Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về thuế luôn được Chính Phủ Việt Nam đặc biệt chú trọng bởi tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển và ổn định lâu dài về mọi mặt của quốc gia.
Trang 1NGUYỄN THỊ HUẾ PHƯƠNG
HOÀN THIỆN LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trang 2NGUYỄN THỊ HUẾ PHƯƠNG
HOÀN THIỆN LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trang 3Cán bộ hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ MỸ LINH Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công Nghệ TP.HCM ngày 25 tháng 9 năm 2016
Thành phần hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS.Phan Đình Nguyên Chủ tịch
5 TS.Nguyễn Quyết Thắng Ủy viên, Thư ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4TP HCM, ngày 25 tháng 7 năm 2016
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Thị Huế Phương Giới tính: nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 04/03/1990 Nơi sinh: Mỹ Tho-Tiền Giang
Chuyên ngành: kế toán MSHV: 1341850076
I- Tên đề tài:
Hoàn thiện luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nhiệm vụ chủ yếu của luận văn là dựa trên những lý luận cơ bản về thuế TNCN, tập trung phân tích, đánh giá thực trạng việc áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam từ năm
2009 đến năm 2015; tham khảo việc áp dụng thuế TNCN ở một số quốc gia trên thế giới Từ đó, tác giả đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện luật thuế TNCN phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
III- Ngày giao nhiệm vụ: 23/01/2016
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 25/7/2016
V- Cán bộ hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Linh
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
NGUYỄN THỊ HUẾ PHƯƠNG
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị đồng nghiệp và người thân Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới: Ban giám hiệu, quý thầy cô Phòng đào tạo sau đại học, trường Đại Học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Linh- Phó Trưởng khoa Tài Chính Ngân Hàng trường Đại học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh- một người đáng kính trong công việc cũng như trong cuộc sống Cô đã động viên giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành được luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ anh chị em, các bạn đồng nghiệp yêu quý đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập, làm việc và hoàn thành luận văn
Trang 7TÓM TẮT
Trong hơn bảy năm từ khi Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực vào ngày 01/01/2009, đây là sắc luật gây nhiều tranh cãi nhất từ trước tới nay Điều đó cho thấy sự phức tạp cũng như ít đồng thuận, từ không chỉ người dân mà cả trong giới công chức Tất nhiên trong bối cảnh thực hiện cam kết Quốc tế nói chung, cam kết thuế nói riêng, chính sách thuế cần thiết phải cải cách để phù hợp với thông lệ quốc tế Trên cơ sở khái quát đặc điểm, thực trạng vận dụng luật thuế thu nhập cá nhân và những hạn chế, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần làm cho luật thuế thu nhập cá nhânáp dụng vào thực tiễn
dễ dàng hơn, cụ thể 2 nhóm giải pháp được đề cập chủ yếu: (1) một số nội dung cần thiếtđược sửa đổi của luật thuế thu nhập cá nhân:đề xuất mức giảm trừ gia cảnh, biểu thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản, bổ sung thu nhập từ quà tặng vào thu nhập chuyển nhượng bất động sản;bổ sung quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa cha dượng với con riêng của vợ và giữa mẹ kế với con riêng của chồng; (2) một vài kiến nghị: đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong toàn dân, xây dựng hành lang pháp lý cho đại lý thuế, đa dạng hóa các hình thức thanh toán, đồng bộ dữ liệu giữa các cơ quan quản
lý, phát triển nguồn nhân lực quản lý thuế chuyên nghiệp
Trang 8ABSTRACT
In more than seven years after the personal income tax Law in effect on May 1,
2009, this is the most controversial Act ever It shows the complexity as well as less consensus, from not only the people but also among public servants Of course in the context of the implementation of international commitments in General, committed in particular tax, tax policy reform need to be consistent with international practices On the basis of essential characteristics, status use the personal income tax law and the limitations, the thesis put forward a number of solutions in order to contribute to the personal income tax Act applied into practice easier, specifically mentioned Solutions Group 2 mainly: (1) some of the content needed to be modified by the individual income tax law : suggest reduced levels except for background, the personal income tax for the transfer of property, abolished the income from gifts; supplement the provisions of the personal income tax exemption for income from transfer of property between his stepfather with sons and between the stepmother with stepchildren; (2) a few recommendations: promote advocacy work in the whole population, to build a legal corridor for tax agents, diversify the forms of payment, synchronizing data between the management
bodies, development of human resources to manage the professional tax
Trang 9MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 8
1.1.Tổng quan về thuế 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Vai trò của thuế 10
1.1.3 Đặc điểm của thuế 11
1.2.Hệ thống thuế 12
1.3.Thuế thu nhập cá nhân 12
1.3.1 Lịch sử ra đời của thuế thu nhập cá nhân 13
1.3.2 Khái niệm thu nhập và thu nhập cá nhân 14
1.3.3 Khái niệm thuế thu nhập và thuế thu nhập cá nhân 17
1.3.4 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 17
1.3.5 Sự cần thiết xây dựng luật thuế thu nhập cá nhân 17
1.3.6 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 19
1.3.7 Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân 20
1.3.8 Cơ sở xây dựng luật thuế thu nhập cá nhân 23
1.4.Kinh nghiệm xây dựng luật thuế thu nhập cá nhân của một số nước trên thế giới 30
1.5.Bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam 30
1.5.1 Về xây dựng mô hình đánh thuế 30
1.5.2 Về phương pháp đánh thuế 31
1.5.3 Đơn vị tính thuế 32
1.5.4.Xác định thu nhập chịu thuế 33
1.5.5 Thuế suất thuế thu nhập cá nhân 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 36
Trang 102.1 Quá trình phát triển của thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 36
2.2 Nội dung cơ bản của luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 40
2.2.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân 40
2.2.2 Căn cứ và phương pháp tính thuế đối với cá nhân cư trú 44
2.2.3 Căn cứ và phương pháp tính thuế đối với cá nhân không cư trú 49
2.2.4 Đăng ký, khấu trừ thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế 51
2.3 Thực trạng áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành tại Việt Nam 51
2.3.1.Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh 57
2.3.2 Thu nhập từ tiền lương, tiền công 58
