Điều này dẫn đến hệ quả là công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG đất Tổ trong những năm qua còn nhiều thiếu sót và hạn chế hơn rất nhiều so với ý nghĩa và giá trị tinh thần
mà nó mang lại
Khắc phục những hạn chế trên, các kỳ Đại hội Đảng bộ Tỉnh từ Đại hội VI đến Đại hội VIII (khi vẫn trong giai đoạn sát nhập với tỉnh Vĩnh Phúc) đã có những nhìn nhận đánh giá bước đầu đúng đắn và khách quan hơn tầm quan trọng đặc biệt của các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là
Trang 34VHDG trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Phú Thọ nói riêng và nền văn hóa Việt Nam nói chung Từ đó, đề ra những nhiệm vụ và phương hướng mang tính chiến lược, có tính định hướng trong công tác bảo tồn và phát triển DSVHDG đất Tổ trong thời kỳ mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Đặc biệt trên lĩnh vực bảo tồn, phát triển VHDG, Nghị quyết TW 4 (khóa VII) của Đảng đã xác định được vai trò, vị trí và tầm quan trọng của các DSVHDG trong việc xây dựng nền Văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Từ đó, đưa ra những phương hướng, giải pháp cho công tác bảo tồn, phát huy DSVH trong thời kỳ đổi mới Có thể nói, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa như ngọn đuốc soi đường, định hướng cho hoạt động bảo tồn, bảo tàng trên quy mô cả nước
Ngay trong diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ
VI (1986) đã nhấn mạnh sự quyết tâm của Đảng bộ Tỉnh trong việc thực thi, quán triệt đường lối đổi mới mà Đảng ta đã đề ra Đại hội khẳng định sự đúng đắn, cần thiết của đường lối đổi mới trong sự nghiệp xây dựng CNXH đồng thời Đại hội cũng đưa ra những nhiệm vụ, mục tiêu và phương hướng thực hiện của tỉnh trong những năm tới trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội
Đại hội đã đưa ra những nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch nhà nước 5 năm 1986 - 1990, trong đó nhấn mạnh những mục tiêu và phương hướng chủ yếu cần thực hiện trên lĩnh vực văn hóa, xã hội là: “Nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động văn hóa, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cho nhân dân”, phát huy nét đẹp truyền thống văn hóa trên quê hương đất Tổ [22, tr.22-24]
Quán triệt quan điểm của Đảng bộ Tỉnh đồng thời nhằm cụ thể hóa hơn nữa một số nội dung trong công tác bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân gian, ngày 13/7/1988, Ban thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã ra nghị quyết số 12/NQ/TW về “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”, trong đó nhấn
Trang 35mạnh: Các di tích lịch sử phải được bảo vệ và phát huy tác dụng hơn nữa đối với công tác giáo dục truyền thống cho nhân dân
Đến Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ VII (4/1991), vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, sưu tầm bảo tồn và phát huy các DSVHDG lại một lần nữa được nhấn mạnh
Mốc đánh dấu sự phát triển trong tư tưởng bảo tồn và phát triển DSVHDG của Đảng bộ Tỉnh được thể hiện qua Hội nghị đại biểu Đảng bộ Tỉnh giữa nhiệm kỳ khóa VII (3/1994) Hội nghị đã đánh giá những thành tựu bước đầu Đảng bộ Tỉnh đạt được trong những năm đầu đổi mới trên lĩnh vực văn hóa, xã hội Hội nghị khẳng định: “Hoạt động văn hóa, văn nghệ của Tỉnh đã có những bước phát triển mới Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị cho phóng viên báo chí, văn nghệ sỹ, tăng kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho phục vụ hoạt động văn hóa, văn nghệ của Tỉnh… Hoạt động lễ hội truyền thống, ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc, phong trào hát ru, hát dân ca đã và đang phục hồi Các di tích lịch sử, văn hóa cách mạng được bảo tồn, tôn tạo…” [24, tr.12]