2.3.3 Thu nhập từ đầu tư vốn 59
2.3.4 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, nhượng quyền thương mại, bản quyền 59
2.3.5.Thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản 62 2.3.6 Thu nhập từ trúng thưởng 63
2.3.7 Các khoản thu nhập khác 65
2.4 Đánh giá thực trạng luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành tại Việt Nam 65
2.4.1 Một số ưu điểm của luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành 67
2.4.2 Một số hạn chế 70
2.4.3 Nguyên nhân những hạn chế của luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành ở Việt Nam 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 77
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 77
3.3.Kiến nghị đến các cơ quan chức năng khác 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á The Asian Development Bank
APEC
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á
– Thái Bình Dương
Asia-Pacific Economic Cooperation
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
Association of Southeast Asian Nations
ASEM
Diễn đàn hợp tác Á–Âu
(còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh Á
(đơn vị tiền tệ của Đức) Deutsche Mark
EU Khối liên minh Châu Âu European Union
FR Franc Pháp là tiền tệ Pháp
FTA Hiệp định thương mại tự do Free trade agreement
GDP Tổng sản phẩm nội địa Gross Domestic Product
IFC Tập đoàn tài chính quốc tế
International Finance Corporation
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế International Monetary Fund
Trang 12USD đô la mỹ (đơn vị tiền tệ của Mỹ) United States dollar
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao qua các năm 37
Bảng 2.2.Biểu thuế lũy tiến từng phần 46
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số thu ngân sách Nhà Nước qua các năm 52
Bảng 2.4 Tỷ trọng nguồn thu thuế TNCN qua các năm 56
Bảng 2.5 Tỷ trọng nguồn thu thuế TNCN từ chuyển nhượng vốn, nhượng quyền thương mại, bản quyền qua các năm 59
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp mức lương cơ sở qua từng thời kỳ 77
Bảng 3.2: Đề xuất mức giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công 79
Bảng 3.3: Đề xuất biểu thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản 80
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao qua các năm ……… 38Hình 2.2: Thu thuế TNCN qua các năm 55Hình 2.3:Tình hình tăng giá hàng hóa qua chỉ số giá giai đoạn 2006-2015 71
Trang 15MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO cũng như nhiều định chế tài chính như WB, ADB, IMF Việc gia nhập WTO vào năm 2007 đã
mở ra quan hệ thương mại bình đẳng giữa Việt Nam với 150 quốc gia và vùng lãnh thổ Đây là một thành tựu quan trọng của việc thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia bình đẳng trong thương mại với các nước trên thế giới Những quy luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng phút điều chỉnh lại nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốc gia.Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hóa nền kinh tế đang dần chứng tỏ là một quy luật của loài người tiến bộ Để bắt kịp quá trình này, thì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằm làm phù hợp và thích nghi với môi trường bên ngoài.Việt Nam cũng đang tích cực tham gia đàm phán 6 FTA khác, gồm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu Âu (EU), với Liên minh thuế quan Nga, Belarus,Cộng hoà Kazakhstan, với Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA) gồm các nước Thụy Sỹ, NaUy, Ngoài ra, ta cũng tích cực chủ động tham gia sâu vào diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), đã đăng cai năm APEC 2006
và tiến tới sẽ đăng cai APEC năm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về thuế luôn được Chính Phủ Việt Nam đặc biệt chú trọng bởi tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển và ổn định lâu dài về mọi mặt của quốc gia.Trong quá trình xây dựng chính sách, Bộ Tài chính luôn mong muốn xây dựng cơ chế, chính sách về thuế nhằm tạo thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ cho doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh khi hội nhập.Theo thông lệ các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngược lại, giảm dần thuế gián thu.Do vậy tất cả các chính sách thuế hiện hành đều đã được thay đổi theo hướng giảm nghĩa
vụ thuế, chẳng hạn từ năm 2000 đến nay, thuế chuyển quyền sử dụng đất được giảm tới
Trang 1625 lần, lệ phí trước bạ giảm 50%.Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 32% (năm 1997) xuống 28% (năm 2003), 25% (năm 2009), 22% (năm 2014) và 20% (năm 2016)1 Hiện nay ngành thuế cũng đã xóa bỏ trên 300 loại phí không cần thiết, một số loại như phí đường bộ, hàng hải giảm tới 30%-40% Theo tính toán ban đầu, khi cắt giảm các loại thuế và phí này, Nhà nước bị thất thu trên 1.000 tỷ đồng NSNN phụ thuộc vào 3 khoản thu chủ yếu gồm xuất nhập khẩu chiếm 25% ngân sách, tương đương khoảng 60.000 tỷ đồng mỗi năm Số thu từ xuất khẩu dầu thô cũng vào khoảng 25% Như vậy, 50% NSNN là các khoản thu nội địa Chính vì thế, để bù đắp cho sự giảm sút này Chính phủ cần quan tâm hơn đến thuế trực thu: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế TNCN
Thuế TNCN là loại thuế trực thu phổ biến và cơ bản trong các nềnkinh tếthịtrường Hiện nay, hơn 180 nước trên thế giới đã áp dụng Luật Thuế TNCN, tỷtrọng thuế thu nhập chiếm khoảng 13-40% tổng sốthu ngân sách tùy theo quan điểm đánh thuếcủa từng nước Chẳng hạn như ởMỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đứclà 30-40%; Các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philippines chiếm khoảng 13-14%, Việt Nam chiếm khoảng 4%
Ở Việt Nam, thuế TNCN đã được đưa vào áp dụng từ năm 1991 với tên gọi “thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao”.Qua 7 lần (bảy lần) sửa đổi bổ sung để điều chỉnh
và quản lý nguồn thuế TNCN, Quốc hội đã ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009 Sau 3 năm đi vào cuộc sống, Luật Thuế TNCN đã bộc
lộ một số bất cập và chưa theo kịp diễn biến phức tạp của thị trường, tạo tâm lý không thoải mái đối với một bộ phận người nộp thuế Vì thế ngày 22/11/2012, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XIII đã sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân số26/2012/QH13 và có hiệu lực thi hành từ ngày
1Nguyễn Bích Ngọc (2015), Thành tựu cải cách thuế trong 30 năm đổi mới (1986-2016), Tạp chí tài chính số 8 kỳ 1-2015
Trang 1701/07/2013 Ngày 26/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luậtsửa đổi, bổ sung một sốđiều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015
Qua hơn 7 năm thực hiện triển khai Luật thuế TNCN và hai lần sửa đổi bổ sung đã đạt được những kết quả nhất định như mở rộng được đối tượng chịu thuế, từng bước góp phần đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội; đóng góp trong tổng thu NSNNtừ thuế TNCNtrong năm 2013 đạt 46.612tỷ đồng, năm
2014 đạt 47.432 tỷ đồng, năm 2015 đạt 56.730 tỷ đồng Tuy nhiên, đểLuật thuế TNCN thực sự phát huy được vai trò là công cụ phân phối thu nhập, đảm bảo tính công bằng
xã hội khi áp dụng vào thực tiễn thì cần giải quyết một số bất cập như:cần bổ sung về nội dung luật thuế TNCN: thu nhập chịu thuế, mức giảm trừ gia cảnh, biểu thuế lũy tiến;tổchức thực hiện chính sách chưa hiệu quả, bộ máy quản lý cồng kềnh và kiểm soát thực hiện chính sách, công tác tin học hóa trong quản lý thuế TNCN cũng chưa được nâng cao dẫn đến việc gây phiền khó khăn cho người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế,làm giảm hiệu quả của chính sách thuế TNCN trong xã hội Vì những lý
do trên đây nên tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt
Nam”
2.Mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu
2.1.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: hoàn thiện luật thuế TNCN phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn hướng tới giải quyết những nhiệm vụ cụ thể:
- Đánh giá thực trạng việc áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2015
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện luật thuế TNCN phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
2.2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 18Đối tượng nghiên cứu: những cơ sở lý luận về thu nhập, thuế TNCN
Phạm vi nghiên cứu: luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện hành, giai đoạn 2009-2015
2.3.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính từ lý thuyết khái quát lên những
lý luận cơ bản về thuế TNCN; bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm từ thực tế, kết hợp thêm phương pháp so sánh để phân tích, đánh giá quá trình áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam hiện nay.Từ đó tác giả đưa ra một số tồn tại và định hướng một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện luật thuế TNCN phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Nhà Nước
3.Tổng quan các nghiên cứu trước
Ở Việt Nam, trong thời gian qua có một số nghiên cứu liên quan đến thuế TNCN với góc độ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát như sau:
Trước khi có luật thuế TNCN số 04/2007/QH12
Đề tài “Chính sách Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Mai Thị Mai Hoa (năm 2004), Nguyễn Thị Liên (năm 2007) nghiên cứu
“Hoàn thiện chính sách Thuế thu nhập góp phần phát triển kinh tế Việt Nam trong thời
kỳ hội nhập WTO” các tác giả đã làm rõ lý luận, thực trạng áp dụng chính sách thuế TNCN, thông qua việc tham khảo việc áp dụng thuế TNCN ở một số nước và từ đó đưa
ra những vấn đề cần hoàn thiện và xây dựng chính sách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Đàm Phương Lan (2008) với đề tài “Thuế thu nhập cá nhân – những bất cập trong vận dụng ở Việt Nam và điểm mới trong sửa đổi”.Trên cơ sở khái quát đặc điểm và thực trạng vận dụng pháp lệnh thuế TNCN qua sự đóng góp và những hạn chế để dẫn đến sự
ra đời của Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009, bài viết đưa ra một số nhận xét về những tích cực và hạn chế của Luật mới này trong quá trình vận dụng vào thực tế tại Việt Nam
Trang 19Nguyễn Thị Thanh Thủy (2009) nghiên cứu “Các giải pháp thực thi luật thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam” Tác giả đưa ra 3 nhóm giải pháp thực thi luật thuế TNCN: một là nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động và hoạt động của cơ quan quản lý thuế, hai là nâng cao năng lực cán bộ quản lý thuế và ba là một số giải pháp nhằm bảo đảm công bằng trong quá trình thực thi luật thuế TNCN
Sau khi luật thuế TNCN số 04/2007/QH12ban hành
Năm 2011, Bộ Tài Chính phối hợp với Wolrd Bank nghiên cứu đề tài “Cải cách thuế ở Việt Nam: hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”.Mục đích của loạt bài nghiên cứu trong tập sách này là làm rõ các vấn đề mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong quá trình cải cách chính sách và công tác quản lý thuế của mình.Các bài nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị chính sách cụ thể đóng góp vào công tác chuẩn bị các chính sách
và văn bản pháp quy quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu về thu NSNN
và các mục tiêu cải cách ngành quản lý thuế khác trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế -
Xã hội năm 2011- năm 2015
Cùng thời gian năm 2011, Nguyễn Thị Mỹ Linh nghiên cứu về “Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản thực trạng và giải pháp” Mục tiêu của nghiên cứu nhằm hoàn thiện chính sách thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS để phát triển thị trường BĐS Việt Nam lành mạnh, đồng thời tăng thu ngân sách nhà nước.Để đạt được mục tiêu nêu trên, bài nghiên cứu tập trung hướng đến các mục tiêu cụ thể sau: (i) cơ
sở thu thuế thu nhập từ chuyển nhượng BĐS; (ii) đánh giá chính sách thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS hiện hành; (iii) đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS trên cơ sở có nghiên cứu và chọn lọc kinh nghiệm thu thuế của các nước
Nguyễn Thị Diễm Châu & Nguyễn Thị Kim Tuyển (2012) nghiên cứu "Những vấn đề cần bổ sung sửa đổi luật thuế thu nhập cá nhân” Tác giả tổng hợp kết quả đạt được từ khi Việt Nam ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập của những người có thu nhập cao và
kế đến là Luật thuế TNCN ra đời (thực hiện từ ngày 1/1/2009): (1) Góp phần tăng thu
Trang 20ngân sách, góp phần điều tiết thu nhập các tầng lớp dân cư, thể hiện công bằng xã hội, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, hạn chế mức chênh lệch thu nhập các dân cư trong xã hội; và (2) Góp phần quản lý các thu nhập của dân cư, hạn chế được những hoạt động phi pháp, tham nhũng, tiêu cực, khuyến khích tính tích cực làm giàu của người dân trong xã hội Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy một số điều quy định trong Luật thuế TNCN chưa được phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt là trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, tiền tệ, lạm phát cao và giá cả tăng vọt trong những năm qua, những điều đó là: mức giảm trừ gia cảnh của người nộp thuế, thuế suất giữa các bậc thuế quá dày.Khoảng cách thu nhập giữa các bậc thuế gần nhau quá Bài viết này đề cập đến những vấn đề về mức giảm trừ gia cảnh, thuế suất và khoảng cách thu nhập giữa các bậc thuế Điều chỉnh được các vấn đề này sẽ giải quyết được những hạn chế cơ bản của Luật thuế TNCN Nếu các nhà hoạch định chính sách khi nghiên cứu sửa đổi chính sách, cần lưu ý, có mức giảm trừ gia cảnh phù hợp, có thuế suất và khoảng cách các bậc thuế hợp lý thì Luật thuế TNCN sẽ được nhiều người đồng thuận và khả năng thực thi cao góp phần tăng thu ngân sách, khuyến khích người lao động tăng năng suất, khuyến khích họ làm giàu chính đáng Đó là cơ sở vững chắc tăng thu, phát triển kinh
tế, và tạo điều kiện dân giàu nước mạnh