Hội nghị cũng đề ra nhiệm vụ chủ yếu 2 năm 1994 - 1995: Tiếp tục chỉ đạo và thực hiện tốt Nghị quyết 4 của BCH TW Đảng về chủ trương: Chấn hưng nền nghệ thuật dân tộc Từ đó “đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, xã phường văn hóa Có biện pháp phục hồi các giá trị văn hóa cổ truyền vùng đất Tổ Củng cố và tăng cường đoàn kết các hoạt động cho các đoàn nghệ thuật… phục vụ nhu cầu tinh thần của nhân dân” [24, tr.40]
Nối tiếp tư tưởng bảo tồn và phát triển DSVHDG đất Tổ trong thời kỳ đổi mới từ các kỳ đại hội trước, đặc biệt là từ Hội nghị đại biểu giữa nhiệm
kỳ (3/1994) của Đảng bộ Tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ VIII (1995) đã nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của các DSVHDG “đây là vốn quý của vùng đất cội nguồn, có tác dụng giáo dục rất lớn…” các giá trị truyền thống cho nhân dân, đồng thời tiếp tục khẳng định việc cần thiết phải
Trang 36đẩy mạnh hơn nữa công tác bảo tồn, phát huy DSVHDG “đây là một công việc quan trọng…” nhằm “phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa quê hương đất Tổ”, quảng bá nền văn hóa đặc sắc [25, tr.31-32]
Những chủ trương về công tác bảo tồn, phát huy giá trị DSVHDG trong đời sống văn hóa, tinh thần của Đảng bộ Tỉnh có ý nghĩa vô cùng to lớn Nó thể hiện sự đổi mới trong tư duy của Đảng bộ tỉnh trên lĩnh vực văn hóa, sự vận dụng, quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam một cách sáng tạo dựa trên tình hình thực tiễn của tỉnh Đặt trong tình hình thực
tế, Vĩnh Phú vẫn là một tỉnh nghèo, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều hạn chế thì những quan điểm của Đảng bộ Tỉnh cùng những nhiệm vụ, phương hướng Tỉnh đặt ra trong khoảng thời gian 10 năm trên lĩnh vực bảo tồn DSVHDG là những nỗ lực, cố gắng đáng khen, cần tiếp tục phát huy hơn nữa trong thời gian tiếp theo
1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh, trong khoảng thời gian 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996), công tác bảo tồn và phát huy các DSVHDG trên quê hương đất Tổ đã đạt được một số thành tựu quan trọng Thu hút ngày càng đông đảo sự tham gia bảo tồn, gìn giữ DSVH của các cấp chính quyền, nhân dân trong Tỉnh, khẳng định quan điểm, đường lối của Đảng bộ Tỉnh là hoàn toàn đúng đắn
Nhằm giúp nhân dân hiểu rõ hơn về lịch sử địa phương, lịch sử quê hương đất Tổ, Đảng bộ Tỉnh đã chủ trương yêu cầu các huyện, xã nhanh chóng tiến hành biên soạn và xuất bản lịch sử địa phương Ở nhiều nơi có điều kiện tiến hành sưu tầm hiện vật, xây dựng nhà bảo tàng Từ đó, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ, phát huy giá trị các di tích lịch sử trong điều kiện mới
Để khơi dậy nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc, cấp ủy Đảng và chính quyền các địa phương đã chú trọng lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc vận động “Xây dựng xã, phường, thị trấn, khu dân cư văn hóa” và
“Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” Các di tích lịch
Trang 37sử, văn hóa, cách mạng tiếp tục được bảo tồn, tôn tạo nhằm phục vụ tốt hơn đối với công tác giáo dục truyền thống cho nhân dân các dân tộc trong Tỉnh Năm 1993, Nhà bảo tàng Hùng Vương đã khánh thành và nhanh chóng đưa vào sử dụng Mặc dù quy mô Nhà bảo tàng còn nhỏ so với số lượng các di sản và tầm vóc ý nghĩa lớn lao của các di vật, song Nhà bảo tàng ra đời đã một phần nào đáp ứng được nhu cầu của nhân dân sở tại trong việc lưu giữ
và quảng bá nét đẹp văn hóa trên quê hương đất Tổ