Qua 3 năm vận hành chính sách thuế TNCN tại Việt Nam, đặc biệt đây là lần đầu tiên hoạt động thừa kế, quà tặng tại Việt Nam được đưa vào điều chỉnh trong luật thuế này Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh (2012) nghiên cứu “Thu thuế đối với tài sản thừa kế và quà tặng tại Việt Nam – nhìn từ các nước” Trong bài nghiên cứu này tác giả lựa chọn 3 quốc gia có các điều kiện về kinh tế, xã hội và hệ thống chính sách thu thuế đối với tài sản thừa kế và quà tặng khác nhau để nghiên cứu: Đài Loan, Pháp, Mỹ Qua 3 quốc gia đại diện trên sẽ rút ra những kinh nghiệm bổ ích về chính sách thu thuế đối với thu nhập từ hoạt động thừa kế và quà tặng cho Việt Nam
Gần đây nhất, đầu năm 2015, nhóm tác giả Sử Đình Thành, Bùi Thanh Trung, Trần Trung Kiên nghiên cứu “Cải cách hệ thống thuế Việt Nam theo cam kết hội nhập quốc
Trang 21tế đến năm 2020” Nội dung bài nghiên cứu cho thấy: hệ thống thuế tại Việt Nam đã được điều chỉnh phù hợp với các yêu cầu cơ bản của cơ chế kinh tế thị trường và các điều kiện pháp lý cần thiết cho việc gia nhập WTO cũng như hội nhập quốc tế Gần đây, Thủ Tướng đã phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu nâng tổng thu thuế lên đến 23%-24% GDP Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện rằng tăng quy mô thu thuế gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế Do vậy, thời gian tới Việt Nam cần vượt qua nhiều thách thức trong quá trình cải cách thuế, cụ thể: mở rộng cơ sở thuế, đơn giản hóa quản lý thuế theo tiêu chuẩn quốc tế và hài hòa hệ thống thuế giữa các thành viên ASEAN
4 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn có ý nghĩa về mặt khoa học góp phần làm rõ cơ sở lý luận về thuế TNCN
Về ý nghĩa thực tiễn, thông qua đánh giá thực trạng luật thuế TNCN ở Việt Nam luận văn đề xuất một số giải pháp mới nhằm hoàn thiện nội dung luật thuế TNCN ở Việt Nam:
-Thay đổi mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc theo mức lương cơ sở
-Bãi bỏ căn cứ tính thuế đối với khoản thu nhập từ quà tặng, thêm từ “quà tặng” vào khoản 4, khoản 5 điều 2 của luật thuế TNCN hiện hành
-Quy định thời hạn đăng ký vốn hoạt động kinh doanh là 5 năm đối với các loại hình doanh nghiệp
-Bổ sung quy định miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa cha dượng với con riêng của vợ và giữa mẹ kế với con riêng của chồng
5.Bố cục dự kiến của luận văn:
Luận văn được chia thành 3 chương, có kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Thực trạng luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1.Tổng quan về thuế
1.1.1 Khái niệm
Khái niệm về thuế
Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội Bằng quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế
Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên góc độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: “thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) trên tài sản” Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước
Trên góc độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho Nhà Nước theo mức quy định
Những khái niệm về thuế nêu trên nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc
độ khác nhau nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế Đến nay, tuy chưa có định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng để
Trang 23làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây:
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà Nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp;
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà Nước;
- Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định
- Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội
Khái niệm Công bằng chiều ngang, công bằng chiều dọc
Công bằng chiều ngang là sự đối xử như nhau với những người có tình trạng kinh tế
giống nhau Công bằng ngang thể hiện sự nhìn nhận cơ bản về bình đẳng, mọi phân biệt đối xử giữa các cá nhân theo màu da, tín ngưỡng, tôn giáo, giới tính… đềi bị coi là vi
phạm nguyên tắc công bằng ngang
Công bằng chiều dọc là đối xử có phân biệt giữa những người có khả năng kinh tế
khác nhau nhằm giảm bớt những khác biệt sẵn có, luật thuế phải phân phối gánh nặng thuế công bằng cho mọi người phù hợp với từng khả năng chi trả
Cụ thể trong việc xây dựng chính sách thuế: Những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người
Trang 24có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải áp dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc)
1.1.2 Vai trò của thuế
Thứ nhất, thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà Nước
Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, để huy động tập trung nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà Nước thì vai trò quan trọng này thuộc về thuế Sử dụng công cụ thuế để huy động tiền thuế cho Nhà Nước có ưu điểm: phạm vi thu thuế rộng, nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra, tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công
cụ tài chính khác còn thể hiện ở chổ thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng chế, được quy định dưới hình thức pháp luật với kích thích vật chất, nhằm tạo ra sự quan tâm của đối tượng nộp thuế đến chất lượng hiệu quả kinh doanh
Vì những ưu nhược điểm nêu trên, thuế luôn được coi là nguồn thu chủ yếu của NSNN Nguồn thu của NSNN có thể gia tăng khi và chỉ khi nền kinh tế có sự tăng trưởng và đạt năng suất hiệu quả cao
Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà Nước có khả năng sử dụng chính sách thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều đó xuất phát từ chức năng điều chỉnh của thuế Vì lợi ích
xã hội, Nhà Nước có thể tăng thuế hoặc giảm thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cư và doanh nghiệp để kích thích hoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế
Thứ ba, thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối
Sự phát triển kinh tế của một quốc gia là kết quả nổ lực của cộng đồng xã hội Mọi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định, được hưởng lợi ích thỏa đáng, hài hòa từ thành quả của sự phát triển kinh tế Để thực hiện được yêu cầu này, Nhà Nước phải sử dụng công cụ thuế để quản lý điều hòa thu nhập xã hội
Trang 25Vấn đề then chốt là quá trình thực hiện phân phối thu nhập xã hội của thuế phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối Nhà Nước áp dụng chính sách thuế phải thống nhất giữa các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân
cư, không phân biệt giữa các đơn vị, cá nhân Khi các tổ chức, cá nhân có điều kiện kinh doanh và có thu nhập giống nhau đều phải nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang) Người có thu nhập quá thấp không đủ bảo đảm đời sống thì không phải nộp thuế (công bằng theo chiều dọc) Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội kinh doanh có hiệu quả, có năng suất cao sẽ đạt thu nhập cao hơn Từ đó, kích thích mọi tổ chức, cá nhân tập trung sự đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh để có thu nhập cao một cách chính đáng
Vai trò phân phối lại của thuế được thực hiện thông qua việc Nhà Nước sử dụng tiền thuế đã nộp vào NSNN để chi tiêu cho các hoạt động chức năng của Nhà Nước, dịch
vụ công cộng phục vụ chung cho toàn xã hội Do đó, việc phân phối lại thu nhập xã hội
là biện pháp mà chính phủ phải thực hiện, nhằm góp phần điều hòa thu nhập, làm giảm bớt những chênh lệch do phân phối thu nhập quốc dân tạo ra, đồng thời cung cấp những nhu cầu rất cần thiết cho nhân dân
Thứ tư, ngoài những vai trò nêu trên thuế là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh
Thông qua hình thức khai báo thuế của các doanh nghiệp, công ty và công tác kiểm tra kiểm soát, cơ quan thuế biết được thực trạng các hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân và doanh nghiệp Từ đó, các cơ quan chức năng có thể phát hiện ra những vấn đề gian lận trong thương mại, thuế, khai báo sai tình hình sản xuất kinh doanh so với thực tế, góp phần chấn chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao vai trò giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh trong xã hội của cơ quan thuế
1.1.3 Đặc điểm của thuế
Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ
Trang 26khác Những đặc trưng đó là:
Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình
thức động viên tài chính khác của NSNN Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà Nước Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà Nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân
Tính không hoàn trả trực tiếp: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông
qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của Nhà Nước Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà Nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người
Tính pháp lý cao: thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định
bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật nộp thuế
1.2.Hệ thống thuế 2
Hệ thống thuế là tập hợp các sắc thuế của một quốc gia trong một thời điểm nhất định
Ở Việt Nam, hệ thống chính sách thuế hiện nay bao gồm các sắc thuế và phí, lệ phí chủ yếu sau đây (xem Phụ Lục 1):Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế giá trị gia tăng; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế nhà thầu nước ngoài; thuế tài nguyên; thuế bảo vệ môi trường; thuế môn bài; phí, lệ phí
1.3.Thuế thu nhập cá nhân
2 Phụ lục 1: hệ thống thuế ở Việt Nam
Trang 271.3.1 Lịch sử ra đời của thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát triển Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế TNCN đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm
1842 Sau đó thuế TNCN đã nhanh chóng được lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922), Trung Quốc (1936)… Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thời nhà Trần, thuế thân mang tính chất là thuế TNCN bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam,
được ban hành năm 1378 Bước đầu thuế thân thu 3 quan tiền/suất đinh, tương đương
54 kg (kilogram) thóc Đến thời nhà Nguyễn (giai đoạn Việt Nam bị Pháp đô hộ) vẫn giữ nguyên các sắc thuế như đã có dưới các triều đại phong kiến trước, trong đó có thuế thân và đưa ra thêm các loại thuế khác Nhìn chung, thuế dưới thời Nguyễn là nặng nề phức tạp mang tính vơ vét, bóc lột Trong thời kỳ đấu tranh thống nhất đất
nước: ở miền Bắc, sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Hồ Chủ Tịch đã
ký sắc lệnh 11- trong đó chế độ thuế thân đã được bãi bỏ; ở miền Nam dưới thời chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 có thuế lợi tức mang tính chất là một loại thuế đánh vào thu nhập của cả thể nhân và pháp nhân Trong đó thuế lợi tức đối với thể nhân chính là dạng tương tự của thuế TNCN, thể hiện ở: (1) thu nhập chịu thuế: là thu nhập
từ lao động như lao động từ tiền lương, tiền công, thu nhập về bản quyền phát minh, nhãn hiệu hàng hóa, phụ cấp tiền thưởng, (2) lợi tức chịu thuế (hay thu nhập chịu thuế) cũng được xác định là thu nhập sau khi đã trừ đi một số khoản chi phí hợp lý nhất định Đó là tổng thu nhập nhận được trừ bớt đi các chi phí tạo ra thu nhập, sau đó thu nhập chịu thuế còn được trừ tiếp một số khoản tùy theo gia cảnh của hộ nộp thuế như chi phí nuôi dưỡng con, cha mẹ và một số khoản có tính chất xã hội khác để xác định thu nhập chịu thuế (3) phương pháp đánh thuế theo hộ gia đình: đó là thu nhập thuần,
Trang 28tính chung của cả gia đình (4) Thuế suất, biểu thuế suất: thuế suất được áp dụng là thuế suất theo tỷ lệ %, biểu thuế lũy tiến theo từng phần gồm 7 bậc từ 10-70% đối với các thể nhân có trụ sở ở Việt Nam Đối với các thể nhân không có trụ sở tại Việt Nam
áp dụng một thuế suất duy nhất là 40% Sau khi thống nhất đất nước, Nhà Nước ta đã
bãi bỏ chế độ thuế TNCN của chính quyền Sài Gòn cũ Sau năm 1975, vào ngày
01/04/1991 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã được ban hành
và áp dụng như luật thuế TNCN hoàn chỉnh lần đầu tiên ở Việt Nam Pháp lệnh tồn tại khá lâu (có hiệu lực trong 18 năm từ năm 1991 đến năm 2008), đã được sửa đổi bổ sung 7 lần (bảy lần) cho hoàn chỉnh hơn vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999,
2001, 2004 Sau 18 năm (mười tám năm) tồn tại, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được thay thế bởi Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 Quốc Hội khóa 12 thông qua ngày 21/11/2007 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2009 Sau
3 năm (ba năm) đi vào cuộc sống, luật thuế TNCN đã bộc lộ một số bất cập và chưa theo kịp diễn biến phức tạp của thị trường, tạo tâm lý không thoải mái đối với một bộ phận người nộp thuế Vì thế, ngày 22/11/2012, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XIII đã ban hanh luật số 26/2012/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013 Ngày 26/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015
1.3.2 Khái niệm thu nhập và thu nhập cá nhân
Về thu nhập, có thể khái niệm theo các góc độ kinh tế và góc độ thu thuế như sau:
-Về kinh tế: khái niệm thu nhập thường được hiểu trên cơ sở lý thuyết về nguồn tài sản và lý thuyết về sự tăng trưởng tài sản thuần túy
+ theo lý thuyết về nguồn tài sản: thu nhập là tổng số của cải bổ sung hàng năm cho từng người từ nguồn kinh doanh hay lao động dự định mang lại
Trang 29+ theo lý thuyết về tăng trưởng tài sản thuần túy: thu nhập là tổng đại
số các giá trị trên thị trường của các nguồn lợi được hưởng dưới dạng tiêu dùng và những thay đổi giá trị về quyền sở hữu tài sản trong một thời gian nhất định
-Về góc độ thu thuế: trong các luật thuế hiện nay ở các nước, thu nhập được hiểu là các khoản thu bằng tiền và hiện vật do hoạt động sản xuất kinh doanh,
do lao động dịch vụ làm ra cho bản thân và xã hội hoặc từ một quan hệ xã hội nào đó mà có Nó mang tính ước lệ là chính, thuộc phạm vi qui định trong pháp luật thuế của từng nước Thông thường, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được qui ước là có sự loại trừ các khoản chi phí cần thiết mang tính
bù đắp chi phí bỏ ra và chi trả lao động làm thuê để xác định thu nhập tính thuế Đối với các loại thu nhập khác, thường không được trừ khoản chi phí nào hoặc chỉ được trừ một số khoản theo qui định, ví dụ: chi phí bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, chi phí mang tính xã hội nuôi dưỡng con, bố mẹ
Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế quan niệm về thu nhập dưới các góc độ khác nhau Hai nhà kinh tế Anh là R.M Haig và H.G Simons đầu thế kỷ 20 đã đưa ra định nghĩa về thu nhập (sau này gọi là định nghĩa Haig-Simons): là tổng giá trị của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thời gian nhất định, thường là một năm Quan điểm này mang tính lý thuyết và được chấp nhận rộng rãi Tuy nhiên, trên thực tế rất khó thực hiện, vì giá trị tăng thêm đó mới chỉ dừng lại dưới dạng tiềm năng, mặt khác nó lại được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như bằng tiền, hàng hóa và dịch vụ song lại chỉ được thực hiện khi có sự chuyển dịch quyền sở hữu
Dựa trên cơ sở định nghĩa Haig-Simons, các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra hai quan niệm mới về thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập cá nhân:
- Quan điểm về khái niệm “thu nhập bao quát” cho rằng, thu nhập là mọi khoản thu nhập ròng từ các nguồn sau khi đã khấu trừ các chi phí để tạo ra
Trang 30chúng, từ đó hình thành một phương thức đánh thuế trên tổng tài sản ròng, nghĩa là đánh thuế vào tất cả các lợi ích nhận được, bao gồm các lợi ích ngẫu phát - lợi ích có tính chất nhất thời
- Quan điểm về khái niệm “thu nhập hạn hẹp” dựa trên cơ sở thu nhập chỉ giới hạn trong những lợi ích phát sinh lặp đi lặp lại, có tính chất liên tục để hình thành một phương thức đánh thuế thu nhập dựa trên các nguồn phát sinh thu nhập
Nhà kinh tế học người Mỹ Paul A Samuelson đã đưa ra một khái niệm thu nhập tương đối hoàn chỉnh: “thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoản thời gian nhất định (thường là một năm)” Thuật ngữ “tiền” ở đây được hiểu là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng, nhận được từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ từ lao động, từ quyền sở hữu về tài sản, về tiền mà có hoặc tiêu dùng các dịch vụ không phải thanh toán
Trong các định nghĩa nêu trên, mặc dù chưa phản ánh một cách đầy đủ tất cả các khía cạnh của thu nhập, nhưng tổng hợp lại cho thấy thu nhập có một số điểm chung sau đây:
- Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế, xã hội thể hiện tính sở hữu của thu nhập
- Thông thường việc xác định thu nhập của các chủ thể khác nhau trong một thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ – là hình thức thông qua đó có thể biết được tổng thu nhập các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một pháp nhân
- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và nhà nước thực hiện
Về thu nhập cá nhân, theo Lê Xuân Quang (2012) thu nhập cá nhân là tổng số tiền,
hàng hóa, dịch vụ mà cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định
Trang 311.3.3 Khái niệm thuế thu nhập và thuế thu nhập cá nhân
1.3.3.1 Khái niệm thuế thu nhập
Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và pháp nhân Trong trường hợp đánh vào thu nhập của cá nhân, nó được gọi là thuế thu nhập cá nhân Còn trong trường hợp đánh vào thu nhập của pháp nhân, nó được gọi là thuế doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sự nghiệp, thuế lợi nhuận Ở hầu hết các nước, thuế thu nhập là nguồn thu của chính quyền trung ương
1.3.3.2 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
là loại thuế trực thu, thu vào thu nhập cá nhân trong một khoản thời gian nhất định, thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập Đây là loại thuế được áp dụng từ rất lâu và phổ biến ở nhiều quốc gia nhằm mục tiêu tập trung nguồn thu cho NSNN và thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
1.3.4 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của cá nhân và luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia, mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập Khi tính thuế có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân nộp thuế
Thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần vì xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao và động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, với nhiều loại thu nhập khác nhau, khả năng tạo nguồn thu cho NSNN cao
Thu nhập thông thường được xác định mỗi năm một lần nên thuế TNCN cũng được xác định chung cho cả năm Tuy nhiên, thuế TNCN cũng có thể xác định hằng quý hoặc mỗi tháng một lần
1.3.5 Sự cần thiết xây dựng luật thuế thu nhập cá nhân
Trang 32Thuế TNCN ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì thu nhập của một
cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ…) Trong điều kiện đó sự phân hóa giàu nghèo khi phân phối thu nhập
là điều khó tránh khỏi Vì vậy, cần áp dụng thuế TNCN để thực hiện điều tiết thu nhập nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Mặt khác, hệ thống thuế thông thường áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế trực thu Thuế TNCN là loại thuế trực thu, tức là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của
họ Vì thế, TNCN đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì chỉ thực hiện được công bằng theo chiều ngang, tức là tất cả mọi người đều phải nộp thuế như nhau không phân biệt khả năng của họ Để đảm bảo sự công bằng theo cả chiều ngang và chiều dọc trong chính sách thuế khóa thì cần thiết phải ban hành thuế TNCN để điều tiết thu nhập theo khả năng đóng góp của người nộp thuế
Do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà Nước Sự giảm dần của thuế quan do yêu cầu tự do hóa thương mại để phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải tăng nguồn thu tài chính nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp (công ty) và thuế TNCN, trong đó thuế TNCN là nguồn tài chính lớn cho ngân sách của các quốc gia, đặc biệt đối với các nước phát triển Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất số người nộp thuế TNCN chỉ chiếm khoảng gần 1 triệu người, năm 1939 tăng lên 5 triệu, thì đến năm 1980 con số này là
100 triệu người, thuế này trở thành loại thuế đại chúng
Thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều tiết vĩ mô, kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế Một trong những lý thuyết căn bản của
Kenyes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập thấp hơn Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi, thuế thu nhập có thể tác động trực tiếp đến định hướng tiêu
Trang 33dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước 1.3.6 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
1.3.6.1.Thuế thu nhập cá nhân là công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã hội
Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra
sự khác nhau về thu nhập của mỗi người Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội
1.3.6.2.Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và
ổn định cho ngân sách Nhà Nước
Thuế TNCN, loại thuế này đóng vai trò rất quan trọng Hiện nay, ở các nước phát triển