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú cũng đã chỉ đạo, phối hợp, tổ chức khôi phục nhiều lễ hội dân gian truyền thống đã bị mai một như: Lễ hội Cướp Phết Sơn Vi (Lâm Thao), Lễ hội Cầu Trâu (Hương Nha - Tam Nông), Lễ hội rước Ông Khiu - bà Khiu (Thanh Đình - Lâm Thao), Lễ hội ném Chài (Vân Luông - Việt Trì)… Đặc biệt, tại Lễ hội Đền Hùng và giỗ tổ Hùng Vương hàng năm đã chú trọng đưa các loại hình VHDG truyền thống vào phục vụ
lễ hội như: Thi gói bánh Trưng, giã bánh Dày, thổi lửa nấu cơm thi… góp phần tái hiện lại một phần cuộc sống của cha ông trong quá khứ, khẳng định
bề dày lịch sử của Việt Nam
Trên cơ sở tiếp thu và quán triệt tinh thần Nghị quyết TW 04 khóa
VII của Đảng về Chấn hưng nền Nghệ thuật dân tộc, Đảng bộ Vĩnh Phú
trong 10 năm đầu đổi mới đã thực hiện chương trình chống xuống cấp di tích, công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích đã được chú trọng và đầu tư bước đầu có hiệu quả, trọng điểm Công tác khảo cứu xếp hạng di tích cũng đã bước đầu tạo cơ sở pháp lý ngăn chặn các hiện tượng vi phạm di tích và phát động được phong trào quần chúng tham gia bảo vệ di tích Tính đến hết tháng 12/1996, riêng tỉnh đã có 90 di tích được xếp hạng, trong đó có 31 di tích cấp quốc gia
Cùng với sự phát triển của ngành khảo cổ học, trong những năm đầu đổi mới, Tỉnh đã phát hiện ra sự ẩn chứa 3 nền văn hóa cổ xưa: Văn hóa Phùng Nguyên, Văn hóa Đồng Đậu, Văn hóa Gò Mun ở mảnh đất “cội nguồn phát tích dân tộc” này
Trang 38Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sưu tầm các giá trị văn hóa truyền thống vùng đất Tổ, ngành VH - TT cũng rất coi trọng việc đưa các loại hình VHDG vào đời sống các tầng lớp nhân dân nhằm tạo cho các hoạt động này có sức sống lâu bền trong đời sống xã hội Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ban thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh, các cơ quan chuyên ngành về văn hóa thông tin, đặc biệt là sự góp sức của Hội VHDG Phú Thọ
đã hợp sức với nhau trong việc nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu vốn văn hóa quý báu của cha ông Năm 1986 địa chí Vĩnh Phú - văn hóa dân gian vùng đất Tổ được xuất bản, đã dựng lên diện mạo văn hóa dân gian ở địa phương,
có ý nghĩa mở đường cho các công trình VNDG tiếp theo Đây là công sức sưu tầm, nghiên cứu và biên tập rất công phu chủ yếu là của nhiều hội viên
ở địa phương trên cả lĩnh vực lịch sử và văn hóa văn nghệ trong suốt thời kỳ
kể từ khi thành lập Hội VNDG Phú Thọ Cuối năm 1991 UBND tỉnh quyết định tái lập Hội VNDG Vĩnh Phú Một không khí mới trong hoạt động sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến VNDG trỗi dậy mạnh mẽ đối với các hội viên
và đông đảo nhân dân trong toàn tỉnh Hội đã phối hợp với Sở khoa học - công nghệ - môi trường tổ chức các đề tài nghiên cứu về VNDG, tạo điều kiện cho hội viên thực hiện có hiệu quả những công trình nghiên cứu của mình Nhiều đề tài đã nghiệm thu, được đánh giá cao như: Lễ hội dân gian đất Tổ (1990), dân ca Vĩnh Phú (1991), tục ngữ, ca dao, vè Vĩnh Phú (1992), truyện cười Văn Lang và truyện dân gian đất Tổ (1993), nghề cổ truyền Vĩnh Phú (1995), thành ngữ, ngạn ngữ Vĩnh Phú và văn hóa làng chạ, Hát ví giao duyên
Nhiều công trình đã được tặng giải thưởng của Hội VNDG Việt Nam trong thời gian này như: Hát xoan Vĩnh Phú, truyện cổ dân gian đất Tổ và truyện dân gian dân tộc ít người Vĩnh Phú, hội làng quê, văn hóa làng Phú Thọ Địa chí văn hóa dân gian thị xã Phú Thọ, trường PTTH Hùng Vương (thị xã Phú Thọ) sưu tầm, nghiên cứu và giảng dạy văn hóa dân gian Một