tỷ trọng thu ngân sách của thuế TNCN chiếm rất cao từ 30 - 40%, có nước trên 50% như Mỹ, Nhật, Canada, Australia, New Zealand…, ở các nước đang phát triển chiếm
từ 15 - 30% như Thái Lan, Malaysia, Philippines
Ở Việt Nam, thuế TNCN tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu NSNN (7 %), song trong điều kiện sự giảm dần các loại thuế xuất nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương mại, kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân có xu hướng tăng nhanh, nên tỷ trọng thuế TNCN trong tổng thu NSNN sẽ có khả năng tăng lên Từ đó thuế TNCN sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho NSNN
1.3.6.3.Thuế thu nhập cá nhân góp phần điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội, mà còn giữ vai trò điều tiết nền kinh tế quốc dân Loại thuế này điều tiết trực tiếp đến TNCN nên tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán
Trang 34của các cá nhân bị giảm Từ đó cầu về hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất
Vì vậy, ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau, tùy theo yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế TNCN ở mỗi nước được xây dựng phù hợp
1.3.6.4.Thuế thu nhập cá nhân góp phần quản lý thu nhập dân cư
Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà Nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp
xử lý phù hợp Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp cho Chính Phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các các chính sách kinh tế xã hội phù hợp
1.3.7 Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân
1.3.7.1.Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân
a) Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu
Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trong thực tế không phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNCN Thuế TNCN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập quy định
cơ sở đánh thuế thu nhập Mọi hệ thống thu nhập dù đánh trên từng loại thu nhập hay trên tổng thu nhập nói chung đều tính thuế trên thu nhập ròng để phản ánh đúng khả năng kinh tế của người nộp thuế Vì vậy thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản chi phí của người nộp thuế
Hiện nay trên thế giới còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm và cách tính thu nhập nên cơ sở đánh thuế TNCN cũng không giống nhau Tùy theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác nhau Mặt khác, trên thực tế không phải mọi khoản thu nhập phát sinh cũng đều có khả năng xếp vào thu nhập chịu thuế
b) Đánh thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến
Trang 35Đặc trưng quan trọng nhất của thuế TNCN là áp dụng biểu thuế luỹ tiến, tức là mức thuế tăng lên một cách luỹ tiến theo mức thu nhập tăng lên Thuế suất luỹ tiến được coi
là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theo “khả năng nộp thuế” của cá nhân Tuy nhiên trong thực tế để tính được mức luỹ tiến đó là điều không đơn giản
Xung quanh vấn đề áp dụng nguyên tắc luỹ tiến đối với thuế thu nhập cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, tính luỹ tiến của thuế thu nhập cũng cần có giới hạn và khi áp dụng nguyên tắc luỹ tiến cũng cần phân biệt nguồn gốc của các loại thu nhập để phát huy vai trò điều chỉnh của thuế thu nhập Nhưng cũng có quan điểm cho rằng làm như vậy sẽ gây phức tạp trong việc thiết kế thuế suất, vì không nên dùng các loại thuế khác nhau cho thu nhập phát sinh từ các nguồn thu nhập khác mà nên áp dụng các khoản miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng của thuế thu nhập hoặc áp dụng thuế luỹ tiến từng phần
1.3.7.2.Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân
Về lý thuyết, tồn tại ba mô hình đánh thuế TNCN:
a) Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập
Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập là phương pháp áp dụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh Tương ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập (nhiều trường hợp chi phí có thể được trừ hoặc không được trừ) và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt Số thuế phải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từng nguồn
Các nhà kinh tế cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế hơn, vì nó thu “theo sát từng nguồn thu nhập” Tuy nhiên, đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập trên thực
Trang 36giảm thuế TNCN Nếu có áp dụng mức thuế suất luỹ tiến thì cũng chỉ đúng cho một số loại thu nhập Điều đó gây bất bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế có các loại thu nhập khác nhau
- Việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu nhập đòi hỏi phải phân loại thu nhập, trên thực tế công việc này lại tiềm ẩn nhiều khó khăn trong công tác quản lý Mặt khác, đó cũng là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế Nếu ranh giới giữa các loại thu nhập không chính xác thì sẽ mất ý nghĩa công bằng của thuế TNCN
- Trong một chừng mực nào đó cách đánh thuế này cũng không hiệu quả đối với xã hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệu quả để chịu mức thuế thấp nhất
b) Đánh thuế trên tổng thu nhập
Phương pháp này tiến hành đánh thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất cả các khoản thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét trên một tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí Việc phân ra từng loại thu nhập không có ý nghĩa
Do có ưu điểm là đơn giản và có thể áp dụng được biểu thuế luỹ tiến khi đánh thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rất rộng rãi ở các nước phát triển
c) Đánh thuế hỗn hợp
Thuế TNCN có thể được đánh theo cách kết hợp cả hai phương pháp kể trên Ban đầu đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập, sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và đánh trùm lên tổng thu nhập một mức thuế nữa Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất luỹ tiến ngoài thuế suất thông thường đánh trên từng loại thu nhập Cách đánh thuế này đảm bảo sự chính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán
Như vậy, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng Việc áp dụng một phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội từng nước, trình độ
Trang 37quản lý và yếu tố tâm lý, tập quán từng dân tộc
1.3.8 Cơ sở xây dựng luật thuế thu nhập cá nhân
1.3.8.1.Xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ
Tổng thu nhập của đối tượng nộp thuế là tổng thu nhập được xác định cơ sở để tính thu nhập chịu thuế mà đối tượng nộp thuế đó kiếm được trong kỳ tính thuế Do đó, tổng thu nhập của một đối tượng sẽ không bao gồm những khoản miễn thuế Để xác định tổng thu nhập cần phải xác định từng khoản cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập cụ thể, tức là xem xét tổng thu nhập được hình thành từ những nguồn nào
Tuy nhiên, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều đưa vào đối tượng tính thuế Trong thực tế, khi xây dựng các quy định tính thuế cần xác định rõ ràng những khoản nào nằm trong tổng thu nhập chịu thuế và những khoản nào nằm trong tổng thu nhập không chịu thuế Muốn xác định thu nhập chịu thuế chính xác cần phải xem xét các khoản sau đây
a) Nguồn gốc của thu nhập
Mọi khoản thu nhập của cá nhân có thể phát sinh từ các nguồn khác nhau Tuy vậy cũng có thể phân loại thành các nguồn cơ bản như sau:
a 1 ) Thu nhập từ lao động
Thu nhập có nguồn gốc từ lao động giữ vị trí rất quan trọng và chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu nhập chịu thuế ở các nước phát triển Thu nhập từ lao động bao gồm bất kỳ khoản bù đắp nào trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến lao động Đó là khoản thu nhập của cá nhân nhận được dưới hình thức tiền lương hoặc tiền công do người chủ của lao động trả
Bên cạnh việc xác định các khoản thu nhập từ lao động còn phải tính toán các chi phí lao động để nhận được các thu nhập này Vì thu nhập chịu thuế là các khoản thu nhập ròng nên cần phải xác định các chi phí phát sinh để phản ánh đúng thu nhập chịu thuế
Trang 38từ lao động Do đó, các nguyên tắc đưa ra là cần thiết để xem xét khả năng được trừ của các chi phí phát sinh Nếu không có các nguyên tắc chuẩn thì khó xác định được ranh giới thu nhập chịu thuế và khi đó các tranh chấp có thể phát sinh giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế hoặc tạo ra những cơ hội phổ biến để trốn thu nhập chịu thuế thông qua sự biến tướng của chi phí lao động Điều đó lại nảy sinh sự bất bình đẳng về nghĩa vụ giữa người nộp thuế có mức thu nhập như nhau
a 2 ) Phúc lợi của người làm công
Phúc lợi là khoản thu bất kỳ bằng tiền hoặc không phải bằng tiền nhận được từ lao động mà không nằm trong phần tiền lương, tiền công bằng tiền mặt
Các khoản phúc lợi thông thường như nhà ở, sử dụng phương tiện đi lại do người chủ lao động cung cấp cho mục đích cá nhân và cung cấp hàng giảm giá cho người làm công Toàn bộ các khoản phúc lợi dưới dạng hiện vật này cũng coi như một khoản thu nhập của người lao động có khả năng kinh tế như tiền công, tiền lương trả bằng tiền mặt nên thuộc vào cơ sở đánh thuế
Hiện nay, tồn tại ba phương pháp đánh thuế vào các khoản phúc lợi:
- Thứ nhất, đưa giá trị các khoản phúc lợi vào thu nhập chịu thuế của người làm công như là một phần thu nhập của lao động (coi tiền lương, tiền công bao gồm cả các khoản phúc lợi)
- Thứ hai, áp dụng thuế danh nghĩa đánh trên các khoản phúc lợi bằng cách không cho phép người chủ lao động khấu trừ chi phí liên quan đến việc cung cấp các khoản phúc lợi cho người làm công Phương pháp này áp dụng trong trường hợp khó phân bổ phúc lợi cho từng người Nhưng trong trường hợp người chủ lao động nằm trong tình trạng kinh doanh không có lãi thì việc thu thuế khó thực hiện được
- Thứ ba, thuế phúc lợi đánh riêng biệt đối với người chủ lao động dựa trên giá trị các khoản phúc lợi cung cấp cho người làm công Phương pháp này được áp dụng ở một số nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi,
Trang 39nhưng việc áp dụng hình thức thuế suất luỹ tiến từng phần thích hợp đối với từng người làm công lại gặp khó khăn
Từ các phương pháp nêu trên có thể cho phép xây dựng chế độ thuế phúc lợi độc lập với hệ thống thuế TNCN hoặc là kết hợp với hệ thống thuế thu nhập nhằm đảm bảo gánh nặng chung về thuế tương đồng đối với bất kỳ các khoản phúc lợi nào (ngay cả khi người chủ động chi trả cho người làm công bằng tiền mặt thay vì cung cấp một khoản phúc lợi) Hiện nay, nhiều quốc gia áp dụng hệ thống kết hợp để tránh những biến động kinh tế và thất thu thuế do chuyển đổi thu nhập theo chiều hướng đánh thuế
a 3 ) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh
Tuỳ theo tính chất của từng ngành nghề kinh doanh mà thu nhập chịu thuế được xác định theo những phương pháp khác nhau Một số quốc gia phân biệt giữa thu nhập từ các hoạt động thương mại và thu nhập từ các hoạt động hành nghề và công việc Sự phân chia này không hoàn toàn xuất phát từ quan niệm logic về thuế, mà từ phương diện lịch sử
a 4 ) Thu nhập từ vốn, tài sản hay gọi là thu nhập từ đầu tư
Tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử và tuỳ theo quan điểm đánh thuế của mỗi nước mà thu nhập này có thể xếp loại vào thu nhập bị đánh thuế hoặc không bị đánh thuế
a 5 ) Các khoản thu nhập bất thường khác
Qua phân tích các loại thu nhập kể trên ta thấy, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều đưa vào đối tượng tính thuế Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhập không đưa vào đối tượng đánh thuế Khi xây dựng các quy định tính thuế cần xác định rõ ràng những khoản nào nằm trong tổng thu nhập không chịu thuế
Cơ sở quan trọng để xác định các khoản thu nhập đó có phải là thu nhập chịu thuế hay không phải là thu nhập chịu thuế, trước hết phải xem xét các khoản đó là thu nhập thực
sự hay là chi phí Mặt khác, Chính phủ có thể cân nhắc nên đánh thuế hay không nên đánh thuế vào các loại thu nhập này
b) Đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập
Trang 40Để tiến hành đánh thuế TNCN trước hết phải căn cứ vào hai cơ sở là “cư trú” và
“nguồn phát sinh thu nhập”
Hệ thống đánh thuế dựa vào tình trạng “cư trú” được sử dụng rộng rãi trên thế giới Theo hệ thống này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước đó và đánh trên mọi khoản thu nhập từ khắp nơi trên thế giới, còn những cá nhân không cư trú chỉ
bị đánh thuế trên phần thu nhập phát sinh tại nước đó Tuy nhiên, khái niệm cư trú được quy định khác nhau ở các nước khác nhau
Cơ sở thứ hai được dựa vào để xác định nghĩa vụ nộp thuế là “nguồn phát sinh thu nhập” Nếu áp dụng theo cơ sở nguồn phát sinh thu nhập thì các cá nhân chỉ phải nộp thuế thu nhập đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước sở tại mà không phải nộp thuế thu nhập đối với những khoản thu nhập phát sinh ở nước ngoài Cách đánh thuế này thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn bản thân công dân của nước đó ít đi làm hoặc đầu tư ở nước ngoài
Việc xác định rõ cơ sơ đánh thuế theo tình trạng cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập không những có ý nghĩa quan trọng trong công tác xác định nghĩa vụ nộp thuế của các
cá nhân mà còn là cơ sở để tiến hành đàm phán, ký kết các hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa các nước với nhau trong quan hệ quốc tế về thuế
1.3.8.2.Xác định các khoản thu nhập miễn trừ
Một trong những đặc điểm quan trọng của thuế TNCN là có tính tới hoàn cảnh của từng cá nhân cần phải được xem xét khi xác định thu nhập chịu thuế Các khoản được giảm trừ có thể được thực hiện dưới hai dạng: miễn trừ cá nhân và miễn trừ tiêu chuẩn
- Miễn trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ Đối với phương pháp này, một số khoản chi phí kê khai sẽ đòi hỏi phải có chứng từ chứng minh, một số khoản được thực hiện theo phương pháp định mức và một số khoản có thể được thực hiện theo phương pháp “giới hạn tối đa” Thông trường, có hai loại giảm trừ cá nhân là: giảm trừ có tính chất kinh tế và giảm trừ có tính chất xã