số công trình khác được UBND tỉnh trao giải thưởng như: Tục ngữ, ca dao,
vè Vĩnh Phú (1993), ví giao duyên, truyện cổ dân gian Vĩnh Phú, truyện dân
Trang 39gian miền núi Vĩnh Phú Nhờ có sự quan tâm, tạo điều kiên giúp đỡ của Sở
VH - TT - DL, Sở khoa học - công nghệ - môi trường, Sở giao thông - vận tải, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, hội đã xuất bản nhiều tác phẩm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam như: Truyện cười Văn Lang, Làng Dòng nội truyện, ca dao Vĩnh Phú, Lân Hổ và đền Sa Lộc (1994), lời
ru, huyền thoại mưa rửa đền, tục ngữ, ca dao, dân ca Vĩnh Phú (1995), truyện kể ở làng, phóng sự Hồ Xuân Hương, truyện dân gian đất Tổ, đất mình ca dao (1996), phong tục lễ nghi thường thức, địa chí xã Đồng Lương (1990)
Đây thực sự là những thành quả to lớn trong việc bảo tồn, giữ gìn và lưu truyền VHDG đất Tổ mà Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ đạt được trong thời kỳ trước đổi mới Không dừng ở lại đó, dưới sự chỉ đạo quan tâm của Đảng bộ, một đội ngũ những cán bộ, chuyên gia làm công tác văn nghệ dân gian đã trực tiếp về từng bản làng, vùng quê tiếp xúc với các nghệ nhân để tiếp tục sưu tầm, chọn lọc những câu ca dao, những câu chuyện kể còn được lưu giữ trong quần chúng Chính trong những chuyến đi thực tế này mới phát hiện và nhận thức được Hát Xoan và Hát Ghẹo là nghệ thuật hết sức độc đáo, là vốn ca nhạc truyền thống đặc sắc mang nét đặc trưng của quê hương đất Tổ Những kết luận với đầy đủ các cứ liệu khoa học và sức thuyết phục
về Hát Xoan và Hát Ghẹo đã giúp nhân dân Phú Thọ khẳng định được “độc quyền”, “địa bàn gốc” của mình về một loại hình văn hóa mang đậm nét dân gian đất Tổ Từ đây, một loạt các công trình nghiên cứu chuyên đề về Xoan, Ghẹo, các hoạt động khôi phục đưa Xoan, Ghẹo trở lại phục vụ quần chúng nhân dân với sự cải biên, nâng cao phù hợp với nội dung và trình độ thẩm
mỹ ngày nay cũng đã đạt được những thành công bước đầu trong sinh hoạt văn hóa quần chúng và được dư luận rộng rãi hoan nghênh Đặc biệt, từ những năm 1994 - 1995, ngành VH - TT đã phối hợp với Sở Giáo dục - đào tạo tổ chức nhiều lớp học hát dân ca Xoan, Ghẹo cho giáo viên dạy âm nhạc trong các trường học để phổ biến cho học sinh, sinh viên
Trang 40Nhìn chung, trong giai đoạn 1986 - 1996, xuất phát từ tình hình Vĩnh Phú còn là một tỉnh nghèo, chậm phát triển hơn so với các tỉnh khác, điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Chính vì vậy, trong các kỳ Đại hội VI, VII, VIII của Đảng bộ Tỉnh nhấn mạnh hàng đầu là việc tập trung phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường công tác xây dựng Đảng Đối với vấn đề văn hóa, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của VHDG đất Tổ trong DSVHDG đồ sộ của Việt Nam, xuất phát từ điều kiện khách quan không cho phép nên Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Phú mới chỉ đề cập tới một cách chung chung và khái quát, đặt hoạt động bảo tồn, phát huy DSVHDG trong hoạt động văn hóa, văn nghệ thể thao nói chung, chưa thực sự có một văn bản quy phạm pháp luật hay Nghị quyết quan trọng nào mang tính định hướng, chỉ đạo chung cho công tác bảo tồn
và phát huy DSVHDG đất Tổ Điều này đã làm hạn chế hơn rất nhiều những thành tựu mà Đảng bộ Tỉnh đạt được trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao trong 10 năm đầu đổi mới Tuy nhiên, trong những kỳ Đại hội sau, vấn
đề văn hóa đã được Đảng bộ Tỉnh dành nhiều quan tâm hơn Không còn theo phạm vi diện rộng, bao quát chung chung như trước mà đã đi vào chiều sâu, đầu tư có trọng điểm, trọng tâm, đặc biệt sau khi tách tỉnh năm 1997